Tuyển Tập Truyện Ngắn Triệu Bôn

Lượt đọc: 195 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Vết Sẹo

❊ ❊ ❊

Thời con gái của tôi chả giống ai.

Trong tất cả những tiêu chuẩn xưa nay xã hội vẫn dùng để đánh giá một cô gái, tôi biết mình yếu nhất là nhan sắc. Mặt mũi, tay chân tôi đều lành lặn, ngăm ngâm đen, tóc dài, mỗi tội là quá gầy. Vào tuổi dậy thì, bạn bè vẫn gọi tôi là cái Thảo không mông không ngực. Bấy giờ tôi chưa đủ khôn để hiểu cái từ ghê gớm ấy. Tôi vẫn tin một lúc nào đó, một ngày nào đó, một chàng trai nào đó sẽ tìm đến tôi. Tôi tin vào tấm lòng nồng nàn của tôi. Muốn được người yêu, trước hết hãy yêu người. Mà tình yêu người thì ở tôi không thiếu.

Đám trẻ chúng tôi đua nhau lớn như một đàn gà giò. Lác đác đã có cô này lấy chồng, cậu kia lấy vợ, số còn lại thì đi đánh giặc, đi học, đi làm, tản mát khắp nơi. Cậu bạn thân thiết của tôi cũng chuẩn bị nhập ngũ. Đêm trước ngày nó lên đường tôi chạy tong tả tìm khắp làng, để tặng nó chiếc khăn tay tôi đã cặm cụi thêu gần tháng trời. Còn nó thì bận rủ người yêu ra cánh đồng tâm sự tới khuya. Khi về, nó tạt qua nhà tôi đứng dưới thềm gọi vọng vào.

- Còn thức không, Thảo?

Tôi giận nó đến run người, giả vờ không nghe. Nhưng nó lại gọi, giọng ngờm ngợp buồn:

- Còn thức không, Thảo?

Thế là tôi òa khóc, chạy ra mở cửa, dúi cái khăn tay - lúc nãy tôi đã định xé vứt đi - vào túi nó. Tôi lờ mờ nghĩ rằng hình như cậu bạn cũng có yêu tôi, và tôi phải xưng hô cậu cậu tớ tớ với nó là cốt giữ bản chất cao thượng của tôi. Chẳng thà bỏ lỡ một tình yêu, một hạnh phúc của riêng mình còn hơn là đi tranh cướp tình yêu với người khác. Một tình yêu âm thầm mới là một tình yêu đẹp. Trong văn chương, chỉ những tình yêu như thế mới có sức sống muôn đời.

Ngoảnh đi ngoảnh lại bạn bè tôi đã đi vắng quang cả làng và tôi thì bước sang tuổi hai sáu. Lâu lâu tôi mới nhận được một lá thư kiểu trẻ con viết cho nhau, mày mày tao tao loạn xạ trên giấy. Nhiều đêm nằm mơ, tôi thấy có người viết cho tôi là “Em thân yêu!”, tỉnh dậy bỗng nước mắt trào xuống ướt mặt gối. Tôi thèm khát, tôi ngóng đợi mòn mỏi mấy tiếng huyền diệu ấy. Vô ích. Phải chăng hạnh phúc đang dành sẵn cho mình ở một nơi nào? Ở một nhà máy? Một đơn vị bộ đội? Hay ở một bệnh viện, một mặt trận nào?

Mùa hè năm hai mươi bảy tuổi, tôi trở thành cô gái thanh niên xung phong. Chúng tôi làm đường, phá bom nổ chậm, rà phá thủy lôi, giữ vững giao thông cho cửa ngõ phía bắc Trường Sơn. Đại đội chúng tôi một nửa là trai, một nửa là gái. Các bạn trai thường sang lán con gái nhờ vá quần áo, rủ nhau đi bẻ măng, hái nấm, hoặc ngồi tán ngẫu. Bọn con gái chúng tôi cũng thế, sang lán con trai chơi tự nhiên. Kết quả của những lần thăm hỏi ấy là những cuộc hẹn hò bí mật. Mấy đứa bạn gái cùng tiểu đội có ý không vui khi tôi theo họ sang chơi bên lán con trai. Tôi hiểu thế, từ đó ai đi ngược đi xuôi mặc ai xong công việc tôi rửa tay chân dưới suối rồi về hầm mắc võng nằm nghe suối reo vượn hót, và ngủ khi nếu như không bị tiếng bom, hoặc những loạt súng báo động tắc đường lay dậy.

Một hôm tôi sốt rét nằm ở nhà, giữa buổi thấy cái Minh từ ngoài mặt đường chạy về. Ngỡ nó về thăm tôi, tôi kéo khăn lên kín đầu giả vờ ngủ, định làm nó giật mình chơi cho vui. Nhưng không phải, nó rón rén xuống hầm mở ba lô lấy mảnh gương nhỏ ra soi, chải tóc, ngắm nghía và tủm tỉm cười một mình rồi lại chui qua lưng võng tôi để bước lên khỏi hầm. Minh đang yêu anh Cấp trung đội trưởng, chắc cô cậu lại rủ nhau vào rừng! Nghĩ thế tôi tức lộn ruột. Tôi tụt xuống võng, mở ba lô cái Minh, lấy cái gương vứt vào gốc cây cho vỡ tan. Cái ngữ con gái mà lúc nào cũng hớn ha hớn hở, sao ghét thế?

Làm xong cái hành động trừng phạt ấy tôi lại lên võng nằm, thản nhiên đón nhận cơn sốt đến làm tôi run muốn đứt dây võng. Trong giấc ngủ li bì và hầm hập nóng, tôi nghe tiếng rốc két từ máy bay Mỹ phóng xé gió trên đầu. Chiều, tôi tỉnh dậy giữa tiếng khóc rưng rức của tám chị em trong tiểu đội.

Cái Minh “không về” nữa! Tôi tưởng tôi chết ngay lúc đó vì ân hận. Nỗi ân hận nhớ đời! Tôi dứt tóc mai, thề với vong linh cái Minh rằng tôi sẽ không bao giờ mắc lại cái tội ích kỷ độc ác như vậy.

Sau cơn sốt, tôi rắp tâm thực hiện lời thề ngấm ngầm của mình. Một thời gian sau chị em trong tiểu đội, trung đội, đại đội, cả những cậu con trai choai choai thay nhau gọi tôi là “chị cả”. Tôi đâu phải con người giỏi đóng kịch. Tôi thương chị em, tôi chăm chút cho họ, nhường nhịn và gắng hết sức đỡ đần cho họ, là rất thật lòng. Lẽ ra từ khi biết làm người tôi đã phải sống như thế mới đúng. Vậy mà, chẳng hiểu sao, cứ chốc chốc lại có ngọn lửa quái quỷ chực bùng lên trong đầu tôi. Bây giờ được hưởng cái vinh quang “chị cả” có nghĩa là tôi từ bỏ hẳn niềm hy vọng được ghép đôi ghép lứa, được cười cợt, được nũng nịu mà bất cứ ai, đã làm thân con gái đều cần đến nó như hoa cần nước tưới.

Rồi chiến tranh qua đi. Tôi về thăm làng, thăm bố mẹ và thăm mấy đứa em tôi giờ đã tay bồng tay dắt. Những ai ngỏ ý muốn biết cuộc sống riêng của tôi, tôi đều ngầm oán họ là độc ác. Bởi thế, tôi đành phải đi xa. Tôi chuyển ngành về một xí nghiệp sửa chữa tàu sông.

Tôi muốn được làm thợ, được cầm búa ngày ngày lanh canh vào những vỏ tàu han rỉ. Hôm mới về xí nghiệp, từ xa nghe như có một trận mưa đá liên miên dội xuống, mãi lúc tới gần tôi mới biết đó là tiếng búa gõ rỉ. Tôi đâm ra mê bầu không khí inh tai nhức óc này, mặc dù tôi biết nó là đáng sợ. Tôi cần có những ngày tháng giúp tôi quên hẳn hoàn cảnh của mình. Trước đây bom đạn ngoài mặt trận không làm nổi việc đó, thì bây giờ, tôi hy vọng vào những tiếng búa lanh canh, cốp chát, rào rào. Nhưng giữa lúc tôi “xắn tay áo” chuẩn bị cho giây phút bắt đầu của cuộc đời thợ, thì bỗng tôi nhận được quyết định của xí nghiệp cho tôi đi học lớp đào tạo y sĩ.

Cương vị y sĩ ở một xí nghiệp nhỏ có cái gì gần giống với danh hiệu “chị cả” của tôi trên Trường Sơn. Những người thường lui tới chỗ tôi khám bệnh và xin thuốc phần lớn thuộc trung niên, chị này có con mọn hay ốm, anh kia kêu nhức mỏi khớp xương, hoặc váng đầu, mờ mắt chóng mặt. Vài ba năm trôi qua chưa có ai phải phàn nàn về cách làm việc và cách đối xử của tôi, ngoài một lần tôi nổi khùng với anh tổ trưởng tổ sắt ở phân xưởng sửa chữa vỏ tàu. Anh ta đã ngoài bốn mươi tuổi, rất hiền lành, mắc bệnh nhức mắt vì tác hại của tia lửa hàn.

- Thảo ơi! - Anh gọi, sau khi ngồi xuống chiếc ghế băng đợi đến lượt mình để khám bệnh.

- Dạ.

- Anh hỏi thật nhé: Tại sao em chẳng chịu “làm bạn” với ai, cho nó đỡ quạnh quẽ?

Đang gói dở mấy chục viên B1 cho cô thư ký đánh máy, tôi thấy cánh tay tôi giật giật như có dòng điện chạy. Tôi vứt xòa gói thuốc lên mặt bàn, quay lại anh tổ trưởng và quắc mắt:

- Quạnh quẽ thì mặc tôi. Ai khiến anh lo hộ?

Anh tổ trưởng tổ sắt cười hề hề, vẻ mặt càng hiền:

- Lo hộ thế nào được. Thương cái cảnh cô, anh mới nói thế...

Tôi bật lên:

- Anh im đi!

Anh tổ trưởng tổ sắt ra về, tôi khóa trái cửa phòng y tế, ngồi gục đầu xuống mặt bàn. Mình loạn óc rồi?

Tại sao mình lại man dại, thô lỗ, và ngốc thế? Anh ấy và mấy người vừa có mặt ở đây sẽ nghĩ về mình ra sao? Cuối giờ làm việc tôi chạy ra đứng ở cổng xí nghiệp đón gặp anh tổ trưởng tổ sắt để xin lỗi anh. Anh chẳng những không giận tôi, còn ân cần dặn:

- Lúc nào cô buồn, anh mời cô sang nhà chơi với các cháu. Con Mừng nó nhắc cô luôn đấy.

Tôi thân với gia đình anh Mỡi (tên anh tổ trưởng tổ sắt) từ đó. Chị Mỡi coi tôi như em. Các cháu nhất là con bé Mừng tám tuổi, hễ đi học về là đứng thập thò trước cửa phòng cô Thảo. Mẹ luộc một rổ khoai, thế nào bé Mừng cũng lấy một củ giấu vào vạt áo mang sang cho cô. Những sợi dây thần kinh trong người tôi quá căng thẳng nhờ thế mà tạm chùng lại một thời gian. Không khí đầm ấm trong gia đình anh giống như một thứ thuốc an thần đối với tôi, khi thuốc hết hiệu lực, nỗi trống trải càng nhân lên gấp bội. Vả lại vốn là đứa có nghị lực, tôi nghĩ: nếu vì anh chị Mỡi, vì các cháu, dù cực nhọc bao nhiêu tôi cũng đến, nhưng ở đây lại vì tôi, vậy thì chả tội gì phải đi vay mượn niềm vui của người khác. Tôi quyết định, từ nay sẽ sống như một người già và hoàn toàn yên phận trước tương lai của mình.

Lần đầu tiên trong đời, tôi nghĩ tới việc mình phải có một căn nhà riêng, xấu xí cũng được nhưng đích thực là của mình. Sau mỗi ngày làm việc, cần có vài luống rau, một chuồng gà be bé, có cớ mà bận bịu, mà lo toan.

Được anh em ở xí nghiệp giúp đỡ, ít lâu sau tôi đã đạt được cái mơ ước buồn bã nhưng yên ổn đó. Sau rồi tôi lo tính cho một tuổi già thật sự. Tôi nghĩ tới bé Mừng. Anh chị Mỡi nghèo lại có tới năm đứa nhỏ. Nếu cái Mừng chịu về với tôi, anh chị sẽ đỡ vất vả đôi chút, mà cháu thì vẫn được chạy qua chạy lại với bố mẹ, anh chị, như ở chung một nhà. Tôi ngỏ ý này với anh Mỡi. Anh về bàn với chị, cả hai đồng ý cho bé Mừng làm con nuôi của tôi. Tôi vui vẻ đi phố mua sắm mấy thứ đồ chơi và quần áo trẻ con, rồi định ngày sang đón cháu về.

Đó là chiều thứ bảy, mùa đông, nhiệt độ không khí xuống tới bảy tám độ. cho gà ăn xong, tôi định sang nhà anh Mỡi đón cháu. Tôi mang sẵn tấm chăn len mỏng, để khi cõng cháu về sẽ trùm lên lưng “hai mẹ con” cho cháu đỡ lạnh. Đầu óc tôi phát mụ vì tưởng tượng ra cái cảnh lúc nữa hai mẹ con sẽ hí húi nhóm bếp nấu cơm, tôi sẽ gắp những miếng thịt nạc bỏ vào bát cơm còn nóng cho cháu. Có cháu, chắc chắn tôi sẽ bày thêm được biết bao nhiêu thứ, biết bao nhiêu công việc, để cuộc sống hết nhàn tẻ, mà lúc này tôi chưa thể nghĩ ra.

Giá như tôi ra khỏi nhà sớm hơn chừng năm phút thôi, số phận tôi hẳn đã an bài. Đằng này tôi cứ quẩn quanh mãi, treo lại bức tranh con thỏ, trải cái gối cho ngay ngắn; ở đầu giường, nên để con búp bê nhựa hay để con búp bê bằng len? tóm lại, phải làm sao gây được một ấn tượng đẹp đẽ, ấm cúng cho bé Mừng ngay từ phút đầu tiên cháu gắn bó với ngôi nhà này. Không làm gì được hơn nữa, tôi khép cửa, chưa kịp bấm khóa, đã thấy một người con trai xách va li từ phía ngoài cổng xí nghiệp đi thẳng tới chỗ tôi.

- Chào chị.

- Vâng, chào... anh - Tôi ngập ngừng chọn cách xưng hô.

Người con trai này còn trẻ, chỉ hai mươi lăm tuổi là cùng - Anh tìm ai?

- Tôi về nhận công tác chị ạ.

- Về nhận công tác, sao mãi giờ này mới đến. Ở văn phòng có còn ai đâu?

- Vâng. - Anh con trai lúng túng - Giấy quyết định của tôi đây.

Tôi xua tay:

- Anh đưa cho giám đốc, tôi chỉ là nhân viên thôi.

Anh thanh niên đứng tần ngần một lúc, rồi xách va li, chào tôi.

- Nhưng anh định đi đâu?

- Tôi cũng chưa biết được nữa. Rủi ro quá.

Anh ta đi được mấy bước, tôi gọi giật lại:

- Này anh ơi. Anh ăn uống ở đâu chưa?

- …

- Nếu chưa, vào đây tôi nấu cho mà ăn.

Nửa tiếng đồng hồ sau, nhìn bát cơm nóng tôi xới cho, đôi mắt to dài của Mạnh sáng lên như đôi mắt của một chú bé háu ăn. Tôi ngồi gắp thịt rim nước mắm bỏ vào bát anh, lòng hân hoan vì biết mình đang tạo được chút ấm áp cho một con người bơ vơ.

Có ngờ đâu hạnh phúc và đau khổ đến với tôi như thác lũ, chính là từ phút ấy - cái phút thứ bao nhiêu trong đời một cô gái ba mươi tám tuổi.

Mạnh là một kỹ sư ngành chế tạo vỏ tàu thủy, quê ở mạn trong, vừa mới ra trường, chưa quen biết một ai ở ngoài này. Tôi nuôi Mạnh thêm ngày chủ nhật, sáng thứ hai mới “trao” anh ta cho Giám đốc xí nghiệp.

Mạnh về xưởng sửa chữa vỏ tàu để nhận việc. Mạnh báo cơm ở nhà ăn tập thể; nhưng chiều nào cũng lững thững ra nhà tôi. Mạnh giúp tôi cho gà ăn. Anh đặt tên từng con một, con cao là con Kếu, con ít lông là Trụi, con tham ăn gọi là Mương.

Bọn gà liền “xiêu lòng” về phía anh, hễ anh đến là chúng chen đạp nhau để thò cổ ra ngoài cửa chuồng. Chúng xiêu lòng là phải, Mạnh có gương mặt khắc khổ, đôi bàn tay to, giọng nói ấm áp vô cùng.

Có Mạnh tôi bận rộn hẳn lên. Hôm thì tôi mua cua về nấu bún riêu, hôm thì tôi cắt su hào, cà rốt ra ngâm dấm, khi nào có thức ăn kha khá tôi còn mua cho Mạnh vài chén rượu. Tôi biết quá rõ một người ăn cơm ở bếp tập thể thường phải thèm nhạt món gì. Và nhiều lần tôi còn giặt giũ cả quần áo của Mạnh, để Mạnh có thời gian theo đuổi một sáng kiến hoặc một công việc nào mà ngoài anh ra ít ai thay được.

Việc đón cháu Mừng về tôi phải lý do này nọ để hoãn lại hết tuần này sang tuần khác. Cái dạo Mạnh ra Quảng Ninh chỉ huy việc trục vớt chiếc sà lan bị đắm ngoài đó mấy ngày tôi như người mất hồn, làm trước quên sau, và hầu như không có được lấy một ý nghĩ nào mạch lạc từ đầu đến cuối. Nhớ tới việc cháu Mừng, tôi sang nhà anh Mỡi nhưng con bé lắc đầu nguây nguẩy, không chịu theo tôi. Hình như bằng linh cảm của trẻ con, con bé đã biết cô Thảo bây giờ không còn nghĩ đến nó một cách trọn vẹn như trước. Nhân thể tôi cũng thôi luôn ý định làm người mẹ thứ hai của cháu. Thú thật là bé Mừng không thể lấp được cái khoảng trống vắng lạ lùng trong tôi. Tôi lại về thủ thỉ nói chuyện với con Kếu, con Trụi, con Mương, và cố nghĩ xem mình phải làm gì để Mạnh vui khi trở về đây. Mạnh có vài chiếc sơ mi gửi lại tuy cũ nhưng còn lành, chưa cần phải khâu vá. À phải. Một chiếc mũ len. Lênh đênh trên sông nước giữa tiết này có một chiếc mũ len cho Mạnh đội thì hay biết bao.

Tôi cuống quít tìm len, chọn kim đan, và bắt tay ngay vào việc, chỉ sợ chiếc sà lan trục vớt xong trước dự định mà mũ len chưa kịp đan xong.

Chiếc mũ len giúp khuây khỏa được vài ngày. Tôi phải sống khắc khoải thêm vài ngày nữa mới tới một buổi tối Mạnh về.

Chiếc com măng ca lầm bụi đỗ xịch trước cổng xí nghiệp. Mạnh nhảy xuống, đứng dưới ngọn đèn đường dùng cái cặp da để phủi bụi quanh người, rồi đi thẳng vào nhà tôi. Tôi đứng lấp sau khóm mía non, nín thở theo dõi từng bước Mạnh đang tiến lại gần. Cũng nín thở như thế khi tôi gọi Mạnh ra giữa gian nhà hẹp, để ướm thử chiếc mũ len lên đầu Mạnh. Chiếc mũ len bị kẹp giữa hai lồng ngực. Mạnh bất ngờ ôm ghì lấy tôi. Tôi ngạt thở trong cái hôn cuồng nhiệt của Mạnh.

- Buông ra... - tôi nghẹn ngào khóc - Đừng làm thế Mạnh.

- Không! Không! Không! Mạnh thì thào... Hơi thở anh nóng như lửa. Xa Thảo mấy ngày, anh mới hiểu rằng anh yêu em...

Nước mắt tôi lại trào ra. Tay chân tôi bủn rủn phó mặc cho đôi cánh tay rắn chắc của Mạnh bế bống tôi lên. Sau đó tôi không nhớ được gì khác ngoài cái hơi ấm do tấm chăn đắp chung tỏa ra, khiến tôi cứ ngờ rằng đây không phải là chuyện có thật trên đời.

Gà gáy một lần, rồi hai lần, Mạnh mới ra về. Tôi sực nhớ là từ tối tôi chưa nói được gì với anh. Quên cả đi guốc, tôi chạy đuổi theo Mạnh.

- Mạnh ơi cho Thảo nói cái đã...

Mạnh dừng lại, quàng tay qua vai tôi vì thấy tôi run lẩy bẩy.

- Mạnh không biết rằng tôi... tôi... hơn Mạnh những mười bốn tuổi... hay sao?

Mạnh hôn lấp đi, không để tôi nói hết câu.

Mấy lần sau hễ tôi nói chạm đến điều ấy, Mạnh đều làm như thế. Tôi chỉ còn biết nhìn vào đôi mắt trong trẻo như mắt con nai rừng của anh, và không thể nào nhóm lên được chút ngờ vực.

Cái tin Mạnh và tôi yêu nhau đã nhanh chóng loang ra trong xí nghiệp. Tôi xấu hổ, ngoài nơi làm việc và nhà ở, không còn dám ló mặt đi đâu. Tôi như người lính cố thủ trong lô cốt, thế giới bên ngoài chỉ được nhìn qua một lỗ châu mai bé tí. Ngay như cái Vụ - cô y tá hai mươi bốn tuổi, dưới quyền tôi - tôi cũng phải đề phòng. Biết đâu cái Vụ lại chẳng ngầm để ý đến Mạnh? Cái cô gái ngày ngày hay vào xí nghiệp, cắt cỏ nuôi cá, hễ gặp bọn con trai xí nghiệp là bắt chuyện liến thoắng kia, cô ta không xinh đẹp gì, nhưng hơn hẳn tôi về mặt tuổi trẻ, và dù chưa hề biết tên tuổi, nhà cửa cô, tôi cũng phải lường trước đến tình thế cô ta là đối thủ tranh chấp với mình... Không thể như thế được. Tôi ngấm ngầm mài dũa ý chí để sẵn sàng tuyên chiến với bất cứ ai, nếu chớm phát hiện ra rằng kẻ đó đang nhích lại gần Mạnh.

Buồn nhất trong chuyện này là mối quan hệ giữa tôi và chị Mỡi hơn tôi vài tuổi, nhưng cuộc sống hoàn chỉnh đã làm chị đáng bậc chị của tôi. Có chuyện gì khúc mắc, tôi thường hỏi ý kiến chị. Riêng lần này, chị Mỡi không đợi tôi nói trước, mà lại chạy sang hỏi tôi:

- Chị nghe người ta đồn cô với chú Mạnh có “chuyện gì” phải không?

Chị Mỡi hoàn toàn chân tình, nhưng tôi liền thu mình lại giữ thế. Tôi chối phắt:

- Chị đừng nghe lời thiên hạ!

- Thật chứ. Cô?

- Sao lại “không thật”! - Tôi cau mặt nhưng bên trong thì muốn phì cười. Không ngờ mình cũng là đứa dối trá đến thế - Chị không tin, cứ đợi một thời gian nữa sẽ rõ. Thấy tôi phẫn uất đỏ mặt tía tai, chị Mỡi vội dàn hòa:

- Thôi thôi. Cô không có chuyện gì thì thôi. Hơi đâu mà để bụng những lời nhảm nhí.

Trước lúc ra về chị Mỡi khẽ thở dài:

- Phải hỏi cô thế chị mới yên tâm. Chứ như tối qua, cả anh cả chị cứ thắc mắc, chả lẽ cô Thảo lại nông nổi đến nỗi ấy...

- Chị bảo em nông nổi?

- Chíp... - chị Mỡi ôm nhẹ ngang người tôi - Cô đừng giận chị mới dám nói. Ở hoàn cảnh cô, cô phải lượng sức mình... Lâu nay chị vẫn có ý dò xem, ai người ta nhỡ nhàng, hoặc góa bụa...

Chị Mỡi chưa nói hết câu tôi đã gạt tay chị ra, bực thật sự:

- Chị khinh thường em thế!

Chị Mỡi nín thinh. Hai chị em chả còn gì để nói với nhau. Tôi muốn chị mau mau ra khỏi nhà để cho tôi yên.

Mấy hôm liền tôi không bén chân sang nhà anh chị Mỡi. Tôi sợ cả anh Mỡi cũng khuyên răn tôi như vậy. Vả lại, tôi không còn thời gian. Người ta nói bận như người đang yêu, mãi nay tôi mới hiểu. Cứ vào quãng ba bốn giờ chiều là tôi hầu như không làm việc gì khác ngoài việc là ngồi đăm đăm thúc giục chiếc đồng hồ chuông đặt trên bàn để nó chạy nhanh nhanh lên một chút, kẻo tôi đang héo nẫu cả ruột gan vì chưa được nhìn thấy Mạnh sau hơn chục tiếng đồng hồ xa nhau. Liệu anh có “thay lòng đổi dạ” trong quãng thời gian ấy?

Mạnh của tôi thật tuyệt vời. Anh vẫn nhởn nhơ, chiều chiều thọc tay vào túi quần, lững thững về chỗ tôi, có khi anh mua cả thức ăn đêm về. Hôm nhận tiền thưởng cuối năm, Mạnh nhờ cô kỹ sư bạn anh dưới xưởng đi mua cho tôi một mảnh vải may áo.

- Em đi may đi - Mạnh bảo.

- Sao lại phải may vội thế?

- Tết này anh sẽ đưa em về quê anh, để “ra mắt” các cụ. Sau đó, chúng ta sẽ đi đăng ký kết hôn...

Mạnh nói những lời chắc nịch. Tôi hoảng hồn. Có lẽ chính vì như thế mà buổi trưa hôm ấy tôi bị tai nạn. Đáng lẽ đổ dầu hỏa vào cái bếp đèn, tôi lại cầm nhầm phải chai xăng. May là xăng không còn mấy nên vết bỏng trên mặt tôi cũng nhẹ. Tôi chỉ phải nằm viện mười ngày. Trong thời gian ấy, ngày nào Mạnh cũng vào viện thăm tôi hai lần, trưa và tối. Anh nói nhiều, cười nhiều hơn mọi ngày. Và chắc chắn là để tôi bớt bi quan nên anh công khai nói giữa bệnh viện rằng: anh là chồng tôi, làm các cô y tá trẻ đều trố mắt ngạc nhiên.

Tội nghiệp cho Mạnh! Anh còn trẻ quá. Anh tốt đến thành ngây thơ, chưa hiểu thế nào là sự gặm nhấm tai hại của thời gian. Chứ ở tuổi tôi, khi tỉnh cơn say, người ta bắt buộc phải suy nghĩ tới chặng đường dài ở trước mặt. Việc phải vào nằm viện, xa hẳn xí nghiệp, đã giúp tôi có thời gian và đủ yên tĩnh để nhìn thấu tới mười, mười lăm năm sau, khi mà Mạnh còn ở cái tuổi bốn mươi cường tráng thì tóc tôi đã bạc... Ý nghĩ này giống những viên đạn chì cứ nhằm trúng tim tôi mà nã. Tôi vật vã, quằn quại, nhưng không còn cách nào khác là phải dứt mình ra khỏi vòng tay ấm nóng của Mạnh. “Mạnh ơi! Em giải phóng cho anh! Em chỉ có một mong ước duy nhất, anh được hạnh phúc”.

Hôm thứ chín hoặc thứ mười kể từ khi tôi vào viện, vết bỏng của tôi đã lành nhưng tôi thì đã kiệt sức, không muốn cất mình lên khỏi giường, vì những đêm thức trắng với một câu hỏi nhức nhối, đứt từng khúc ruột “làm sao đây”. Có lẽ Mạnh hiểu tâm trạng tôi. Anh càng đặc biệt dịu dàng chu đáo. Anh làm sao mà kéo lại được cho tôi vài chục tuổi đời. Một lần Mạnh kiếm được ở đâu một nắm củ nghệ, anh mang đến, hì hụi giã, giục tôi bôi vào chỗ mới lên da non để sau này khỏi thành sẹo. Tôi ngoan ngoãn “vâng” cho Mạnh yên lòng. Nhưng Mạnh vừa rời khỏi bệnh viện, trong óc tôi liền lóe lên một ý nghĩ cay đắng, gần giống như là tự tử. Tôi chạy tới một khóm chuối tiêu mọc sát bờ tường, với tay bẻ liền ba bốn quả chuối non rồi hứng lấy dòng nhựa nhểu xuống xát thật mạnh vào mảng da non còn mỏng dính trên gò má...

Tôi làm thế gương mặt tôi vốn đã không đẹp, giờ sẽ thật sự xấu đi. Tôi cần phải làm cho Mạnh ghê sợ khuôn mặt tôi! Tôi đã không được toại nguyện cho lắm. Vết sẹo có thâm lại, thành một hình thù méo mó như vá một miếng da khác lên gò má tôi, nhưng gương mặt tôi vẫn không thay đổi mấy so với trước.

Hôm sau Mạnh vừa đến, đã hỏi tôi về kết quả của môn thuốc nghệ. Tôi trả lời là tôi đã bôi đúng như lời anh dặn. Anh nhìn chăm chú rồi gật gù:

- Tốt nhỉ. Vài hôm nữa sẽ không còn dấu vết gì đâu...

Ngay cả chuyên này, Mạnh cũng chỉ là một cậu học trò ngớ ngẩn, “người ta” bảo sao nghe vậy. Sau này ngay cả trường hợp chúng tôi được “vuông tròn” với nhau, chắc gì tôi sẽ tâm sự được với anh những nỗi niềm uẩn khúc. Một giây lướt qua, tôi thoắt nhớ tới cái hình tượng người chồng trong tưởng tượng của tôi, từ thuở con gái đến giờ. Một người đàn ông rắn rỏi, tinh tường, một người bạn tâm đắc đồng thời là một người thầy...

Mạnh nói những gì nữa, tôi không còn lòng dạ nào mà nghe. Tôi đã đẩy tôi tới trước “miệng vực”. Tôi nhắm mắt lại để có một khoảnh khắc can đảm.

Nếu cái khoảnh khắc này trôi qua, dẫu với khối nghị lực một nghìn lần lớn hơn, tôi cũng sẽ không dám mon men trở lại. Tôi bèn ngắt lời anh, sẵng lên:

- Nói dối! Tôi không chịu được cái thói nói dối đâu!

Mạnh ngơ ngác không hiểu.

- Em bảo anh nói dối?

- Nói dối? - Tôi bậm môi nhắc lại - Tôi mong anh đừng đến với tôi nữa!

- Sao lại thế, Thảo?

- Cứ thế. Tôi cứ thế. Tôi phát điên rồi!

Mạnh ngượng trước mấy cô gái nằm cùng phòng bệnh với tôi. Anh ngồi ôm đầu một lúc rồi bỏ ra ngoài. Tôi phải gắng hết sức mới giữ nguyên được cái giọng nói cấm cảu đáng nguyền rủa:

- Ra thì ra luôn, đừng đến quấy rầy tôi nữa!

Mạnh lủi thủi ra về. Tôi xăm xăm chạy lên phòng y vụ đòi ra viện ngay tức khắc. Hôm đó không phải ngày cho bệnh nhân ra viện, nhưng anh bác sĩ trưởng phòng y vụ thừa hiểu là đôi co với tôi chẳng có lợi gì.

Vài tiếng đồng hồ sau tôi đã có mặt ở xí nghiệp. Tôi trình đồng chí giám đốc giấy ra viện, rồi đề nghị ông cho tôi về quê một thời gian dài.

Ông giám đốc của chúng tôi là một người như thế này: từng làm người ở, một anh bộ đội thời chống Pháp, một công nhân, đi học trung cấp, rồi đi học đại học trở thành kỹ sư. Một người giàu năng lực chuyên môn đồng thời giàu lòng nhân ái. Nghe tôi đề nghị, ông nhíu mày suy nghĩ:

- Có việc gì mà xin nghỉ nhiều thế. Cô Thảo?

- Thưa bác. Việc giữa cháu với anh Mạnh, chắc bác đã biết?

Ông gật đầu. Tôi dấn tới, nước mắt ứa lên đầy mi.

- Cháu không muốn vì cháu mà anh ấy khổ...

- Ừ - ông giám đốc gật đầu - Tôi hiểu. Tôi hiểu. Yêu ai, lấy ai là quyền của cô. Nhưng nói thật, chuyện của cô với anh Mạnh, tất cả ban lãnh đạo chúng tôi đều thấy ái ngại, chúng tôi chỉ sợ sau này cô sẽ khổ. Giờ xử sự như cô là đúng. Đau thật, nhưng cố chịu ít lâu rồi sẽ qua. Cô ạ...

Ngừng một lát ông giám đốc hỏi thêm:

- Liệu tôi có giúp gì được cho cô?

- Nếu thế xin bác cho cháu chuyển đi nơi khác.

- Đi đâu?

- Đi đâu cũng được, miễn là đừng ở đây.

- Tôi hiếu, tôi hiểu. Thế này cô Thảo nhé. Cô thu xếp bàn giao công việc lại cho chị Thủy. Xong lúc nào cô có thể đi ngay lúc ấy. Tôi cho cô nghỉ hẳn hai tháng. Được chưa?

- Cám ơn giám đốc, tôi chùi nước mắt quay ra, người lảo đảo như mơ, như say sóng. Lời ông giám đốc vọng theo:

- Bình tĩnh cô Thảo nhé!

Người ta có thể lẩn tránh một công việc rắc rối, nặng nhọc. Người ta có thể lẩn tránh cả một bản án tử hình. Nhưng biết tìm sự thanh thản ở đâu.

Tôi về thăm quê, rồi thăm mấy đứa bạn thời thanh niên xung phong. Tôi đi tàu xe rạc người, túi tiền hết veo, mà ngoảnh lại vẫn chưa hết một tháng. Tôi đành quay về xí nghiệp và thú nhận với đồng chí giám đốc rằng tôi không thể nghỉ lâu hơn được nữa.

Ông giám đốc hiền từ như một người cha, với đôi mắt nhìn xuyên thấu mọi ý nghĩ trong tôi.

- Tôi cũng đoán cô không nghỉ hết hai tháng. Vì thế, điều cô yêu cầu chúng tôi đã giải quyết...

- Bác ơi. - Tôi hốt hoảng kêu lên - Cháu yêu cầu cái gì?

Ông mỉm cười buồn buồn:

- Cái yêu cầu được chuyển đi nơi khác ấy. Cô quên sao?

- À phải. Tôi đau điếng, nhưng không thể không biết ơn ông. Bác cho cháu đi đâu ạ?

- Không. Cô cứ ở đây. Chẳng phải bất cứ ban giám đốc nào cũng hiểu cô như chúng tôi, vì thế cô không phải đi đâu cả. Việc ra đi, chúng tôi đã thu xếp cho cậu Mạnh...

- Mạnh đi rồi?

Mặt tôi tối sầm, phải tựa một bên vai vào bức tường.

- Cô nên bình tĩnh nhớ là chúng tôi cũng rất quý Mạnh. Nhân việc trên Bộ có chỉ thị cho xí nghiệp ta phải đứng ra thành lập thêm một xưởng sửa chữa dưới sông Đào, chúng tôi đã cân nhắc và bổ nhiệm cậu ấy làm phó quản đốc... Cô cứ suy nghỉ cho chín. Sau một thời gian, nếu quả thật cậu Mạnh không thể sống thiếu cô, khi đó ta sẽ bàn lại.

Biết nói gì hơn!

Hồi đơn vị tôi bảo vệ quãng đường giao liên ở phía bắc sông Xê Băng Hiêng, cái Nải bị một mảnh bom cắm vào đùi. Khi được mổ lấy mảnh bom ra, đau quá, cái Nải la hét, mắng chửi anh bác sĩ binh trạm đến tàn mạt, xong rồi thì xấu hổ và ân hận, hễ gặp anh ấy ở đâu là nó lại lủi vào rừng để tránh mặt.

Tâm trạng tôi cũng tương tự, chỉ khác là tôi còn tự chủ được nên chưa dám hỗn với ông giám đốc. Chứ thực tình, nghe giám đốc nói ông mở lối thoát cho tôi bằng cách điều Mạnh xuống tận sông Đào, sao mà tôi căm ghét ông thế.

Tôi lại trở về với căn phòng y tế xí nghiệp, và về với ngôi nhà bé tí nhưng không biết bày sao cho hết. Cái chuồng nuôi bọn con Trụi, con Kếu, con Mương bỏ không. Luống rau mùa xuân cỏ mọc dày, vài cây cải còn sót lại mang những chùm quả từa tựa những bộ xương cá. Chiếc bàn nhỏ thay mâm, rồi giường chiếu, chăn màn thứ gì cũng thừa một nửa khiến tôi không muốn đụng tay vào bất cứ việc gì. Hình như tôi đã trải qua những ngày suốt từ sáng đến chiều không nhớ mình có nói với ai, và có làm gì hay không. Dưới tổ máy, có một anh bị cúm nằm liệt giường nhưng không chịu lên phòng y tế khám bệnh. Tôi đến tận nhà thăm anh, thì anh bảo:

- Thấy cô khổ quá rồi, anh không muốn lên quấy rầy cô thêm nữa. Chứ anh đâu nỡ trách cô.

Lời anh thợ máy làm tôi choáng váng chẳng kém khi được tin Mạnh đã ra đi. Mạnh đi xa chưa chắc tôi đã mất anh. Nhưng cứ đà này, tôi sẽ mất cả mấy trăm con người ở đây.

Lúc ra về, tôi kiên quyết bắt mình phải tươi tỉnh trở lại. Cười lên một tiếng nào! Nào cười lên!... May sao, ở ngang con dốc từ bờ đê sông Đáy xuống cổng xí nghiệp, tôi gặp hai cô cấp dưỡng đang bá vai bá cổ nhau vừa đi vừa ăn chung một quả dưa chuột, đứa này cắn một miếng, đứa kia cắn một miếng. Tôi dừng xe:

- Cho chị Thảo ăn chung với nào!

Hai cô bé giật mình quay lại cười ré lên. Nhờ thế tôi mới có được một trận cười giống như trận mưa rào đổi thời tiết từ sậm sịt sang nắng ráo.

Ít lâu sau, một buổi tối mùa hè, chị Mỡi tắm xong còn để nguyên cả mái tóc ướt sang nhà tôi chơi. Chị nhìn tôi, trong đôi mắt hiền hậu toát lên nỗi vui mừng:

- Thế là qua khỏi cả rồi. Dạo nọ anh chị cứ lo cô phiền muộn quá mà sinh bệnh thì khổ...

Tôi cười, định thổ lộ cho chị Mỡi biết sự thực nỗi lòng tôi là thế nào, nhưng lại thôi.

Thiên hạ bảo mình vui, vạ gì lại tự thú nhận là mình đang héo nẫu đi từng ngày?

Thư của Mạnh gửi về thất thường vì phải chờ dịp có người trên này xuống, hoặc người dưới đó lên, anh mới gửi thư được, đôi lần anh gửi cả quà. Mấy lá thư đầu tiên của Mạnh, tôi khóa trái cửa ngồi đọc, và lại khóc ròng. Giờ thì không thế nữa. Tôi lờ mờ cảm thấy một cái gì khang khác trong những lá thư gần đây của Mạnh. Những lá thư càng ngày càng dài. Phải chăng người ta phải nói nhiều, viết nhiều, để bù vào nỗi lòng đang vơi hụt dần dần? Nghĩ thế liệu có oan cho Mạnh?

Tôi cũng viết thư trả lời Mạnh vài chục lần, rồi quyết định thôi hẳn. Mãi giờ tôi mới đủ can đảm để lắng nghe lời ông giám đốc khuyên hôm nào: “Nếu quả tình Mạnh không thể sống thiếu cô, thì ta sẽ bàn lại”.

Tôi nuôi được lứa gà khác, nhưng không con nào đáng yêu như bọn con Kếu, con Trụi, con Mương “thuở xưa”. Luống đất trước nhà, cà đã tàn, tôi trồng rau dền và rau mồng tơi. Ông giám đốc xí nghiệp vừa lên lương trước thời hạn cho tôi vì tôi phục vụ tận tụy.

Trước đây, mỗi kỳ lĩnh lương tôi đều nghĩ đến việc mua cho Mạnh một món gì ăn ngon hơn ngày thường hoặc mua sắm cho anh một vài thứ anh cần. Giờ còn mình tôi, lâu lâu mới mua cho mấy cháu nhà anh Mỡi chút quà bánh, phần mình thì thế nào cũng xong. Dần dần tôi không còn cái thú vui thắc thỏm mong chóng đến kỳ lĩnh lương nữa. Và một lần, khi ngắm nhìn luống rau tốt ngờm ngợp dưới ánh nắng ban trưa, tôi bỗng thảng thốt nhận ra những ngọn rau dường như cũng không xanh được như hồi tôi có Mạnh ở bên mình. Liền đó tôi nghĩ đến anh, và biết chắc rằng hạnh phúc là cái mà tôi đã từng có.

Ninh Bình, mùa hè 1985

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012 Nguồn pdf: Sưu tầm Chuyển sang text: hoi_ls
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Triệu Bôn

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.