Bản Đồ Tâm Hồn Con Người Của Jung

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Cái bộc lộ và cái che giấu trong các quan hệ với người khác (Mặt nạ và bóng âm - Persona và Shadow)

❊ ❊ ❊

Ngay trong quan sát ban đầu - sau này phát triển thành những đề xuất lí thuyết - Jung đã cho rằng tâm thần bao gồm nhiều phần và nhiều trung tâm của ý thức. Trong vũ trụ nội tâm này, không chỉ có một hành tinh, mà toàn thể hệ mặt trời và nhiều thứ hơn nữa. Chúng ta có thể nói về con người có một nhân cách, những trong thực tế nó được tạo dựng từ một tập hợp những tiểu nhân cách.

Jung triển khai chi tiết những điều này. Có một phức cảm bản ngã; sau đó có nhiều phức cảm ít tính cá nhân hơn, trong đó phức cảm người mẹ và phức cảm người cha là quan trọng nhất và có sức mạnh lớn nhất; và cuối cùng chúng ta sẽ thấy nhiều hình ảnh và nhiều hội tụ cổ mẫu. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta được hình thành từ những thái độ và định hướng khác nhau; chúng dễ - dàng lâm vào tình trạng chống đối lẫn nhau và tạo ra những xung đột đưa tới các hình thức nhân cách nhiễu tâm. Trong chương này, tôi sẽ mô tả hai tiểu nhân cách khác nhau đó, bóng âm (shadow) và mặt nạ (persona). Chúng là những cấu trúc bổ sung cho nhau và tồn tại ở mọi tâm thần của con người phát triển. Cả hai nhân cách này được đặt tên theo những đối tượng cụ thể theo kinh nghiệm có thể tri giác được. Bóng âm (shadow) là hình ảnh của chính mình luôn đi sau chúng ta khi chúng ta đi về phía ánh sáng. Persona, mặt nạ là cái tương phản với nó, được đặt tên theo một từ La Mã có nghĩa là chiếc mặt nạ của diễn viên. Nó là khuôn mặt chúng ta biểu hiện để đáp ứng với thế giới xã hội xung quanh mình.

Tại khởi điểm của cuộc sống, nhân cách là một sự thống nhất đơn thuần không biệt hóa. Nó không được định hình và có tính tiềm năng hơn là hiện thực, và nó là tổng thể. Khi sự phát triển diễn ra, tính tổng thể này trở nên được biệt hóa và chia thành nhiều phần. Bản ngã ý thức xuất hiện và khi nó phát triển, nó để lại đằng sau phần lớn của cái tự ngã tổng thể đó, và chúng đi vào trong những gì nay gọi là “vô thức”. Ngược lại, vô thức, trở nên được cấu trúc hóa thành những tập hợp chất liệu xung quanh những hình nguyên mẫu imago, sự nội chiếu, và những kinh nghiệm sang chấn đau đớn để hình thành nên các tiểu nhân cách, các phức cảm. Các phức cảm (tôi đã nói ở chương 2) mang tính tự trị và có một ý thức của riêng nó. Chúng cũng có một lượng năng lượng tâm thần nhất định và có ý chí riêng của chúng.

Bóng âm của bản ngã

Một trong những nhân tố tâm thần vô thức mà bản ngã không thể kiểm soát được là bóng âm. Trên thực tế, bản ngã thường hoàn toàn không nhận biết được nó có một bóng âm. Jung dùng thuật ngữ bóng âm để nói đến một thực tế tâm lí tương đối dễ hiểu ở cấp độ tưởng tượng nhưng khó khăn hơn nhiều khi phải tìm hiểu ở cấp độ lí thuyết và thực tiễn. Ông muốn soi sáng phần vô thức hiển nhiên mà mọi người đều thể hiện. Tuy nhiên, thay vì đề cập bóng âm như là một vật, tốt hơn cả nên nghĩ đến những nét tâm lí hay các phẩm chất "trong bóng âm (nghĩa là bị che giấu, ẩn đằng sau lưng, trong bóng tối) hay là “có tính hình bóng”. Bất kể phần nào của nhân cách mà bình thường nếu được hòa nhập sẽ thuộc về bản ngã, nhưng nếu bị khử bỏ bởi sự không hòa hợp về cảm xúc và nhận thức thì sẽ rơi vào bóng âm. Những nội dung đặc thù của bóng âm có thể biến đổi, phụ thuộc vào những thái độ của bản ngã và mức độ phòng vệ của nó. Nhìn chung bóng âm có một phẩm chất phi đạo đức hay ít nhất là xấu, chứa đựng những đặc điểm mang bản chất con người tương phản với các phong tục và quy ước đạo đức của xã hội. Bóng âm là phần vô thức của những hoạt động ý định, quyết tâm, và bảo vệ của bản ngã. Nó là phần sau của bản ngã, nếu có thể nói như vậy.

Tất cả mọi bản ngã đều có một bóng âm. Đây là điều không thể tránh khỏi. Nhằm thích nghi và đương đầu với thế giới, bản ngã, một cách hoàn toàn không có ý thức, đã dùng bóng âm đó để thực hiện những hoạt động trái với đạo đức mà nó không thể thực hiện mà không lâm vào một xung đột đạo đức. Không có sự nhận thức của bản ngã, những hoạt động bảo vệ và tự phục vụ này được tiến hành trong bóng tối. Bóng âm hoạt động giống như một hệ thống mật vụ bí mật của một quốc gia - mà không có sự nhận biết rõ ràng của người đứng đầu nhận thức, do đó được phép miễn trừ trách nhiệm. Mặc dù sự nội quan trong chừng mực nào đó làm xuất hiện ở ý thức những hoạt động có hình bóng bản ngã thì cơ chế bảo vệ chống lại nhận thức bóng âm của bản ngã thường hiệu quả đến mức mà chỉ có rất ít xâm nhập được vào ý thức. Yêu cầu những người bạn thân hay một người bạn đời lâu năm tiết lộ những nhận thức chân thật của họ là một phương pháp thường ích dụng hơn phương pháp nội quan trong việc thu thập thông tin về những hoạt động của bóng âm của bản ngã.

Nếu ý chí, sự lựa chọn và ý định của bản ngã được nghiên cứu sâu rộng đầy đủ, chúng ta sẽ bước vào vương quốc của sự tối tăm và lạnh lẽo, ở đó một điều rõ ràng là bản ngã có khả năng, trong bóng âm của nó, hoàn toàn là cá nhân, tham vọng, vô cảm và muốn khống chế. Ở đây, một người hoàn toàn ích kỉ và muốn thỏa mãn những ham muốn cá nhân về quyền lực và sự thỏa mãn bằng mọi giá. Trung tâm của sự tăm tối này trong bản ngã chính là định nghĩa về cái xấu của con người116 được thể hiện trong các huyền thoại và câu chuyện. Nhân vật lago trong bi hài kịch Othello của Shakespeare là một ví dụ điển hình. Trong bóng âm có những tội lỗi trần tục giống như thế. Jung đồng nhất khái niệm cái Ấy (id) của Freud với bóng âm.

Nếu những đặc điểm của bóng âm trong một chừng mực nào đó trở thành ý thức và hòa nhập, một người sẽ hoàn toàn khác những người bình thường khác. Phần lớn mọi người đều không biết rằng họ thường cho mình là trung tâm và ích kỉ, và họ muốn thể hiện mình là một người không ích kỉ và kiểm soát được những thèm muốn và thích thú. Con người có xu hướng che giấu những nét tính cách như vậy trước những người khác và chính mình đằng sau một khuôn mặt thể hiện họ là người quan tâm, chu đáo, đồng cảm, có suy nghĩ, thân ái. Những ngoại lệ đối với chuẩn mực xã hội này là những người đã tạo được một “nhân cách tiêu cực” - những người tự hào về sự tham lam quá mức, vô tình xâm hại, khoe khoang những nét tính cách như vậy một cách công khai trong khi ở mặt bóng âm bị che giấu của họ là những con người nhạy cảm và tình cảm. Những ngoại lệ khác là những người không có gì để mất, những kẻ tội phạm hoàn toàn và những người bị bệnh nhân cách chống đối xã hội. Một số người khét tiếng khác, như Stalin và Hitler chẳng hạn đạt được quyền lực nhiều đến mức họ có thể chìm ngập trong những đam mê xấu xa lớn nhất. Tuy nhiên, nhiều người khác, nghĩ về chính họ như là người tốt và cư xử theo những nguyên tắc đúng đắn trong các giới trong xã hội và chỉ bộc lộ những yếu tố bóng âm một cách tình cờ, trong những giấc mơ, hay khi bị đẩy đến chân tường. Với họ, mặt bóng âm của bản ngã vẫn hoạt động, nhưng thông qua vô thức, điều phối môi trường và tâm thần để những ý định và nhu cầu được thỏa mãn theo cách mà xã hội có thể chấp nhận. Tuy nhiên, những gì mà bản ngã muốn trong bóng âm không nhất thiết là xấu, nên một khi bóng âm được đối diện, chúng ta sẽ không cảm thấy nó xấu như đã từng nghĩ.

Bóng âm không được trải nghiệm trực tiếp bởi bản ngã. Vì vô thức, nó phóng chiếu lên những người khác. Chẳng hạn, khi một người hết sức giận dữ về một người thực sự ích kỉ nào đó, thì phản ứng đó thường là một tín hiệu chỉ rằng yếu tố bóng âm vô thức đang được phóng chiếu. Thông thường thì người khác phải đưa ra “lưỡi câu” [làm mới nhử] cho sự phóng chiếu bóng âm, và vì vậy luôn có một sự kết hợp giữa nhận thức và phóng chiếu trong những phản ứng xúc cảm mạnh mẽ như vậy. Một người ngây thơ về tâm lí hay chống cự có tính phòng vệ sẽ tập trung và biện hộ cho việc nhận thức và bỏ qua khía cạnh phóng chiếu. Chiến lược phòng vệ này dĩ nhiên đã khép lại khả năng sử dụng kinh nghiệm để đạt được sự hiểu biết những đặc điểm của bóng âm và khả năng có thể hòa nhập chúng. Thay vào đó, bản ngã phòng vệ sẽ nhấn mạnh vào cảm giác chính trực và thể hiện nó trong vai trò của một nạn nhân vô tội hay của một người quan sát bình thường. Người khác sẽ là quái vật và bản ngã sẽ cảm thấy nó giống như một con cừu vô tội. Những vật tế thần như vậy sẽ được tạo ra từ cách suy nghĩ này.

Sự tạo dựng bóng âm

Những nội dung và phẩm chất đặc thù đưa tới việc hình thành nên cấu trúc nội tâm này, tức là bóng âm, được lựa chọn bởi quá trình phát triển bản ngã. Những gì bản ngã ý thức từ chối sẽ trở thành bóng âm; những gì nó chấp nhận và đồng nhất một cách chủ động và hấp thụ vào nó trở thành một phần của chính nó và của cái mặt nạ. Bóng âm được đặc trưng bởi những nét tính cách và phẩm chất không tương thích với bản ngã ý thức và mặt nạ. Bóng âm và mặt nạ là hai “con người” xa lạ với bản ngã, chúng tồn tại trong tâm thần cùng với nhân cách ý thức - cái mà chúng ta tự biết là gì. Có “người của công chúng” và chính thức mà Jung gọi là persona và nó đồng nhất ít nhiều với bản ngã ý thức và hình thành nên bản sắc tâm lí-xã hội của cá nhân. Nhưng nó cũng vậy, giống như bóng âm, là một cái gì xa lạ với bản ngã, dù bản ngã cảm thấy thoải mái với nó vì nó tương thích với những chuẩn mực và tập tục xã hội. Nhân cách bóng âm bị che giấu không nhìn thấy và chỉ bộc lộ trong những trường hợp đặc biệt. Thế giới gần như không nhận thức được nhân cách này. Cái mặt nạ thì rõ ràng hơn nhiều. Nó đóng một vai trò chính thức, hằng ngày trong việc thích nghi với xã hội. Bóng âm và cái mặt nạ giống như hai người anh em (với đàn ông) hay chị em (với phụ nữ); một ở bên ngoài cho công chúng và một bị che giấu và xa lánh. Chúng là một đối tượng nghiên cứu tương phản nhau. Nếu một cái là sáng thì cái kia sẽ là tối; nếu một cái là lí trí, cái kia sẽ là cảm xúc. Narcissus và Gold- mund, Bác sĩ Jekyll và Ông Hyde, Cain và Abel, Eve và Lilith, Aphrodite và Hera - những nhân vật đó là những cặp như vậy. Chúng bổ sung hoặc thường là đối lập với nhau. Cái mặt nạ và bóng âm thường đối lập với nhau ít hay nhiều ở mọi chi tiết, nhưng chúng gắn bó với nhau như anh em sinh đôi.

Cái mặt nạ là một con người mà chúng ta trở thành do kết quả của quá trình hòa nhập văn hóa, giáo dục, và thích nghi với môi trường văn hóa và tự nhiên xung quanh. Như tôi đã nêu, Jung mượn thuật ngữ này từ sân khấu La Mã ở đó persona được dùng để nói đến chiếc mặt nạ của diễn viên. Bằng việc đeo vào một chiếc mặt nạ, người diễn viên đóng một vai đặc thù và một nhân vật cụ thể trong vở kịch và tiếng nói của anh ta phóng chiếu ra ngoài qua miệng chiếc mặt nạ. Xét về mặt tâm lí học, persona là một phức cảm chức năng có nhiệm vụ vừa che giấu và vừa bộc lộ những suy nghĩ và cảm xúc có ý thức của một người trước người khác. Là một phức cảm, cái mặt nạ có một sự tự trị đáng kể và không nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của bản ngã. Khi đã đóng vai trò, người diễn viên phải nói ra mọi điều dù muốn hay không và thường là không ý thức được nó. “Anh khỏe không?”, ai đó hỏi bạn trong một buổi sáng trời mưa, và rất nhanh và không có sự ngập ngừng bạn sẽ trả lời “tôi khỏe, còn anh?”. Persona làm cho tương tác xã hội thông thường trở nên dễ hơn và làm giảm nhẹ những vấn đề gai góc có thể gây ra trở ngại hoặc khó chịu xã hội.

Bóng âm, một phức cảm chức năng bổ trợ là một loại đối nghịch cái mặt nạ. Có thể nghĩ về bóng âm như một tiểu nhân cách muốn những gì mà cái mặt nạ không cho phép. Mephistopheles (con quỷ trong tác phẩm Faust của Goethe) là một ví dụ kinh điển của một nhân vật bóng âm. Faust là một trí thức chán chường đã thấy tất cả, đọc tất cả những cuốn sách quan trọng và hiểu được mọi thứ mà mình muốn biết, và bây giờ đang kiệt sức và ý chí để sống. Ông ta bị trầm cảm và dự định tự sát khi một con chó xù thình lình chạy ngang qua đường ông đang đi và biến thành Mephisopheles. Mephistopheles khuyên Faust rời bỏ nghiên cứu của mình và đi ra thế giới cùng với mình để trải nghiệm mặt khác của Faust, là thú vui nhục dục. Mephistopheles đã làm cho Faust biết đến những chức năng cấp thấp của mình, cảm giác và tình cảm, cũng như sự run sợ và phấn chấn của một đời sống tình dục mà cho đến lúc đó ông không hề biết. Đây là một mặt của cuộc sống mà cái mặt nạ persona của ông với tư cách giáo sư và một trí thức không cho phép. Dưới sự dẫn dắt của Mephistopheles, Faust trải qua cái mà Jung gọi là enantiodromia, một sự đảo ngược của nhân cách thành kiểu tính cách đối nghịch của nó. Faust ôm trong vòng tay bóng âm và thực vậy trong một thời gian đã trở nên đồng nhất với năng lượng và phẩm chất của nó.

Đối với một bản ngã đã đồng nhất với cái mặt nạ và những giá trị và phẩm chất của nó, bóng âm có vẻ như sa đọa và xấu xa. Mephistopheles thực sự hiện thân cho cái xấu - đó là sự phá hoại độc đoán, cố ý và chủ tâm. Nhưng việc đương đầu với bóng âm cũng có tác dụng biến đổi lên Faust. Ông tìm thấy năng lượng mới, sự buồn chán biến mất và ông bắt đầu những cuộc thám hiểm mà cuối cùng sẽ đưa ông tới sự trải nghiệm đầy đủ hơn về cuộc sống. Vấn đề hòa nhập bóng âm là một vấn đề tâm lí và đạo đức khó khăn nhất. Nếu một người hoàn toàn lẩn tránh bóng âm thì cuộc sống có vẻ đúng hơn nhưng nó lại thiếu toàn vẹn một cách khủng khiếp. Tuy việc chấp nhận trải nghiệm bóng âm sẽ khiến một người chạm phải những điều phi đạo lí nhưng lại đạt được một mức độ tổng thể lớn hơn. Đây thực sự là một cuộc mặc cả với ma quỷ. Nó là tình trạng khó xử của Faust, và là vấn đề cơ bản cuộc sống của con người. Trong trường hợp của Faust, cuối cùng thì linh hồn của ông cũng được cứu vớt, nhưng chỉ bằng ân huệ của Chúa.

Cái mặt nạ

Trong những tác phẩm chính thức của mình, Jung không nói nhiều chi tiết về bóng âm nhưng ông đưa ra một giải thích chi tiết và thú vị về mặt nạ. Từ đó chúng ta có thể rút ra được một số thông tin về bóng âm và sự hội tụ của nó trong nhân cách. Bây giờ tôi sẽ xem xét kĩ hơn về những gì Jung viết về cái mặt nạ, vị trí của nó trong tâm thần và sự hình thành của nó.

Ông định nghĩa thuật ngữ này trong tác phẩm lớn Các loại hình tâm lí xuất bản năm 1921. Tập sách này kết thúc với một chương dài mang tên “Các định nghĩa” trong đó Jung tìm cách nói một cách rõ ràng nhất về các thuật ngữ ông lấy và chuyển đổi từ phân tâm học và tâm lí học nói chung cũng như những thuật ngữ mà chính ông tạo ra cho tâm lí học phân tích của mình. Tuy liên quan đến phân tâm học và tâm lí học nói chung nhưng thuật ngữ mặt nạ hoàn toàn là một sở hữu trí tuệ riêng của chính Jung. Phần 48, một trong những phần dài nhất của chương này, được dành cho thuật ngữ soul (tâm hồn) và đấy chính là nơi mà persona (cái mặt nạ) được đề cập đến. Ở đây Jung suy nghĩ về hai cấu trúc bổ sung, cái mặt nạ và tâm hồn117. Tôi sẽ đề cập đến personaanima trong chương tiếp theo.

Ngày nay, thuật ngữ persona được chấp nhận phần nào vào từ vựng của tâm lí học và văn hóa đương đại. Nó cũng thường được sử dụng trong lời nói thường ngày, trên báo chí, và trong lí thuyết văn học. Nó có nghĩa là con người như nó biểu hiện ra chứ không phải con người thực. Persona là một cấu trúc tâm lí và xã hội được dành cho một mục đích đặc thù. Jung chọn thuật ngữ này cho lí thuyết tâm lí của ông bởi vì nó có liên quan đến những vai trò đang đóng trong xã hội. Ông quan tâm đến việc con người đóng những vai trò cụ thể, chấp nhận một thái độ tập thể quy ước, và phản ánh những khuôn mẫu văn hóa và xã hội thay vì nắm giữ và thể hiện tính xác thực duy nhất của họ như thế nào. Chắc chắn đây là một nét về con người mọi người đều biết. Nó là một kiểu bắt chước. Jung dành cho nó một cái tên và nghiên cứu nó trong lí thuyết tâm thần của ông.

Jung bắt đầu việc định nghĩa persona bằng việc nêu lên quan điểm rằng nhiều nghiên cứu tâm thần học và tâm lí học đã chỉ ra rằng nhân cách con người không đơn giản mà phức tạp và nó có thể phân li hoặc chia nhỏ dưới những điều kiện nhất định và có nhiều tiểu nhân cách trong tâm thần con người bình thường. Tuy nhiên, “rõ ràng là tính đa nguyên của nhân cách như vậy có thể không bao giờ xuất hiện ở một cá nhân bình thường”118. Nói theo cách khác, mặc dù chúng ta hoàn toàn không phải là “những người đa nhân cách” theo nghĩa lâm sàng, mọi người đều biểu hiện "những dấu vết của sự phân li nhân cách”119. Con người bình thường đơn giản chỉ là hình thức thu nhỏ của sự phân li phát hiện được trong bệnh lí này thôi. “Chỉ cần quan sát một người kĩ lưỡng, dưới những điều kiện biến đổi, để thấy sự thay đổi từ một môi trường này sang môi trường khác sẽ đưa đến một sự biến đổi đáng kể của nhân cách... ‘thiên thần ở bên ngoài nhưng là quỷ dữ khi ở nhà’”120. Ở nơi công cộng, một người như vậy sẽ luôn nở nụ cười, thân mật, chào hỏi, hướng ngoại, dễ gần, thoải mái, vô tư lự, vui đùa; nhưng khi ở nhà thì anh ta hay cáu kỉnh, cục cằn, không nói chuyện với con cái, hờn dỗi và ẩn mình sau những tờ báo, ngược đãi bằng lời nói hay những gì khác. Tính cách có tính tình huống. Câu chuyện về Jekyll và Hyde phản ánh một hình thức cực doan của điều này. Một tiểu thuyết khác với cùng chủ đề là Bức tranh của Dorian Gray, ở đó nhân vật chính giữ một bức tranh về mình trên gác nhà. Khi anh ta lớn lên, bức chân dung cũng già theo, bộc lộ bản chất và đặc điểm chân thực và tính cách của anh ta; nhưng anh ta tiếp tục xuất hiện trước công chúng mà không hề có chút dấu vết của sự già nua – vẫn trẻ trung, tinh tế và vui vẻ.

Jung tiếp tục thảo luận chủ đề hấp dẫn về sự nhạy cảm của con người trước các môi trường và hoàn cảnh xã hội. Mọi người thường nhạy cảm trước các mong đợi của người khác. Jung chỉ ra rằng những môi trường cụ thể chẳng hạn như gia đình, trường học, và nơi làm việc đòi hỏi một người phải có những thái độ đặc thù riêng. Bằng từ “thái độ” Jung muốn nói đến “một hướng tiên nghiệm trước một cái gì xác định, bất kể điều này có được phản ánh trong ý thức hay không”121. Một thái độ có thể tiềm ẩn và vô thức nhưng nó thường xuyên hoạt động hướng tới một người, một tình huống hay một hoàn cảnh. Hơn thế nữa, một thái độ là “một sự kết hợp những nhân tố hoặc nội dung tâm thần, nó sẽ quyết định hành động theo hướng này hay hướng khác”122. Do đó, một thái độ là một đặc trưng của tính cách. Một thái độ càng tồn tại lâu dài và thường xuyên được sử dụng nhằm đáp ứng những đòi hỏi của một môi trường thì nó càng thường gặp. Như thuyết hành vi đã xác định điều đó, một thái độ hay hành vi càng được củng cố thường xuyên hơn bởi môi trường thì nó càng trở nên vững chắc và mạnh mẽ hơn. Con người có thể được huấn luyện để phát triển những thái độ đặc thù trước những môi trường nhất định và do đó đáp lại theo các cách đặc thù, phản ứng lại những tín hiệu hay ám hiệu mà họ đã được tập huấn trước đó để thực hiện. Một khi một thái độ được phát triển đầy đủ, tất cả những gì được đòi hỏi để kích hoạt hành vi là ám hiệu hay kích hoạt thích hợp. Jung quan sát điều này năm 1920 vào khoảng thời gian học thuyết hành vi bắt đầu có cơ sở ở Bắc Mĩ, do John Broadus Watson dẫn dắt, mà tác phẩm chính đầu tiên của ông xuất hiện năm 1913.

Trái ngược với những người sống và làm việc ở những vùng nông thôn hay dân dã, những môi trường tương đối thuần nhất, phần lớn những người thành thị có học vấn sống ở hai môi trường khác nhau: phạm vi gia đình và thế giới bên ngoài. Điều này đúng với nam giới hơn là phụ nữ ở châu Âu vào thời của Jung. Vào thời và nền văn hóa của Jung, nam giới làm việc trong một môi trường và sống cuộc sống gia đình trong một môi trường khác, và họ phải đáp ứng với hai môi trường khác nhau rõ ràng đó và mỗi một môi trường có những dấu hiệu khác biệt. “Hai môi trường khác nhau hoàn toàn này đòi hỏi hai thái độ khác nhau hoàn toàn mà, tùy thuộc vào mức độ đồng nhất của bản ngã với thái độ tại thời điểm đó, sẽ tạo ra một bản sao của nhân cách”123.

Một người bạn của tôi là một nhà quản lý cấp trung trong một cơ quan chính quyền, và do vậy, ông phải tạo ra một khí thế cho những người lao động trong nhóm của mình về những giá trị và mẫu hành vi ở nơi công cộng. Cơ quan này là một môi trường mà ở đó ông phải tìm kiếm từ những nguồn khác nhau những giá trị chính xác, rồi ông phải truyền đạt cho những người làm việc dưới quyền mình rằng họ phải nhạy cảm trước những vấn đề chẳng hạn như là không phân biệt đối xử, bất bình đẳng nam nữ và hành động có tính khẳng định. Bạn tôi bảo với tôi rằng anh ta đóng vai trò này một cách dễ dàng và tốt đẹp ở nơi làm việc nhưng khi xem lại ti vi ở nhà riêng của mình anh có những phản ứng rất khác nhau. Khi đó anh ta thấy mình cực kì bảo thủ. Còn khi ở nơi làm việc anh ta là một con người tự do và hiện đại. Tuy nhiên bản ngã của anh ta không đồng nhất mạnh với thái độ của môi trường đó. Anh có một chiếc mặt nạ chức năng: anh ta khoác vào và cởi bỏ dễ dàng mà không đồng nhất với nó. Trong đầu óc bạn tôi, anh ta hiểu rõ mình không đồng nhất với chiếc mặt nạ ở nơi làm việc đó.

Tuy nhiên bản ngã thường xuyến đồng nhất với mặt nạ. Thuật ngữ tâm lí học đồng nhất nói tới khả năng của bản ngã hấp thu và thống nhất với những đối tượng, thái độ và những người bên ngoài. Có một quá trình hơi có tính vô thức ở đây. Một người chỉ đơn giản xem mình đang vô tình bắt chước một người khác. Có thể là chính người đó không nhận ra nó nhưng người khác nhận ra sự bắt chước này. Trên nguyên tắc, một người có thể nói là bản ngã hoàn toàn tách khỏi mặt nạ, nhưng trong thực tế, điều này thường không đúng bởi vì bản ngã có xu hướng đồng nhất với các vai trò nó đóng trong cuộc sống. “Thông thường tính cách con người trong gia đình được hun đúc bởi những nhu cầu về tình cảm và sự chấp nhận dễ dàng vì lợi ích của sự thuận tiện và thoải mái; trong khi đó điều thường xảy ra là con người trong cuộc sống nơi công cộng lại hết sức năng động, nhiệt huyết, ngang ngạnh, ý chí, độc đoán lại biểu hiện là người có bản tính tốt, mềm mại, phục tùng, thậm chí yếu đuổi khi ở nhà và trong gia đình. Đâu là tính cách thực, nhân cách thực? Câu hỏi này thường không dễ trả lời”124.

Dẫu vậy, với bản ngã còn có nhiều thứ hơn là sự đồng nhất của cái mặt nạ. Cái mặt nạ nhiều nhất cũng chỉ hình thành một cái vỏ bọc xung quanh một phần bản ngã hướng ra thế giới bên ngoài. Nhưng mọi người sẽ vẫn nhận ra một sự khác biệt giữa vai trò và bản sắc nội tâm thực sự. Hạt nhân của bản ngã mang tính cổ mẫu cũng như cá tính và cá nhân. Đây là một điểm suy ngẫm nhỏ vững chắc, trung tâm của cái “tôi”. Khí a cạnh cổ mẫu của hạt nhân bản ngã là thuần túy “tôi là”, một biểu hiện của cái mình. Đơn giản nó chỉ là “tôi là” (xem chương 1).

Tuy nhiên ở khía cạnh cá nhân, bản ngã có thể bị xâm nhập từ các lực bên ngoài. Những ảnh hưởng như vậy tìm cách xâm nhập vào bản ngã và gạt sang bên tính “cái tôi” này khi bản ngã đồng nhất với nội dung mới. Đây là “sự hiểu biết” của bản ngã. Chúng ta biết được tên chúng ta. Sau đó, chúng ta trở thành những cái tên, chúng ta đồng nhất với những âm thanh của những cái tên này. Khi bản ngã đồng nhất với cái mặt nạ persona, nó cảm thấy giống với cái mặt nạ này. Sau đó tôi trở thành cái tên mình; tôi con của cha và mẹ tôi, em của chị gái tôi. Một khi sự đồng nhất này được thực hiện, tôi không đơn thuần còn là “tôi là người mà tôi là nữa” mà thay vào đó, tôi là Murray Stein, sinh vào một ngày như vậy, với một quá khứ cá nhân riêng. Điều này có nghĩa là bây giờ tôi là ai. Tôi đồng nhất với các kí ức, với sự hình thành quá khứ của mình, với một số phẩm chất của mình. Theo đó thì tính “tôi” thuần túy - phần cổ mẫu - có thể trở nên mơ hồ và bị che giấu hay biến mất hoàn toàn khỏi ý thức. Lúc đó thì một người sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào cái mặt nạ persona về toàn bộ căn tính bản sắc và cảm nhận về hiện thực, trừ cảm nhận về giá trị bản thân và những gì thuộc về mình.

Điều này dĩ nhiên cũng có thể dao động. Thỉnh thoảng một người ở vào trạng thái “chính mình”, không đồng nhất với bất kì cái gì; và thỉnh thoảng một người đồng nhất mạnh mẽ với một số nội dung và phẩm chất và chìm ngập trong một hình ảnh cái mặt nạ persona. T.S. Eliot nói rằng các con mèo có ba cái tên: một cái mọi người đều biết, một cái chỉ một số ít biết và một cái chỉ con mèo biết! Hai cái tên đầu nói tới cái mặt nạ persona và cái tên thứ ba nói đến hạt nhân cổ mẫu của bản ngã.

Hai nguồn gốc của cái mặt nạ

Jung phát hiện ra hai nguồn của cái mặt nạ: “tùy thuộc vào những điều kiện và đòi hỏi của xã hội, về một mặt, tính cách xã hội được định hướng bởi những mong đợi và đòi hỏi của xã hội, và về mặt khác là những mục đích của xã hội và các kì vọng của cá nhân”125. Cái thứ nhất, những đòi hỏi và mong chờ của môi trường bao gồm những đòi hỏi là một kiểu người nào đó như vậy, hành xử thích hợp với những chuẩn mực xã hội của nhóm và thường tin vào những khuynh hướng nhất định về bản chất của hiện thực (chẳng hạn, sự đồng thuận những giáo lí tôn giáo). Nguồn thứ hai là những tham vọng xã hội của cá nhân.

Đối với xã hội, để có thể ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của một người thì người đó phải thuộc về xã hội. Bản ngã cần phải được thúc đẩy để chấp nhận những đặc điểm của cái mặt nạ và vai trò mà xã hội yêu cầu hoặc đưa ra, hoặc chúng sẽ bị lảng tránh. Sẽ không có sự đồng nhất hóa hoàn toàn. Một thỏa hiệp phải đạt được giữa cá nhân và xã hội để sự hình thành mặt nạ được thực hiện. Nếu không cá nhân đó sẽ sống một cuộc đời cô lập nhoài lề văn hóa, mãi mãi là một thiếu niên khó khăn trong một thế giới người lớn. Điều này khác với sự nổi loạn của một kẻ nổi loạn anh hùng đi theo con đường riêng của mình và bỏ qua những chuẩn mực xã hội. Đây là một kiểu khác của mặt nạ và được đưa ra bởi tất cả các xã hội và các nhóm. Có nhiều vai trò để đóng.

Nói chung, vai trò càng uy thế thì xu hướng đồng nhất với nó càng mạnh. Mọi người thường không đồng nhất với những cái mặt nạ cấp thấp như người quét rác, người gác cổng hoặc thậm chí những vai trò trung lưu như người quản lí hay giám sát. Nếu họ làm vậy, họ thường làm điều này một cách hài hước. Những công việc này có giá trị và phẩm giá riêng của chúng nhưng chúng không phải là những vai nhằm mang đến tự hào trong xã hội, và do đó, sức hấp dẫn của việc đồng nhất mạnh mẽ với chúng là rất nhỏ. Nói chung, sự đồng nhất với vai trò được thúc đẩy bởi tham vọng và khát vọng xã hội. Ví dụ, một người được bầu vào Thượng viện Mĩ sẽ dành được một vai trò với giá trị tập thể cao và uy tín lớn. Với vai trò này thì danh dự, danh tiếng, tầm nhìn xã hội cao sẽ đến và người thượng nghị sĩ này có xu hướng đồng nhất với vai trò này tới mức mà có thể muốn được bạn bè gần gũi đối xử với sự tôn kính rõ ràng. Người ta nói rằng khi John E Kennedy trở thành Tổng thống Mĩ thì ngay cả những người trong gia đình cũng gọi ông là ngài tổng thống.

Trong bộ phim tự truyện của Ingmar Bergaman Fanny và Alexander, một chú bé được gửi tới sống với một giám mục khủng khiếp, ngược đãi, một người xa cách và lạnh lùng về tình cảm và đồng nhất mạnh mẽ với persona tôn giáo của mình. Trong một cảnh phim người ta thấy vị giám mục đang mơ. Trong giấc mơ, ông cố gắng đấu tranh để cởi bỏ chiếc mặt nạ mà ông không thể chia tách với nó được và cuối cùng ông đã lột mặt mình với cả chiếc mặt nạ. Bản ngã của vị giám mục đã hoàn toàn hòa lẫn với cái mặt nạ giám mục bởi vì vai trò đó đảm bảo cho ông những tham vọng cá nhân trong cuộc sống. Không nghi ngờ gì là giám mục là một người có vị trí cao trong xã hội. Cũng tương tự như vậy là bác sĩ, quân nhân và những phần thưởng dành tặng cho những chiếc mặt nạ này đã đưa đến sự đồng nhất mạnh mẽ. Nhưng vị giám mục, trong cơn ác mộng của mình, lại tìm cách xóa bỏ chiếc mặt nạ khỏi khuôn mặt của mình. Tại sao?

Moi liên hệ giữa bản ngã và persona không đơn giản chỉ do những mục tiêu đối lập nhau của hai phức cảm chức năng này. Bản ngã vận động theo một hướng quan trọng hướng tới sự phân tách và cá nhân hóa, hướng tới sự củng cố một vị trí mà trước hết nằm ngoài vô thức và do vậy cũng phần nào đó nằm ngoài môi trường gia đình. Trong bản ngã có một chuyển động mạnh mẽ hướng tới sự tự trị, hướng tới một tính “tôi” có thể hoạt động độc lập. Đồng thời một phần khác của bản ngã, là nơi mà cái mặt nạ bám rễ, vận động theo một hướng đối lập, hướng tới sự liên hệ và thích ứng với thế giới bên ngoài. Đó là hai khuynh hướng đối lập trong bản ngã - một nhu cầu phân tách và độc lập về một phía và một nhu cầu liên hệ và gắn bó về phía kia. Khát vọng mạnh mẽ của bản ngã về sự chia tách/cá nhân hóa thường nằm trong bóng âm bởi vì nó đe dọa tới cuộc sống của cả nhóm lẫn hạnh phúc cá nhân. Khách quan mà nói, tất cả chúng ta đều cần đến người khác để sống cả về sinh học lẫn tâm lí. Chuyển động của bản ngã hướng tới liên hệ và thích nghi với môi trường hiện tại nhằm tìm kiếm sự đảm bảo cho sự sinh tồn sẽ tạo cơ hội cho cái mặt nạ chi phối. Và do đó, nó trở thành sự tự thể hiện của cá nhân ra thế giới.

Sự phát triển của cái mặt nạ

Xung đột này trong bản ngã giữa cá nhân hóa/phân tách và sự tuân theo xã hôi tạo ra nhiều lo âu căn bản của bản ngã. Làm sao một người có thể tự do, duy nhất và cá nhân trong khi được chấp nhận và ưa thích bởi những người khác và điều tiết với những nhu cầu và ước vọng của họ. Rõ ràng là nguồn của xung đột căn bản nằm trong bản ngã và sự phát triển của cái mặt nạ. Vào thời kì đầu tuổi người lớn, người ta hi vọng rằng sự phát triển đầy đủ đã diễn ra ở cả bản ngã và cái mặt nạ đến mức mà nhu cầu kép của bản ngã về sự độc lập và quan hệ được thỏa mãn, đồng thời cái mặt nạ lại đã tạo ra một sự thích ứng đủ để bản ngã có thể tồn tại trong thế giới thực. Những thiên tài như Wagner, Beethoven và Picasso dường như là ngoại lệ với nguyên tắc này khi mà tài năng của họ dành cho họ khả năng là chính mình tới một mức đặc biệt. Họ được tha thứ cho những gì thái quá của họ vì những thành quả họ đã đóng góp cho thế giới.

Bản ngã lựa chọn một cách không cố ý việc đồng nhất với một cái mặt nạ đặc biệt. Mọi người nhận thấy mình ở trong những môi trường trong đó họ phải sống sót, và họ phần lớn đã cố gắng hết sức mình để phát triển. Thứ tự ngày sinh là một nhân tố quan trọng, cũng như giới tính. Một đứa con gái hay con trai nhỏ quan sát điều những đứa trẻ khác đang làm và bắt chước chúng. Những đứa bé trai nhỏ thỉnh thoảng cũng cố thử quần áo của mẹ chúng và cha mẹ chúng lo ngại về điều này. Quần áo phản ánh cho cái mặt nạ. Những bé trai thường xuyên bắt chước anh hay cha chúng, đội mũ khi anh hay cha chúng đội, cũng đi đứng nghênh ngang và nhổ nước bọt nếu đó là những gì các đứa trẻ khác đang làm. Giới chắc chắn là một cách mà chúng ta phân loại chính mình từ trước đó và những đặc điểm này được hội nhập vào cái mặt nạ. Một thanh niên trẻ nhận ra rằng mình được đối xử theo một cách nào đó nếu hành vi đó đúng, và đáp lại theo một cách thích hợp về giới tính. Điều này có thể đến một cách hoàn toàn tự nhiên cho cá nhân đứa bé hoặc không. Thỉnh thoảng cái mặt nạ phù hợp, thỉnh thoảng không. Cuối cùng, một thái độ được hình thành mà ít nhất cũng phù hợp, nếu không muốn nói là tăng cường dưới hình thức sự hấp dẫn liên quan đến giới tính (Những vấn đề sâu hơn liên quan đến giới và đồng nhất giới tính sẽ được đề cập đến ở chương sau).

Sự phát triển cái mặt nạ có hai nguy cơ tiềm ẩn. Một là sự đồng nhất quá mức với cái mặt nạ. Cá nhân trở nên quan tâm quá mức với việc làm hài lòng và thích ứng với thế giới xã hội và trở nên tin rằng hình ảnh được cấu trúc này chính là toàn thể nhân cách. Vấn đề khác nằm ở việc không chú ý đầy đủ tới thế giới đối tượng bên ngoài và hoàn toàn quan tâm với thế giới nội tâm (một trạng thái mà Jung mô tả là sự chi phối của phần tâm thần vô thức animaanimus). Một người như vậy chú trọng vào những xung lực, ham muốn, ước vọng và huyễn tưởng và bị chi phối bởi thế giới đó và đồng nhất với nó đến mức mà không chú ý đầy đủ tới những người khác. Kết quả là người đó trở nên không quan tâm, mù quáng, không liên hệ với người khác được và chỉ từ bỏ những đặc điểm này khi bị buộc phải làm vậy do những chấn động khắc nghiệt nhất của số phận.

Sự phát triển cái mặt nạ nói chung là một vấn đề lớn ở thời thanh niên và đầu thời người lớn khi mà một mặt có quá nhiều hoạt động ở thế giới nội tâm, nhiều xung lực, huyễn tưởng, giấc mơ, khát vọng, ý thức hệ và lí tưởng; còn mặt kia có quá nhiều áp lực của những người cùng lứa tuổi hướng tới sự phục tùng xã hội. Sự liên hệ với thế giới rộng lớn hơn dường như là rất nguyên thủy và tập thể, không cân bằng được bởi tinh thần tập thể và sự đồng nhất với nhóm cùng độ tuổi và những giá trị tập thể của nó. Những sự đồng nhất như vậy với nhóm cùng lứa tuổi sẽ giúp một thanh niên thoát khỏi gia đình, một bước cần thiết hướng tới sự trưởng thành. Đồng thời, người thanh thiếu niên này hoàn toàn không quan tâm và thực sự là không nhận biết được thế giới đối tượng bên ngoài và sống trong huyễn tưởng về tính vô địch của mình. Người lớn thường hay sử dụng từ phình to hay quảng đại để mô tả sự kết hợp tính phô đại của thế giới nội tâm và sự kém thích nghi với thực tế bên ngoài. Về một mặt, một số thanh niên chú ý quá nhiều tới những giá trị và mong đợi của người lớn. Mặc những chiếc áo sơ mi nghiêm nghị, mang theo những chiếc cặp, và vào tuổi 15, nói về việc sẽ trở thành luật sư của các công ty, họ thích ứng với những mong đợi của gia đình và văn hóa đến mức không có nhiều bản sắc cá nhân phát triển được. Họ đang trên đường trở thành những người rập khuôn thuần túy của các hình thức văn hóa, những nạn nhân của sự thích ứng của cái mặt nạ non nớt.

Cả người hướng nội và người hướng ngoại đều phát triển một chiếc mặt nạ vì cả hai kiểu thái độ đều liên quan đến thế giới các đối tượng. Tuy nhiên với người hướng ngoại, sự phát triển cái mặt nạ là một quá trình đơn giản hơn ở người hướng nội. Libido của người hướng ngoại hướng tới đối tượng và ở lại đó và người hướng ngoại lưu giữ và liên hệ với đối tượng mà không có nhiều khó khăn hay phức tạp. Với người hướng nội, sự chú ý và năng lượng tâm thần cũng hướng tới đối tượng nhưng sau đó quay trở lại chính chủ thể và tạo ra một mối liên hệ phức tạp hơn với các đối tượng. Một đối tượng không chỉ là những gì nằm ngoài tâm thần mà, đối với người hướng nội, nằm sâu bên trong tâm thần. Sự gắn bó khó khăn hơn. Tuy nhiên, người hướng ngoại có thời điểm dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm một chiếc mặt nạ thích hợp. Họ cảm thấy thoải mái hơn với thế giới đối tượng bởi vì nó không đe dọa họ quá sâu sắc. Cái mặt nạ của người hướng nội mơ hồ hơn, thiếu tin tưởng và không chắc chắn, và dễ biến đổi từ một bối cảnh này sang bối cảnh khác.

Tuy nhiên với tất cả mọi người, cái mặt nạ phải liên hệ được với những đối tượng và bảo vệ chủ thể đó. Đây là chức năng kép của nó. Trong khi người hướng nội có thể thoải mái với chỉ vài người thì trong một nhóm rộng họ thu mình, biến mất và cái mặt nạ của họ thường cảm thấy sự không thích hợp, đặc biệt là với những người xa lạ và trong những hoàn cảnh mà người hướng nội không có một vai trò xác định. Những bữa tiệc cocktail là một sự tra tấn nhưng đóng kịch trên sân khấu có thể là một sự vui thích và thỏa mãn của họ. Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng là người hướng nội sâu sắc. Ở nơi riêng tư họ có thể là người xấu hổ nhưng nếu được dành cho một vai diễn nơi công cộng, họ cảm thấy được bảo vệ an toàn và dễ dàng làm được như là những người hướng ngoại nhiều nhất.

Mặt nạ, khi được sử dụng sáng tạo trong hoàn cảnh một sự phát triển tâm lí mạnh mẽ, nó sẽ hoạt động để thể hiện cũng như che giấu những mặt của nhân cách. Một cái mặt nạ thích hợp không chỉ đủ lớn để thể hiện những khía cạnh thích hợp về xã hội của nhân cách mà cũng còn phải chân thực và đáng tin cậy. Cá nhân có thể đồng nhất với cái mặt nạ đến mức nó là biểu hiện xác thực của nhân cách mà không có nhiều sự hủy hoại. Dĩ nhiên điều này có thể biến đổi với tuổi tác và những chiếc mặt nạ mới xuất hiện khi những cá nhân đi vào những sân khấu mới của cuộc sống. Chẳng hạn, những người hướng ngoại xã hội có thể trở nên hướng nội hơn khi họ bước vào tuổi 50 hay 60. Sau đó trong cuộc sống một người cũng có thể nhận ra rằng có một sự khác biệt giữa cảm nhận rằng cái mặt nạ là đúng đắn, chính đáng, xấc thực và sự đồng nhất hóa vô thức và đầy đủ với nó về mặt kia.

Xét về bản chất thì cái mặt nạ như một lớp da tâm thần giữa bản ngã và thế giới, không chỉ là một sản phẩm của sự tương tác với các đối tượng mà còn bao gồm cả những phóng chiếu của cá nhân lên những đối tượng đó. Chúng ta thích ứng với những gì mà chúng ta tri giác người khác là vây và những gì mà họ muốn. Điều này có lẽ khác đáng kể với việc những người khác nhìn nhận họ và chính họ nhìn nhận bản thân họ. Tạo dựng nên kết cấu cái mặt nạ là những phóng chiếu bắt nguồn từ các phức cảm, ví dụ như phức cảm cha mẹ, và rồi sau đó trở lại chủ thể qua quá trình nội phóng và nhập vào cái mặt nạ. Đó là lí do mà đầu thời ấu thơ có một tác động sâu sắc như vậy lên cái mặt nạ người lớn. Thậm chí ngay cả khi cha mẹ qua đời từ lâu hay đã bị lãng quên thì chúng vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cái mặt nạ bởi vì chúng được phóng chiếu ra thế giới từ những phức cảm cha mẹ và liên tục được thích nghi bởi cái mặt nạ của cá nhân. Chúng ta là những đứa bé tốt, lâu sau đó chúng ta đã vẫn cần là như vậy. Đưa cái mặt nạ từ một môi trường này sang môi trường khác gây ra nhiều vấn đề bởi vì trong nỗ lực liên tục để thích nghi, bối cảnh ban đầu được phóng chiếu lên bối cảnh mới là những tình huống hoàn toàn khác. Đó chính là quan sát của Freud về hiện tượng “chuyển dịch”. Bối cảnh tuổi trẻ con cũ được chuyển sang bối cảnh quan hệ bệnh nhân - bác sĩ mới. Cho đến khi một người nhận ra rằng các môi trường khác nhau thế nào thì họ vẫn giữ những hành vi quen thuộc cũ, đáp ứng với môi trường mới như thể nó là môi trường cũ quen thuộc.

Những biến dạng của cái mặt nạ

Hạt nhân cổ mẫu của bản ngã không biến đổi theo thời gian nhưng cái mặt nạ thì có thể và biến đổi nhiều lần trong toàn bộ đời người, phụ thuộc vào sự nhận thức của bản ngã về môi trường đã biến đổi và khả năng của nó tương tác với môi trường. Một biến đổi chính xảy ra trong giai đoạn chuyển từ tuổi trẻ sang tuổi thanh thiếu niên; một biến đổi chính nữa xảy ra trong giai đoạn chuyển từ tuổi thanh thiếu niên sang tuổi người lớn; và một biến đổi chính khác trong quá trình chuyển đổi trung niên từ đầu thời người lớn sang thời trung niên; một biến đổi khác nữa trong sự chuyển đổi sang tuổi già. Bản ngã có năng lực đáp ứng được một trong số các thách thức về thích nghi này với những biến đổi thích hợp trong chính nó và biểu hiện cái mặt nạ bên ngoài. Con người nghĩ khác nhau về chính mình, mặc quần áo khác nhau, cắt tóc cũng khác nhau, mua những loại ô tô và nhà khác nhau phụ thuộc vào tuổi tác, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế và vị trí xã hội và những sở thích của nhóm cùng độ tuổi. Tất cả những điều này được phản ánh trong sự biến đổi cái mặt nạ.

Những vai trò khác nhau mà một người nắm giữ trong đời người dĩ nhiên là có một cơ sở tập thể và trong phạm vi nào đó là cổ mẫu. Cái mặt nạ, như mọi phức cảm chức năng, có một hạt nhân cổ mẫu. Có những vai trò tiêu biểu và có thể dự đoán phải được đáp ứng trong tất cả các nhóm người. Ví dụ, có hình ảnh đứa bé lớn tuổi nhất là một “người lớn nhỏ” và “đứa bé láu lỉnh” hay lầm lỗi vặt vẫn đang đùa nghịch trong chúng ta ở tuổi trung niên và tuổi già, và có “người đàn bà có vẻ đẹp quyến rũ (Femme Fatale)” đầy sức cám dỗ, tán tỉnh và cuốn hút suốt cuộc đời chúng ta bắt đầu từ lúc buổi đầu thời niên thiếu. Các gia đình gán những vai trò theo những cách điển hình cho con cái mình và những người lớn khác trong gia đình. Thứ tự năm sinh đóng một vai trò lớn trong những chiếc mặt nạ được những đứa bé chấp nhận. Đứa đầu tiên là đứa trưởng thành và nhiều trách nhiệm, đứa thứ hai là trung gian và đứa bé nhất là đứa trẻ sáng tạo. Vai trò “chịu trách nhiệm” được phát hiện ở khắp mọi nơi và mọi thời đại như là vật tế thần. Con người được gán những vai trò như vậy do những động lực vô thức trong gia đình và nhóm, và khi họ chấp nhận chúng ở thời niên thiếu, họ thường mang theo một phiên bản của vai trò đó trong suốt đời mình.

Nhưng cái gì đã làm cho cái mặt nạ gắn chặt vào con người lâu bền như vậy? Một phần, đó là do sự đồng nhất hóa và thuần túy quen thuộc. Cái mặt nạ trở nên đồng nhất với nhân cách của một người. Nó đưa ra một bản sắc tâm lí xã hội. Nhưng xấu hổ cũng là một động lực căn bản. Cái mặt nạ bảo vệ một người khỏi bị xấu hổ, và việc lảng tránh sự xấu hổ này có lẽ là động cơ lớn nhất để phát triển và duy trì cái mặt nạ. Những tác phẩm của Ruth Benedict về các nền văn hóa coi trọng “xấu hổ” và “tôi lỗi” đã chỉ ra rằng các quốc gia phương Tây được đặc trưng bởi văn hóa coi trọng “tội lỗi” còn các quốc gia phương Đông đặc trưng bởi văn hóa coi trọng “xấu hổ”. Các nền văn hóa xấu hổ coi trọng cái mặt nạ hơn văn hóa tội lỗi, tức là nếu một người bị “mất mặt”, người đó có thể sẽ chết. Mất mặt là một sự khủng hoảng cực lớn. Tình huống này hoàn toàn khác ở các nền văn hóa coi trọng tội lỗi ở đó lỗi lầm có thể được làm dịu bớt hay sửa chữa: một người có lỗi có thể phải trả giá và sau đó được phục hồi lại trong cộng đồng.

Tội lỗi hướng về một hành động riêng lẻ trong khi xấu hổ loại bỏ toàn bộ cảm nhận về giá trị bản thân. Xấu hổ có tính chất nguyên thủy hơn và tiềm ẩn một cảm xúc có tính phá hoại hơn. Chúng ta có xu hướng cảm thấy hoặc là có lỗi hoặc là hết sức xấu hổ về những gì chúng ta làm có vẻ lạ lùng với chiếc mặt nạ đã được chấp nhận của mình. Đây là sự nhận thức thấu đáo bóng âm trong nhân cách. Bóng âm gây ra cảm giác xấu hổ, cảm giác vô giá trị, không trong sạch, ô danh và không muốn. Có giáo dục tốt tức là phải biết tự hào, làm ô danh chính mình là việc làm đáng xấu hổ. Bản chất đã thu phục được bởi bản ngã đã được rèn luyện vệ sinh (đi tè, đi ị). Những kinh nghiệm như vậy về xấu hổ bao gồm mọi thứ không phù hợp với cách chúng ta được giáo dục: để trở thành một người tốt, một người chính trực; để được hòa nhập, để được chấp nhận. Trong một nền văn hóa khắt khe như của chúng ta, những huyễn tưởng hay hành vi tình dục cụ thể không thích hợp cho một chiếc mặt nạ “của một người tốt” dễ dẫn đến những cảm xúc xấu hổ. Một đặc điểm khác của bóng âm là tính xâm hại. Cảm giác xâm kích, căm ghét hay ghen tị là những cảm xúc đáng xấu hổ.

Những phản ứng bình thường của con người có xu hướng bị che giấu; chúng ta bối rối bởi chúng giống như chúng ta xấu hổ bởi những khiếm khuyết tính cách hay thể chất nào đó chúng ta nhận thấy ở chính mình. Cái mặt nạ là bộ mặt chúng ta đeo vào để phù hợp với những bộ mặt của những người khác, để giống như họ và được họ thích. Chúng ta không muốn quá khác biệt vì như vậy sẽ là lúc cái mặt nạ chấm dứt và bóng âm bắt đầu, khiến chúng ta trở nên xấu hổ.

Hòa nhập cái mặt nạ và bóng âm

Bóng âm và cái mặt nạ là một cặp đối lập kinh điển, tồn tại trong tâm thần như những đối cực của bản ngã. Bởi vì toàn bộ nhiệm vụ của sự phát triển tâm lí (“cá nhân hóa”, sẽ được nói đến ở chương 8) là sự hòa nhập và tổng thể là một giá trị tối cao và bao trùm nên chúng ta cần tự hỏi ở đây ít nhất cũng theo một cách sơ bộ: sẽ có ý nghĩa gì khi hòa nhập cái mặt nạ persona và bóng âm shadow? Trong phạm vi chương này tôi sẽ nói đến sự hòa nhập gắn với sự tự chấp nhận, sự chấp nhận hoàn toàn những phần của chính mình không thuộc về hình ảnh cái mặt nạ mà thường là hình ảnh của một lí tưởng hay ít nhất của một chuẩn mực văn hóa. Những khía cạnh cá nhân mà một người bị xấu hổ thường cảm thấy là hết sức xấu. Mặc dù quả thực một số trong đó là xấu và phá hoại nhưng thường thì nội dung của bóng âm không xấu. Nó chỉ bị cảm nhận là vậy vì sự xấu hổ gắn với nó do sự không phù hợp với chiếc mặt nạ.

Điều gì sẽ xảy ra khi một ai đó đạt đến sự hòa nhập giữa mặt nạ và bóng âm? Jung trích dẫn một lá thư của một bệnh nhân cũ được viết sau khi được Jung chữa trị:

Từ nhng cái xấu, nhiều cái tốt đã đến với tôi. Bằng cách im lặng không dồn nén cái gì, duy trì sự chú ý và chấp nhn thực tế - xem xét mọi thứ như chúng là vy chứ không như chính tôi muốn - bằng cách làm tất cả những cái này, sự hiểu biết phi thường đã đến với tôi cũng như sức mạnh phi thường mà dường như trước đó chưa, bao giờ tôi tưng tượng thấy. Tôi luôn nghĩ rằng khi chấp nhận mọi thứ thì chúng sẽ khuất phục tôi cách này hay cách khác. Điều này hóa ra lại không đúng chút nào, và chỉ bởi việc chấp nhận chúng thì một người mới có được một thái độ hướng tới chúng. Vì vậy, bây giờ tôi có ý định chơi trò chơi cuộc đời, chấp nhận tất cả những gì đến với mình, cả tốt ln xu, mặt trời và chiếc bóng biến đổi vĩnh cửu của nó, và như vậy cũng là chấp nhận bản chất của mình với cả những mặt tích cực và tiêu cực. Lúc đó tất cả mọi thứ trở nên sống động hơn với tôi. Tôi quả thật là một kẻ ngốc! Tại sao tôi cứ c gắng buộc mọi thứ phải theo cách mà tôi cảm thấy phải vậy126.

Người phụ nữ này đã trở lại cả từ cái mặt nạ và từ chỗ tách cái mặt nạ và bóng âm thành những mặt đối lập, và bây giờ bà đơn giản chỉ quan sát, suy ngẫm và chấp nhận tâm thần mình khi nó đến, sau đó phân loại, quan sát xem nó thuộc về cái gì và sau đó là lựa chọn. Bà đã tạo ra một khoảng cách tâm lí giữa phức cảm bản ngã và cái mặt nạ, cũng như giữa bản ngã và bóng âm. Bà đã không còn bị chi phối ở đầu này hay đầu kia của phổ tâm thần.

Jung cho rằng các mặt đối lập được thống nhất trong tâm thần thông qua sự can thiệp của một “cái thứ ba”. Một xung đột giữa các mặt đối lập " cái mặt nạ và bóng âm chẳng hạn - có thể coi như là một cuộc khủng hoảng cá nhân hóa, một cơ hội phát triển thông qua sự hòa nhập. Xảy ra xung đột là giữa các giá trị tập thể thuộc về khía cạnh cái mặt nạ và những khía cạnh bóng âm của bản ngã thuộc về cấu trúc bản năng bẩm sinh của cá nhân (cái ấy - id của Freud) cũng như một số phát sinh từ các cổ mẫu và các phức cảm vô thức. Bởi vì nội dung bóng âm là không thể chấp nhận đối với cái mặt nạ, xung đột có thể căng thẳng. Jung cho rằng nếu hai cực đối lập đó nằm trong sự căng thẳng, một giải pháp sẽ xuất hiện nếu bản ngã bỏ ra cả hai và tạo ra một khoảng trống nội tâm trong đó vô thức có thể tạo ra một giải pháp sáng tạo dưới hình thức một kí hiệu tượng trưng mới. Kí hiệu tượng trưng này sẽ tạo ra một lựa chọn để phát triển sẽ bao gồm phần nào đó trong cả hai - không đơn giản chỉ là một thỏa hiệp mà là sự hòa trộn đòi hỏi một thái độ mới về phía bản ngã và một kiểu liên hệ mới với thế giới. Quá trình này có thể quan sát khi mọi người phát triển cả hai thái cực đó trong liệu pháp tâm lí và thông qua kinh nghiệm sống - khi họ phá vỡ những xung đột trước đó, nắm giữ những cái mặt nạ mới và hòa nhập những phần trước đầy không được chấp nhận của chính mình.

Mọi người thật sự biến đổi thông qua liệu pháp tâm lí và trong quá trình sống. Cái mặt nạ, một công cụ thích nghi, có một khả năng lớn cho thay đổi. Nó có thể trở nên ngày càng linh hoạt làm cho bản ngã sẵn sàng biến đổi những hình thức cũ. Những câu chuyện như Bác sĩ Jekyll và ông Hyde mô tả sự phân li hoàn toàn giữa mặt nạ và bóng âm. Trong những câu chuyện như vậy, không có sự hòa nhập, chỉ có sự dao động lui-tới giữa các mặt đối lập. Những vai trò và xung lực của bóng âm được thể hiện mà không có sự biểu hiện của một chức năng siêu việt đưa tới sự hòa nhập những sự đối lập đó. Người ta tự hỏi không biết những người không có khả năng hòa nhập những mặt đối lập đó trong cuộc sống thì sẽ như thế nào. Trong một số trường hợp, mặt tối có thể lên đến cực điểm và đầy năng lượng đến mức sự hòa nhập với một chiếc mặt nạ có thể được xã hội chấp nhận thuộc bất kì loại nào cũng là không thể. Ngày nay giải pháp duy nhất cho vấn đề này là thuốc hướng thần, cái có thể tạo ra một sự ngăn cản nghiêm trọng lên vô thức và ức chế những nguồn sức mạnh của bóng âm. Trong những trường hợp khác, bản ngã quá không ổn định và yếu để điều tiết xung lực đủ cho sự hội tụ chức năng siêu việt.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.