Khi nhắc về lịch sử Việt Nam, chúng ta thường có thói quen nói về các trận đánh ở Chi Lăng, Bạch Đằng, Vạn Kiếp... mà ít nhắc tới các trận đánh tại thành Quy Nhơn hay trận Thị Nại. Nếu như các khúc ca trước, sử Việt thời phong kiến thường là các cuộc tranh giành ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội... thì bây giờ, đến lượt Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Sài Gòn... bước lên sân khấu lịch sử. Nơi đây, những nhân tài rực rỡ sẽ cùng nhau xuất hiện trong một thời đại đẫm máu mà không kém phần huy hoàng. Bản tráng ca cuối cùng của cuốn sách sẽ là khúc ca dài nhất, bởi vì kéo dài 200 năm và mang trong mình những hào hùng tráng khí của một trang sử ít nhiều bị khuất lấp.
Để tìm hiểu vì sao dòng họ Nguyễn (Gia Miêu hoặc Nguyễn Phúc) bước lên vũ đài lịch sử của dân tộc Việt Nam và sau đó tạo nên diện mạo chữ S hôm nay cần phải lùi lại một giai đoạn lịch sử trước đó. Vào năm 1527, nhà vua cuối cùng của triều Lê Sơ là Lê Cung Hoàng buộc phải viết chiếu nhường ngôi cho một vị tướng văn võ song toàn và đầy tham vọng, người đó tên là Mạc Đăng Dung. Nhà Mạc từ đó thay nhà Lê nắm quyền điều hành đất nước. Nhưng có một vị tướng cũ của nhà Lê không chấp nhận nhà Mạc, ông trốn qua Ai Lao (Lào bây giờ) gây dựng lực lượng đi tìm hậu duệ nhà Lê, tôn lập làm vua, dựng cờ chống lại nhà Mạc từ vùng đất Thanh Hóa. Vị võ tướng đó tên là Nguyễn Kim, người gốc Thanh Hóa. Nhà vua được lập là vua Lê Trang Tông, vị vua mà trong nhân gian gọi là “Chúa Chổm”, cùng câu tục ngữ: “Nợ như chúa Chổm” hình thành vì thuở hàn vi nhà vua ăn chịu nhiều quá.
Nguyễn Kim có một người con rể tên là Trịnh Kiểm, cũng là một vị tướng tài ba, văn võ song toàn. Với sự giúp đỡ của con rể, Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm dùng lại kế của Nguyễn Chích năm xưa ở khởi nghĩa Lam Sơn, đây là chiếm hai vùng Thanh - Nghệ để làm bàn đạp tấn công ra Thăng Long nơi nhà Mạc chiếm giữ. Đây chính là giai đoạn chiến tranh Nam Triều - Bắc Triều.
Để đối phó với thế như chẻ tre của quân Lê Trang Tông, nhà Mạc dùng kế trá hàng, cho Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất giả hàng đầu độc Nguyễn Kim. Kế sách thành công, Nguyễn Kim chết, Trung Hậu hầu về lại với Mạc Phú Hải. Trước khi chết, Nguyễn Kim giao lại toàn bộ binh mã cho Trịnh Kiểm, vậy là toàn bộ binh quyền của nhà Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm. Người con rể này sẽ mở ra giai đoạn Vua Lê - Chúa Trịnh.
Nguyễn Kim có hai người con trai, người con trai thứ hai của Nguyễn Kim chính là chúa Tiên của dòng họ Nguyễn mở cõi Việt Nam sau này: Nguyễn Hoàng.
Nguyễn Hoàng càng lớn càng thông minh, tài kiêm văn võ, từng ra trận chém tướng và được vua Lê Trang Tông khen là: “Thực hổ phụ sinh hổ tử”. Nguyễn Hoàng lớn lên, chứng kiến anh trai Nguyễn Uông chết bí ẩn, lo sợ anh rể Trịnh Kiểm làm hại nên giả ốm ở phủ để tránh nghi ngờ, đồng thời gửi người đến Bạch Vân Am gặp Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vấn kế. Trạng Trình đã cho ông một lời khuyên: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là: Hoành Sơn (tức là Đèo Ngang trở về trong) là có thể dung thân muôn đời được.
Nguyễn Hoàng hiểu ý, nhờ chị ruột mình là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) và thái phó Nguyễn Ư Dĩ xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ ở Thuận Hóa (là khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên - Huế ngày nay). Trịnh Kiểm đồng ý bởi hai lý do, thứ nhất là muốn tránh một kẻ có thể đe dọa vị trí của mình, thứ hai là ông cần người để quản lý vùng Thuận Hóa heo hút mà lòng người chưa phục.
Nhưng Trịnh Kiểm không ngờ, ông đã thả hổ về rừng, thả rông ra biển.
Từ dấu chân Nguyễn Hoàng dòng họ Nguyễn rồi đây sẽ xây dựng một vương quốc Đàng Trong với chín đời chúa Nguyễn, cùng với nhà Trịnh ở Đàng Ngoài tạo nên cuộc can qua mang tên “Trịnh - Nguyễn phân tranh”. Nhưng đi cùng với đó là công cuộc khai hoang tới mũi Cà Mau, xây dựng nên một đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ, tiếp thu thêm văn hóa Khmer, đánh bại hoàn toàn Chăm Pa, Chân Lạp, dang tay đón những dòng người nhập cư mới, kiến tạo một dải đất thẳng cánh cò bay ở miền Nam, để cùng với miền bắc Sông Hồng tạo nên văn minh Đại Việt giai đoạn cận đại. Hậu duệ của chúa Tiên Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long) vào năm 1802 sẽ thống nhất một dải từ địa đầu Nam Quan đến mũi Cà Mau để chính thức tạo nên đất nước hình chữ S như bây giờ. Đấy là triều đại quân chủ cuối cùng của dân tộc Việt Nam, khúc ca đựng nước cuối cùng thời đại phong kiến, khép lại bản hùng ca sử Việt trong trang sách hôm nay.
Ai về xứ Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống
Lạc Hồng Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!
Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ, vẫn thường mùa cải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng...
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền,
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm!
Muốn trở về quê, mở cánh tiên.
Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi
Bao giờ mang kiếm trả dân ta?
(Nhớ Bắc - Huỳnh Văn Nghệ, 1940)
Xin mở đầu câu chuyện về chín đời chúa Nguyễn và gia tộc họ Nguyễn bằng bài thơ thẩm đẫm tình dân tộc, bài Nhớ Bắc của “Thị tướng rừng xanh” Huỳnh Văn Nghệ. Chúa Nguyễn Hoàng và hậu duệ của ông chưa bao giờ nguôi nỗi nhớ quê cha đất tổ. Và không chỉ mỗi dòng tộc nhà Nguyễn luôn “thương nhớ đất Thăng Long”, mà dù người Nam hay người Bắc, bao thế hệ người Việt ra đi mở cõi, bao thế hệ lưu lạc, tha phương thì hồn người nước Việt đến chân trời góc bể nào vẫn nhớ mình thuộc nòi giống Lạc Hồng. Ngàn đời nước Việt bền vững chính bởi người Việt chưa bao giờ quên đi những khúc sử ca và những bậc tiền nhân đã tạo nên diện mạo hình chữ S.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng rời Tây Kinh ra đi, cùng với tùy tùng và những người bạn chiến đấu xứ Thanh - Nghệ, trong đó có những người thân tín như Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Tường Lộc... Rồi đây những con người này sẽ nằm xuống ở nơi đất khách quê người và phải gần 250 năm sau nữa, hậu duệ của họ mới có thể quay lại mảnh đất Thăng Long và Tây Kinh của cha ông ngày nào. Nguyễn Hoàng ban đầu đóng dinh tại Ái Tử (Triệu Phong - Quảng Trị ngày nay). Những năm đầu tiên, ông tập hợp quanh mình những người cộng tác ưu tú, lo việc phát triển các nguồn kinh tế và vỗ về yên dân, nộp thuế đầy đủ cho Tây Kinh (400 lạng bạc và 500 súc tơ lụa), đích thân yết kiến vua Lê và anh rể Trịnh Kiểm. Đến năm 1570, Trịnh Kiểm giao ông trấn thủ luôn đất Quảng Nam, Nguyễn Hoàng trở thành tổng trấn tướng quân kiêm quản cả xứ Quảng lẫn xứ Thuận Hóa. Chúa Tiên chăm lo đời sống nhân dân nhưng cũng phát triển quân sự, hòng đối phó với những đợt vây hãm trên biển của thủy quân nhà Mạc đánh vào khu vực này. Người đời sau nhắc nhiều về ông như người đặt nền móng cho việc phát triển kinh tế khu vực phía Nam, kỳ thực để có đủ dũng cảm và tầm nhìn “mang gươm đi mở cõi” thì võ công trên lưng ngựa há sao có thể kém được? Cho tới tận ngày mất, Nguyễn Hoàng gần như là một vị chúa bất bại trên chiến trường. Hai lần ngài đánh bại quân nhà Mạc trên đất Thuận Quảng. Lần đầu dùng kế hỏa công, lần thứ hai dùng “mỹ nhân kế” khiến quân Mạc đại bại. Đến tháng Giêng năm 1692 thì đưa quân ra Bắc giúp họ Trịnh, đánh cho nhà Mạc một phen thất điên bát đảo, hễ ra quân là thắng, hễ đến là yên. Trong vòng 8 năm giữ yên mạn Bắc, công to lần cả họ Trịnh, khiến cho Trịnh Tùng phải tìm cách giữ ông ở lại Đông Đô hòng kiềm chế. Năm 1600, Nguyễn Hoàng nhận thấy tình hình không ổn đã lấy cớ dẹp giặc rồi đi thẳng một mạch về Thuận Hóa. Giai đoạn “Trịnh - Nguyễn phân tranh” bắt đầu từ thời khắc này.
Trở về Thuận - Quảng, Nguyễn Hoàng bắt đầu tiến hành xây dựng Cơ đồ. Từ xưa đến nay giữa thế quyền và thần quyền luôn có sự kết nối. Hệ tư tưởng sẽ đóng vai trò làm bền vững thêm bộ máy cai trị và ngược lại bộ máy cai trị sẽ hỗ trợ cho tôn giáo phát triển. Nguyễn Hoàng nhìn ra dân miền Nam là dân di cư, người dân tộc hoặc dân địa phương gốc rễ chưa bền nên việc làm đầu tiên của ông chính là cho xây các chùa chiền, miếu mạo, tạo tâm linh và đời sống tín ngưỡng cho nhân dân Đàng Trong, sau đó mới tiến hành tổ chức lại bộ máy hành chính, tách và gộp các phủ ở Thuận Quảng để dễ bề quản lý. Chùa Thiên Mụ tại Huế chính tay Nguyễn Hoàng xây dựng. Đặc biệt ông còn xây dinh trấn tại Thanh Chiêm trên đất phủ Điện Bàn, chính trấn này sẽ trở thành điểm quản lý quan trọng nhất ở miền Nam. Vừa để coi sóc thương cảng Hội An, vừa là bộ máy đầu não của Đàng Trong trong việc mở rộng lãnh thổ, vừa là nơi cung cấp hậu cần cho quân đội hòng đối phó với các cuộc tấn công của nhà Trịnh. Dinh Thanh Chiêm vì thế được quản lý bởi chúa kế tục đời sau là thế tử Nguyễn Phúc Nguyên. Từ giờ, nguyên tắc chúa đời sau sẽ nắm dinh Thanh Chiêm trở thành truyền thống của chín đời chúa Nguyễn, như một lời đảm bảo về sự kế thừa hợp pháp.
Một trong những công lao lớn nhất của chúa Tiên Nguyễn Hoàng chính là đặt nền tảng cho “trọng thương ở vùng đất miền Nam trù phú. Đại Nam thực lực chép: “Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn.” Ông đã xây dựng Hội An thành thương cảng lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời từ thuở sơ khởi ấy, Nguyễn Hoàng đã biết xúc tiến ngoại thương bằng các bức thư gửi cho Nhật Bản đề cùng buôn bán. Cuốn sách Xứ Đàng Trong Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 đã viết: “Ngoại thương đã trở thành yếu tố quyết định trong tốc độ phát triển của Đàng Trong. Ngoài thương nghiệp không có gì khác có thể giúp họ Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực này có thể đương đầu nổi với một vùng đất có số tiềm lực nhiều gấp đôi, gấp ba Đàng Trong về mọi mặt.”
Có thể nói rằng, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã vượt trên tư tưởng cùng thời đại ở miền Bắc, nếu như ở miền Bắc vẫn theo Nho gia “trọng nông ức thương” thì ở miền Nam đã đưa tầm nhìn ra biển. Hãy dùng lăng kính hiện đại để nhìn về lịch sử. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, chúng ta đang thấy các thương hiệu lớn nước ngoài khi muốn xâm nhập vào thị trường Việt Nam thì đa số luôn chọn Sài Gòn làm điểm thử nghiệm đầu tiên. Nếu Sài Gòn đảm bảo rồi thì mới tiến hành khai thác thị trường Hà Nội. Chính bởi vì nền móng cho kinh tế thị trường ở miền Nam và con người miền Nam phóng khoáng đã được đặt nền tảng từ thế kỷ XVI, còn miền Bắc thì phải sau này mới thoát khỏi nền “trọng nông ức thương” của Nho giáo.
Năm 1613, Nguyễn Hoàng bị bệnh nặng rồi mất. Lúc này, ngài cũng đã kịp mở cõi về Phú Yên. Ngày vào Nam, Nguyễn Hoàng chỉ có Thuận - Quảng thì khi mất đi, Đàng Trong là một mảnh đất từ Đèo Ngang kéo dài đến hết Phú Yên. Rồi đây, các con cháu ngài tiếp tục đi xuống mũi Cà Mau. Nhận định về ngài, Trần Trọng Kim viết trong Việt nam sử lược như sau: “Nguyễn Hoàng là một người khôn ngoan mà lại có lòng nhân đức, thu dùng hào kiệt, yên ủi nhân dân, cho nên lòng người ai cũng mến phục.”
1.2. Chúa Sãi
Người con thứ sáu của Nguyễn Hoàng là chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên thay cha. Dân gian thường gọi chúa Nguyễn Phúc Nguyên là chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa. Chỉ riêng những cái tên dân dã đó thôi cũng đã nhắc nhở nhau về đức độ và công ơn của ngài rồi. Nhưng để nói về chúa Nguyễn Phúc Nguyên thì cần nhắc về một người, sự xuất hiện của người này đã thay đổi thế cục giữa Trịnh và Nguyễn, đã đổi gió thời đại, đã tạo nên một Đàng Trong trù phú, người được ví như Khổng Minh của chúa Nguyễn, tên ông là Đào Duy Từ.
Năm 1627, Đào Duy Từ xuống núi và ra mắt chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Cùng với thời điểm này, mối quan hệ giữa họ Trịnh và họ Nguyễn đã đi tới binh đao khói lửa, Đào Duy Từ đóng vai trò phụ chính cho chúa Nguyễn, đã khuyên chúa Nguyễn xây một công trình được ví như “Vạn Lý Trường Thành” của Việt Nam, đấy là Lũy Thầy tại Đồng Hới - Quảng Bình (giờ vẫn còn di tích). Hai bờ thành lũy đóng vai trò cực kỳ quan trọng khi đối diện với quân đội mạnh hơn rất nhiều lần, sự phòng thủ của hai tòa thành này đã giúp bảo vệ được cơ nghiệp của chín đời chúa Nguyễn sau này. Đào Duy Từ còn là nhà “an bang trị quốc” của nhà Nguyễn. Không chỉ mỗi vấn đề mở đất, ông còn cho đẩy mạnh dân số để cai quản các vùng đất vừa chiếm được. Đào Duy Từ cùng chúa Nguyễn tham mưu một định chế chính quyền yêu dân như Con, đó là lý do vì sao dân gian yêu quý Nguyễn Phúc Nguyên và gọi là “chúa Bụt”. Đóng góp của Đào Duy Từ không chỉ trên lĩnh vực quân sự và hành chính, ông còn đóng góp cho di sản văn hóa vô giá của dân tộc như nhã nhạc cung đình hay sưu tầm ca dao, thơ văn... tạo cho miền Nam thêm dòng văn hóa nghệ thuật để sau này làm đặc sắc thêm văn hóa Việt Nam.
Nếu như chúa Nguyễn Hoàng là người đặt nền móng thì chúa Nguyễn Phúc Nguyên và quân sư Đào Duy Từ chính là người đã đưa Đàng Trong cất cánh mang tầm vóc như một đế quốc thật sự vào thế kỷ XVII.
1.3. Chúa Thượng
Năm 1635, Sãi vương qua đời, con trai ông là Nguyễn Phúc Lan lên kế vị. Chúa Nguyễn Phúc Lan tiếp tục chính sách cải cách hành chính của cha qua việc đặt thêm các chức Nội tả, Ngoại tả, Nội hữu, Ngoại hữu, gọi là tứ trụ triều đình để giúp chúa trông coi việc nước. Đặc biệt, giai đoạn cầm quyền của Chúa đã tổ chức một khoa thi vào năm 1647 để tuyển nhân tài trị nước.
1.4. Chúa Hiền
Năm 1648, chúa Nguyễn Phúc Lan mất khi đang trên đường trở về sau cuộc hành quân để chống với chúa Trịnh lần thứ tư. Con trai ông là Nguyễn Phúc Tần lên kế nghiệp, tức “chúa Hiền” hay “Hiền Vương” trong nhân gian hay gọi.
Chúa Nguyễn Phúc Tần có thể coi là một tay anh hùng và là vị chúa đánh trận giỏi nhất trong các đời chúa Nguyễn. Ngay từ khi còn ở vị trí thế tử, tham vọng của chúa Nguyễn Phúc Tần đã là đánh ra miền Bắc. Tháng 3, năm 1648, khi sắp đặt lương thảo, khí giới, chuẩn bị cho quân vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bộ Chính thì nghe tin Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan ngã bệnh và chết trên đường về Thuận Hóa. Cái chết đột ngột của cha khiến ông phải lui binh. Nhưng trong 39 năm trị vì của mình sau đó, chúa Nguyễn Phúc Tần chưa bao giờ giấu giếm ý định đánh ra nhà Trịnh, qua cái cách mở rộng thủy quân lên tới hơn 22 vạn quân và hàng trăm đội thuyền.
Tuy nhiên thành tích lớn nhất của chúa Nguyễn Phúc Tần hóa ra không phải ở mạn Bắc mà là ở mạn Nam. Nếu như đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng, ranh giới của Đàng Trong là đến Phú Yên thì sau cuộc chiến với Chăm Pa vào năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đã đưa lãnh thổ Đàng Trong đến Phan Rang. Vượt qua Phan Rang, chúa Nguyễn Phúc Tần bắt đầu nhóm ngó Chân Lạp, nơi có Đồng Nai và Sài Gòn sau này.
Lịch sử là bài học của tiền nhân và sẽ có những bài học đổi bằng máu, nước mắt và sự xóa sổ của cả một đất nước đã từng bại trận trước Việt Nam, để chính Việt Nam lấy bài học từ đó. Chân Lạp trong thời đại chúa Nguyễn Phúc Tần chính là như thế. Những dòng sử sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu được, vì sao Việt Nam có vùng đất Sài Gòn và Đồng Nai.
Năm 1658, hoàng tử Ang Sur và Ang Tan của Chân Lạp dấy binh chống lại vua Chân Lạp Ramathipadi I (Nặc Ông Chân) nhưng thất bại. Hai người này trong cơn say quyền lực đã cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần. Chúa Hiền liền sai phó tượng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phúc Yên dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (nay thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Nguyễn Phúc Yến đánh tan quân của Ramathipadi I rồi giải về Quảng Bình. Ang Sur nhờ sự giúp đỡ ấy mà được làm quốc vương, xưng là Barom Reachea V, còn em trai Ang Tan làm phó vương đóng tại thành Sài Gòn. Đổi lại, quốc vương Chân Lạp phải thần phục Đàng Trong và thực hiện triều công định kỳ.
Đến tháng 12 năm 1672, nội loạn của Chân Lạp lên đến giai đoạn đẫm máu nhất. Quốc vương Barom Reachea V bị giết chết bởi con trai vua Ramathipadi I đời trước. Bô Tôm là tên vị hoàng tử ấy, ông ta lên ngôi vua xưng là Chey Chetha III. Nhưng chỉ làm vua được 6 tháng, đến tháng 5 năm 1673, Chey Chettha III cũng bị giết trên giường ngủ bởi Ang Chea (Nặc Ông Đài), con trai đầu của vua Barom Reachea V, xưng là Keo Fa II. Năm 1674, Nặc Ông Đài đã đi cầu viện Thái Lan để đánh phó vương Ang Tan, chiếm được thành Sài Gòn. Ang Tan bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh Hòa). Nhận lời của Ang Tan, chúa Hiển bèn sai là Nguyễn Dương Lâm ở Nha Trang cùng với Nguyễn Đình Phái đem binh chia ra hai đạo sang đánh Nặc ông Đài.
Tháng 3 năm 1674, tiên phong Nguyễn Diên chiếm được lũy Mỗi Xuy. Quân Cao Miên tấn công dữ dội hòng giành lấy nhưng không ngờ trúng kể. Từ sau lưng, đại binh của Nguyễn Dương Lâm đến âm thầm. Lúc này, Diên mở cửa thành đánh ra, Lâm từ bên ngoài đánh vào. Hai mặt giáp công, quân Cao Miên tan vỡ, bị chết và bị thương vô số. Đại binh nhà Nguyễn tiến đến Sài Gòn. Thế đánh như chẻ tre, quốc vương Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào rừng, bị thuộc hạ giết chết. Chúa Hiền cho Nặc Ông Thu, con trưởng Nặc Ông Đài làm quốc vương đóng ở Long Úc (thành Vũng Luông), để Ang Tan làm đệ nhị quốc vương như cũ, đóng ở thành Sài Gòn. Nguyễn Dương Lâm làm trấn thủ Khánh Hòa, lo việc phòng ngự ngoài biên.
Vậy là đến đời Nguyễn Phúc Tần, Chân Lạp chỉ còn độc lập trên danh nghĩa. Với sự tràn vào của người Việt và sau này là người Hoa.
Sự kiện lớn nhất trong giai đoạn Chúa Nguyễn Phúc Tần sẽ là một sự kiện đánh dấu có tính trọng đại cho lịch sử của Việt Nam sau này. Đấy là câu chuyện về gốc gác của những người Hoa sống tại miền Nam. Chuyện bắt đầu bằng một sự kiện lớn bên Trung Quốc. Vào năm 1644, nhà Minh sụp đổ, quân Mãn Châu tiến vào Bắc Kinh, làm chủ Trung Nguyên và lập nên nhà Thanh. Nhiều người Hán không chấp nhận điều này và giương cao ngọn cờ “Phản Thanh phục Minh” trong lòng Đại Thanh. Ngoài ra còn có những người lên trên những con thuyền vượt biên để tìm về vùng đất mới. Một trong những đoàn thuyền đó có đoàn thuyền do tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) của nhà Minh là Dương Ngạn Địch, cùng phó tướng Hoàng Tiến và tổng binh châu Cao, châu Lôi và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên, cùng phó tướng Trần An Bình với 3000 người cùng 50 chiếc thuyền dẫn đầu. Năm 1679, họ tới cửa biển Đà Nẵng, với tâm niệm của những kẻ vong quốc, thà được cai quản bởi chúa Nguyễn còn hơn sống trên mảnh đất mà ngoại địch xâm lấn. Họ gửi thư xin được vào làm dân mọn xứ Việt.
Chúa Hiền vốn nhân từ, tính cách lại hào sảng, thương những người dân mất nước mà chạy qua đất khách quê người, lại thấy họ trung thực, nhã nhặn nên không nỡ từ chối, tuy nhiên quân đông quá, không thể chứa được ở khu vực miền Trung. Vậy là nghĩ ra một cách, đó là với họ về các vùng đất ở Chân Lạp để khai hóa đất đai. Thế là Dương Ngạn Địch đem binh thuyền dừng trú tại xứ Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên thì đem binh thuyền tiến vào Đồng Nai, lập nên Cù Lao Phố. Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức sau này đã chép lại về những nơi này: “Họ lo mở mang đất đai, lập thành phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật, người Chà Và (người gốc Java), tụ tập tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra thấm đượm cả vùng Đông Phố.”
Sau hai người này lại có thêm Mạc Cửu, người sẽ cố công hình thành và khai phá nên vùng đất Hà Tiên (tức Kiên Giang ngày nay). Mạc Cửu còn hơn Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, bởi ông hướng về cái mở cõi và khai phá, lấy đất cả Chân Lạp rồi dâng cho chúa Nguyễn chứ không đơn thuần là phát triển kinh tế. Cụ thể khi còn sống, ông khai phá Hà Tiên, Rạch Giá và Kiên Giang. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tử được làm chức đô đốc, tiếp tục cai quản Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và đưa người về dạy Nho học để khai hóa đất Hà Tiên. Sau đó, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, Mạc Thiên Tứ mở rộng đất đai kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, đưa thêm các vùng đất mới này vào trấn Hà Tiên thuộc lãnh thổ Đàng Trong. “Nam Kỳ lục tỉnh” đã dần dần được hình thành như vậy.
Cùng với đó là những nhân tài người Hoa như Trịnh Hoài Đức với tác phẩm Gia Định thành thông chí, được coi như nguồn sử liệu quan trọng nhất cho các nhà nghiên cứu sử học và địa lý của miền Nam Việt Nam. Có thể nói rằng, trong thời hiện đại, mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc còn nhiều bất đồng cần giải quyết, dẫn đến sự yêu ghét dành cho người dân Trung Quốc đội khi bị đánh đồng với người gốc Hoa trên đất Việt. Lịch sử thì công bằng và lịch sử chỉ ra rằng, những người Hoa ấy cũng đã góp phần khai khẩn mảnh đất hoang nước Việt từ thuở đầu mở cõi vào Nam, đã tạo nên sự phồn vinh phố thị và nền kinh tế thị trường của vùng đất này. Đây là những giá trị không thể phủ nhận.
Ngày 30 tháng 4 năm 1887, chúa Hiền không được khỏe, cho triệu con thứ là Nguyễn Phúc Thái đến bảo rằng: “Ta bình sinh ra vào gian hiểm giữ nhà, giữ nước. Con nối ngôi phải sửa thêm nhân chính cho yên bờ cõi. Các quan văn võ đều do ta cất dùng để mưu mọi bề, đừng để bọn tiểu nhân len vào.”
Căn dặn xong mọi bề thì chúa mất, thọ 68 tuổi, với 39 năm trị vì tạo nên những công tích vĩ đại.
Một điều không thể không nhắc đến, chúa Nguyễn Phúc Tần cùng với nội tôn là chúa Nguyễn Phúc Nguyên sở hữu hai võ công oanh liệt mà sử sách không nói đến nhiều. Đó là hai lần đánh bại quân Hà Lan vào năm 1585 và năm 1643. Hai chiến thắng khiến tàu bè Tây dương khi đi qua vùng Quảng Nam đều phải nhũn nhặn. Ngoài ra còn một lần danh tướng Trương Phước Phan tiêu diệt quân Anh ở trên Côn Lôn. Có nghĩa, đã có thời đất nước Việt Nam từng đánh bại thủy quân của một nước phương Tây ngay trên biển khi họ dám xâm phạm vào lãnh thổ dân tộc.
Những công tích ấy có được chính vì chúa Nguyễn rất coi trọng giao thương với phương Tây và đặc biệt đam mê công nghệ đúc súng đại bác, cũng như chế tạo tàu chiến. Đáng tiếc sau này, mười ba đời vua Nguyễn lại không học bài học của tiền nhân. Khi đất nước thống nhất, vì ảnh hưởng của tầng lớp nho sĩ Bắc Hà, ảnh hưởng của Trung Quốc và việc triều cổng nhà Thanh đã khiến họ quay sang “bế quan tỏa cảng”, sợ hãi Phương Tây, tránh xa Nhật Bản. Những việc làm đi ngược với tiền nhân này đã khiến quân đội dưới thời nhà Nguyễn lạc hậu và cuối cùng để mất nước vào tay thực dân Pháp, cho dù tổ tiên của họ đã từng ba lần đánh bại quân Anh và Hà Lan ngay trên biển.
1.5. Chúa Nghĩa
Chúa Nguyễn Phúc Thái lên kế nghiệp, dân gian gọi là chúa Nghĩa. Chúa Nguyễn Phúc Thái chỉ ở ngôi được 4 năm nhưng thi hành những chính sách rộng rãi, như giảm nhẹ hình phạt, thuê khóa, đồng thời trọng dụng quan lại cũ, khiến trăm họ đều vui mừng. Ngoài ra, đời chúa Nghĩa cũng là thời điểm thành Phú Xuân bắt đầu được xây dựng. Rồi đây, nơi quê hương “sông Hương - núi Ngự” này sẽ chứng kiến những đổi thay lớn nhất của dân tộc. Tuy nhiên chúa Nguyễn Phúc Thái mất sớm, thọ 42 tuổi. Con trai ông là chúa Nguyễn Phúc Chu kế vị, trở thành vị chúa Nguyễn thứ sáu của chính quyền Đàng Trong.
1.6. Chúa Minh
Khác với người cha đoản mệnh, chúa Nguyễn Phúc Chu có tới 35 năm trị vị. Trong thời đại của ông, Chân Lạp chính thức được bình định, vấn đề Chăm Pa được giải quyết lên một mức mới, để rồi 200 năm sau, hậu duệ của ông là vua Minh Mạng chấm dứt sự tồn tại của vương triều này. Nhưng để bàn về những công tích cực rỡ này của chúa Nguyễn Phúc Chu thì chắc chắn không thể không nhắc tới một vị danh tướng cực kỳ quan trọng, một “Đào Duy Từ thứ hai của dòng họ chúa Nguyễn, tên ông là Nguyễn Hữu Cảnh - vị tướng khai sinh đất Sài Gòn.
Nguyễn Hữu Cảnh sinh tại huyện Quảng Ninh, đất Quảng Bình. Vì những công trạng lập được trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn, ông được chúa Nguyễn Phúc Chu phong tước lễ tài hầu. Năm 1692, vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh làm phản, họp quân, đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh. Sự việc được báo lên cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa phong Nguyễn Hữu Cảnh làm thống binh cầm quân dẹp loạn Chiêm Thành. Tháng Giêng năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh đánh bại Chiêm Thành, đến tháng 3 thì bắt được vua Bà Tranh cùng gia quyến, tất cả giải về Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Chu biển đất Chiêm Thành trở thành một khu tự trị với tên là Thuận Thành Trấn, chúa Chăm được gọi là Trấn Vương. Nguyễn Hữu Cảnh được cử làm trần thủ dinh Bình Khang (Khánh Hòa - Ninh Thuận ngày nay) để coi sóc vùng đất này.
Tiến thêm một bước nữa, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai. Đại nam thực lục chép lại: “Năm 1698. Thông suất Nguyễn Hữu Kính (tức Nguyễn Hữu Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, kỷ lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bộ Chính trở về Nam cho đến ở cho động. Thiết lập xã thôn phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệnh thuế tô dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn, lập làm xã Minh Hương. Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ (của ta).”
Nhưng đến năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Thu không quy phục, cho đắp các lũy Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam, cướp bóc dân buôn. Tháng 10, một lần nữa chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh đi đánh dẹp.
Đại nam thực lục chép lại: “Khi quân ta đến lũy Bích Đội và Nam Vang, Nặc Thu đem quân đón đánh. Nguyễn Hữu Kính mặc nhung phục đứng trên đầu thuyền, vung gươm vẫy cờ, đốc các quân đánh gấp, tiếng súng vang như sấm. Nặc Thu cả sợ, bỏ thành chạy. Nặc Yêm (con vua thứ hai Nặc Nộn) ra hàng, Hữu Kính vào thành, làm yên lòng dân chúng.”
Sau khi vua Chân Lạp quy hàng, Nguyễn Hữu Cảnh tiến hành các việc an dân, ông vỗ về mọi người, khích lệ dân chúng, một vùng đất Sài Gòn, Đồng Nai với những người Khmer, Hoa hay Việt được ông đoàn kết lại, tạo tinh thần tương ái.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Hiền khi viết về những việc làm của Nguyễn Hữu Cảnh, đã miêu tả: “Những hành động khoan hòa, thiết thực, những cử chỉ ưu ái thật lòng của ông đã làm cho đồng bào vô cùng cảm mến.”
Tháng 4 năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao (nay thuộc Chợ Mới, An Giang), người dân nhớ ơn ông gọi là Cù Lao Ông Chưởng. Một tháng sau, Nguyễn Hữu Cảnh mất, nằm trên giường, ông gượng cười mà ứa nước mắt: “Ta muốn hết sức báo đền ơn nước nhưng số trời có hạn, sức người làm được gì đâu?” Ai nghe cũng không cầm được giọt lệ.
Chúa nghe tin ông mất, vô cùng thương tiếc. Để tưởng nhớ công ơn mở cõi của ông, cứ đến ngày 10 tháng 5, toàn vùng Tây Nam Bộ lại làm lễ giỗ ông. An Giang gọi ông là người khai phá tỉnh, còn Quảng Bình cho tôn tạo lăng mộ của ông ở Lệ Thủy, đền thờ và tượng ông có ở khắp nơi.
Như vậy, dưới thời Nguyễn Phúc Chu và danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh, đất Chân Lạp và Chăm Pa đã là của chúa Nguyễn. Sài Gòn, Đồng Nai trở thành trung tâm hành chính của Đàng Trong.
1.7. Chúa Ninh
Năm 1725, chúa Nguyễn Phúc Chu mất, con ông là Nguyễn Phúc Chú kế vị, dân gian gọi là chúa Ninh. Chúa Nguyễn Phúc Chú ở ngôi 13 năm, tiếp tục kế tục sự khai phá và sáng suốt của sáu đời chúa Nguyễn trước. Vào tháng Giêng năm 1726, trong không khí “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” thì chúa Ninh ban bố các điều răn, khuyên người dân siêng năng, hạn chế cờ bạc rượu chè. Những giá trị đến nay vẫn còn có tác dụng.
Cũng như các đời chúa Nguyễn trước nổi tiếng với việc mở cõi, chúa Nguyễn Phúc Chú cũng không phụ lòng cha ông khi năm 1732 tiến chiếm thêm vùng đất ngày nay là Vĩnh Long, Bến Tre, dựng dinh Long Hồ trực thuộc chủ Gia Định. Có lẽ khi đọc đến đây, nhiều người nghĩ rằng việc tiếm đất thật là đơn giản, nhưng bởi vì thời lượng cuốn sách không thể nói cụ thể các điểm này. Tuy vậy chúng ta cần phải biết rằng, để Có những vùng đất đó, chúa Nguyễn và các bậc tiền nhân đã cực kỳ gian khổ, phải đối phó với rắn rết, hổ dữ, cá sấu và đầm lầy rậm rạp để có một đồng bằng Sông Cửu Long như hôm nay. Có những bức tranh còn vẽ lại cảnh khai phá của lưu dân người Việt tại Nam Bộ còn lưu lại đến bây giờ. Cảnh họ phải chống chọi trước thiên nhiên hoang dã, xua đuổi thú dữ, độc vật. Ngay cả cái tên Hà Tiên cũng mang ý nghĩa hoang sơ kỳ bí (sáng sớm sương mù, người ta thấy tiên bay trên sông nên gọi là Hà Tiên). Sự vất vả của những người dân thuở đầu khai phá là có thể tưởng tượng được. Nào là phải xây thành, đắp đất, rồi chống chọi thiên nhiên hoang dã để biến cái hoang vắng thành nơi sầm uất cho kẻ hậu thế.
Chúa Nguyễn Phúc Chú còn nổi tiếng với việc cải cách hành chính, phát triển kinh tế vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Thời đại trị vì của ông được Trịnh Hoài Đức tổng kết trong Gia Định thành thông chí là: “Định lại quan chế, cải cách sắc phục, thay đổi phong tục, mọi người đều theo lối mới, tránh cái thô lậu của Bắc Hà từ trước tới nay. Miền Nam từ đây rạng rỡ một vùng y quan văn vật.”
Chúa Ninh giống với Chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái), cả hai đều mất sớm khi mới 42 tuổi. Con trai là Nguyễn Phúc Khoát lên kế vị, dân gian gọi là chúa Võ (chúa Vũ), vị chúa đời thứ tám.
1.8. Chúa Vũ
Nếu như đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên có Đào Duy Từ, đời chúa Nguyễn Phúc Chu có Nguyễn Hữu Cảnh thì đời chúa Nguyễn Phúc Khoát cũng có một nhân vật kinh bang tế thế để phò trợ, ấy chính là Nguyễn Cư Trinh.
Nguyễn Cư Trinh quê ở thành phố Huế, vốn là người học văn, từng đi thi Hương và đỗ sinh đồ. Liệt truyện chép rằng: “Ông hay ngâm vịnh, thường cùng Hà Tiên Đô Đốc Mạc Thiên Tứ lấy văn từ đáp tặng nhau... Ông lại họa 12 bài vịnh Hà Tiên, được mọi người truyền tụng.” Thời gian làm tuần phủ Quảng Ngãi, ông viết truyện Sãi vãi bằng quốc âm để khuyên dân, cai trị miền Nam bằng lòng nhân ái, ai cũng yêu quý. Nguyễn Cư Trinh còn là người ra trận lập công đánh dẹp cuộc nổi loạn của Chân Lạp vào năm 1755 và lấy về cho chúa Nguyễn hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công). Trong cuộc chinh phạt vua Nặc Nguyên, Nguyễn Cư Trinh đã dâng sở tâu kế “Tằm ăn dâu”, khuyên Chúa nhận hai phủ mới và cho người Côn Man được định cư tại khu vực biên giới Việt - Chân Lạp để ngăn chặn việc Chân Lạp tái diễn gây hấn nơi biên giới.
Những năm tháng tiếp theo, Nguyễn Cư Trinh đóng ở biên cương phía nam để phò giúp chúa Nguyễn Phúc Khoát hoàn thành kế hoạch Nam tiến. Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên mất. Nặc Tôn kế vị, để tỏ lòng hòa hiếu, ông dâng đất Tâm Phong Long (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn. Ngoài ra còn dâng thêm năm phủ để tạ ơn Mạc Thiên Tứ (và được Mạc Thiên Tứ dâng lại cho chúa Nguyễn). Năm phủ này sau đó được Pháp chia lại bản đồ Đông Dương và trả lại cho Campuchia, đó chính là hai tỉnh Takeo và Kampot ngày nay. Nguyễn Cư Trinh nắm bắt được tình hình biến chuyển của các vùng đất mới, ông kiến nghị dời dinh Long Hồ và châu Định Viễn từ Cái Bè (Tiền Giang) về xứ Tầm Bào thuộc địa phận Long Hồ thôn (tức vùng chợ Vĩnh Long ngày nay). Chúa Võ nghe theo và cho lập ba đạo để hỗ trợ việc coi giữ đó là: Đông Khẩu, Tân Châu và Châu Đốc, Sự chuyển dịch cơ cấu này giúp hình thành một hệ thống châu phủ và các đạo bọc quanh khu vực miền Nam Bộ. Vậy là cột mốc năm 1757 được hình thành. Tròn 200 năm kể từ ngày chúa Tiên Nguyễn Hoàng rời Tây Kinh, dòng họ Nguyễn đến đời chúa thứ tám đã hoàn thành việc mở cõi vào Nam cho đến mũi Cà Mau.
Quy luật của muôn đời: Mầm móng diệt vong được hình thành trên đỉnh cao chiến thắng. Hoàn thành việc Nam tiến, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã đạt tới đỉnh cao ấy và cũng là lúc dấu hiệu diệt vong tìm đến ngài và các đời chúa Nguyễn. Giai đoạn chúa Võ cầm quyền thì tham vọng của Đàng Trong đã muốn xưng đế, bằng những cải cách có tính vương triều qua các chức quan chia làm sáu bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công. Lúc này, vai trò của một vị chúa chăm lo muôn dân, mở cõi vào Nam đã chết mà thay bằng tham vọng của kẻ đế vương thích ăn chơi, nhũng nhiều nhân dân và hưởng lạc. Thành trấn Phú Xuân đầy rẫy cung điện, hàng quý tộc lao vào hưởng lạc. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tập lục đã kể về giai đoạn 70 năm hòa bình này của chúa Nguyễn với những hình ảnh xa xỉ cùng cực như yên ngựa bằng vàng, người người đua nhau khoe của. Quần chúng nhân dân Đàng Trong than vãn qua câu ca:
“Ai ơi ngẫm lại mà coi,
Ngọc vàng con hát tôi đòi thằng dân.”
Các loại thuế tăng liên tục, thậm chí còn sinh ra các loại thuế mới. Người dân vất vả lên rừng cũng phải nộp thuế các sản vật cho hàng quý tộc hưởng thụ. Chính điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của vương triều. Nhưng để dẫn đường đến cái diệt vong ấy thì cần một môi dẫn và quyền thần Trương Phúc Loan chính là con sâu mọt dẫn đường ấy. Thời điểm Nguyễn Cư Trinh còn sống, chỉ có Nguyễn Cư Trinh là dám hạ nhục Trương Phúc Loan mà Loan “cắm lắm nhưng vẫn kính sợ”. Năm 1767, Nguyễn Cư Trinh mất ở tuổi 51. Cây cột chống trời đức độ, tài giỏi, lại có uy tín trong triều cuối cùng của Đàng Trong đã gãy, phần còn lại sẽ là nơi phô diễn của con sâu mọt Trương Phúc Loan.
Trong những năm cuối đời, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã bị Trương Phúc Loan dẫn đường đến tửu sắc vô độ, dẫn đường đến một mối quan hệ không chính thống với cô em chú bác ruột của chúa là công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu. Môi quan hệ này đã sinh ra Nguyễn Phúc Thuần - tức là vị chúa cuối cùng của nhà Nguyễn, vị chúa thứ chín. Vấn đề là chúa Nguyễn Phúc Khoát không hề có ý định trao quyền cho Nguyễn Phúc Thuần mà di chúc ông để lại dành ngôi vị ấy cho hoàng tử Nguyễn Phúc Luân, một người thông minh, tài trí và quyết đoán. Trương Phúc Loan cần một bù nhìn, không cần một người tài, bởi ông ta hợp mưu với thái giám Chữ Đức và chưởng dinh Nguyễn Cửu Thông bắt giam Nguyễn Phúc Luân, sửa đổi di chiếu, đưa Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi chúa.
Nguyễn Phúc Luân uất ức thành bệnh mà chết. Ông có một người con trai, chính người đó sẽ trả mối hận cho cha. Người con trai ấy chính là Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia Long sau này.
1.9. Chúa Định và sự diệt vong dòng chúa Nguyễn
Năm 1765, Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi. Tất cả quyền hành nằm trong tay Trương Phúc Loan. Ông ta giết tất cả những kẻ chống đối, thâu tóm quyền hành cho gia tộc. Trương Phúc Loan bóc lột nhân dân thậm tệ, đặt đủ thứ thuế, thậm chí còn tiến hành công khai việc mua quan bán tước” để thâu về các món tài sản kếch xù. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn miêu tả về cuộc sống giàu sang của Trương Phúc Loan: “Gặp lụt vào mùa thua, phải phơi vàng đầy chiếu mây để hong khô, vàng sáng chói cả sân” Đời sống nhân dân khổ cực, lại thêm mất mùa đói kém khiến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổi lên đủ mọi thành phần từ dân tộc ít người đến nông dân và thương gia. Cho đến một ngày của năm 1971, ở vùng Tây Sơn Bình Định có ba anh em đứng lên giương lá cờ “Diệt Trương Phúc Loan”, đó là Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Văn Lữ. Năm 1773, Nguyễn Nhạc dùng mưu giả hàng chiếm được thành Quy Nhơn. Khởi nghĩa Tây Sơn tiếp tục lớn mạnh và đi thẳng xuống phía Nam, chiếm luôn một vùng đất rộng lớn từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận. Chúa Nguyễn lúc này mới nhận ra sự nguy hiểm của cuộc khởi nghĩa này. Nhưng ngay lúc ấy thì đến lượt quân Trịnh tham chiến. Năm 1774, danh tướng Hoàng Ngũ Phúc của chúa Trịnh đưa 4 vạn quân vượt qua Lũy Thầy vào đánh Phú Xuân, bắt Trương Phúc Loan và chiếm luôn Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam, gặp ngay quân Tây Sơn, bị bại trận phải vượt đường biển đi vào Gia Định. Như vậy tình hình ở Đàng Trong hiện diện tới ba quân đội quân Nguyễn, Tây Sơn và quân Trịnh, tất cả có mặt đều vì cái cớ Trương Phúc Loan. Nhận thấy tình hình có cùng một kẻ thù chung: Tây Sơn và Hoàng Ngũ Phúc làm hòa với nhau, trong tính toán riêng của mỗi bên. Tây Sơn muốn rảnh tay diệt Nguyễn rồi quay qua phân tranh với Hoàng Ngũ Phúc. Còn Hoàng Ngũ Phúc đồng ý với việc hòa hoãn, mục đích để Tây Sơn tiếp tục truy kích chúa Nguyễn rồi dùng kế “Trai cò cắn nhau, ngư ông đắc lợi”, lấy luôn cả miền Nam. Hoàng Ngũ Phúc đã toan tính đúng nhưng vị tướng lão luyện này lại không thoát khỏi số trời, chỉ 2 năm sau khi vượt qua Lũy Thầy, Hoàng Ngũ Phúc bị bệnh mất ở Thuận Hóa, khiến toàn bộ toan tính gãy vỡ. Một vị hoạn quan nhưng cũng là một vị tướng tài đã chết mà không thấy được cái chết của ông ảnh hưởng đến chủ nhân của mình như thế nào. Bởi khi ấy, trên bầu trời thế kỷ XVIII, một con rồng đã vén mây bay lên, con rồng ấy là người em trai thứ hai của Tây Sơn: Nguyễn Huệ. Người rồi đây sẽ xé ngang cả sơn hà bằng tài năng tuyệt luân về quân sự của bản thân. Con người ấy sẽ không chỉ diệt Nguyễn mà còn diệt luôn Trịnh.
Năm 1777, Tây Sơn tiêu diệt chúa Nguyễn. Từ ngày chúa Tiên Nguyễn Hoàng rời bỏ Tây Kinh vào Thuận Hóa, dòng họ chúa Nguyễn tồn tại 220 năm đến đây là chấm dứt. Để tạo nên một Đàng Trong phồn thịnh, tám đời chúa Nguyễn đã phải mất 208 năm khai phá và phát triển. Nhưng để phá tan cơ đồ ấy, quyền thần Trương Phúc Loan chỉ mất 12 năm sống với thú vui, bóc lột nhân dân và chúa Nguyễn Phúc Thuần chỉ mất 12 năm quên đi nhân dân[1].
Công sức kỳ vĩ mà chín đời chúa Nguyễn làm nên đó là “mang gươm mở cõi trời Nam”. Thế hệ sau không bao giờ được quên rằng, dân tộc này bắt đầu từ Phú Thọ, trường chinh đến mũi Cà Mau. Trên con đường đi đến mũi Cà Mau ấy có chúa Tiên Nguyễn Hoàng, có chúa Sãi, có chúa Hiền, có Đào Duy Từ, có Nguyễn Hữu Cảnh, có Nguyễn Cư Trinh, có Mạc Cửu... những con người tạo nên bộ mặt miền Nam, của Sài Gòn hôm nay.
2. Vua Nguyễn thống nhất đất nước
2.1. Hành trình của vua Gia Long và CUỘC chiến với nhà Tây Sơn
Vào một ngày mùa xuân của năm 1777, Nguyễn Huệ thống lĩnh một đạo quân Tây Sơn đánh thẳng vào Gia Định. Nơi trú ẩn cuối cùng của chúa Nguyễn Gia Định nhanh chóng thất thủ và cuộc tàn sát bắt đầu. Hàng chục người khác trong hoàng tộc, trong đó có Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và cháu trai Nguyễn Phúc Đồng đều bị giết. Trong cơn binh loạn, chỉ có một ông hoàng duy nhất chạy thoát khỏi cuộc tàn sát. Vị hoàng tộc cuối cùng của nhà Nguyễn đó tên là Nguyễn Phúc Ánh, hay còn gọi là Nguyễn Ánh. Năm đó Nguyễn Ánh 15 tuổi. Chứng kiến tất cả người thân chết về tay Tây Sơn, ông mang trong mình một mối hận không bao giờ rửa sạch. Ông trốn về tận Cà Mau, lưu lạc ra đảo Thổ Chu. Sau khi nghe tin Nguyễn Huệ đã rút về, liền kéo đến Sa Đéc, Long Xuyên, đưa lời hịch kêu gọi và đến tháng 11 năm 1777, cùng đoàn quân mang áo tang tấn công Gia Định, lấy lại thành. Trong vòng 5 năm, Nguyễn Ánh thể hiện rõ tầm nhìn chính trị của mình khi sắp đặt việc quân, quản lý hành chính, lập mối bang giao với Chân Lạp, vỗ về dân chúng. Nguyễn Ánh đã biến cái tên mình trở nên ăn sâu bén rễ trong lòng dân đất Gia Định.
Năm 1782, Nguyễn Huệ lần thứ hai đánh thẳng vào Gia Định. Cùng với anh trai Nguyễn Nhạc đưa hàng trăm chiến thuyền xuống Nam. Trước sức mạnh khủng khiếp của Tây Sơn, quân Nguyễn đại bại nhanh chóng. Nhưng một lần nữa, Nguyễn Ánh lại chạy thoát. Lần này còn thê thảm hơn, khi ngài phải chạy ra đảo Phú Quốc, ăn cỏ và nuốt lõi chuối để cầm hơi. Đến tháng 6 Âm lịch năm 1783, quận Tây Sơn kéo ra Đá Chồng truy kích Nguyễn Ánh. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó, một bộ tướng của Nguyễn Ánh tên là Lê Phước Điển đã dùng kế hy sinh, ông mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh, chịu bị Tây Sơn bắt nhầm để cho chủ chạy thoát. Trong chiến dịch này, Quận Tây Sơn đã mắc một sai lầm nghiêm trọng. Nguyễn Nhạc vì một mối hận bị phục kích, mà sai giết hàng ngàn thương nhân Hoa kiều, đồng thời phá tan Cù Lao Phố (Biên Hòa hiện nay), đó là một điểm giao thương quan trọng, nơi phồn hoa đô hội và phát triển kinh tế của khu vực miền Nam. Điều này đã kéo lùi kinh tế của vùng đất vừa mới khai quốc và đang phát triển lên đến đỉnh cao đồng thời còn gây ra mối phẫn uất cho người Hoa và khiến họ thay vì sợ hãi, chuyển hoàn toàn sang ủng hộ Nguyễn Ánh, giúp Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định lần thứ hai.
Một năm sau, thiên địch của Nguyễn Ánh là Nguyễn Huệ lại đưa quân vào đánh. Lợi dụng sức gió và thủy triều, Bắc Bình Vương đánh tan hạm đội thủy quân của Nguyễn Ánh. Nhưng Nguyễn Ánh lại một lần nữa chạy thoát và chạy dài ra Phú Quốc. Trong cơn túng quẫn, thấy sức mình không đủ, Nguyễn Ánh nghĩ đến việc nhờ vua Xiêm trợ giúp để lấy lại đất của tổ tiên. Quân Xiêm cho ông mượn 20000 quân và 300 chiến thuyền. Năm 1785, quân Xiêm bước vào một trận địa đã đưa tên tuổi Nguyễn Huệ lên phần rực rỡ đồng thời khiến hình ảnh Nguyễn Ánh trở nên xấu xí: Rạch Gầm - Xoài Mút. Kết quả như Đại nam thực lục miêu tả lại: “Quân Xiêm từ sau khi thua trận Rạch Gầm - Xoài Mút tuy ngoài miệng thì nói khoác nhưng trong bụng thì sợ Nguyễn Huệ như sợ cọp.” Trong cơn khói lửa ngút trời ấy, Nguyễn Ánh lại vẫn chạy thoát, nhưng bị quân Tây Sơn truy kích phải trốn đi theo đường thủy qua đảo Thổ Chu rồi về Cổ Cốt với một nhóm nhỏ quân tướng. Thân tướng Nguyễn Văn Thành, người ngăn cản việc ông cầu viện quân Xiêm, đã phải đi ăn cướp nuôi chủ và bị đánh suýt mất mạng. Bốn lần đại bại trước Nguyễn Huệ, kể cả nhờ ngoại bang trợ giúp, trên bình diện quân sự mà xét, Nguyễn Ánh không phải là đối thủ của Nguyễn Huệ. Nhưng Nguyễn Ánh cũng chỉ thua mỗi Nguyễn Huệ, chứ ông không thua Tây Sơn. Bởi mỗi lần Nguyễn Huệ về lại Phú Xuân thì khi vùng lên, Nguyễn Ánh đều dễ dàng đánh bại quân Tây Sơn đồn trú và lần nào Tây Sơn cũng phải đợi Nguyễn Huệ vào “dọn dẹp”.
Hoàng đế Quang Trung biết rõ tầm chiến lược của vùng đất Gia Định, cũng là người duy nhất của Tây Sơn biết đánh giá đúng về Nguyễn Ánh, biết đây là đối thủ đáng gờm nhất của Tây Sơn sau nhiều lần “chết đi sống lại”. Cho nên vào năm 1792, vua Quang Trung sắp đặt cuộc tấn công thứ năm trong đó cắt mọi ngả đường của Nguyễn Ánh. Với kế hoạch quy mô này, Quang Trung đã gián tiếp dành lời khen cho kẻ bại tướng của mình. Nhưng khắp cả gầm trời thế kỷ XVIII, chỉ có Quang Trung là có khả năng tiêu diệt được Nguyễn Ánh. Không có Nguyễn Huệ, Tây Sơn không còn ai là đối thủ của Nguyễn Ánh nữa. Vào năm 1792, trước khi đánh trận cuối cùng ấy, Quang Trung đã thua trước mệnh trời, cái chết của Quang Trung gây ra một tác động khủng khiếp lên toàn bộ nhà Tây Sơn. Sự xuất chúng của ngài tạo ra sự hùng mạnh của Tây Sơn, nhưng nó cũng báo hiệu sự diệt vong khi ngài ra đi. Ngọn gió quân sự giữa quân Gia Định và quân Tây Sơn đã đổi chiều từ sau cái chết của Nguyễn Huệ. Nhưng cũng không thể không khâm phục cái nhẫn nại, mưu sâu kế hiểm và sự kiên gan bền chí của Nguyễn Ánh để đợi đến cơ hội trời cho này.
Năm 1793, chỉ 1 năm sau khi Quang Trung mất, Nguyễn Ánh bắt đầu tấn công. Trong trận đánh đầu tiên, ông huy động hầu như toàn bộ những vị tướng giỏi nhất của mình, đó là Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Trường, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, chưa kể thêm Nguyễn Văn Thành giữ thành Diên Khánh sau khi chiếm được. Đại quân Gia Định lần lượt chiếm được Phan Rang, Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên rồi đánh tới cổng thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. Đối diện với sức mạnh của quân Gia Định, Nguyễn Nhạc liệu bền chống cự không nổi liền nhờ người về Phú Xuân cầu cứu. Từ Phú Xuân, Quang Toản điều 17000 quân, 80 thớt voi và 30 tàu chiến, dưới sự thống lĩnh của thái úy Phạm Văn Hưng, hộ giá Nguyễn Văn Huấn, tư mã Ngô Văn Sở, nhắm Quy Nhơn mà tiến tới. Quân Gia Định liền rút lui. Ở đây có hai lý do để quân Gia Định rút khỏi Quy Nhơn. Thứ nhất, vì họ phải tránh cái thế hai gọng kìm từ bên trong và bên ngoài nếu vẫn cứ vây Quy Nhơn. Thứ hai, điều quan trọng hơn, đó là việc vắng mặt quân Gia Định, ắt nhà Tây Sơn sẽ tự đánh lẫn nhau và làm suy yếu nhau. Mọi dự đoán đã chính xác, khi quân Gia Định rút về thì quân Phú Xuân của Tây Sơn gây sức ép lên vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, chiếm luôn đất đai, kho tàng của ông. Quá uất ức, Nguyễn Nhạc ngã bệnh, rồi thổ huyết, qua đời. Nguyễn Nhạc, con người mà thời tuổi trẻ đã đứng dậy giương cao ngọn cờ khởi nghĩa Tây Sơn cách đây 22 năm, giờ đây chết trong uất hận và tủi nhục. Ông là một bậc hào kiệt thuở trai tráng nhưng vì tầm nhìn hạn hẹp và tính tự cao tự đại, mà từ nhân vật chính đã trở thành nhân vật phụ trong cuộc tranh đoạt thế kỷ XVIII. Bây giờ, võ đài lịch sử thuộc về Phú Xuân - Quang Toản và Gia Định - Nguyễn Ánh, rồi đây sẽ là cuộc nội chiến khốc liệt bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, với sự tham gia của những bộ óc tham mưu tài ba nhất và những đại tướng anh dũng nhất.
Tháng 3 Âm lịch năm 1794, Quang Toản sai thái úy Phạm Văn Hưng và tổng quản Trần Quang Diệu vào Quy Nhơn. Lúc này, quân Gia Định đang giữ thành Diên Khánh (thuộc Khánh Hòa hiện nay). Nơi này sẽ bắt đầu của trận chiến có tính bước ngoặt, để quân Gia Định tin rằng, không còn Nguyễn Huệ thì quân Tây Sơn chỉ ngang ngửa họ mà thôi. Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh giữ thành Diên Khánh theo lời dặn của Nguyễn Ánh trước khi rút về Gia Định. “Ta đêm ngày hao mòn, từng phải cay đắng mới được chút đất này đó.” Lời dặn dò ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh liều chết giữ thành, bất chấp đối đầu với họ là Trần Quang Diệu, vị tướng giỏi nhất của nhà Tây Sơn, vị anh hùng lớn nhất của nhà Tây Sơn kể từ sau cái chết của Nguyễn Huệ. Trong gần 1 tháng cầm cự, cuối cùng thành Diên Khánh đã đợi được cứu viện, người cứu viện từ Gia Định là vị tướng hàng đầu của Nguyễn Ánh, đó là Nguyễn Văn Thành. Thế “trong ứng ngoài hợp” khiến Trần Quang Diệu phải rút lui. Quân Gia Đình nhân thế đó truy kích.
Trên biển, Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt cùng thủy quân Gia Định đi bọc từ hướng Bà Rịa - Vũng Tàu vòng lên. Còn trên đường bộ, Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Võ Văn Lượng, hoàng tử Cảnh... tập kích sau lưng Tây Sơn. Đến tháng 6 Âm lịch năm 1794, tình hình vẫn ở thế giằng co, lần thứ hai đánh Thị Nại, Nguyễn Ánh không thể xuyên thủng được phòng tuyến này, trong khi ở trên bộ, sau những chiến thắng ban đầu của Tôn Thất Hội ở Phú Yên, của hoàng tử Cảnh tại Núi Chúa - Ninh Thuận, hay Nguyễn Văn Nhân ở Quảng Ngãi thì lực lượng chính của Nguyễn Văn Thành lại đại bại sau khi rơi vào phục kích Tây Sơn, dẫn đến kết quả Nguyễn Ánh phải cho quân rút dần về Gia Định. Quân Gia Định rút thì quân Tây Sơn lại nhân đó mà tràn vào. Trần Quang Diệu lần thứ hai đánh Diên Khánh, nơi đó sẽ có Võ Tánh, vị tướng giữ thành anh hùng nhất của Nguyễn Ánh. Diệu sẽ còn gặp Tánh một lần nữa trong một câu chuyện bi tráng tại Quy Nhơn sau đó 5 năm. Trần Quang Diệu lần này quyết tâm đánh Diên Khánh, ông cho Lê Trung đi vòng qua Bình Thuận để cắt đường tiếp viện trên bộ, vì ở trên đường biển, do gió bấc thổi mạnh nên tiếp viện đường thủy của Gia Định không thể ra Diên Khánh. Cùng thời điểm, tại một mặt trận khác, Tôn Thất Hội đem binh ra Phan Rí để ngăn Tây Sơn nhưng bị Tây Sơn đuổi về tận Bà Rịa. Tình hình khiến Nguyễn Ánh không thể ngồi yên, ông để hoàng tử Cảnh giữ Gia Định, còn mình thì bất chấp gió bấc vẫn lên thuyền để đi cứu Diên Khánh. Lê Văn Duyệt tấn công lũy Lò Đức, trên bộ Lê Trung tiến về Xuy Miệt.
Tình hình đang giằng co trên mọi mặt trận thì một sự kiện bất ngờ xảy đến: Phú Xuân có biến. Mọi chuyện bắt đầu từ một cái tên không hề xuất hiện gì trước đó của Tây Sơn, giờ bỗng chốc bước lên “vũ đài phá hoại” như Trương Phúc Loan ngày nào, thái sư Bùi Đắc Tuyên là tên ông ta. Bùi Đắc Tuyên 80 tuổi, lạm quyền sinh sát, không khiến chúng quy phục, gây ra bất mãn trong nội bộ Tây Sơn. Người đứng đầu “Tây Sơn thất hổ tướng” là Võ Văn Dũng âm mưu cùng thái úy Phạm Văn Hưng, hộ giá Nguyễn Văn Huấn trong đêm tập kích phủ của Bùi Đắc Tuyên và giết chết Tuyên, sau đó tiến hành tiêu diệt những người thuộc phe cánh của Tuyên như Ngô Văn Sở, Bùi Đắc Thận, Ngự Sử Chương, tổng cộng có hơn mười người bị liên lụy. Điều nguy hại là ở chỗ, hai vị tướng ngoài biên ải đang cầm cự với quân Gia Định là Lê Trung và Trần Quang Diệu cũng có mối quan hệ uyên nguyên với Tuyên. Lê Trung thuộc phe của Bùi Đắc Tuyên. Trong khi Trần Quang Diệu là chồng của nữ tướng đô đốc Bùi Thị Xuân, cháu ruột của Bùi Đắc Tuyên. Võ Văn Dũng biết vậy nên điều Nguyễn Văn Huấn đem 500 quân đến trần giữ Quy Nhơn, hòng kiềm chế Lê Trung và Trần Quang Diệu. Tình thế sau lưng khiến Trần Quang Diệu bất đắc dĩ phải bỏ thành Diên Khánh rút về Quy Nhơn để xử lý sự vụ. Vậy là Diên Khánh tự nhiên được thoát vây nhờ Tây Sơn lục đục. Quân Gia Định không thể bỏ lỡ cơ hội nghìn năm có một để tiêu diệt vị tướng tài giỏi này, họ tổ chức một kế hoạch vây ráp đường lui của Trần Quang Diệu, khiến ông bị thiệt hại rất nhiều, cuối cùng phải theo đường núi Như Tráp vòng về Quy Nhơn. Trần Quang Diệu đi thẳng một mạch về Phú Xuân, đóng trại bên bờ nam Sông Hương để hỏi tội Võ Văn Dũng. Tây Sơn lúc này chứng kiến hai vị dũng tướng hàng đầu của mình là Dũng và Diệu đưa đại bác chĩa súng vào nhau. Vua Quang Toản phải với văn thần hàng đầu của nhà Tây Sơn là Phan Huy Ích ra dùng thư giảng hỏa cho cả hai bên. Bên ngoài biên ải, một nhân vật tưởng như đã chết bỗng đội mồ sống dậy: con trai của Thái Đức Nguyễn Nhạc, Nguyễn Văn Bảo nổi loạn. Nguyễn Bảo nổi loạn là vì bị mẹ nói khích, mà cũng vì Nguyễn Ánh đã dụ hàng thành công. Thêm một lần nữa, Tây Sơn lại “nồi da xáo thịt”. Mặc dù Nguyễn Bảo đã bị Quang Toản giết chết ngay sau đó nhưng vụ binh biến của Nguyễn Bảo cũng đã gián tiếp khiến những võ thần bậc nhất như Lê Trung, Nguyễn Văn Huấn phải chết và khiến Lê Chất phải xin hàng Nguyễn Ánh.
Mùa xuân 1799, từ Gia Định, Nguyễn Ánh lên kế hoạch tấn công Quy Nhơn. Khi sắp đặt những đợt lương thảo lớn khủng khiếp mà vùng đồng bằng Sông Cửu Long cung cấp có lẽ ngài sẽ không nghĩ rằng, con đường lần này mà ngài đi sẽ tiến thẳng ra tới Bắc Hà. Tháng 4 Âm lịch cùng năm, Nguyễn Ánh theo thuyền, tiến ra cửa Thị Nại. Trên bộ, từ cửa ngõ mới là thành Diên Khánh thì đã điều bộ binh ra trước, Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Tánh đổ bộ ở Phú Trung. Theo đà, quân Nguyễn chiếm luôn cả vùng duyên hải trên bộ. Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức tiến đến đồng Cây Cầy đuổi thiếu úy Trương Tấn Thúy, giết đô Đốc Nguyễn Thực. Lê Chất đem quân ra hàng Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành chiêu dụ được tham đốc Tây Sơn Nguyễn Văn Điềm. Ngoài đường biển, Nguyễn Ánh đưa quân tiến xa về phía Quảng Ngãi, đô đốc thủy sư số một của ông là Lê Văn Duyệt đến Bến Đá. Đến tháng 6, thủy quân Gia Định lại thắng tiếp ở cửa Mỹ Á, truy kích đến Sa Kỳ. Cũng trong tháng 6, Nguyễn Văn Thành đã vượt qua được sống Lò Gạch, chiếm Ưu Đàm.
Nếu có thể dùng từ gì cho Tây Sơn lúc này, có lẽ là năm chữ “Binh bại như núi lở”. Kể cả Võ Văn Dũng giỏi đến thế, mưu sâu đến vậy mà vì một chi tiết bất ngờ cũng thất bại. Nguyên do là ông cho quân đi tập kích trong đêm, khi đang hành quân thì có một con nai chạy qua, có người la “con nai”, rồi truyền đi thành “quân Đồng Nai”. Vậy là cả Tây Sơn nhốn nhác, đốt lửa hò hét, đánh động cho Tống Viết Phúc gần đó đưa quân vào tập kích, Tây Sơn bại ngay trận đầu. Tình thế đẩy Trần Quang Diệu phải lui về Thanh Hảo chờ viện binh thủy của Trần Viết Kết. Nhưng bi kịch của một vương triều sụp đổ giống như một số phận, lần này là thiên nhiên cũng muốn Tây Sơn bại trận, Trần Viết Kết đang đem 100 chiến thuyền định tràn vào Sa Huỳnh thì gặp bão đắm thuyền. Dưới Quy Nhơn, Lê Văn Ứng nghe tin viện binh đến liền đem 6000 quân lên lấy lương thì bị Nguyễn Văn Thành tập kích đánh bại Kha Đáo. Kết quả, tổng quản Lê Văn Thanh và binh bộ thượng thư Nguyễn Đại Phác ra hàng. Thế là Quy Nhơn đã mất. Quang Toản khi đó quá lo lắng đưa binh tới Trà Khúc. Nhưng tin bại trận đến dồn dập, đẩy toàn bộ quân đội Phú Xuân vào thế phòng thủ. Việc mất Quy Nhơn khiến nhiều tướng của Tây Sơn bị trách tội, nhưng thay vì hành động vì một mục tiêu chung, họ lại làm hại lẫn nhau khi Trần Viết Kết, Hồ Công Diệu giả mạo thư Quang Toản viết thư cho Võ Văn Dũng bảo Dũng giết Diệu. Dũng vì cảm kích ơn Diệu giấu tin thua trận nên cho Diệu xem thư. Tức giận, Diệu đem quân bản bộ đi thẳng về Phú Xuân giết Hồ Công Diệu. Tây Sơn từ đây coi như đã ổn thỏa nội bộ. Nhưng để đi đến cái “ổn thỏa” đó, họ đã trả một cái giá quá đắt. Những người thương tiếc nhà Tây Sơn lại càng nhớ Nguyễn Huệ hơn bao giờ hết.
Trần Quang Diệu đến Quy Nhơn, gặp Võ Tánh ở trong thành. Từ đây, hai cái tên này sẽ vẽ lên một trang sử đẫm máu và bi tráng nhất của cuối thế kỷ XVIII. Họ là những kẻ anh hùng nhất hai bên bờ chiến tuyến, Trần Quang Diệu vây thành Quy Nhơn tới gần 1 năm, Phan Huy Ích từ ngoài thành vừa tham mưu vừa gửi thư chiêu hàng như Nguyễn Trãi năm xưa làm với Vương Thông. Trần Quang Diệu đắp lũy, quyết tâm đòi cho được đất tổ của nghĩa quân Tây Sơn. Trong cuốn Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 của nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, ông có kể một chi tiết: Sự quyết liệt của Trần Quang Diệu khiến cho giáo sĩ người Pháp là De la Bissachère phải khen: “Viên tướng mà ngay cả ở Âu châu người ta cũng phải coi là dũng mãnh, anh hùng.” Ác mộng mà Trần Quang Diệu đưa lại lớn đến mức Nguyễn Ánh treo thưởng tước công cho ai bắt được Trần Quang Diệu hoặc Võ Văn Dũng còn uy lực mà ông phang thẳng vào quân Nguyễn khủng khiếp đến độ số lượng hàng quân từ thành Quy Nhơn ra mỗi lúc mỗi nhiều. Võ Tánh trong thành không anh hùng tấn công như Trần Quang Diệu nhưng lại bền gan quyết giữ thành dù có đổi bằng sinh mạnh. Trong cái đêm bị vây thành kinh khủng nhất, nhiều người khuyên ông trốn đi. Võ Tánh đã thốt: “Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thì sau này còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng?” Ngày 7 tháng 7 năm 1801, Võ Tánh viết một bức thư trao cho Trần Quang Diệu, nội dung bức thư xin tha chết cho quân sĩ trong thành. Việc tiếp theo, ông sai thuộc hạ lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào, rồi châm ngòi tự vẫn. Phó tướng của ông, Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Xúc động trước hành động trung tiết anh hùng ấy, Trần Quang Diệu sai người tẩm liệm thi hài Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tử tế, rồi theo lời yêu cầu của Võ Tánh, ông không giết hại hàng binh nhà Nguyễn. Quy Nhơn vậy là trở về với đất tổ, nhưng bản bi hùng ca mà Trần Quang Diệu và Võ Tánh viết nên hóa ra chỉ là những quân cờ trong một âm mưu lớn hơn rất nhiều lần của tham mưu số một của Nguyễn Ánh là Đặng Đức Siêu.
Trong khi Võ Tánh đang giữ chân vị tướng giỏi nhất của Tây Sơn ở Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh đã thực hiện hai kế sách của Đặng Đức Siêu đó là: hỏa thiêu đầm Thị Nại và đưa thắng quân binh ra Phú Xuân chứ không quay lại cứu Quy Nhơn. Trận chiến trên đầm Thị Nại diễn ra vào đêm rằm tháng Giêng năm Tân Dậu, ánh trăng hòa cùng ánh lửa ngợp trời là những gì diễn ra đêm đó. Trận chiến được mệnh danh “Xích Bích của Việt Nam” này được các sử gia nhà Nguyễn coi là “Đệ nhất võ công” của nhà Nguyễn.
Đầm Thị Nại là một đầm nước mặn khổng lồ thuộc thành phố Quy Nhơn, vì có cửa hẹp thông ra biển, mà diện tích lại đủ lớn để chứa thuyền nên Thị Nại trở thành đại bản doanh của thủy quân Tây Sơn. Nếu có dịp tới địa điểm giờ có cây cầu vượt biển dài nhất Đông Nam Á này, chúng ta sẽ không khỏi choáng ngợp trước sự kỳ vĩ của đầm Thị Nại, rộng lớn ngút tầm mắt và hiểu lý do vì sao Tây Sơn dồn hết quân lực vào nơi này để mở đường các cuộc chinh phục của họ. Nơi đây vào lúc cao điểm có thể lên tới 2000 chiến thuyền, đồng thời có tới 3 chiến hạm Định Quốc với 60 khẩu pháo hạng nặng mỗi thuyền. Đương nhiên, để bảo vệ địa lợi này, ngay cửa ngõ vào đầm Thị Nại là hai pháo đài Gành Ráng và Phương Mai chĩa thẳng xuống. Thủy quân Tây Sơn được Nguyễn Huệ đào tạo để trở thành lực lượng tiên tiến nhất, tinh nhuệ nhất của Tây Sơn. Bởi vậy Thị Nại trở thành căn cứ tôi quan trọng của Tây Sơn. Trước trận hỏa thiêu đêm rằm tháng Giêng năm Tân Dậu này, Nguyễn Ánh đã ba lần tấn công nơi này và cả ba lần đều thất bại.
Tây Sơn cũng đã sẵn sàng cho trận chiến này, khi đích thân Võ Văn Dũng đến tận Thị Nại để chỉ huy chống quân nhà Nguyễn. Nhưng trong cái đêm rằm tháng Giêng ấy, mọi thứ đều ủng hộ chúa Nguyễn, hay vì trong quân Nguyễn có một tham mưu thông cả thiên văn? Thủy triều lên cao nhất vào đêm trăng rằm, hẳn ai cũng biết. Nhưng đêm đó còn có gió mạnh thổi từ cửa biển vào đầm Thị Nại nữa. Tất cả tạo thành mồi dẫn tốt nhất cho ngọn lửa hung tàn ấy. Nguyễn Ánh đã chuẩn bị trận cuối cùng này rất cẩn thận, khi yêu cầu Nguyễn Văn Thành dàn quân dọc đường núi các bên của Thị Nại ở trên bộ để ngăn quân tiếp viện. 4000 quân Nguyễn trên 26 ghe chiến và 100 thuyền nhỏ chở đồ dẫn hỏa âm thầm vây bọc xung quanh đầm Thị Nại. Đúng 10 giờ 30 phút tối, tiếng đại bác nổ lên đầu tiên, quân Nguyễn ào ạt xông vào, dẫn đầu là Võ Di Nguy và Lê Văn Duyệt. Sách Việt sử tân biên chép: “Đồn Tây Sơn ở Tam tòa sơn, ở bên phải cánh quân tấn công chuyển một hỏa lực kinh khủng bắn xuống các thuyền chèo tay của Nguyễn vương khi đó vào đúng tầm súng. Võ Di Nguy bị một phát đạn bay đầu liền.” Ngay khi thấy Võ Di Nguy vừa vào đã chết tại chỗ, toàn bộ quân Nguyễn rúng động, khi đang sợ hãi thì may cho quân Gia Định còn một vị anh hùng nữa. Lê Văn Duyệt nhảy ngay lên đầu thuyền, giữa khói lửa ngợp trời, hình ảnh vị Tả quân mắt long sòng sọc giương cao kiếm đòi đốt cháy cả Thị Nại khiến toàn bộ quân Nguyễn nổi máu nóng theo chỉ huy, họ cùng lao về phía trước như vị tướng của mình. Đại bác nổ mạnh, lửa cháy rừng rực. Những người bảo vệ Nguyễn Ánh cũng bị tinh thần chiến đấu kích động liền tự ý rời khỏi vị trí mà tự mình đốc thúc đốt cháy thuyền Tây Sơn. Về phía Tây Sơn, dù Nguyễn Huệ không còn nhưng tinh thần Nguyễn Huệ vẫn còn y nguyên trong lòng nghĩa quân Tây Sơn. Họ bảo vệ đến chết, đánh đến chết để giữ lấy niềm tự hào thủy binh cuối cùng này. Những người lính của Tây Sơn đã đánh đến khi mà mồi lửa cuối cùng lan đến thùng thuốc súng, tạo nên một tiếng nổ vang trời và vỡ tan tất cả các chiến thuyền thì khi đó mới họ gục ngã. Sĩ quan người Pháp Jean-Baptiste Chaigneau đã kể lại với giọng bị ai: “Họ đã chống giữ đến chết cho nên toàn bộ thủy quân đều bị tiêu diệt cả.” Đến 4 giờ sáng thì toàn bộ thủy quân Tây Sơn đã bị đốt cháy hoàn toàn, 1800 chiến thuyền, 20000 quân mãi mãi đã nằm im dưới đáy đầm Thị Nại. Từ đây, sẽ không còn đoàn quân thủy nào ngăn cản bước tiến của Nguyễn Ánh đi ra Phú Xuân và Bắc Hà nữa. “Xích Bích Việt Nam” đã khép lại. Lê Văn Duyệt, vị tướng anh hùng trong trận Thị Nại, sau này trở thành tổng trấn của Gia Định, người sẽ yêu dân như con, đã xây dựng nên một Gia Định mà sau này trong hồi ký về chuyến thăm Đông Dương của mình, nhà thám hiểm người Anh Crawfurd đã viết: “Tôi bất ngờ thấy rằng nó (thành Gia Định) không thua gì kinh đô nước Xiêm. Tôi có cảm giác rằng đây là một vùng đất lý tưởng. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có, người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phi, bọn trộm cướp nếu chúng ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với kẻ không quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày, một đứa con vô lễ chửi mẹ mà tổng trấn biết được, ngài phạt cực nặng.” Đất Sài Gòn được tạo nên bởi Nguyễn Hữu Cảnh và được hoàn thiện bởi Lê Văn Duyệt.
Với sự tham mưu của Đặng Đức Siêu, đoàn thủy quân của Nguyễn Anh đi bước tiếp theo là đánh ra Phú Xuân. Ngày 7 tháng 6 năm 1801, quân Gia Định tới Đà Nẵng. Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Trường và Phạm Văn Nhân tấn công cửa Thuận An. Ngày 11 tháng 6 năm 1801, thủy quân Nguyễn đã có mặt ở cửa sông Hương. Cọc gỗ phòng thủ mà Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo đã dùng năm nào lại một lần nữa trở lại nhưng lần này là trên bờ sông Hương. Cùng với đó là những cố gắng của Trần Quang Diệu khi sai Từ Văn Chiêu đem 2000 quân đánh úp sau lưng Lê Văn Duyệt và sai Tư khấu Định mang 5000 quân về cứu. Võ Văn Dũng với Lê Văn Duyệt cũng định “Vây Ngụy cứu Triệu” khi dự định tấn công Phú Yên hòng đánh về Gia Định nhưng lại bị Nguyễn Văn Thành chặn lại. Những cố gắng vô vọng đó không thể ngăn cản được số phận của một vương triều đang chết. Một ngày sau, khi quân Gia Định đến bến Phú Xuân thì Quang Toản đã mang vàng bạc, bỏ Phú Xuân mà chạy ra Bắc Hà. Từ Quy Nhơn, Trần Quang Diệu đau đớn. Nhưng cái đau của ông sẽ không thể đau đớn hơn người vợ của mình, đô đốc Bùi Thị Xuân. Bây giờ, vinh quang cuối cùng, oanh liệt cuối cùng, vẻ đẹp cuối cùng của quân Tây Sơn hóa ra được một người phụ nữ gánh vác lấy.
Quang Toản bị đuổi ra tận Bắc Hà, ở đó, người con của vua Quang Trung lẫy lừng ngày nào mộ được 3 vạn quân, quyết bảo vệ vương triều mà người cha anh hùng đã gây dựng nên. Ông tiến quân về Phú Xuân, hòng hợp lực với Trần Quang Diệu từ phía nam thốc tới để lật lại thể cờ. Quang Toản gặp quân Nguyễn tại Trấn Ninh. Nơi đây, Lũy Thầy, dòng sông Nhật Lệ và tỉnh Quảng Bình ngày nay sẽ chứng kiến cảnh nữ đô đốc Bùi Thị Xuân đánh trận cuối cùng của đời bà. Lũy Trấn Ninh được xem là cứ điểm cực kỳ quan trọng, Nguyễn Ánh đích thân kiểm tra phòng ngự, sai Đặng Trần Thường và Phạm Văn Nhân trấn giữ. Ngoài cửa biển, người đứng đầu “Gia Định Ngũ hổ tướng” là Nguyễn Văn Trường được giao nhiệm vụ đưa thuyền chiến ra cự địch. Bùi Thị Xuân lãnh đạo quân Tây Sơn của mình ào lên quyết đánh dẹp lũy này. Bà cưỡi voi ra trận, cùng binh lính tử chiến trên núi Đầu Mâu, phía trên cao, quân Nguyễn thả đá xuống, quân Tây Sơn chết cả ngàn vẫn không lùi bước vì có Bùi Thị Xuân áo bào đẫm máu đang giành lấy dùi để thúc tiếng trống trận Tây Sơn huyền thoại. Quân Tây Sơn tử chiến đến quá trưa vẫn không chịu lùi, nhiều mảng thành đã bị phá vỡ. Quân Nguyễn chứng kiến cảnh Bùi Thị Xuân đánh trống, cưỡi voi mà sợ hãi. Ác mộng bại trận như thời Nguyễn Huệ bỗng nhiên quay trở về. Quân Nguyễn vội vàng chia binh mở đường máu để chạy ra biển. Quang Toản thấy vậy, lại tưởng quân Nguyễn đông đảo đang định tấn công, thế là vội vàng ra hiệu lui binh. Bùi Thị Xuân với tay áo đẫm máu, nắm lấy áo bào của Quang Toản xin ở lại đánh tiếp. Hành động anh dũng của vị nữ tướng huyền thoại ấy đã khiến những giáo sĩ người Pháp rúng động, họ khâm phục bà tới nỗi có nhiều tài liệu sửa lại hắn quân số nhà Nguyễn và Tây Sơn để nêu bật lên sự bị hùng của bà. Đúng vào lúc ấy, Nguyễn Văn Trường đã đánh bại thủy quân Tây Sơn ngoài cửa biển Nhật Lệ. Tin bại trận đẩy về khiến Quang Toản vội vã tháo chạy. Ở trên bờ, một cánh quân cũng xin hàng. Chỉ còn Bùi Thị Xuân ở lại, trên lưng voi, tay cầm súng và một tấm áo giáp đẫm máu trên khuôn mặt người phụ nữ Việt Nam không kém phần nhan sắc mà độ ngoan cường thì hơn đứt nhiều đấng mày râu khác.
Trấn Ninh thất thủ đi theo hy vọng cuối cùng của nhà Tây Sơn. Tháng 3 cùng năm đó, Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu bỏ thành Quy Nhơn vượt đường núi vòng ra Bắc Hà. Rồi đây họ cùng với Bùi Thị Xuân sẽ lần lượt bị bắt và nhận sự trả thù đẫm máu của quân nhà Nguyễn. Sống anh hùng chết cũng anh hùng. Một đời của Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân... đã đủ để ghi danh non sông rồi.
Ngày 20 tháng 7, Nguyễn Ánh đến Thăng Long, Quang Toản không chống nổi, bị bắt. Nhà Tây Sơn chấm dứt, vương triều đoản mệnh ấy chỉ tồn tại được đúng 25 năm, rực rỡ mà cũng đau đớn. Nhà Nguyễn được thành lập, trở thành nền quân chủ cuối cùng của Việt Nam. “Từ độ mang gươm đi mở cõi, Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.” Hơn hai thế kỷ trước, tổ tiên ông từ Hoan Ai đánh lên Thăng Long, lại xuống Thanh Hóa rồi vào Nam mở cõi. Bây giờ, từ trời Nam, ông quay trở lại đất Bắc sau một hành trình của khổ nhục và vinh quang, từ một cậu bé 15 tuổi luôn bị truy sát, không một tấc đất, chỉ vài ba tùy tùng, sống bằng ngọn cỏ, lõi chuối, đến khi vùng lên đánh bại kẻ thù, làm vua thiên hạ, lấy được một dải đất từ Nam chí Bắc. Con người như Nguyễn Ánh thật khó để xem là tầm thường.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, tức Nguyễn Thái Tổ, niên hiệu Gia Long. Đặt tên nước là Việt Nam. Tính ra thời gian chia cắt, đi đến mở rộng và cuối cùng là thống nhất của dân tộc ta đã trôi qua hơn hai thế kỷ. Kể từ giai đoạn Nam Triều - Bắc Triều kéo dài 60 năm, đến giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài 149 năm. Rồi Nguyễn Huệ xuất hiện, dù đã san dọn mặt bằng mọi tàn tích cũ nhưng Tây Sơn vẫn phân ra ba miền, kéo dài 25 năm. Tổng cộng tới 235 năm người dân Việt đứng ở các bờ chiến tuyến khác nhau. Cuối cùng, vua Gia Long đã thống nhất được đất nước đến mũi Cà Mau.
2.2. Vua Minh Mạng hoàn thiện cơ đồ
Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng lên kế vị. Dưới sự trị vì của ngài, lãnh thổ Việt Nam là rộng lớn nhất lịch sử, cùng với Xiêm La áp đặt ảnh hưởng lên Khơ Me, trở thành hai đế quốc mạnh nhất Đông Nam Á. Tự hào với những gì mình đạt được, Minh Mạng đã đổi tên quốc gia thành “Đế quốc Đại Nam” đầy ngạo nghễ. Trương Minh Giảng, vị tướng đánh trận giỏi nhất dưới thời Minh Mạng chính là Trấn Tây tướng quân, bảo hộ một nửa Cao Miên, bao gồm cả Phnôm Pênh. Ông cũng là vị tướng hai lần đánh bại Xiêm La xâm phạm vào lãnh thổ. Trương Minh Giảng với Minh Mạng chính là cặp “vua - ve” tượng trưng cho tham vọng và bá khí ngút ngàn nhất thời đại chúa Nguyễn.
Như chúng ta đã đọc ở phần 1, vào giai đoạn chúa Minh Nguyễn Phúc Chu cầm quyền thì Chăm Pa đã trở thành một khu tự trị của nước ta gọi là Thuận Thành Trấn. Nhưng đến giai đoạn vua Minh Mạng cầm quyền thì nhà vua đã chính thức xóa bỏ cái tên Chăm Pa trên bản đồ thế giới. Năm 1832, trong cuộc tấn công cuối cùng, toàn bộ vương quốc Chăm Pa chính thức bị sáp nhập Việt Nam. Cũng ở phần 1, chúng ta đã biết về công cuộc mở cõi của các chúa Nguyễn đến mũi Cà Mau, tuy nhiên chúng ta chưa nghe về Tây Nguyên, bởi vì Tây Nguyên với các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng chỉ được sát nhập bản đồ Việt Nam trong khoảng thời gian sau năm 1830. Sau khi Chăm Pa bị sáp nhập hoàn toàn vào Việt Nam thì hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá của người Ê đê và Gia Rai tức miền đất Tây Nguyên ngày nay mới chính thức trở thành phiên thuộc của nhà Nguyễn. Như vậy bản đồ Việt Nam được thành hình và có thêm cả khu vực Trấn Tây (Phnôm Pênh bây giờ).
Thời đại Minh Mạng nếu bảo đất nước ta hình chữ S thì không đúng, giai đoạn này nước ta hình chữ B mới đúng.
Khi vua Thiệu Trị lên ngôi, vua ra lệnh cho Trương Minh Giảng rút quân về. Câu chuyện của “Đế quốc Đại Nam” ở lãnh thổ Chân Lạp chính thức khép lại, cho đến ngày tiếng súng của Pháp nổ trên cửa Đà Nẵng. Về vị tướng Trương Minh Giảng vì quá uất ức sinh bệnh mà chết.
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngay từ dưới thời vua Gia Long (bắt đầu từ năm 1815) đã bắt đầu tiến hành đo đạc hải trình nhằm giúp cho các tàu thuyền di chuyển an toàn trên biển. Tuy nhiên đến thời vua Minh Mạng công việc này càng được chú trọng. Việc ban thưởng và giáng tội đã được thực hiện một cách nghiêm túc. Đại Nam nhất thống toàn đồ của triều Minh Mạng được vẽ vào năm 1834 có ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Bên cạnh tính pháp lý đó, lực lượng thủy quân - một lực lượng đặc nhiệm nhận sự chỉ đạo trực tiếp từ vua Minh Mạng hằng năm theo định kỳ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu có dịp đến đảo Lý Sơn, chúng ta có thể gặp các chứng tích này ở nhà tổ của dòng họ Đặng tại thôn Đồng Hộ, xã An Hải. Thư tịch cổ viết rõ về lệnh vua Minh Mạng điều một đội quân ra đảo Hoàng Sa, tất cả như nhắc nhở rằng, đừng quên Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam.
Không chỉ riêng vấn đề lãnh thổ, Minh Mạng còn có công lớn trong việc duy trì văn hóa nước nhà. Đại nam thực lục chép, Minh Mạng ra chỉ dụ cho nội các: “Nước Việt ta lấy văn hiến mở nước, các vua anh minh ra đời, duy Thánh Tông nhà Lê là hiếm có, pháp độ và chính sách hay đều chép trong sử, lại còn sau khi mưu Cơ muôn việc nhàn hạ, văn nghệ vui chơi làm ra rất phong phú, cái phong tao lưu lại còn thấy tiếng hay, trẫm truy tư cổ nhân rất là hâm mộ. Tuy đã xa đời, thơ đã tản mát, mà các văn nho học giả tất cũng còn giữ được. Trẫm muốn tìm nhặt in ra để lại lâu dài không mất.” Nhà vua có công thu thập khắp nơi các bộ sách sử, sách văn học, các tài liệu, các bộ thư tịch của tiền triều, rồi in khắc lại, tạo thành kho mộc bản triều Nguyễn, ghi dấu cả một chặng đường lịch sử dân tộc từ thuở sơ khai. Nhờ vậy mà dù phải gánh chịu khoảng thời gian 200 năm nội chiến thì lịch sử và văn học nước ta lại không hề bị mai một.
Minh Mạng hoàn thiện bộ máy hành chính qua việc cải cách Lục Bộ, tổ chức lại hoàn toàn bộ máy nhà nước thời Nguyễn. Tất cả là để phù hợp với địa lý mới, sự khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị của các vùng miền. Để xã hội có quy củ cùng nề nếp, nhà vua cho thống nhất việc đo lường và y phục. Theo Giáo sư Phan Huy Lê đánh giá thì: “Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và cải cách của vua Minh Mạng năm 1831 - 1832 là hai cải cách hành chính có quy mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất.”
Minh Mạng là một vị vua rất siêng năng và liêm chính, thức khuya dậy sớm lo chính sự, yêu người hiền, coi trọng tài và đức. Nhà vua là người đã mở Quốc Tử Giám ở Huế, phát triển giáo dục rộng khắp cả nước, thời Minh Mạng là giai đoạn người mù chữ ở Việt Nam thấp nhất. Cũng thời Minh Mạng, nông nghiệp được phát triển hơn một bậc, ông cho hoàn chỉnh hệ thống để điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông khai hoang ven biển Bắc Bộ, lập các huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Và đặc biệt là kênh Vĩnh Tể có giá trị lớn về các mặt trị thủy, giao thông, thương mại, biên phòng. Vì thế thời Minh Mạng được đánh giá là thời thịnh trị nhất của nhà Nguyễn.
Tuy nhiên nhà vua có một hạn chế chết người. Ông giỏi nhưng mà giỏi không đúng hướng. Vua Minh Mạng tập trung phát triển Nho giáo. Nhưng Nho giáo vào thế kỷ XIX đã không còn phù hợp nữa rồi. Lùi lại 400 năm trước, giả sử như sự Nho giáo kiệt hiệt của vua Minh Mạng thay cho những đổi mới vội vàng của Hồ Quý Ly thì có lẽ đất nước không bị họa xâm lăng của nhà Minh. Còn trí tuệ đổi mới của Hồ Quý Ly, niềm đam mê kỹ thuật và toán học của cha con Hồ Quý Ly • Hồ Nguyên Trừng gặp được kỹ nghệ phương tây thế kỷ XIX thì có lẽ Việt Nam đã đi một con đường rất khác. Lịch sử Việt Nam rất hay gặp những chữ “nếu” đau lòng như thế.
Vậy Nho giáo có hạn chế gì trong thế kỷ XIX? Nó có hai hạn chế. Thứ nhất là trong nông nghiệp và hạ thấp thương nghiệp. Phân tầng trong quan điểm Nho giáo chính là “sĩ - nông - công - thương”. Thường xếp cuối, mà “thương” của thế kỷ XIX chính là xương sống của sự phát triển, nhưng Việt Nam lại tránh xa nó, cuối cùng tạo nên một xương sống èo uột. Điểm hạn chế thứ hai của Nho giáo chính là luôn tạo ra những nhà nho chỉ biết thơ phú mà thiếu thực tiễn kỹ nghệ. Minh Mạng hạn chế sự tham dự của người Pháp và kiểm soát các vị thừa sai, các cha chúa truyền đạo. Sự nghi kị càng tăng lên sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi. Cuối cùng vì hoảng sợ trước phương Tây mà các vấn đề “bế quan tỏa cảng” lại càng được đẩy mạnh. Chính điều này khiến cho Việt Nam rơi vào cảnh lạc hậu, để rồi bị những quốc gia có nền kỹ nghệ tân tiến đánh bại vào cuối thế kỷ XIX.
Trong thế kỷ XX, mối quan hệ Việt - Mỹ là một mối quan hệ thăng trầm. Người dân luôn tiếc về bức thư mà Hồ Chủ tịch đã gửi cho tổng thống Harry Truman vào năm 1945 bị từ chối, đẩy Việt Nam và Mỹ vào một chương sử đẫm máu. Nhưng không ai hay biết rằng, 100 năm trước, vào các năm 1832 và 1836, tổng thống Hoa Kỳ thứ bảy, ông Andrew Jackson đã gửi đại sứ Edmund Roberts sang đàm phán với Minh Mạng về quan hệ mậu dịch song phương. Nhưng cả hai lần Minh Mạng đều từ chối. Mọi thứ hóa ra chỉ toàn là những quyết định sai giống nhau đã diễn ra lần đầu từ 200 năm trước.
Năm 1841, vua Minh Mạng qua đời, Thiệu Trị lên kế vị. Nhận định về Vua Minh Mạng có lẽ nên nhìn về cả hai mặt, ông đã đưa Việt Nam lên đến đỉnh cao chót vót của Đông Nam Á thế kỷ XIX, là người hoàn thiện cuối cùng cho khúc ca dòng họ Nguyễn, tạo nên diện mạo dân tộc hình chữ S, nhưng ông cũng là người đã để mầm mống diệt vong và mất nước vào trong lòng dân tộc với chính sách đề cao Nho giáo bảo thủ. Dẫu cho tâm tư mang đậm tham vọng tạo nên đế quốc Đại Nam hùng cường, nhưng số phận đã giao cho ông một sứ mệnh sai thế kỷ. Minh Mạng là một nhân tài lớn, một tham vọng lớn. Hậu thể nhìn về ông đôi khi là một oán trách lớn, nhưng cũng có thể là một cảm thông lớn.
Câu chuyện của vua Minh Mạng cũng xin khép lại cuốn sách về 12 khúc tráng ca dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Lịch sử là những câu chuyện, lịch sử thì không có đúng - sai. Hậu thế cần nhìn về cha ông với cái nhìn công bằng nhất, có thể yêu thương, có thể bài xích nhưng việc tôn trọng giá trị ông cha để lại chính là động lực của sự phát triển.
Cuốn sách gấp lại, 1000 năm qua, sau bao dâu bể thăng trầm, mọi câu chuyện trở thành khúc ca bi tráng, để hậu thế nhìn về với bao nhiêu cảm khái. Cuộc trường chinh của dân tộc từ đất Phú Thọ đã hoàn thành. Trèo lên đỉnh cao oạn trường, tro bụi lịch sử đã vĩnh viễn nằm im. Nhìn lại thời đại ta sống, chợt hiểu ra rằng, những tiếng gầm mây thét gió của tiền nhân sẽ là tiếng lòng vĩ đại nhất để hậu nhân lắng lấy mà vững vàng bước đến tương lai.
Phụ lục các tài liệu tham khảo trong cuốn sách
- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII (Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2003
- Đại nam thực lục (Quốc Sử quán triều Nguyễn), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2007
- Đại Việt sử ký tiền biên (Ngô Thì Sĩ biên soạn, Ngô Thì Nhậm hiệu đính, dịch giả: Tập thể Viện Nghiên Cứu Hán Nôm), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1997
- Đại Việt sử ký toàn thư (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy biên soạn), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2010
- Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn, dịch giả: Ngô Thế Long), Nhà xuất bản Trẻ, năm 2012
- Danh tướng Việt Nam - bộ 3 tập (Nguyễn Khắc Thuần), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998
- Đất nước Việt Nam qua các đời (Đào Duy Anh), Nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2016
- Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức, dịch giả: Lý Việt Dũng), Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, năm 2010
- Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái, dịch giả: Nguyễn Đắc Văn, Kiều Thu Hoạch). Nhà xuất bản Văn học, năm 2005
- Khâm định Việt sở thông giám cương mục (Quốc sử Quán triều Nguyễn soạn thảo), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2007
- Lam Sơn thực lục (Nguyễn Trãi biên soạn, Lê Lợi đề tựa - 1431 (thế kỷ XV), dịch giả: Bảo Thần, năm 1944. Nhóm Công Đệ, Tuyết Mai, Doãn Vượng, Lê Bắc thực hiện Ấn bản điện tử năm 2001
- Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ (Tạp chí Xưa và Nay biên soạn), Nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2016
- Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 (Tạ Chí Đại Trường), Nhà xuất bản Tri thức, năm 2013
- Lịch sử Việt Nam, từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX (bản dịch tiếng Pháp từ L'Histoire du Vietnam: Des origines à 1858, Nhà xuất bản Sud Est Asia, Paris, 1982) (Lê Thành Khôi), Nhà xuất bản Thế giới, năm 2014
- Lịch sử Việt Nam - Tập I (Phan Huy Lê (chủ biên) biên soạn, cùng các tác giả Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tốn, Lương Ninh, Nguyễn Quang Ngọc, Lịch sử Việt Nam - Tập II (Phan Huy Lê (chủ biên) biên soạn, cùng các tác giả Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân; Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2012
- Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý (Hoàng Xuân Hãn), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2015
- Mười cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử Việt Nam (GS. Văn Tạo), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2006
- Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ (Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2003
- Việt nam sử lược (Trần Trọng Kim), Nhà xuất bản Văn học, năm 2015
- Việt Nam văn hóa sở Cương (Đào Duy Anh), Nhà Xuất bản Thế giới, năm 2014
- Việt sở tiêu án (Ngô Thì Sĩ biên soạn, dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên lạc văn hóa Á châu), năm 1960. Nhóm Công Đệ, Doãn Vượng, Lê Bắc thực hiện ấn bản điện tử năm 2001
- Việt Sử: Xứ Đàng Trong (1558- 1777) – Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam (Phan Khoang), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2016
- Cùng các tài liệu sưu tầm khác.
Do điều kiện hạn chế, có những sử gia đã đi về nơi vĩnh hằng, có những tác giả tôi không có dịp gặp mặt từng người, gửi thư cảm ơn. Nhân đây, tôi xin gửi lời tri ân đến những con người đã góp phần xây dựng nền sử Việt hôm nay, qua việc đã biên soạn nên những tư liệu quý giá, ngõ hầu để lại cho đời sau. Thế hệ trẻ biết yêu sử Việt, giữ được hồn sử sống mãi trong thời hiện đại, chính nhờ dấu chân của người đi trước.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
❀ ❀ ❀
[1] Ngoài chín đời chúa Nguyễn đã kể trên kia thì vào giai đoạn suy vy, một cuộc tranh đoạt trong hoàng cung chúa Nguyễn xảy ra khi Nguyễn Phúc Dương cũng được tôn lên làm chúa. Đấy là vị chúa thứ mười của dòng chúa Nguyễn nhưng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trước khi bị Tây Sơn tiêu diệt