Đất nước Việt Nam có vị trí địa lý khá đặc biệt, đó là đứng cạnh nền văn minh Trung Hoa. Vị thế đó là một may mắn, vì sẽ giúp ta tiếp cận được văn minh cổ đại. Nhưng đó cũng là một bất hạnh khi ta sẽ luôn đối diện với những cuộc xâm lấn của một dân tộc luôn có tư tưởng bá quyền. Bởi vậy ngày cha ông lập quốc, dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Giữ nước đã khó, há mộng mơ gì việc tấn công Trung Quốc? Nhưng cái gì cũng luôn có ngoại lệ và người anh hùng của khúc ca số 6 Lý Thường Kiệt chính là ngoại lệ ấy.
Ngoại lệ của Lý Thường Kiệt không chỉ ở chuyện ông dám đưa quân tấn công bên đất Trung Quốc mà còn nằm ở khiếm khuyết của ông - Lý Thường Kiệt là một hoạn quan. Lịch sử dân tộc Việt Nam có hai vị hoạn quan đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong dòng chảy của đất nước. Họ là khai quốc công thần sáng lập triều đại, là người anh hùng trị nước, là đại tướng quân đánh dẹp. Ngoài Lý Thường Kiệt, còn có tá quân Lê Văn Duyệt, khai quốc công thần nhà Nguyễn, người đánh bại Tây Sơn trên đầm Thị Nại, vị tổng trấn đã tạo nên bộ mặt của Gia Định ngày đầu, nền tảng cho Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh của ngày hôm nay. Chúng ta sẽ gặp ông ở khúc ca số 12.
Từ trước tới nay, quan điểm về hoạn quan thời phong kiến đa phần là xấu, lý do chính bởi các bộ phim truyền hình Trung Quốc chiếu trên ti vi mỗi ngày. Chẳng hạn Triệu Cao, Trương Nhượng hay Ngụy Trung Hiền[1]... đều tham ô, phá hoại, những loạn triều chính, người người đời tru diệt. Thế còn hoạn quan Việt Nam? Ngược lại, rất nhiều vị hoạn quan giỏi. Ngoài hai người uy vũ, văn võ song toàn Lê Văn Duyệt và Lý Thường Kiệt ở trên, chúng ta còn có Nguyễn An, người có thể xem là ông tổ của kiến trúc sư Việt Nam. Nguyễn An quê gốc Hà Đông (Hà Nội ngày nay), 16 tuổi tham gia thi công thành Thăng Long, 26 tuổi, khi đất nước bại trận trước nhà Minh, ông và hàng trăm chàng trai trẻ, những nhân tài của đất nước bị Trung Quốc đem về, ông bị thiên để làm hoạn quan. Dù làm hoạn quan nhưng đức tính khiêm tốn, thanh liêm và biệt tài tính toán đã giúp ông lọt vào mắt xanh của Minh Thành Tổ, tài năng kiến trúc vì thế đã nở rộ như mặt trời chính ngọ. Đây chính là vị tổng công trình sư đã chỉ đạo xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh dưới thời Minh Thành Tổ. Các công trình như Tiền Môn ở phía nam quảng trường Thiên An Môn hay Quốc Học (Quốc Tử Giám) giờ là thư viện Bắc Kinh cũng do ông xây nên. Vậy có thể nói, Bắc Kinh hôm nay có dấu ấn của người Việt ta. Một vị tướng tài nữa cũng là hoạn quan, ông tên Hoàng Ngũ Phúc, là vị đại tướng số một của Chúa Trịnh, vị tướng già này là người đầu tiên vượt qua Lũy Thầy (Lũy Đào Duy Từ) nổi tiếng để qua sông Gianh tiến vào địa phận của chúa Nguyễn. Hoàng Ngũ Phúc là một cái tên đã bị rớt lại trong lịch sử dân tộc. Dù võ nghệ, mưu trí của ông cùng đức tính thanh liêm, sự trung thành của ông thật đáng để ngã mũ.
Những vị hoạn quan xuất chúng, có công lao đối với dân tộc chính là điểm đặc biệt của lịch sử Việt Nam.
Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, ông vốn thuộc họ Ngô, tên thật là Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban quốc tính (được mang họ nhà vua) nên gọi là Lý Thường Kiệt. Họ Ngô chắc khiến bạn có chút liên tưởng, không sai chút nào. Ngô Tuấn chính là cháu năm đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập - hoàng tử trưởng của Ngô Quyền, người anh hùng đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc. Dòng họ Ngô đã sinh ra hai người anh hùng ở hai thế kỷ khác nhau đánh tan quân xâm lược phương Bắc.
Ngô Tuấn dung mạo đẹp đẽ, khôi ngô, từng được phong “Đệ nhất mỹ nam tử” thời bấy giờ. Không chỉ có vẻ ngoài, Ngô Tuấn còn là một người thông minh và ham học hỏi, văn võ song toàn. Đọc binh pháp Tôn Tử từ nhỏ, lại giỏi bắn cung, cưỡi ngựa. Tuổi trẻ tài cao như thế, lại thêm vẻ ngoài tuấn tú, một người hoàn hảo như thế lại trở thành hoạn quan? Sự việc này liên quan đến một đoạn tình bi kịch của ông. Ngô Tuấn thời trẻ có một mối tình oan nghiệt với người con gái tên Dương Hồng Hạc - mỹ nhân thuộc dòng họ Dương, người sau này trở thành hoàng hậu Thượng Dương. Mối tình đó không thể đi đến cuối cùng, vì Dương Hồng Hạc được gả cho thái tử Lý Nhật Tôn. Dương Hồng Hạc không được Lý Thánh Tông để ý, vì thế bà muốn Lý Thường Kiệt, khi ấy vừa là tình cũ, lại vừa là người được vua sủng ái, đứng sau lưng mình. Bà cần Lý Thường Kiệt có tác động trong cuộc “thâm cung nội chiến” này. Nhưng nếu ông ủng hộ thì ông sẽ bị vua đánh giá là bắt tay với tình cũ để lũng đoạn triều chính, việc thân thiết với Dương Hồng Hạc (lúc này là hoàng hậu Thượng Dương) sẽ dẫn đến sự xì xào trong triều đình. Điều gì sẽ xảy ra nếu có tin đồn về việc “nhà vua bị cắm sừng”? Đứng giữa tình thế hung hiểm như vậy, đặt bên sinh mệnh của bản thân và cái chí lớn chưa làm gì nên sự nghiệp, không thể chết vì một mối tình thời niên thiếu trong cuộc chiến chốn quan trường và chốn hậu cung, Lý Thường Kiệt phải lựa chọn, và ông đã lựa chọn theo cách đau đớn nhất: trở thành hoạn quan.
Hành động ấy đã khẳng định lòng trung thành của Ngô Tuấn nhưng cũng là lời cáo chung đầy bi thống của ông đối với Dương Hồng Hạc, là lời khẳng định rõ ràng nhất: Xin đứng ngoài cuộc trong câu chuyện tình yêu và mối quan hệ lằng nhằng chốn hậu phi này. Đây là lý do tại sao một chuẩn mực tài mạo song toàn, dung mạo tựa ngọc như Lý Thường Kiệt lại trở thành hoạn quan. Quả nhiên sau đó, Ngô Tuấn nhận được sự sủng ái cực lớn của thái tử Lý Nhật Tôn (sau này là vua Lý Thánh Tông), như một sự bù đắp lớn lao cho sự hy sinh khủng khiếp của người đàn ông văn võ song toàn, dung mạo đẹp đẽ đó. Không chỉ được đổi thành họ Lý mà các chức danh cao quý nhất đã lần lượt đến với Ngô Tuấn, và ông đã đáp lại bằng trí tuệ và võ lược của mình để giữ vững thiên hạ nhà Lý.
Dù sao đây vẫn là một giả thuyết, một giai thoại đẹp để cắt nghĩa về quyết định của Lý Thường Kiệt. Hậu nhân sẽ luôn có cho mình những luận giải khác nhau.
2. Bình Chiêm.
Vào năm 1069, lãnh thổ đất nước ta kéo dài từ Ải Nam Quan đến tỉnh Hà Tĩnh là dừng lại. Còn lãnh thổ của Chiêm Thành kéo dài từ Quảng Bình cho đến Ninh Thuận bây giờ. Từ Ninh Thuận xuống mũi Cà Mau là Chân Lạp. Thời điểm đó, Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh và yêu cầu phía Chiêm Thành phải thần phục. Nhưng vua Chiêm khi đó là Chế Củ đã thay đổi chính sách ngoại giao và muốn thần phục nhà Tổng, dựa vào nhà Tống để chống đối Đại Việt. Vua Lý Thái Tông không chấp nhận điều này và quyết định nam chinh. Đại tướng tiên phong Lý Thường Kiệt từ Thăng Long, đi đường thủy, dẫn 5 vạn quân với 2000 chiến thuyền bằng mọi giá phải chế ngự được Chiêm Thành. Ngày 24 tháng 2 năm 1069, vua Lý ThánhTông hạ chiếu thư tấn công. Trong vòng 10 ngày kể từ khi rời Thăng Long, vua đã đưa quân vào hải phận Chiêm Thành. Sau 15 ngày, Lý Thường Kiệt có mặt tại cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình) - nơi tập trung của thủy quân Chiêm Thành. Một cuộc đụng độ xảy ra, Lý Thường Kiệt dễ dàng bẻ gãy tuyến phòng thủ thứ nhất của địch. Sau 19 ngày kể từ khi rời Thăng Long, quân Đại Việt đã kéo tới Quy Nhơn. Tướng Chiêm là Bố Bì Đà La dàn trận trên bờ sông Tu Mao chặn đánh. Lý Thường Kiệt chém đầu tướng rồi vượt qua sông Tu Mao, thẳng tiến đến kinh đô Chiêm Thành. Tính ra ngài chỉ cần 26 ngày để từ kinh đô nước mình qua kinh đô nước bạn. Vua Chế Củ trong đêm mang vợ con chạy trốn. Lý Thường Kiệt sau khi đánh phá Chiêm Thành đã đuổi Chế Củ ra tới tận biên giới Chân Lạp và bắt sống tại đây. Đến tháng Bảy, đoàn quân Nam chinh chiến thắng trở về. Vua Chế Củ và toàn gia quyến bị bắt sống. Như thường lệ, Chăm Pa xin cắt đất đổi lấy hòa bình, Chế Củ xin cống nạp cho Đại Việt ba châu: Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý, đấy là Quảng Bình và Quảng Trị hôm nay.
35 năm sau, người kế thừa ngôi báu của Chiêm Thành là Chế Ma Na quyết định đòi lại đất của tổ tiên, vua Chế Ma Na mở đợt phản công nhắm về Đại Việt và lấy lại được ba vùng đất ấy. Lý Thường Kiệt một lần nữa phải lên lưng ngựa. Năm ấy, vị tướng già của chúng ta đã 85 tuổi, là vị tướng quân có tuổi thọ cao bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Ông làm quan trải qua ba đời vua, Lý Thái Tông (1028 - 1054), Lý Thánh Tông (1054 - 1072) và Lý Nhân Tông (1072 - 1127).
Lại một lần nữa, ông đánh tan quân Chiêm Thành, buộc Chế Ma Na phải trả lại ba vùng đất đã lấy đi. Bằng bệ phóng là mưu lược cầm quân của Lý Thường Kiệt mà sau này các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn dần dần tạo nên đất nước hình chữ S như ngày hôm nay. Câu chuyện lịch sử của Lý Thường Kiệt giúp hậu thế hiểu hơn về con đường mà cha ông ta đã từng đi, về vùng đất cha ông đổ máu xương mà giành lấy. Nhiệm vụ chúng ta vì thế cần phải bảo vệ và giữ gìn cương thổ đất nước. Nếu hôm nay phá hoại sơn hà của cha ông, ngày xuống suối vàng, trả lời sao với tiền nhân đây?
3. Phó Tống
Thế kỷ XI, đất đai Trung Quốc không thống nhất như bây giờ, quanh Đại Tống còn có các quốc gia như Đại Liêu, Đại Lý, Thổ Phồn và Tây Hạ và đương nhiên là cả Đại Việt. Theo thời gian, các quốc gia như Đại Liêu, Đại Lý, Thổ Phồn và Tây Hạ lần lượt bị vong quốc và sáp nhập nền văn minh Hoa Hạ của người Hán, tạo nên đế chế Trung Hoa ngày nay. Chỉ có Đại Việt là trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn một cõi sơn hà, độc lập và phát triển. Ấy chính là vì đất này luôn sinh ra người tài để bảo vệ lãnh thổ và Lý Thường Kiệt là một anh hùng như thế.
Vào thế kỷ XI, Đại Tống có một vị tể tướng tên là Vương An Thạch, một nhà kinh tế và chính trị lỗi lạc. Vương Tể tướng tiến hành những cải cách quan trọng nhưng vì quá vội vã, họ Vương đã gây ra xáo trộn mạnh trong nước. Bởi vậy nhằm yên lòng dân và tạo sự đoàn kết, ông ta đề xuất với vua Tống cần tạo một kẻ thù bên ngoài bằng cách xâm lấn Đại Việt. Vua Tống đồng ý. Nhà Tổng tiến hành mua chuộc các tù trưởng phía Bắc biên giới để họ dọn đường cho quân Tống tiến vào Thăng Long, đồng thời đưa ra lời hứa hẹn với Chăm Pa và Chân Lạp, nhằm tạo thế hai gọng kìm đánh vào nước ta. Tình thế này cứ từ từ siết chặt lấy Đại Việt từ các hướng: trên biển và phía Nam là Chân Lạp, Chăm Pa. Phía Bắc và trên bộ là các cánh quân đang điều động của nhà Tống cùng với sự quấy phá của các vị tù trưởng phía Bắc. Đại Tống đánh Đại Việt nhưng lại cố tình như không đánh, tất cả đều làm âm thầm. Thậm chí còn không dám tiếp nhận tù trưởng nắm vị trí trọng yếu của nhà Lý vì sợ “rút dây đồng rừng”.
Đứng trước cái thòng lọng đang từ từ tìm cách siết lại ấy, Lý Thường Kiệt đề xuất một quyết sách táo bạo: “Ngồi yên đợi giặc, không bằng ra quân trước để phá mũi nhọn của giặc.” Đầu tiên, ông xử lý mặt trận phía Nam. Tháng 8 năm 1075, Lý Thường Kiệt thần tốc kéo quân xuống phía Nam đánh Chiêm Thành, đuổi Chiêm Thành ra khỏi biên giới, để lại một lượng lớn dân di cư và quân đội ở các châu vừa chiếm được. Đến tháng 10 năm 1075, Lý Thường Kiệt kéo quân lên phía Bắc, tấn công toàn biên giới Trung Quốc, đánh cho nhà Tống một trận tối tăm mặt mũi. 10 vạn quân chia làm hai đường thủy, bộ tập kích các châu Khâm, châu Liêm. Vị tướng Tông Đản tập kích châu Ung, còn Lý Thường Kiệt tập kích châu Khâm, Liêm. Tông Đản cùng các tù trưởng phía Bắc ào ạt đánh hướng tây nam, dẹp các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Tây Bình của Tổng nằm gần biên giới. Nhân đà thắng lợi, cho tiến quân về thành Ung Châu. Thành Ung Châu cầu cứu ở các thành khác mà không để ý rằng, cánh quân của Lý Thường Kiệt đang lặng lẽ đánh úp từ phía đông nam.
Giữa tháng 11 năm 1075, khi chiến sự đang đổ dồn mắt về phía Tông Đản ở tây nam thì Lý Thường Kiệt đi đường thủy, trong đêm tập kích vào thành Khâm Châu. Lặng lẽ và thần tốc tới mức khi bắt quan giữ thành Khâm Châu là Trần Vĩnh Thái thì tướng giữ thành vẫn đang uống rượu. Ba ngày sau, đến lượt Liêm Châu bị hạ. Quan giữ thành là Lỗ Khánh Tôn cùng thuộc hạ bị giết chết. Quân nhà Lý bắt hơn 8000 tù binh, ép làm khuân vác, thu gom của cải lên thuyền chở thẳng về Đại Việt.
Trong ba châu, như vậy chỉ còn châu Ung. Lý Thường Kiệt đưa thư sang cho Tông Đản. Hai bên cùng kéo quân từ hai hướng tiến về châu Ung. Trước giờ, hậu thế hầu như chỉ nhớ Lý Thường Kiệt qua bài thơ Nam quốc sơn hà. Ý nghĩa bài thơ này ngoài một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc còn là cái nâng cao sĩ khí để Đại Việt trụ vững trước cuộc tiến công của Quách Quỳ ở sông Như Nguyệt. Nhưng Lý Thường Kiệt còn một bài văn nữa, đó là bài hịch khi tấn công châu Ung:
“Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”, “trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thỏa cái mưu nuôi mình béo mập...
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuận thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!”
Dân Tống nghe xong, hoàn toàn bị thu phục, đưa rượu thịt ra khoản đãi quân nhà Lý. Cái “văn” đi kèm cái “vẽ” của Lý Thường Kiệt họa chăng sau này chỉ Trần Hưng Đạo có thể sánh cùng.
Nếu Việt Nam ta có Lý Thường Kiệt thì nhà Tống có Vương An Thạch. Nhà cải cách của Trung Quốc quyết không chịu kém, soạn lại một chiếu thư khác tên là Thảo Giao Chỉ chiếu, khích lệ quân dân nhà Tống đánh lại Đại Việt. Hai đoạn chiếu thư chớp chớp lóa lóa cài vào nhau để đánh động lương tri của quân dân. Một trận đánh thú vị trên mặt trận ngôn từ:
“Hỡi nhân dân đã lâu ngày sống trong cảnh lầm than, nếu biết khuyên dụ chủ mình nội phụ xuất chúng quy phục, bắt giặc hiến cống, đem mình hiếu thuận thì sẽ được thưởng tử tước lộc, vinh hiển bội phần, những tội lỗi trước đây đều được ân xá. Càn Đức[2] đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lại triều cũng sẽ được tiếp đãi trong hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe nhân dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng nước chư hầu của ta luôn được yên vui.”
Bố cáo của Lý Thường Kiệt giúp quân Đại Việt đến được chân thành mà không tốn nhiều công sức. Còn chiếu thư của Vương An Thạch lại tạo nên một Tô Giám liều chết giữ thành Ung Châu. Tại nơi đây, một trang huyết sử trong mối bang giao của hai nước đã xuất hiện. Cuộc tấn công đẫm máu đó diễn ra suốt hơn một tháng cho đến khi Lý Thường Kiệt hạ được thành, Đại Tống phải đưa quân tiến về phía Nam để tiếp cứu. Nhưng Lý Thường Kiệt đã rút về và ông chỉ cần có vậy, vì việc đánh tan ba châu Khâm, Liêm, Ung đã giúp Đại Việt ba điểm. Thứ nhất là tạo thế chủ động cho nhà Lý thay vì ngồi đợi thòng lọng siết cổ từ từ. Thứ hai là khiến giặc nôn nóng báo thù và đưa quân mỏi mệt từ phương xa đến, qua đó nhà Lý lấy quân nhàn đánh quân mệt mỏi áp dụng đúng binh pháp. Thứ ba là khiến hậu phương của giặc bị phá thủng, trong khi đó Lý Thường Kiệt có thời gian để xây dựng được hệ thống chướng ngại vật suốt tuyến biên giới đến nội địa để tiếp đón quân Tống.
3.2. Trên Đại Việt
Quách Quỳ - một tướng giỏi nhà Tống - được điều từ mặt trận biên giới với Đại Liêu về cầm quân đánh Đại Việt. 10 vạn quân được điều động, 20 vạn dân phu góp mặt và 5 triệu lạng vàng được nhà Tống tung vào chiến trận. Những con số để cho thấy nhà Tống đánh giá Đại Việt cao thế nào. Quách Quỳ quả nhiên là tướng giỏi, tất cả mọi vành đai phòng thủ của Lý Thường Kiệt để lại từ Quảng Tây cho tới biên giới phía Bắc, Quách Quỳ đều vượt qua. Đặc biệt, đây là vị tướng đã đi đường vòng để tránh cuộc mai phục trên Ải Chi Lăng, đánh tạt sườn vào Đại Việt và áp sát Thăng Long ở bờ sông Như Nguyệt. Như vậy Quách Quỳ chỉ cách Thăng Long 20 cây số.
Nhưng khi đó Lý Thường Kiệt đã bày sẵn “thiên la địa võng” đợi Quách Quỳ rồi.
Lý Thường Kiệt nắm vững vấn đề quan trọng nhất với quân viễn chinh, đấy là lương thảo. Ông điều Phò mã Thân Cảnh Phúc ra giữ biên giới với nhiệm vụ đêm đêm tập kích vào dân phu, cướp lương thực, đồng thời đánh “bọc hậu” các nhóm nhỏ từ phía sau. Thời gian càng kéo dài, lương thực vận chuyển càng khan hiếm, quân Tống lâm vào tình thế đói khát. Khi Quách Quỳ tiến vào cửa sông Như Nguyệt, vốn ban đầu giữ thế thủ, ông ta đợi thủy quân tập kích cùng. Nhưng ông ta đã không ngờ rằng, thủy quân nhà Tổng do Dương Tùng Tiên chỉ huy đã bị Lý Kế Nguyên - đô đốc thủy sư quân ta - đánh tan trên sông rồi. Chờ mãi không thấy quân thủy tới, trong khi lương thảo thì cạn dần, Quách Quỳ đành tấn công, bắc cầu phao vượt sông.
Lý Thường Kiệt để cho quân Tống vượt qua, sau khi quân Tống vào được một lực lượng tương đổi lớn thì quân nhà Lý ba mặt ào ra tấn công, hình thế giống như thắt nút một chiếc bao lại. Với hai mặt tạt sườn để xé lẻ quân địch ra, đẩy quân Tống phía sau quay lưng bỏ chạy, nhưng quá muộn, vì SỢ Lý Thường Kiệt vượt sông đốt trại nên quân Tống đã chặt cầu phao mất rồi, vậy là “gậy ông đập lưng ông”, cuộc tập kích qua cầu phao thất bại. Rút kinh nghiệm, quân Tống chuyển từ bắc cầu phao sang những chiếc bè nhỏ. Từng đoàn kéo qua, hỏa tiễn đánh về. Nhưng thể phòng thủ của Như Nguyệt tầng tầng lớp lớp, cứ có bè nào qua, thì đánh đắm bè đó rồi hằng đêm loan truyền bản hùng ca:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan hủ bại hư.”
Cứ vang lên ở đền Trương Hồng, Trương Hát càng giúp nâng cao sĩ khí quân Đại Việt và khiến quân Tống sợ hãi.
Quách Quỳ thiếu lương thực, chỉ mong đánh lớn. Nhưng Lý Thường Kiệt án binh bất động không ra, vì ông đợi cho quân Quách Quỳ hết lương, dịch bệnh đeo bám thì khi ấy, ông mới thực hiện cuộc tổng phản công trên diện rộng. Tháng 2 năm 1077, thủy quân Đại Việt tràn lên bờ, đánh chiếm núi Nham Biền rồi đổ bộ xuống trại quân Tống. Một cuộc giao tranh ác liệt diễn ra, Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân sang chống đỡ. Hai bên tiêu hao nặng nhưng Quách Quỳ, Triệu Tiết không hề biết rằng đó chỉ là nghi binh. Đêm ấy, lợi dụng quân Triệu Tiết mệt mỏi và không đề phòng, Lý Thường Kiệt vượt sông Như Nguyệt, đánh một trận khủng khiếp trong đêm. 5 vạn quân viễn chinh của Tống bị diệt. Quách Quy từ 10 vạn còn lại hơn 3 vạn thoi thóp như cá nằm trên thớt đợi Lý Thường Kiệt qua mổ xẻ.
Lúc này, Lý Thường Kiệt phân tích tình hình. Đại Việt còn một mối nguy nữa là Chân Lạp và Chăm Pa. Tuy nhiên hai quốc gia này dù nhận lời nhưng lại muốn “đục nước béo co”, xem Đại Việt và Đại Tông ai thắng ai bại thì mới điều quân. Nếu Tổng thắng thì nhân đó tấn công lấy đất Đại Việt. Nếu Tống thua thì cũng không khiến Đại Việt mất lòng. Tuy vậy thời gian càng dài thì sự uy hiếp sẽ càng lớn dần bởi chủ lực Đại Việt đã dồn hết về mặt trận phía Bắc, còn mặt Nam thì rất mỏng. Nếu quân Đại Việt tiếp tục đánh với Quách Quỳ, tình trạng “lưỡng bại câu thương” xảy ra, đến khi quân ta đuổi được Quách Quỳ đi cũng không còn sức xuống phía Nam nữa. Tuy vậy, nếu nghị hòa với Quách Quỳ thì lại khác, sẽ đẩy đến việc làm cho Chân Lạp và Chăm Pa phải rợn người vì điều đó cho thấy Tống đã bỏ đồng minh và Đại Việt vẫn quá mạnh, lại đủ thì giờ để bảo vệ biên giới.
Bởi thế lá thư nghị hòa được gửi qua, nhà Tống mừng như bắt được vàng, giao kèo được ký kết. Một lá thư, yên cả mạn Bắc và mạn Nam. Có thể nói rằng, xuyên suốt cuộc đời Lý Thường Kiệt, ông luôn biết đặt đại cục lên đầu, khi uyển chuyển, khi mạnh bạo, khi hòa hoãn, khi tấn công. Một đời anh hùng đó, đáng để hậu thế cúi rạp người học hỏi và ngưỡng mộ. Năm 1077, Lý Thường Kiệt đại phá quân Tống, làm câm lặng Chăm Pa. Người là anh hùng xứng danh nhất thế kỷ XI.
Ngô Tuấn - Lý Thường Kiệt, hậu nhân hãy nhớ về cái tên ấy. Ngàn đời lịch sử dân tộc rất nhiều anh hùng, nhưng vị anh hùng bản lĩnh đến mức đem quân sang Bắc đánh giết thì được mấy người dám nghĩ, lại càng hiếm ai dám làm. Con người ấy không chỉ có tài năng thống lĩnh ba quân mà còn có khả năng thơ phú, dùng ý chí để khích lệ lòng quân. Một hoạn quan mà toàn vẹn hơn vô vàn triệu triệu người khác bởi công tích phá Tống bình Chiêm vĩ đại của mình.
❀ ❀ ❀
[1] Triệu Cao (nhà Tân), Trương Nhượng (nhà Đông Hán) và Ngụy Trung Hiền (nhà Minh) là ba vị hoạn quan nổi tiếng những loạn triều chính trong lịch sử Trung Quốc.
[2] Vua Lý Càn Đức.