Lê Hoàn - Lê Đại Hành, nếu ví ngài như Trần Thủ Độ thì ngài là Trần Thủ Độ, nếu ví ngài với Lý Thường Kiệt thì ắt là Lý Thường Kiệt. Tài năng quán triệt như ngài, cổ kim hiếm gặp.
Để nói về câu chuyện Lê Hoàn, hắn ta phải quay lại câu chuyện Đinh Bộ Lĩnh. Trong khúc ca số 3 về “Vạn Thắng Vương” chúng ta có nói qua về cuộc can qua của Đinh Bộ Lĩnh thuở còn Hoa Lư với hai vua nhà Ngô là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn. Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh sai Đinh Liễn vào Cổ Loa làm con tin. Khi Đinh Liễn đến, hai vua Ngô trách tội Bộ Lĩnh không đến chầu, rồi bắt giữ Liễn, đem theo đi đánh Hoa Lư. Nhưng Hoa Lư quá hiểm trở cho phòng thủ, quân Ngô không đánh nổi, hai vua Ngô liền bèn treo Liễn lên ngọn sào, sai người bảo Bộ Lĩnh, nếu không chịu hàng thì giết Liễn. Bộ Lĩnh tức giận nói: “Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao?” Liền sai hơn mười tay nỏ nhắm Liễn mà bắn. Hai vua Ngô kinh sợ nói: “Ta treo con nó lên là muốn để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng. Nó tàn nhẫn như thế, còn treo con nó làm gì?” Bèn không giết Liễn mà đem quân về. Khi Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn chết, triều đình Cổ Loa rối ren, Đinh Liễn về lại Hoa Lư, kết hợp cùng Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng. Họ cùng với người chủ soái Đinh Bộ Lĩnh được các sử gia Trung Quốc gọi là “Giao Châu thất hùng”. Những con người sẽ dẹp loạn cát cứ và tạo nên vương triều họ Đinh sau này.
Ở đây chúng ta có hai chi tiết: Câu chuyện về việc treo Liễn trên ngọn cây sào đó để ta hiểu, bản thân Đinh Liễn là một người con đã theo cha vào sinh ra tử, đã cùng chiến đấu với cha từ thuở còn chạy loạn đến khi lên ngôi cửu đỉnh. Đinh Liễn xứng đáng ở ngôi thái tử không chỉ vì ngài là con trưởng mà còn vì công trạng ngài đã lập lên. Và câu chuyện “Giao Châu thất hùng” để ta biết Lê Hoàn năm xưa là bề tôi của vua Đinh Bộ Lĩnh, không những thế ông còn là khai quốc công thần của nhà Đinh.
Hai chi tiết đó sẽ dẫn chúng ta đến chương sử đẫm máu và ly kỳ nhất trong giai đoạn cuối Đinh, đầu Lê.
Có lẽ trong mỗi chúng ta đều biết về câu chuyện thái hậu Dương Vân Nga khoác áo bào cho vua Lê Hoàn khi giặc Tống xua quân xuống đánh nước ta. Trước sự đe dọa của giặc ngoại xâm, trong khi vua Đinh Toàn còn quá nhỏ, thái hậu Dương Vân Nga vì đại cục đã sai lấy áo long bào khoác lên mình “thập đạo tướng quân” Lê Hoàn và trao ngôi vua cho ông.
Nhưng những dòng ngắn gọn ấy liệu có khiến chúng ta phải suy nghĩ?
Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng chia quân đội làm mười đạo, người đứng đầu là thập đạo tướng quân - người nắm giữ binh quyền, và chức tước ấy là của Lê Hoàn. Tức việc đánh dẹp quân xâm lược vốn là nhiệm vụ của ông, người nắm vai trò như bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời hiện đại. Vậy tại sao ông phải lên ngôi thì mới đánh trận với quân Tống được, khi bảo vệ bờ cõi là bổn phận của ông? Nếu vua Đinh Toàn còn nhỏ thì mang danh khai quốc công thần ông cần giúp vua chứ sao lại cần thay ngôi?
Ngoài ra, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép lại: “Nguyễn Bặc, Đinh Điền làm phụ chính cho Phế Đế, nhưng lúc đó Dương Thái hậu cho Lê Hoàn làm Phó Vương, nắm quyền chỉ huy quân đội, tự do ra vào cung cấm. Nguyễn Bặc lo lắng bàn với các tướng:
“Lê Hoàn sẽ bất lợi cho ‘nhụ tử’ (chỉ vua Đinh Toàn), chúng ta chịu ơn dày của nước, nếu không tính trước đi, giữ cho xã tắc được yên thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế (chỉ Đinh Bộ Lĩnh) ở suối vàng nữa?”
Ông bèn cùng Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh, chia hai đường thủy bộ cùng tiến đánh Lê Hoàn, Nhưng cả hai đều không phải là đối thủ của Lê Hoàn. Kết quả Đinh Điền chết tại trận, Nguyễn Bặc thì bị bắt sống và chém đầu.
Điều này cho thấy, Lê Hoàn lên ngôi là cả một quá trình đấu đá nội bộ rất phức tạp chứ không đơn giản bằng mấy dòng “Thái hậu Dương Vân Nga khoác áo bào.”
Bây giờ, hãy đi sâu vào vụ án ly kỳ này. Như đã nhắc ở đoạn đầu về Đinh Liễn, vua Đinh Tiên Hoàng cả một đời anh minh đã phạm sai lầm chết người vào lúc cuối đời. Sai lầm này đã phải trả giá bằng một vương triều mà ông cất công gây dựng. Đó chính là “phế trưởng lập thứ”. Vì yêu con thứ Đinh Hạng Lang mà trao ngôi thái tử cho Hạng Lang, bỏ qua người con cả đã “vào sinh ra tử” với mình lại đang nắm binh quyền là Nam Việt Vương Đinh Liễn. Bằng việc này, Đinh Bộ Lĩnh đã đưa tới một cuộc đua tranh dữ dội cả trong hậu cung lẫn các viên cận thần. Sự bất mãn của Đinh Liễn lên đến tột đỉnh bằng việc giết chết người em ruột của mình là Đinh Hạng Lang. Đinh Tiên Hoàng để xá tội cho Đinh Liễn vì đại cục. Nhưng mọi thứ đã không còn như trước nữa. Một âm mưu đáng sợ đang vây quanh hai con người đã thống nhất đất nước thời ly loạn.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 1) chép: “Mùa đông, tháng Mười (năm Kỷ Mão, 979), quan giữ chức Chi Hậu Nội Nhân là Đỗ Thích giết chết nhà vua (Đinh Tiên Hoàng) ở trong cung. (Đỗ Thích người làng Đại Đê, huyện Thiên Bản, nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Trước đó, Đỗ Thích từng có lúc làm quan ở Đồng Quan (nay thuộc Ninh Bình). Một hôm, nhân nằm chơi rồi ngủ lại trên cầu, Đỗ Thích mơ thấy có vì tinh tú từ trên trời rơi xuống và hắn đã nuốt được. Đỗ Thích lấy đó làm điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, thấy nhà vua dùng yến tiệc vừa xong say rượu nằm ngủ ngay giữa sân cung đình, Đỗ Thích bèn lẻn vào giết chết nhà vua, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Đinh Liễn. Bấy giờ, lệnh lùng bắt thủ phạm rất gấp, Đỗ Thích phải trèo lên nằm trong máng nước ở trong cung suốt ba ngày liền, đói khát lắm. Thế rồi trời đổ mưa, Đỗ Thích thò tay hứng nước mà uống, cung nữ nhìn thấy nên đi báo. Đinh Quốc Công là Nguyễn Bặc sai người bắt xuống và đem đi chém đầu.”
Tuy nhiên nếu giết vua để đoạt quyền thì Đỗ Thích phải là người đủ tư cách để lên nắm quyền, vì để lên ngôi vua cần sự ủng hộ của quân đội, của các đại thần và có tính pháp lý để cáo thị với nhân dân. Nhưng Đỗ Thích chỉ là một viên quan nhỏ bé, không nắm trọng quyền như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ... Vậy giết vua để làm gì khi có giết cũng không thể lên ngôi chí tôn được?
Điều này có nghĩa là phải có người nắm trọng quyền đứng sau Đô Thích.
Trong những vụ án “tranh quyền đoạt vị”, thường có một đáp án chung: hung thủ là người được lợi nhất trong trường hợp cho con Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn không còn trên cõi đời. Đó là Đinh Toàn, người duy nhất dành chính ngôn thuận nối ngôi vua, chứ không phải Đỗ Thích. Nhưng Đinh Toàn khi đó mới chỉ 6 tuổi, không thể đủ sức lập nên âm mưu này, và dù có lên nối ngôi cũng không thể có được quyền lực trong tay vào một sớm một chiều mà phải cần thái hậu nhiếp chính sau lưng. Ở đây, thái hậu Dương Vân Nga là người đó, vừa nắm quyền lực nhiếp chính vừa có con chính thất nối dõi.
Tuy vậy thái hậu Dương Vân Nga có đúng là người sắp đặt âm mưu? Đó là điều cần phải bàn nữa. Hãy cùng tìm về 1000 năm lịch sử Việt Nam, chúng ta sẽ bắt gặp một dòng họ tuy lặng lẽ nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong thời đại mở nước và giữ nước của Việt Nam: dòng họ Dương. Đây là một dòng tộc danh gia và có vị trí cao trong xã hội Việt Nam thời phong kiến. Để giữ vững ngôi báu, đa số các vương triều của Việt Nam đều kết hôn chính trị với các mỹ nhân của dòng họ Dương nhằm tạo vây cánh ở phía bên ngoài. Một chi tiết sẽ khiến tất cả phải kinh ngạc, trừ triều đại nhà Trần kết hôn cận giới để tránh trường hợp Lý Chiêu Hoàng - Trần Cảnh lặp lại thì gần như tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam đều có hoàng hậu là người họ Dương. Tiền Ngô Vương Ngô Quyền với hoàng hậu Dương Như Ngọc - con gái của tiết độ sứ Dương Đình Nghệ. Đinh Tiên Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn - Lê Đại Hành với hoàng hậu Dương Vân Nga. Thượng Dương Hoàng hậu, tức Dương Hồng Hạc, là hoàng hậu của vua Lý Thánh Tông và là “hoàng đích mẫu” của vua Lý Nhân Tông. Đến thời Hậu Lê, hoàng hậu Dương Thị Bí là vợ chính thất của vua Lê Thái Tông, mẹ của vua Lê Nghi Dân. Sang thời nhà Nguyễn, thái hoàng thái hậu cuối cùng của Việt Nam, Khôn Nghi thái hoàng thái hậu Dương Thị Thục là chính thất của vua Đồng Khánh và là mẹ ruột của vua Khải Định. Sức mạnh của “danh gia vọng tộc” Dương thị lớn tới mức cũng có thể một tay tạo nên các cuộc binh biến lớn và lấy ngôi trong thời gian ngắn. Dương Tam Kha, con trai thứ ba của Dương Đình Nghệ, sau cái chết của Ngô Quyền đã thay thế Ngô Xương Ngập, tự lên làm vua. 400 năm sau, Dương Nhật Lễ kế vị Trần Dụ Tông, giành được ngôi báu của nhà Trần. Từ những chi tiết ấy, câu chuyện về thái hậu Dương Vân Nga sẽ dễ giải thích hơn rất nhiều trong ngày Đinh Toàn kể vị. Nhưng cũng có thể thái hậu không phải là chủ mưu mà vấn đề là sự tranh đoạt hoàng quyền giữa các dòng họ lớn của Việt Nam giai đoạn này, như một “trò chơi vương quyền”.
Vậy vua Lê Hoàn ở đâu trong chuyện này? Lê Hoàn - người nắm giữ quân đội với vai trò thập đạo tướng quân lúc này đóng vai trò ủng hộ thái hậu Dương Vân Nga. Bởi sau khi lên ngôi, Đinh Toàn chọn hai người nhiếp chính, một người là thái hậu Dương Vân Nga và người kia chính là Lê Hoàn. Những ván cờ mà Lê Hoàn muốn đánh tiếp thì đã vượt quá tính toán của tất cả. Tham vọng của Lê Hoàn không dừng lại ở vị trí dưới một người trên vạn người mà phải là đỉnh đỉnh thiên hạ.
Đại Việt sử ký toàn thư chép lại như sau: “Tháng Bảy năm 980, tình thế quân Tống rất gấp. thái hậu Dương Vân Nga sai Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân. Phạm Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn.”
Quân sĩ đều hộ vạn tuế.
Ở đây có những chi tiết quá ly kỳ mà ta thường gặp trong lịch sử Trung Hoa hay Tây Phương và giờ là ở Việt Nam. Thứ nhất là câu này: “Phạm Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ”. Đây rõ ràng là cảnh đưa quân lính đi thẳng vào trong triều để gây sức ép, chúng ta hoàn toàn có thể tưởng tượng hình ảnh sợ hãi của thái hậu Dương Vân Nga và Vệ Vương Đinh Toàn vào lúc ấy. Thứ hai, sau khi nghe Phạm Cự Lạng nói xong thì “Quân sĩ đều hồ vạn tuế”. Hoàn toàn là một âm mưu được chuẩn bị trước. Thái hậu Dương Vân Nga ngoài việc lấy chiếc áo bào khoác lên người, bà thật không còn sự lựa chọn nào khác. Cuối cùng, việc bà từ vị trí thái hậu rồi trở thành hoàng hậu của vua Lê đã khiến nhân gian đặt câu hỏi. Nhưng cũng có thể là sự hy sinh của bản thân bà, để giữ lại vị trí của dòng tộc họ Dương trong triều đình mới. Nếu như thế nghi án phủ xung quanh bà mãi mãi chỉ là nghi án thiên cổ nghìn năm, Lê Hoàn có thể coi là anh hùng nhưng cũng là một gian hùng. Tuy vậy phải quán triệt một tư tưởng: Tại đây, ngay lúc này, chúng ta không phải xét đoán về vua Lê Hoàn, đặc biệt đó lại là một vị vua có công với nước, điều đó sẽ vô tình dẫn chúng ta đến việc phủ nhận một bậc tiền nhân có công với dân tộc. Con người ấy 26 tuổi đã nắm binh quyền, 35 tuổi đánh Tống, bình Chiêm, dẹp loạn trong nước, kinh bang tế thế, đối nội, đối ngoại đều rất xuất sắc. Nhà vua đáng phải để ta cúi đầu kính nể, tuy nhiên để lấy được ngôi báu thì khó nói chuyện nhân đạo được.
“Nhất tướng công thành vạn cốt khô”, như một câu nói: “Làm chính trị thì không có chuyện nhân đạo. Cái nhân đạo chỉ tạo nên người anh hùng, còn để thành đế vương ắt phải là gian hùng.” Gian hùng của đế vương thì khác nhau ở chỗ lộ ra ngoài hay giấu vào trong mà thôi. Trong bối cảnh xã hội chung của phương Đông lúc ấy, chuyện quân phiệt quyền thần thoán đoạt quá phổ biến suốt thời Ngũ đại cho đến Tống dựng nước - mà Triệu Khuông Dẫn ở Trần Kiều - là một thí dụ, để trở thành một tấm gương hành động.
Điều may mắn của hậu thế khi đọc về các trang sách sử đó là có thể tự tạo cho bản thân những góc nhìn đa chiều về những nhân vật ngày xưa, qua chính các di tích lịch sử còn ở lại. Bởi lòng dân đôi khi cũng là một trang sử mộc mạc. Đền thờ Lưu Cơ được xây dựng trong một không gian rất đẹp của danh thắng Tràng An. Lưu Cơ là vị tướng cùng với Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, những người chống lại Lê Hoàn và bị thua cuộc. Đền thờ ông còn đây, như một chứng tích của lòng dân luôn nhìn về mọi hướng. Lăng vua Đinh Bộ Lĩnh như đã kể ở khúc ca số 3, người được chôn trên núi Mã Yên. Vậy còn lăng vua Lê Hoàn? Nhà vua được chôn phía sau vách núi của Mã Yên. Trước khi làm vua, Lê Hoàn là bề tôi của Đinh Bộ Lĩnh. Ngài không an nghỉ cùng trên núi với vua Đinh mà chỉ xin đứng sau lưng núi, dưới chân núi. Ngôi mộ của ngài sơ sài, heo hút, rào chắn tạm bợ. Sự cô đơn của vị anh hùng đánh Tống khiến ta giật mình, bão lòng sâu xa trong cõi lòng của tiền nhân nào ai hiểu cho hết được.
Nghi án có thể mãi là nghi án và cũng có thể là sự thật. Nhưng dù sự thật là Lê Hoàn có thoán đoạt được ngôi vua từ tay dòng họ Đinh đi chăng nữa thì điều cuối cùng quan trọng nhất mà ngài đã đem đến cho dân tộc này chính là đánh tan giặc Tống xâm lược, đuổi quân Chăm Pa xâm phạm, giữ yên bờ cõi vững bền và tạo phúc cho bá tánh Đại Cồ Việt non sông gấm vóc bình an. Điều hậu nhân đọc về ông chỉ là để hiểu thêm một phần về tính cách đế vương quyết liệt của ông, cũng như hiểu sử ta cũng đầy ly kỳ, hấp dẫn chứ không phải để phủ nhận ông.
2. Uy Vũ Lê Đại Hành
Trước khi thái úy Lý Thường Kiệt trở thành người anh hùng “phá Tống bình Chiêm” thì vua Lê Hoàn - Lê Đại Hành đã làm được điều đó rồi. Thế kỷ X có vẻ là thế kỷ sinh ra những vị vua đánh trận giỏi nhất Việt Nam từ trước tới nay, mà phải đến sau này họa may có Quang Trung - Nguyễn Huệ mới có thể sánh hơn. Lịch sử thế giới rất hiếm có một đất nước sản sinh ra ba vị vua mỗi người cách nhau trên dưới 20 năm, sở hữu những võ công oanh liệt trên lưng ngựa đến như thế. Đầu tiên là vua Ngô Quyền với nghệ thuật cắm cọc nhọn trên sông Bạch Đằng tiêu diệt quân Nam Hán vào năm 938, rồi đến vua Đinh Bộ Lĩnh được mệnh danh là “Vạn Thắng Vương”, khi trong vòng 3 năm ngắn ngủi đã đánh một lèo hạ gục 11 vị sứ quân để thống nhất đất nước vào năm 968, và cuối cùng là vua Lê Đại Hành không những dẹp tan quân Tống xâm lược mà còn đưa quân xuống phía Nam đuổi Chăm Pa vào năm 981 - 982.
Để biết rõ về cái xuất chúng của Lê Hoàn, chúng ta cần biết hoàn cảnh mà Lê Hoàn chiến thắng quân Tống vào năm 981. Thời điểm đó, Tống Thái Tông đã lên ngôi, ông được đánh giá là vị hoàng đế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên giai đoạn thịnh trị của triều Tống. Hãy nhìn lại Trung Quốc khi ấy, sự hùng mạnh của nhà Tống được kế thừa sau một loạt những cuộc “thay máu” và “tranh giành” trước đó, từ triều Tần, Hán, Đường... cho đến các thời kỳ loạn lạc như Tam quốc hay Ngũ đại Thập quốc. Tất cả đã tạo nên diện mạo của nền văn minh Trung Hoa được thế giới ngưỡng mộ.
Còn Việt Nam ta khi ấy? Chúng ta xuất phát từ những bộ tộc Việt ở Hồng Bàng, sau đó đến Văn Lang, Âu Lạc, rồi thì đối diện với 1000 năm Bắc thuộc. Trong 1000 năm ấy, khi Trung Quốc đã trải qua bao nhiêu triều đại để xây dựng đất nước thì những gì liên quan đến dân tộc ta chỉ là những cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ. Mãi đến sau này, ta mới có quyền tự chủ vào năm 938 nhờ chiến thắng của Ngô Quyền. Từ năm 938 đến năm 980, chỉ 42 năm, từ triều Ngô sang triều Đinh. Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Ta có gì khi ấy? Không, không có nhiều. Chính quyền trung ương tập quyền ở Hoa Lư cũng chưa xây dựng được một hệ thống áp đặt rõ ràng với các hào thổ địa phương. Hoàn cảnh ấy, không thể tạo ra được một thể chế dân tộc thống nhất để dùng kể “Vườn không nhà trống”, theo kiểu toàn dân đánh giặc như sau này nhà Trần làm. Đại Cồ Việt của năm 981 chỉ là một quốc gia thời sơ khởi tự chủ mà thôi, nên sự hoàn thiện cơ cấu quyền lực, hành chính là chưa đủ mạnh để Lê Hoàn có thể ngồi sau trường, định việc ngàn dặm như cái cách Lý Nhân Tông giao quyền cho Lý Thường Kiệt ở cuộc kháng chiến chống Tống lần hai, mà đích thân Lê Hoàn phải cầm quân ra trận để lòng dân nhìn theo. Trọng trách gánh lên vai ông là rất lớn. Cần phải nhắc một điều, Tống Thái Tông đã cho Lê Hoàn một cơ hội khi sai sứ yêu cầu đưa hai mẹ con Dương Vân Nga - Đinh Toàn sang quy phục, đổi lại nhà Tống sẽ trao Tiết Việt cho Lê Hoàn. Nhưng Lê Hoàn đã từ chối.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nhà Tống sai Trương Tông Quyền mang thư trả lời rằng: Họ Đinh truyền nối ba đời, trẫm muốn cho Toàn làm thống soái, khanh làm phó. Nếu Toàn tướng tài chẳng có, vẫn còn trẻ con thì nên bảo cả mẹ con cùng thân thuộc sang quy phụ. Đợi khi bọn họ vào chầu ắt sẽ có điện lễ ưu đãi và sẽ trao cờ tiết cho khanh. Nay có hai đường, khanh nên chọn một. Vua Lê Hoàn không nghe.”
Tại sao vua Lê Hoàn không chấp nhận? Nếu một quốc gia cống vua tiền triệu cho nước khác thì đó là sự nhục nhã lớn. Tầm chính trị của ông cha ta là mềm mỏng với phương Bắc để giữ hòa bình chứ không phải là quy phục phương Bắc. Sau này, khi đã giành chiến thắng trước Hầu Nhân Bảo, Lê Hoàn tiếp tục thi hành chính sách mềm dẻo và xưng thần với vua Tống, nhưng luôn cương quyết trước mọi hành động làm nhục quốc thể.
Lê Hoàn chính là vị tướng, vị vua đầu tiên của một Việt Nam tự chủ sẽ “thử sức” với một triều đại hùng mạnh thống nhất của Trung Quốc, đây là nhà Tống. Ngài là vị vua gặp khó khăn nhất và cũng cô đơn nhất trong việc tìm cho mình những đồng minh sẵn sàng đi theo ngọn cờ mà ngài dựng nên. Chiến thắng hay thất bại của ngài sẽ là bước ngoặt cho dân tộc. Hoặc ta có nguy cơ đối diện 1000 năm Bắc thuộc tiếp theo, với những thất bại hiển nhiên và đáng lẽ phải thể vì sự chênh lệch lực lượng của hai bên. Hoặc ta chiến thắng và xác lập nên truyền thống vĩ đại về một quốc gia nghìn năm lấy yếu chống mạnh trong chiến tranh giữ nước.
Năm 981, nhà Tống đưa quân tràn xuống nước ta, chia làm nhiều mũi tiến công cả thủy lẫn bộ, bao gồm: Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng kéo đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ kéo đến Tây Kết, Lưu Trừng kéo đến sông Bạch Đằng. Ba cánh quân này hẹn nhau hội tụ ở Đại La, sau đó áp sát tấn công Hoa Lư. Đứng trước tình thế ngặt nghèo ấy, Lê Hoàn chia quân ra ba mặt lần lượt phòng thủ ở ba nơi hiểm trở. Tại Bạch Đằng, Lê Hoàn áp dụng kế sách giữ nước năm nào của Ngô Quyền là cắm cọc nhọn trên sông để phòng ngự, ngăn lực lượng thủy quân của Lưu Trừng. Tại Ải Chi Lăng, ngài sắp xếp quân mai phục hai bên đường núi hiểm trở để đón đợi toán quân bộ của Hầu Nhân Bảo. Tuy nhiên vinh quang và chói lọi nhất của cuộc chiến mà Lê Hoàn đại phá Tống không phải ở Bạch Đằng, càng không phải ở Chi Lăng hay Tây Kết mà là địa danh mang tên: thành Bình Lỗ.
Thành Bình Lỗ, ba chữ ấy đáng lẽ ngàn thu phải sánh cùng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ thì gần như đã bị quên lãng trong dòng chảy sử Việt. Hôm nay, tại đây, chúng ta sẽ nói về địa danh vinh quang phủ bụi mờ đó, để khắc sâu trong lòng niềm kiêu hãnh của cha ông trong khúc tráng ca giữ nước.
Hãy bắt đầu bằng một câu chuyện về ngày mất của Hưng Đạo Đại Vương, được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Tháng Sáu (Âm lịch) năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm nặng. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?” Ông trả lời: “... Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống...” Thành Bình Lỗ đã được xuất hiện qua lời trăn trối của Trần Hưng Đạo như thế. Từ câu nói này của Đại Vương, ta có thể lùi lại lịch sử trước đó hơn 320 năm, để tin rằng chính thành Bình Lỗ chứ không phải Chi Lăng, Bạch Đằng mới là trận thắng then chốt của quân ta trước quân Tống, là chiến thuật được Hưng Đạo Đại Vương coi là bài học giữ nước quan trọng nhằm trăn trối lại cho đời sau.
Bình Lỗ ở đâu? Dù có nhiều giả thiết khác nhau, nhưng khả năng thành được cho là ở gần khu vực sông Cầu và sông Cà Lồ, thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội ngày nay. Đôi khi đứng trước các nguồn sử liệu còn ít ỏi và những di tích đã bị chôn vùi mãi mãi trong trầm tích lịch sử, hậu thế cần phải đặt niềm tin vào một giả thiết hợp lý nhất. Bởi vì mục đích của quân Tống là chiếm Đại La và Cổ Loa, qua đó sẽ áp sát Hoa Lư và tiêu diệt kinh đô của Đại Cồ Việt. Có nghĩa thành Bình Lỗ phải được xây ở vị trí mà chắc chắn quân Tống phải đi qua để đánh đến Hoa Lư. Mà phía bắc muốn tiến vào Cổ Loa và Đại La thì quân Tống phải đến sông Như Nguyệt rồi vào sông Cà Lồ, từ Cà Lồ ngược ra sông Hồng, đi theo sông Đáy và tiếp cận Hoa Lư. Thành Bình Lỗ bởi vậy có khả năng cao là được xây ở khu vực sông Cà Lồ.
Sử liệu có một chi tiết đắt giá để khẳng định thêm cho điều này: “Tháng Mười năm 980, Lê Hoàn thân chinh dẫn đại quân từ kinh thành Hoa Lư theo đường thủy, ngược sông Đáy, sông Nhuệ mà vào sông Hồng, rồi từ đó tiến lên miền địa đầu Đông Bắc đất nước.” Đoạn đường này, nhà vua đã ngược từ Hoa Lư lên chính vị trí ngã ba Xà, tả ngạn sông Cầu, gần bên sông Cà Lồ, vậy nếu không phải để đắp thành Bình Lỗ, còn để làm gì?
Vấn đề quan trọng nhất lúc này đối với vị thống soái như Lê Hoàn chính là dụ cho bằng được Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng đi vào trận địa mai phục “thành Bình Lỗ”, Lê Hoàn đã dùng kế “trá hàng” và “dụ hàng”, không chỉ một lần mà là hai lần. Mỗi lần du hàng là lại đẩy Hầu Nhân Bảo đi sâu vào một chút, sau hai lần giả hàng thì Lê Hoàn đưa Hấu Nhân Bảo đến gặp... Diêm Vương.
Lần thứ nhất vua giả vờ thua chạy ở biên giới để dẫn dụ quân Tống vào sâu trong nội địa, đến khúc sông Như Nguyệt. Nhưng khi đi vào sông Cà Lồ thì quân Tống ngần ngại không tiến vào nữa, quân do thám của Hầu Nhân Bảo cũng phát hiện có “một thành đang xây”. Bởi vậy mà Lê Đại Hành phải dụ hàng thêm lần thứ hai, lần này dùng kể “trá hàng”. Nhà vua cho một đại tướng sang trá hàng, dùng lời đường mật để dẫn dụ quân của Hầu Nhân Bảo trong đêm đến tập kích thành Bình Lỗ. Quả nhiên quân Tống mắc mưu. Sau khi đợi cho quân Tống bị dẫn dụ vào sâu trong sông Cà Lồ, một tiếng pháo hiệu nổi lên, Lê Hoàn cùng với Phạm Cự Lạng hò reo, chia hai ngả tập kích. Trận chiến đã được sách Lĩnh Nam chích quái thần thoại hóa bằng hình tượng hai vị thần Trương Hồng, Trương Hát: “Một người dẫn đoàn âm binh áo trắng, từ phía nam sông Bình Giang mà tới, một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm Ba mươi tháng Mười, trời tối đen, mưa to, gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng.”
Hầu Nhân Bảo và quân Tống bị “đoàn âm binh áo đỏ khóa đuôi”, trong khi lại bị “đoàn âm binh áo trắng đánh vỗ mặt”, hoảng hốt bỏ chạy về phía sông Hữu Ninh. Nhưng nơi này, Lê Hoàn đã bố trí một trận địa phục kích từ nhiều tháng trước rồi. Ba mặt giáp kích, kết quả quân Tống thua to. Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng cho biết: “Nhân Bảo đem vạn quân xông vào trước bị thể giặc rất mạnh, viện quân phía sau đến cứu không kịp, trận thể bị vây hãm, nên Nhân Bảo bị loạn quân giết chết quẳng xác xuống sống.” Cái chết của tổng chỉ huy Hầu Nhân Bảo khiến mọi cánh quân còn lại tự động rút lui, quân ta giữ yên bờ cõi. Chiến thắng đã cho thấy ý nghĩa và tác dụng của thành Bình Lỗ, nơi đây vừa là cứ điểm phòng ngự vừa là nơi tập trung quân lực vừa là mồi nhử giết giặc.
Xét ra về chuyện này, há cần gì phải đưa các ví dụ về David và Goliath[1] để nói về các cuộc chiến yếu thắng mạnh. Trong lòng con dân nước Việt đã luôn vượt qua khổ ngại theo cách đó. Ngay từ cuộc chiến đầu tiên do Lê Hoàn lãnh đạo, vốn chúng ta đều đã ở thế yếu, rất yếu rồi. Phép màu trước các nước lớn đã được tạo nên từ trí tuệ, lòng dũng cảm, nghệ thuật tình báo và một tình yêu dân tộc không bao giờ bị bẻ gãy của những người con đất Việt.
Lê Hoàn còn thêm nhiều lần đánh bại Chiêm Thành. Chẳng hạn, năm 982, Lê Hoàn cử Ngô Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành, nhưng vua Chiêm vuốt râu hùm khi bắt giữ hai sứ giả của Đại Cồ Việt, Lê Hoàn tức giận, đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bê Mi Thuế tại trận, bắt sống quân sĩ, đánh tan kinh thành, chỉ trong 1 năm là bình định xong và trở về kinh sư. Võ công oanh liệt như vậy, cổ kim hiếm gặp.
Một điều không thể không nhắc về Lê Hoàn trong công cuộc trị nước, nhà vua là người đã khai sinh ra lễ tịch điền, nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Từ đó, mà trở thành một lễ nghi trọng đại, được các vương triều phong kiến Việt Nam sau này kế thừa.
Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định: “Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tổng để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy.” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Sử gia Ngô Thì Sĩ nhận định: “Vua Đại Hành là người anh minh, quả quyết, nhiều mưu trí, dụng binh khéo như thần, cho nên khu sách các anh hào, vang động cả quân Mán và người Tàu.” (Việt sử tiêu án).
❀ ❀ ❀
[1] David và Goliath là một tựa sách của tác giả Malcolm Gladwell, kể về câu chuyện ở Palestine cách đây 3000 năm, gã khổng lồ Goliath đã bị chú bé chăn cừu đánh bại bởi một cục đá và một chiếc nỏ cao su. Từ đó David và Goliath trở thành biểu tượng của chiến thắng của người yếu thế trước sức mạnh khổng lồ.