Sử Việt - 12 Khúc Tráng Ca

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khúc Ca 5:tiếng Nhạc Vút Caolý Thái Tổ, Người Vươn Cánh Rồng Bay
1. Lý Công Uẩn Và Lê Long Đĩnh

❊ ❊ ❊

Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn, công ơn của ngài đối với nước nhà lớn đến thế nào, chắc chúng ta đều đã được nghe nhiều, nhưng ngoài những điều đó thì còn gì nữa?

Lê Ngọa Triều là vị vua cuối cùng của triều Tiền Lê, là con trai thứ ba của vua Lê Hoàn - Lê Đại Hành, người thay thế nhà Đinh sau cái chết của Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn. Khi Lê Hoàn nắm quyền, nhằm đào tạo cho những người con của mình, ông đã sắc phong vương cho các hoàng tử, cho họ được quyền nắm giữ các quân đội riêng. Điều này có một cái lợi đó là sản sinh ra những người con dũng mãnh với tham vọng như sói, nhưng đồng thời tạo ra cuộc đấu đá tranh giành, không phục lẫn nhau vì ai cũng có quân trong tay.

Quả nhiên, sau khi Lê Đại Hành mất, một cuộc tranh giành kéo dài 8 tháng đã diễn ra giữa thái tử Lê Long Việt, Đông Thành Vương Lê Long Tích, Trung Quốc vương Lê Long Kính và Khai Minh Đại Vương Lê Long Đĩnh. Sách An nam chí lược chép rằng: “Lê Hoàn đã chết, mấy người con đều tụ tập binh mã, chia đặt trại sách, quan thuộc ly tán, nhân dân lo sợ.”

Kết quả cuối cùng chiến thắng thuộc về Lê Long Đĩnh. Ông lên ngôi vua. Nhưng trong cuộc “huynh đệ tương tàn” làm suy yếu nhau ấy, không ai để ý có một đạo quân riêng đóng vai trò trung lập, lặng lẽ quan sát và đợi thời cơ, đó là đạo quân của Lý Công Uẩn - người đang giữ chức điện tiền chỉ huy sứ, chỉ huy quân đội bảo vệ kinh đô Hoa Lư, người sẽ là nhân vật chính của chúng ta ở khúc ca số 5 này.

Lê Long Đĩnh lên ngôi vua. Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim chép lại:

“Long Đĩnh là người bạo - ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa.

Vì lúc sống dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Ngọa Triều.”

Câu chuyện về hai chữ “Ngọa Triều” và “tàn ác” của Lê Long Đĩnh cũng được sự thống nhất ở cả Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên. Để rồi trong hoàn cảnh suy tàn đó, Long Đĩnh mất, các con còn nhỏ, quan điện tiền chỉ huy sứ là Lý Công Uẩn được sự ủng hộ của chi nội là Đào Cam Mộc cùng thiền sư Vạn Hạnh đã lên ngôi hoàng đế, các quan trong triều đều nhất trí suy tôn. Sự tàn ác của Lê Long Đĩnh, ngày đăng cơ của Lý Công Uẩn đã được đóng đinh vĩnh viễn trong trang sử với ngôn từ và xác lập số phận như thế.

Nhưng bạn hãy dừng lại một chút, một chút thôi, cùng nhau tư duy ở chỗ này: Thời đại phong kiến, vua là “thiên tử" - con trời, có vị trí duy ngã độc tôn và thay trời cai quản thiên hạ. Điều này có nghĩa bất kỳ một sự đổi ngôi nào cũng tạo nên một trường đoạn máu chảy vì tranh chấp hai chữ “thiên hạ”. Thế thì tại sao nhà Lê lại có thể dễ dàng truyền ngôi cho nhà Lý như vậy? Và rằng nếu như Lê Long Đĩnh xấu xa cần phải thay thế thì tại sao không thay người cùng họ Lê mà lại thay bằng người họ Lý? Vào thế kỷ XI, đất nước ta nào có phải là thời Nghiêu, Thuấn bên Trung Quốc để Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn và Thuấn truyền ngôi cho Vũ[1] đâu? Và thiền sư Vạn Hạnh có vai trò gì trong cuộc “thay triều đổi đại này”? Thiền sư Vạn Hạnh có thể coi như là người dẫn lôi cho đời sống tâm linh của nhân dân trong giai đoạn đầu của Phật giáo. Thiền sư Vạn Hạnh là cố vẫn tin cẩn của vua Lê Đại Hành nhưng đồng thời còn là thầy của vua Lý Thái Tổ. Sự quan hệ chồng chéo của thiền sư Vạn Hạnh với hai triều đại Việt Nam rõ ràng là điều chúng ta không thể không đặt câu hỏi. Liệu lịch sử thế giới đã có cuộc đổi ngôi nào mà một vị quốc sư đóng vai trò lớn đến vậy? Cho tới tận bây giờ, khác với những lần thay đổi triều đại khác như Lê Đại Hành thay Đinh Toàn với việc Phạm Cự Lạng ập vào trong cung cấm, hay cuộc hôn nhân chính trị giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh mà thái sư Trần Thủ Độ sắp đặt thì chuyện Lý Công Uẩn thay nhà Tiền Lê lại sở hữu sắc màu bí ẩn, đi cùng những lời đồn dân gian và những câu sấm truyền miệng, chẳng hạn ngày Lý Công Uẩn sinh ra trên bàn tay có bốn chữ “Sơn hà xã tắc” hay chuyện cây gạo bị sét đánh rồi xuất hiện mấy câu sấm. Những tình tiết huyền thoại đó có lẽ chỉ được vận động từ một người có vị trí là thủ lĩnh tâm linh của nhân dân mà thôi.

Đó phải chăng là lời đáp cho việc vì sao mà dưới thời Lý, Phật giáo phát triển rực rỡ nhất. Như sử gia Lê Văn Hưu đã nhận xét về việc sùng Phật của Lý Thái Tổ trong Đại Việt sử ký: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ điệp (văn bằng cấp cho người xuất gia đi tu) cho làm Tăng hơn nghìn người ở kinh sư làm sư.” Đưa Phật giáo trở thành quốc giáo, rộng khắp trong đời sống nhân dân, đến nỗi sử gia Lê Văn Hưu đã phải thốt lên: “Trong nước chỗ nào cũng có chùa chiền, nhân dân quá nửa là sư sãi.”

Đó nếu không phải là sự đáp tạ cho việc ủng hộ của thiền sư Vạn Hạnh và tăng chúng thiên hạ trong việc lập ra triều Lý thì còn là gì nữa đây?

Quay lại câu chuyện về Lê Long Đĩnh, Đại Việt sử ký toàn thư chép về vua Lê Long Đĩnh như sau: “Ngự Bắc Vương cùng Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan làm phản. Vua thân đi đánh.” Hoặc: “Vua thân đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long”. Hoặc: “Vua thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà”... Tính ra thì có tới sáu lần được nhắc đến chuyện vua thân chinh ra ngoài đánh dẹp để bảo vệ cương thổ nhà Tiền Lê. Một con người mạnh mẽ trên lưng ngựa như vậy với sáu lần đích thân ra trận tiền thì rõ ràng không thể ốm yếu. Thật không logic chút nào khi được miêu tả là “Ngọa Triều” - chỉ nằm mà thương triều, một hình ảnh phải nói quá nhục nhã về một vị vua.

Nếu bảo là “ác như Kiệt Trụ” thì tại sao Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép vua Lê Long Đĩnh có công thỉnh kinh Phật về nước Việt, qua câu sau: “Đinh Mùi, năm thứ 14 (1007). Nhà vua (Lê Long Đĩnh) sai Minh Xưởng và chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng. Nhà Tống ưng thuận cho cả.” Một vị vua thỉnh một tôn giáo đầy tính nhân đạo như Phật giáo về nước, há có thể là Kiệt, Trụ?

Tài năng có, công lao với dân tộc cũng có nhưng mang nỗi oan nghìn thu khi bị đóng đinh trong suy nghĩ “Ngọa Triều” và “bạo ngược”. Thiết nghĩ hậu nhân cũng cần phải nhìn nhận một cách công bằng chăng?

Chúng ta hôm nay chỉ có thể đặt nghi án, liệu phía sau màn lên ngôi đầy êm thấm của Lý Công Uẩn có thể là một cuộc tranh đoạt chính trị trong bóng tối? Một lưỡi gươm đã rút ra mà không thấy máu? Hậu thế chưa có được một bằng chứng rõ ràng nào cho chuyện này, ngoài những sự kiện chắp nổi và những dấu tích lịch sử, để tin rằng vấn đề không đơn giản như đã viết, cũng như để tin rằng, nếu sử Việt thật sự được khai thác một cách triệt để nhất, độ hấp dẫn ly kỳ, há kém ai!

2. Lý Thái Tổ và Thăng Long

Tuy nhiên dù cho được quyền chọn lại chăng nữa, tin chắc rằng, nhân dân Việt Nam, lịch sử Việt Nam vẫn lựa chọn Lý Công Uẩn mà thôi. Câu chuyện Lý Công Uẩn, thiền sư Vạn Hạnh và vua Lê Long Đĩnh để biết sử Việt luôn hấp dẫn, đồng thời lại giúp ta biết thêm về một vị vua được chính sử nhận định là “khoan thứ, nhân từ, tinh tế, hòa nhã, có lượng để vương”, nhưng để bước lên ngôi cửu đỉnh, hẳn không thể bằng một cách suy tôn thông thường từ các đại thần nhờ nhân cách mà còn phải bằng một loạt những âm mưu chốn quan trường. Chuyện đấu đá ấy không làm xấu đi hình ảnh của nhà vua, ngược lại còn để hậu nhân hiểu, khi một con người đủ hùng tài đại lược để thay triều đổi đại trong êm thấm thì ắt hẳn sẽ đủ tầm nhìn để xây dựng được một nước Việt chắp cánh bay cao trong ngày ngài nắm quyền.

Để bàn về tầm vóc của Lý Thái Tổ, đôi khi nên “vẽ mây, nẩy trăng”. Đó là nhận định về giá trị lớn nhất mà Lý Thái Tổ đã để lại cho dân tộc, chính là dời đô từ Hoa Lư - Ninh Bình về Đại La (Thăng Long - Hà Nội). Hà Nội hôm nay, sau hơn ngàn năm phát triển, đã đủ để ta hiểu rằng tầm nhìn dời đô là đúng đắn. Nhưng ý nghĩa thực sự của việc dời đô ngày hôm đó thì không hề đơn giản chút nào. Hoa Lư, thủ đô của nước Đại Cồ Việt, cố đô của Việt Nam như đã phân tích ở khúc tráng ca mang tên Đinh Bộ Lĩnh, đó là một vùng đất mạnh về phòng thủ với dãy núi đá vôi bọc xung quanh và hệ thống sông ngòi trải phía trước. Địa thế này là cực phẩm về phòng thủ. Đại La, vùng đất sắp được dời đô lại nằm ngay tại trung tâm của đồng bằng Bắc Việt - vị trí nằm giữa con sông Hồng ở phía đông và sông Tô Lịch phía tây. Địa thế hội tụ bốn phương này giúp phát triển mạnh về kinh tế nhưng không phải là vị trí tốt trong phòng thủ chiến tranh.

Bằng việc dời đô từ Hoa Lư, một vị trí có ý nghĩa về phòng thủ sang Thăng Long, một vị trí có ý nghĩa về phát triển kinh tế, Lý Công Uẩn đã cho thiên hạ thấy rằng, đã đến lúc dân tộc Việt Nam không còn phải căng mình đối phó chống sự xâm lược của phương Bắc, cũng không cần phải thu giấu ở một miền đất phòng thủ nữa, bây giờ, ngay lúc này, đường hoàng bước chân ra ánh sáng và sẵn sàng xây dựng một thủ đô nghìn năm văn hiến, hệt như một chú rồng bay lên, vẫy vùng trong giai đoạn mới.

Thủ đô Hà Nội hôm nay, Thăng Long ngày xưa và Đại La thời Bắc thuộc luận về phong thủy có thể bàn thể này: Hà Nội - Thăng Long có một vị trí “núi sông chầu phục”, xung quanh vùng đất này là một hệ thống núi non trùng điệp từ các mạn Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc bủa vây về, khí thế rầm rập như “thiên binh vạn mã” đổ dồn đến trung tâm của vùng đất. Quanh Hà Nội còn có hệ thống sông ngòi từ bốn phương tám hướng cùng nhau chảy về sông Nhị Hà, đó là sông Cầu, sông Lô, sông Đà... Địa thế này trong phong thủy gọi là “chân long”, hình thái có thể coi là tuyệt đích trong việc lập đô nghìn năm. Hiểu được giá trị của thủ đô nghìn năm mà tiền nhân lựa chọn thì hậu nhân mới biết bảo vệ, chăm sóc, phát triển quê hương. Hà Nội chính là vùng đất cần được bảo vệ như thế.

Nhận xét về kinh đô Thăng Long, sử gia Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử ký tiền biên viết: “Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thể Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này.”

Quả nhiên không sai, nếu như khi còn ở Hoa Lư, nhà Đinh chỉ tồn tại có 13 năm, nhà Tiền Lê có 30 năm thì nhà Lý khi đóng đô ở Thăng Long đã ở ngôi tới 217 năm. Đến lượt nhà Trần nối ngôi, cũng cầm quyền lên tới 175 năm. Nhưng sang nhà Hồ dời đô về Tây Đô thì lại chỉ tồn tại vỏn vẹn 8 năm. Đến khi nhà Lê lên nắm vận mệnh đất nước, dời đô về lại Thăng Long thì lại trở thành vương triều lâu nhất lịch sử phong kiến Việt Nam, kéo dài tới 361 năm vắt qua hai đời Lê Sơ và Lê Trung Hưng.

Trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn cũng ghi mấy chữ như sau: “Ở vào nơi trung tâm trời đất, được thể rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh.”

Tháng 11, ngày Quý Sửu, năm Kỷ Dậu (tức 21 tháng 11 năm 1009), vua Lý Công Uẩn lên ngôi, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, nghĩa là thuận theo ý trời. Với tài trị quốc và tầm nhìn xuất chúng, vua Lý Thái Tổ đã củng cố nội trị bằng việc chia nước ra làm 24 lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ là huyện, hương, xã. Nhà vua miễn thuế cho nhân dân trong vòng 3 năm kể từ ngày lên ngôi. Ngài còn thi hành chính sách “thân dân”, năm 1013 định lại các lệ thuế, từ thuế ruộng đất, ao hồ đến thuế bãi dâu, thuế sản vật. Ông nhiều năm xá thuế cho dân như năm 1016 xá tô thuế 3 năm, năm sau, năm 1017 lại xá tô ruộng. Đồng thời trong sáu thứ thuế mà vua ban hành, ngài chỉ thu bốn thứ, hai hạng khoan thu để tạo điều kiện cho việc phát triển nghề nông. Chính việc khoan thư sức dân này đã tạo nên rễ sâu gốc bền, khiến dân tin yêu và đảm bảo cho vương triều tồn tại lâu dài, cũng như đủ lực để chống chọi với cuộc xâm lăng của nhà Tống sau đó 60 năm.

Cũng như bao nhiêu vương triều mới thành lập khác, luôn cần phải xử lý các vấn đề về cương thổ và sự chống đối từ những nơi còn vương vấn triều cũ. Lý Thái Tổ đã phải nhiều phen cầm quân ra ngoài đánh dẹp. Tiêu biểu như vào tháng 2 năm 1011, vua mang quân đi phạt quân Cử Long ở Ái Châu. Đến tháng 10 năm 1013, nhà vua lại thân chinh ra đánh quân Man ở châu Vị Long. Tính ra từ khi đăng cơ, nhà vua đã phải bốn lần thân chinh ra mặt trận và thêm bốn lần điều quân từ trung ương ra để đánh dẹp những hào trường địa phương làm phản, trong đó có một lần đánh tan quân Chiêm Thành từ phía Nam tràn lên quấy rối.

Những tháng năm chinh chiến trên lưng ngựa trong suốt chặng dài rong ruổi của ngài đã có tác dụng tạo nên một xã tắc vững bền. Trong thời gian tại ngôi kéo dài 19 năm, Lý Thái Tổ đã giành lại cho thái tử Lý Phật Mã một thiên hạ bình an và nền móng vững vàng. Sau đó tám đời vua nhà Lý tiếp theo đã phát triển đất nước Việt Nam lên một tầm mới. Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư khi nói về Lý Thái Tổ đã viết: “Nam Bắc thông hiểu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược của bậc đế vương.”

Dưới thời Lý Thái Tổ, Phật giáo nhờ đó cũng phát triển mạnh mẽ hơn. Vào tháng 6 năm 1018, nhà vua ra lệnh cho Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc qua Trung Quốc và thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng. Năm 1019, lập đàn giới ở chùa Vạn Thọ, sai các tăng đồ đến thụ giới. Đến năm 1024, cho xây chùa Chân Giáo ở trong thành để nhà vua tiện ngự đọc tụng kinh kệ. Đến năm 1027, cho sao chép Đại Tạng kinh làm nhiều bản để phổ biến cho dân chúng nghiên cứu, tu học. Ở đây, chúng ta không thể đánh giá chung chung là công trạng mà cần nói thêm để cho thấy tầm nhìn chính trị xuất chúng của một bậc quân vương, đó là tạo ra ý thức hệ cho người dân. Để đối phó với Nho giáo của nhà Tống trong giai đoạn vừa chập chững độc lập qua thời Ngô, Đinh, Tiền Lê trong khi dân tộc chưa có một hệ thống tư tưởng luận rõ ràng thì thời điểm thế kỷ XI ấy, không có gì phù hợp hơn Phật giáo. Phát triển Phật giáo đã giúp Lý Công Uẩn hai việc, đáp tại công ơn với lực lượng Phật giáo đã ủng hộ ông lên nắm quyền, đồng thời dùng chính tôn giáo này làm ý thức hệ trong nhân dân, tạo nên một chế độ trung ương tập quyền vững mạnh.

Một điều rất thú vị, trong “An Nam tứ đại khí” huyền thoại của dân tộc, bao gồm tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điển và vạc Phổ Minh thì có tới ba quốc bảo được chế tạo ở thời Lý, chỉ có duy nhất một quốc bảo được chế tạo ở thời Trần (vạc Phổ Minh), có nghĩa đỉnh cao của thời Lý đến từ cả lĩnh vực nghệ thuật. Những bảo vật này sẽ khiến bạn sẽ tự hỏi, giờ ở nơi đâu mà hôm nay ta không thấy nữa? Một điều rất buồn mà chúng ta sẽ được gặp trong cuốn sách này ở khúc ca số 9 về vua Lê Thái Tổ, ba trong bốn bảo vật trên đã bị quân nhà Minh gỡ lấy để đúc súng đạn sau thất bại ở trận Tốt Động trước nghĩa quân Lam Sơn.

Tháng 3 năm 1928, Lý Thái Tổ qua đời, thụy hiệu là Thần Vũ Hoàng đế, an táng ở Thọ Lăng. Trong gần 20 năm trị vì, ông đã đặt nền móng cho 200 năm tiếp theo của dòng tộc nhà Lý ở Việt Nam, giúp dòng tộc này làm được những điều vĩ đại mà chỉ có những vương triều tồn tại lâu dài mới kịp làm được. Thời đại nhà Lý, khoa thi đấu tiên (tháng 2 năm 1075, Lê Văn Thịnh là trạng nguyên), trường đại học đầu tiên (Quốc Tử Giám) và đặc sắc nhất: bộ luật đầu tiên của Việt Nam, bộ luật Hình thư chính do nhà Lý soạn thảo. Giá trị lớn lao của bộ luật này đã giúp phát triển hệ thống phong kiến tập quyền và đảm bảo nền độc lập dân tộc. Thời Lý còn là thời đại mà Lý Thường Kiệt đã tiến hành “phá Tống bình Chiêm” để mở rộng lãnh thổ về phía Nam cho nước Việt, vị tướng quân vĩ đại mà chúng ta sẽ được gặp trong khúc ca số 6.

Sử gia Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký đã tổng kết về vua Lý Thái Tổ và vua Lê Đại Hành như sau: “Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được. Có người hỏi: Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài.”

Từ Khúc Thừa Dụ đến Ngô Quyền, từ Đinh Bộ Lĩnh qua Lê Hoàn và đến Lý Thái Tổ, đất nước Việt Nam những năm tháng tự chủ đầu tiên hệt như một chú bé ăn no chóng lớn, phát triển thần tốc sau chưa đầy một thế kỷ. Nhưng để vĩnh viễn xác lập nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, tạo nên độc lập lâu bền thì công lao của Lý Thái Tổ xứng đáng là đệ nhất. Nước Việt bay lên, chính ở tầm vóc của ngài và triều Lý đấy thôi.

❀ ❀ ❀

[1] Nghiêu - Thuấn - Vũ là “Tam Hoàng” trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, ba vị vua anh minh này đã xây dựng tiền đề cho nhà nước phong kiến Trung Quốc, trong đó vua Nghiêu và vua Thuấn đã chọn người tài kể nghiệp thay vì truyền ngôi cho con trai mình, Vũ là người lập lên nhà Hạ.

Thực hiện ebook: BSapien. Cuốn sách này dành tặng mẹ tôi
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Dũng Phan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.