Trận mưa khác lạ. Như có người cầm thùng nước từ khoảng không tối mịt mùng trút xuống, không hề dừng tay. Sấm chớp cũng khác lạ. Sét nổ liền liền. Bầu trời bị xé tơi tả bởi những làn roi sáng quắc. Mặt đất bị nâng lên đặt xuống, chòng chành, rung giật hên hồi.
Hơi mưa khét lẹt mùi lửa.
Những người mẹ suốt đêm ôm chặt con trẻ để chúng khỏi giật mình. Người già cũng giật mình thon thót nằm đoán xem sét đánh xuống nơi nào. Cây đa lò rèn, kho phân đạm, bến sông, bãi tha ma, trạm bẻ ghi xe hỏa, trạm ra đa phòng không của bộ đội, đài thiên văn, trạm biến thế 110 ki-lô-vôn,... Hình như cả ngần ấy nơi đều bị sét đánh.
Ông Thiên lôi say rượu, râu tóc nháng lửa, mắt đỏ nọc, hai tay búa tầm sét bổ túi bụi vào khối bóng tối bao trùm mặt đất. Tới chừng ông ta thấm mệt thu lưỡi tầm sét về trời, mưa gió cũng tạnh theo.
Trời rạng. Thứ ánh sáng màu ngà len dần vào khe cửa. Bầu không khí tuyệt nhiên không một hạt bụi và thoang thoảng mùi lá xanh lẫn hơi mưa nhàn nhạt còn vương lại. Mưa xô rau dền, cà, mía đổ xiêu vẹo, xác mối rụng lẫn lá tre lá xoan lạp xạp lối ngõ.
Có tiếng người la thất thanh ngoài bờ sông Nông Giang.
- Bớ làng nước, mau ra. Nàng đi mất rồi!
Làng Nhồi có quả núi đá gọi là núi Nhồi. Trên đỉnh núi Nhồi có một tảng đá cao vòi vọi mang hình người thiếu phụ đứng nhìn về hướng nam. Ngày nay chưa nhà điêu khắc nào tạo ra được cái dáng âm thầm chờ đợi giỏi như thế. Đó là NÀNG VỌNG PHU.
Ngày xửa ngày xưa, giặc giã nổi lên tứ tung, bờ cõi đất nước triền miên bị xâm lấn, mùa màng bị tàn phá, cơ nghiệp của trăm họ bị cướp bóc, người hiền tài bị chém giết, hãm hại, những bộ lạc yên lành lần lượt bị triệt hạ.
Và những chàng trai dũng mãnh đã nối bước nhau cầm vũ khí lên đường. Một bên trời rền vang tiếng kêu cứu khóc than. Một bên trời ướt đầm nước mắt ly biệt mẹ tiễn con, vợ tiễn chồng.
Chồng nàng trước khi khoác cung tên lên ngựa còn ngoái dặn: Chiến trường lan tới đâu chàng sẽ cho quân sĩ đốt lửa tới đó. Ban đêm nàng cứ lên núi nhìn ánh lửa, ban ngày thì nhìn khói bốc cao mà biết nơi chàng ở.
Giặc giã bị đẩy lùi. Chiến địa nay ở gần mai ở xa, ánh lửa và cột khói ngày một mờ dần. Nàng thì vẫn ngong ngóng đứng chờ chàng. Chờ mãi. Chờ mãi. Đến tận bây giờ.
Nghe tiếng người la, cả làng Nhồi túa ra đông nghịt bờ sông. Mấy cụ già mắt lấp lóe hãi hùng cả quyết rằng Nàng đã lên trời. Không có sự lạ này cớ sao có trận mưa gió ghê gớm và sấm sét ghê gớm làm vậy.
- Không!
Làng nước ơi không phải nàng lên trời!
Chính cái lúc chớp chạy ngoằn ngoèo dưới chân trạm ra đa, có một người từ đâu đã tới ôm ngang hông nàng, thì thầm với nàng.
- Nàng ơi. Anh đã về!
Nàng ngỡ đó là tiếng sấm sét từ xa dội tới.
Người kia lại thì thầm:
- Nàng ơi. Anh đã về!
Tiếng gọi vang lên đủ một vía đàn ông - tức là đủ bảy lần - nàng mới bàng hoàng nhận ra giọng người chồng đã ra đi từ những kỷ nguyên trước. Nàng bủn rủn chân tay. Hòn Vọng Phu bao bọc nàng bỗng rung rinh nứt rạn rơi xuống ầm ầm, rền rĩ, đêm qua người làng Nhồi đều nghe rõ nhưng ai cũng ngỡ là một dây sét đánh xuống đỉnh núi.
Trong vòng tay của người đàn ông, nàng nức nở:
- Thần linh hỡi. Phải chăng Người sai ma quỷ hóa thành chàng để thử lòng tôi?
- Tỉnh dậy đi nàng ơi! - Chàng lay gọi - Anh đã về !
- Thần linh hỡi. Hãy nói cho tôi hay, con người này là ai. Sao khéo bắt chước giọng nói của chồng tôi, khéo bắt chước hơi thở và đôi tay mạnh mẽ cuồng nhiệt của chồng tôi làm vậy?
- Anh đây. Nàng! Anh đây, chẳng phải ai khác...
- Xin Người nói đi. Người đừng đứng trên chín tầng mây nhìn xuống cười nhạo tôi. Vì chàng, vì lời chàng dặn, tôi đã quên hết thời con gái quý hơn ngọc ngà châu báu, quên hết năm tháng, quên cả thế cuộc chuyển vần núi biến thành sông, sông biến thành biển.
Chẳng lẽ vì thế Người cười nhạo tôi?
- Trời! Nàng quên anh thực rồi sao? - Chàng đau đớn thốt lên - Nếu nàng đã thực sự quên anh, anh còn về đây làm gì!
- Ôi... - Thiếu phụ nghẹn ngào - Quên chàng thì cớ sao em còn đứng đây ngóng đợi. Nhưng lấy gì để em tin đích thực là chàng?
Người chồng hoảng sợ ôm ghì vợ vào lòng mình, miệng lắp bắp tuyệt vọng:
- Hàng vạn năm trôi qua. Anh còn biết lấy gì làm bằng chứng để em tin?
Không ngờ, khi hai cơ thể áp chặt vào nhau đã giúp cho thiếu phụ bừng tỉnh nhận ra mùi mồ hôi, hơi thở, cùng cái ghì xiết điên dại của chồng.
- Nàng ơi - Chàng nói lẫn trong hơi thở - Anh xa nàng từ thuở rừng nước lan tràn mặt đất, hùm sói ở lẫn với người. Anh hết vào nam lại ra bắc, hết lên đông lại xuống đoài, ở đâu bờ cõi bị xâm lấn, ở đâu có tiếng khóc than kêu cứu, nơi đâu cần người cầm gươm trấn ải, nơi đâu cần người mang giáp trụ xông pha, là nơi ấy có anh. Anh từng sống đi chết lại mấy nghìn lần có lẻ. Vậy mà có ngày nào đêm nào lòng anh nguôi nhớ nàng. Anh nhớ mái tóc như mây như suối, đôi mắt như sương như sao, giọng nói êm đềm thấm mềm sỏi đá, và nhớ bộ ngực căng đầy men say của nàng. Cớ sao bây giờ mặt nhìn rõ mặt, tay nắm chặt tay mà nàng còn mải trò chuyện cùng ai. Thần linh ư. Chẳng có thần linh nào sánh nổi lòng anh thương nàng!
Nàng quỳ thụp xuống chân chàng và òa khóc xin chàng đừng buồn, hãy tha thứ cho sự thận trọng vừa rồi của nàng. Chàng đeo hất khẩu súng lại sau, vội vàng bế bổng nàng trên hai tay. Nụ hôn rất dài lấp đi những lời phân trần của nàng.
- Chuyện còn dài hơn sông - chàng nói - rộng hơn biển. Làm sao đứng giữa trời đêm mưa gió thế này mà kể cho hết. Hãy về ngôi nhà của chúng ta đã, nàng nhé?
Vẫn bồng nàng trên tay, chàng đạp lên những mũi đá tai mèo lởm chởm, lần bước xuống núi. Mưa vẫn dăng dăng. Những hạt mưa nhọn như tên bắn vỡ tan trên vai trên tóc hai người. Gió thổi tung xiêm áo trên người nàng. Chốc chốc tấm thân mềm mại nóng ấm của nàng lại lộ ra trắng ngần, ngốt ngát dưới ánh chớp. Chàng vừa đi vừa áp má, áp trán vào đôi bắp đùi, vào cặp vú ngà ngọc của nàng. Nỗi thèm khát bị nén chặt bấy lâu giờ bỗng bùng sôi khiến trái tim chàng bấn loạn... Bất giác hai cánh tay nàng ôm chặt lấy cổ chàng, chặt đến nỗi làm chàng nghẹt thở. Nàng thét:
- Con quỷ. Con quỷ. Chạy mau lên chàng ơi!
Chàng bừng tỉnh, vội đặt nàng đứng xuống, thoắt cái khẩu súng tiểu liên đã lăm lăm trong tay. Nhưng con quỷ ở đâu? Chàng căng mắt nhìn qua mưa tối.
- Đó kìa! - Nàng líu lưỡi - Con quỷ mười hai mắt đang ngồi rình trên núi ấy!
Ha ha ha. Chàng ngớ người, cười rũ. Khẩu súng lại được đeo vào chỗ cũ. Cái mà vợ chàng gọi là con quỷ mười hai mắt chính là cây cột phát sóng của đài vô tuyến truyền hình. Mười hai cái bóng đèn xanh đỏ mắc từ dưới lên trên để đề phòng nguy hiểm cho máy bay bay đêm. Khổ nỗi, chàng không có cách gì giúp nàng hiểu được những danh từ như cột phát sóng, đài vô tuyến truyền hình, máy bay, bóng đèn... có ý nghĩa như thế nào.
Nàng nghe chàng giảng giải hồi lâu rồi chợt hỏi:
- Thế nó có ăn thịt người không?
Chàng đành nhịn cười.
- Không. Con vật này không ăn thịt người. Nó cũng không ăn thịt chim chóc, thú rừng. Nghĩa là nó không biết ăn gì cả.
Mặc dù vậy, khi đi ngang qua hàng cột điện đứng trong mưa, nàng vẫn phải bám chặt lưng áo chồng và nhắm nghiền mắt cho đỡ sợ. Tiếp đến mấy lần nàng kinh hãi rú lên trước tòa khách sạn cao tầng, trước tiếng động phát ra từ nhà máy nhiệt điện của thành phố.
Sau cùng, nàng chết ngất trên tay chàng khi họ dấn bước đi thẳng vào miệng con chằn tinh là mấy nhịp cầu sắt bắc qua sông.
Mưa tạnh vừa lúc hai người gặp biển. Ngoài ba lớp sóng chấp chới lân tinh, mặt biển lặng trang. Chàng ngồi xuống một mô cát, thả đôi chân mỏi nhừ ra bãi biển mặc cho sóng liếm và bế cho nàng ngủ yên trong lòng mình giữa tiếng gió chuốt à à trên rừng phi lao.
Mấy tiếng đồng hồ xúc động và hãi hùng làm nàng như kiệt sức ngủ lịm trong vòng tay ấm áp của chồng.
Những cánh rừng mọc lên rồi lại lụi tàn, lại mọc lên, lại lụi tàn. Những dòng sông hùng vĩ lần lượt sinh ra, biết bao lần thay hình đổi dạng. Những người làm bản đồ và viết sử đời đời nối tiếp nhau ghi lại sự chuyển dời của đại dương và lục địa, của các triều đại thịnh, suy, trị, loạn. Gió mưa đã bào mòn nhiều dãy núi trùng điệp thành bình địa. Duy có vẻ đẹp thủy chung của nàng thì vẫn y nguyên như ngàn năm trước, vạn năm trước. Gương mặt nàng lúc ngủ vẫn sáng trong, trẻ trung đượm buồn, quyến rũ mê hồn.
Tráng sĩ đắm đuối nhìn vợ ngủ như nàng tiên thiêm thiếp chốn bồng lai. Chàng quên lau dòng nước mắt ứa ra từ đôi mắt dạn dĩ từng chứng kiến cơ man cơn binh lửa, cơ man cảnh điêu tàn. Nước mắt chàng từng giọt rơi xuống gương mặt nàng, loang tới đâu, da dẻ nàng hồng tươi và tỏa thơm nồng nàn tới đó.
Còn gì xứng đáng được đền đáp hơn tấm lòng son sắt của nàng. Còn gì đáng được nâng niu trân trọng hơn giấc ngủ êm đềm của nàng trong lòng chàng. Chàng sẽ ngồi như thế hết giờ này sang giờ khác, hết ngày nọ sang ngày kia, miễn sao giấc ngủ của nàng không bị gián đoạn. Từ nay, chàng nghĩ, như một lời nguyền cùng nước non trời đất, rằng chàng xin hiến dâng trọn vẹn sức lực và tâm trí của chàng cho nàng. Chàng sẽ là kẻ đáng nguyền rủa muôn đời nếu có một giây phút chàng gây cho đôi mắt thiên thần của nàng thoáng chút ưu phiền.
Tình yêu và nhan sắc của nàng cho phép chàng tin chắc mình là người hạnh phúc nhất, đáng kiêu hãnh nhất thế gian.
“Nàng ạ - Chàng lại thì thầm nói trong khi nàng ngủ - Ngôi nhà của vợ chồng mình năm xưa nay hóa thành biển mất rồi. Nhưng không sao. Giấc ngủ ngon lành của nàng giúp anh đủ thời gian dựng cho nàng một ngôi nhà mới”.
Chàng nghĩ phác ra thứ tự các công việc, rồi mở ba lô lấy tấm võng bạt mắc giữa hai cây phi lao, nhẹ nhàng đặt nàng lên võng như người mẹ ủ con thơ.
Xong đâu đó, chàng rút lưỡi xẻng cài trên nắp ba lô, rút con dao găm đi rừng đeo bên sườn, thoăn thoắt san nền, chặt cột...
Thiếu phụ tỉnh giấc thấy mình nằm trong ngôi nhà lợp lá hãy còn tươi, chiếc giường hãy còn thơm mùi nhựa cây mới chặt, nhưng mà sao giống ngôi nhà xưa của hai vợ chồng đến thế. Sóng biển ì ầm vọng tới, cũng vẫn y nguyên như thế, như cái thuở chàng từ biệt nàng.
- Đây là đâu? - Nàng nhổm dậy hỏi chồng, trong lòng vui rộn rã.
Chàng đang lúi húi ngoài hè chạy vào:
- Nàng xem. Ngôi nhà của vợ chồng mình vẫn y nguyên như xưa. Nàng còn nhớ trên cây cột này vẫn treo những gì không?
Nàng nhíu mày.
- Em nhớ rồi. Chàng treo ở đó cái vẩy con khủng long, cái sừng con tể ngưu, và cái vuốt con quái điểu chàng bắn được.
- Giỏi lắm - Chàng reo lên nhưng liền đó lại thở dài - Rừng thời nay khác lắm rồi. Chẳng tìm đâu ra khủng long, tể ngưu, quái điểu. Anh vừa đi dạo một vòng, chỉ kiếm được vài con chồn, con nhím và mấy con chim nhỏ mà xưa kia chẳng để ý gọi là chim gì - Chàng chợt nhăn mũi ngộ nghĩnh - Nàng có ngửi thấy mùi thịt nướng không?
Mùi thịt thú rừng chàng nướng bên ngoài sực thơm vào nhà, khiến nàng thấy đói ngấu. Nàng thẹn thùng nhìn quanh:
- Mấy cái xiên thịt để nướng, từ ngày xa chàng không biết em vứt đâu.
- Không sao. Nàng đi rửa mặt cho tỉnh ngủ rồi vợ chồng mình ăn cơm.
Lúc dựng nhà xong, thấy vợ còn say giấc, tráng sĩ đã bận rộn làm cơm một cách hào hứng. Chàng bắt cá biển lên rán, bắt cua biển về luộc, đi săn thú về nướng chả. Mỡ thú và mỡ chim rơi xuống cháy xèo xèo trên lớp than hồng nghe mới vui tai làm sao. Chàng làm luôn tay và hát luôn miệng.
Người vợ rửa mặt xong, mâm cơm đã được dọn ra đủ các món. Món cuối cùng được bày lên mâm là mấy khoanh giò hộp - Đồ hộp chiến lợi phẩm chàng mang từ chiến trường về - và một ăng gô canh tập tàng, thứ canh chỉ có những người lính mới biết kiếm ra.
Tráng sĩ nhìn mâm cơm, mặt rạng rỡ tự hài lòng.
- Cỗ cưới lại của chúng ta đấy. Mình ạ!
Chàng ăn rất ngon miệng. Quá lâu rồi chàng mới lại biết đến không khí đầm ấm trong bữa ăn gia đình.
- Món này - chàng chỉ vào mớ lá khổ qua thay rau sống - Nàng có ăn được không? Hơi đắng một chút nhưng ăn quen mới thấy nó có vị bùi, vị ngọt lạ lắm kia. Ngoài mặt trận bọn anh vẫn ăn lá khổ qua với cá lóc nướng sỏ lụi, ngon tuyệt trần. - Chàng choáng trầm ngâm, đôi mắt hướng ra khoảng trời ngập nắng - Ấy là những ngày không có chiến sự, được sống yên thân giữa rừng. Còn những ngày bom đạn, những ngày địch ruồng bố, những ngày đi chiến dịch, thì khổ hết chỗ nói, phải nằm hầm bí mật, phải chém vè vùi lút mình trong sình lầy, nhịn đói nhịn khát... Không thể nhớ có bao nhiêu bạn hữu anh đã bỏ mình, máu chảy thành sông, xương chất thành núi nơi chiến địa. Ơ kìa, sao đĩa cá vẫn để nguyên thế. Nàng không ăn ư?
Thiếu phụ đỏ bừng hai má vì ngượng và vì thương chồng. Quả tình nàng không tài nào ăn được những món ăn chàng làm ra. Ngay như thịt thú rừng nướng là món ăn quen thuộc từ xa xưa mà nay nàng cũng không dám động đũa tới. Nàng không chịu được mùi gia vị chàng nêm vào. Tội nghiệp chàng. Hễ chàng gắp cho nàng, nàng lại chờ dịp chàng mải kể chuyện hoặc nhìn đi nơi khác để gắp trả lại. Thế là một mình chàng nấu, một mình chàng ăn. Chàng bỗng buồn đến rộng ngực. Có lẽ mình kể bao nhiêu là chuyện, những câu chuyện chất chứa từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, chờ có một ngày được kể chỉ cho một người nghe là nàng, nhưng xem ra lúc này chàng cũng chỉ kể được cho chính chàng nghe mà thôi. Trong khóe mắt màu da trời mà chốc chốc nàng lại liếc trộm chàng, chàng vừa bắt gặp cái gì xa lạ, giống như nẻo đường bước lạc, càng đi càng dấn thêm vào cõi hoang sơ.
Từ lúc đó, hai vợ chồng im lặng đến cuối bữa ăn.
- Nàng ơi - Chàng phá tan im lặng - Nàng mệt lắm phải không?
Nàng lắc đầu.
- Nếu không, xin nàng hãy kể chuyện cho anh nghe với. Đường chinh chiến muôn dặm anh rẽ chông gai tìm đường về với nàng, để rồi chúng mình ngồi lặng lẽ nhìn nhau mãi thế này ư?
Nể lòng chồng, nàng cố nhớ vài câu chuyện chỉ còn ghi lại bằng những vết rạn nứt lờ mờ trên vách đá. Chuyện trước tiên nàng nhớ lại là con khủng long nằm vắt từ mép vực bên này sang mép vực bên kia, vời những cái vẩy sừng cong vênh sắc lẹm, với những cái móng nhọn bấu thủng đá, khoét thủng núi.
Nét mặt chàng càng nghe càng ngơ ngác.
- Con khủng long?
- Vâng. Chàng đi được ít hôm thì nó thổi bão ầm ầm trườn đến. Nó nằm sau nhà, tính bắt em. Chỗ nó nằm đất lún thành con sông Bạng. Rồi nó đuổi bắt đàn trâu vàng nhà trời. Đàn trâu vàng lặn xuống khu đầm Rủn. Chàng Thạch Sanh bơi qua đầm Rủn đi chém chằn tinh còn nàng công chúa lại trốn vào quả thị...
Nàng dần dần trở nên lưu loát. Gương mặt nàng đẹp lung linh nhờ những hang động u thầm, những vỉa đá rêu phong biết nói, những tiên nữ giáng trần hóa thành con cóc, con rùa,con ngao, con hến, những vị thần gió, thần nắng, những thềm rừng bị lún chìm, những âm thanh lanh canh của vòng đá nhạc đồng cùng hiện lên hòa trong giọng nói của nàng. Nhưng nàng hỡi. Nàng có để ý chăng đôi mắt chàng đang thay đổi đến lạ lùng. Lúc nàng bắt đầu kể, đôi mắt chứa chan hy vọng lẫn vui sướng của chàng lấp loáng như hai mảnh mặt trời mới mọc, giờ thì đôi mắt ấy giống như hai vực thẳm âm u phủ mây, và những tiếng đập cô đơn như đá lăn núi lở trong ngực chàng. Chàng chua chát tự thú nhận đến lượt mình không thể hiểu nàng đang nói những gì.
Muốn bảo vệ giang sơn bờ cõi, những tráng sĩ không chí cần có tình yêu xứ sở và lòng can đảm. Mục đích của họ không phải là ra đi để chọn cho mình một cái chết anh hùng, mà để được sống tươi vui giữa núi sông bền vững. Lịch sử đòi hỏi họ luôn luôn phải đứng trên tuyến đầu của thời hiện tại, không bao giờ được là con người của quá khứ. Đối với mọi người lính, sự lỗi thời đồng nghĩa với bị tiêu diệt.
Chồng của nàng Vọng Phu là nhân vật như vậy.
Những bữa ăn tương tự được lặp đi lại nhiều lần. Người chồng càng gắng sức chiều chuộng vợ, chàng càng thất vọng, vì không sao đáp ứng được những khẩu vị của nàng. Chàng bèn nảy ra sáng kiến đưa nàng đi chơi đây đó cho nàng dạn dần với xã hội đương thời.
Chợ thị xã ngày nào cũng họp, la liệt hàng quán, đủ các thứ quần áo, các món ăn. Hàng của mậu dịch quốc doanh bày trong quầy. Hàng của tư nhân bày trên các bệ xi măng, chõng tre, thúng, mẹt. Liệu ở đó nàng có tìm được thứ gì nàng ưa thích chăng? Chí ít cũng giúp nàng khuây khỏa thoát ra khỏi túp lều chật hẹp của hai vợ chồng. Nhưng không. Đối với nàng, cơm, phở, giò, chả, bánh trái ở chợ còn đáng sợ hơn cả những thứ ở nhà chàng tự tay làm ra.
Trên đường từ chợ về, nàng bảo chàng:
- Chàng đừng lo cho việc ăn uống của em. Bao nhiêu năm em có nghĩ gì đến ăn uống đâu.
Chàng cắt ngang lời vợ:
- Nàng nói thế mà nghe được sao?
- Em nói thực lòng...
- Nàng nên nhớ - Lần đầu tiên chàng tỏ ra bực bội trước mặt vợ - Nàng nên nhớ là nàng đang sống giữa đời chứ đâu phải...
Chàng định nói: chứ đâu phải là một hòn đá đứng trên đỉnh núi. May sao chàng đã kịp kìm lại.
Nàng thở dài đau xé lòng:
- Em biết vì thế mà em đang làm khổ chàng.
- Thôi đi! Nếu nàng muốn anh đỡ bận lòng, cớ sao nàng không cố gắng làm quen với cuộc sống hiện nay? Thí dụ, món trứng rán có gì là khó ăn? Món thịt kho, cà ghém, canh chua, đàn bà con gái khắp thiên hạ đều ăn. Người ta đâu có khó tính như nàng?
Mắt nàng rơm rớm ướt. Chàng biết mình vừa lỡ lời. Chàng định “tạ tội” với nàng bằng câu chuyện về cái đận đơn vị của chàng bị vây hãm trong vùng đầm lầy. Những người chết vì đói, rét, rắn cắn, muỗi đốt, có người tự tử vì không đủ can đảm sống. Cứ thế, những tay súng thưa dần, đơn vị mỗi ngày một thêm kiệt sức, cái thảm cảnh từng người sẽ bị quân thù lôi ra mổ bụng moi gan dường như đã hiển hiện. Sau cùng, những người còn sống sót nghĩ được một mưu kế phá vòng vây. Nhưng chẳng may, đêm “mở đường máu” phá vây, chàng đã bị lạc đồng đội. Ròng rã hàng tháng trời chàng phải lẩn trốn dưới những chùm bèo trôi dập dình trên mặt nước, trong những lùm gai góc um tùm, dọc những khe lạch nước vàng rỉ sắt và nồng nặc mùi xú khí. Chàng phải đón đường hổ báo để giành giật miếng ăn với chúng. Chàng đã phải lần mò vào động trăn gió, dồn hết sức bình sinh đánh bật con trăn mẹ ra để cướp lấy ổ trứng trăn mà nuốt chửng. Chàng đã phải nhai sống cóc nhái, rắn rết, chuột bọ, miễn sao tránh thoát cái chết cô quạnh giữa bưng biền. Những miếng ăn như thế, giờ nhớ lại, chàng vẫn muốn nôn thốc nôn tháo vì tởm lợm...
- Chàng đừng kể nữa!
- Nàng sợ ư?
Chàng quay lại đã thấy nước mắt nàng lã chã. Chàng cuống quýt dùng vạt áo lau nước mắt cho vợ.
- Tha lỗi cho anh - Chàng run rẩy cầu khẩn - Nàng nhé! Từ nay anh không bao giờ dám kể những chuyện như thế nữa.
Hai vợ chồng dừng chân ngồi nghỉ dưới bóng cây. Nàng tựa đầu vào ngực chàng. Đôi bàn tay mềm như bột lọc của nàng xoa mãi lên má, lên cằm, lên đôi gò má đen sạm của chàng. Nàng nghẹn ngào:
- Chàng đâu có lỗi. Chỉ tại em...
Từ đây, không một cặp vợ chồng nào trên thế gian có thể hết lòng vì nhau như họ. Họ tìm mọi cách để đền đáp cho nhau, tìm mọi dịp để làm đẹp lòng nhau. Nhưng hỡi ôi, chỉ có trong cõi thầm kín nhất của trái tim, từng người mới biết họ đang phải gắng gượng biết chừng nào. Ngọn lửa nhỏ lóe sáng thành sấm sét, niềm hân hoan vỡ ra thành mưa, khiến đá phải tan rơi lả tả, thì cứ nguội dần, nguội dần, không sao nhóm lại được.
Có thật chàng đã đem hạnh phúc về cho mình? - Nàng âm thầm tự hỏi - Lòng nàng quặn đau nhớ những buổi chiều mây sà xuống dưới chân nàng, xa xa biển Đông chậm rãi chuyển từ màu xanh lam sang tím nhạt, từ tím nhạt sang màu tro bạc ảm đạm, rồi những lằn sóng lân tinh chập chờn vây quanh chân trời đêm. Nàng ngóng đợi những cánh buồm hiện ra giữa vòm sương khói, để khấp khởi hy vọng đó chính là chàng đang dong buồm trở về. Dầu biết sau những chút hy vọng mong manh chắc chắn sẽ là nỗi tái tê thất vọng, nhưng nàng không thể không ngóng đợi chàng... Chẳng thà cam chịu như thế, sống với chút hy vọng leo lét như thế, với sự gắng gượng thành nếp quen đời đời như thế, nàng vẫn không khổ não bằng sự xáo động, sự câu thúc từng giờ mà cuộc sống hiện tại đang bắt nàng phải theo kịp nó.
Chàng thì đâm ra đổi tính đổi nết từ bao giờ chính chàng cũng không hay. Chàng thường vắng nhà. Thoạt tiên chàng vắng nhà một lúc, rồi sau vắng một buổi, sau nữa chàng đi đâu suốt ngày, rồi hết ngày nọ sang ngày kia, và mỗi khi chàng lê bước chân về tới nhà là người chàng nồng hơi rượu.
Những cuộc trò chuyện giữa hai người cứ thưa dần, thưa dần. Tới một lúc, họ thật sự không thể nghĩ ra điều gì để nói với nhau nữa.
Rồi một hôm, chàng khoác súng ra đi từ sáng sớm, vàng vàng mặt trời mới chuệnh choạng tìm đường trở về. Tới một cánh rừng thông bên bờ cái thung lũng rộng mọc đầy sim mua chàng mới nhận ra ở bên kia thung lũng đã là ngôi nhà nhỏ bé của vợ chồng mình.
Chàng dừng chân đưa tay vuốt lên lớp vỏ ram ráp của một cây thông non và bật lên tiếng nói. Chà, những cây thông thẳng tắp này, nếu được mắc võng ngủ một giấc thì tuyệt diệu biết bao. Vắng ta thêm một đêm, liệu nàng có nhớ ta chăng. Hẳn là có. Nhưng nhớ nhau và cần nhau lại là hai chuyện khác. Ta có xã hội huyên náo của ta. Nàng có đỉnh núi thinh lặng và trong ngần của nàng.
Chàng mềm lòng trong tiếng thông reo vi vút, trong nắng vàng tràn trề quanh mình, và mơ màng trở lại với cuộc đời chiến trận rày bắc mai đông, nghỉ đâu là nhà nằm đâu là giường, nhẹ tênh trước công danh, nhẹ tênh trước bạc vàng châu báu.
Chàng còn đang dùng dằng với non xanh nước biếc thì chợt giật mình thấy từng cuộn khói vàng bốc cao nơi bờ bên kia thung lũng. Chút hơi men trong người chàng vụt tan. Chàng định thần nhận ra nơi khói vàng đang bốc lên chính là góc rừng có túp lều của vợ chồng chàng. Chàng rẽ sim mua gai góc, chạy như tên bắn qua thung lũng. Thì ra không phải khói, mà là từng đám bụi vàng bị ngọn gió thổi tung lên trời cao. Và từ nơi ấy đang phát ra những tiếng ầm ầm quái lạ.
“Nàng ơi!”, chàng vừa lao mình chạy vừa rền rĩ. “Nếu để cho nàng gặp nạn, anh thật là một kẻ đáng chịu tội trời tru đất diệt”. “Hỡi kẻ thù không đội trời chung! Cho dù ngươi có mệnh danh Thượng đế, hoặc là thiên binh vạn mã của người trần, ta thề sẽ giết chết ngươi để cứu nàng!”.
Lửa giận ngùn ngụt trong lòng chàng. Mũi súng trên tay chàng sẵn sàng nhả đạn. Nhưng, kẻ thù ở đâu trong cái khối bụi mù trời kia? Chàng vừa gầm vang “Nàng ơi, anh đã về đây!” vừa sục sạo khắp rừng để tìm kiếm kẻ tử thù và cuối cùng chàng đành đi đến kết luận là không có một kẻ thù nào cả. Giữa cánh rừng già chỉ thấy có nàng đang giẫy giụa gào thét, đang nhổ bật từng chòm cây cổ thụ, đang vò nát mặt đất, đang xô mình vào gai góc, khiến những mảnh xiêm y của nàng cùng lau lách, cây lá, cát bụi bay tung lên mù mịt. Mãi khi bàn tay chàng run rẩy đặt nhẹ lên người nàng, nàng mới giật mình nằm im, đồi mắt nhìn chàng ngơ ngác sau con ác mộng.
Chàng bế nàng về nhà, đặt nàng nằm lên chiếc giường cây que của hai vợ chồng, và âu yếm lau sạch những vết xước rỉ máu trên thân thể nàng trước khi nàng chìm sâu vào giấc ngủ mệt nhọc.
Tráng sĩ vội cởi bỏ vũ khí trên người, chàng nằm dang rộng cánh tay cho vợ gối đầu, một bàn tay vỗ về lên tấm thân ấm hôi hổi của nàng và cất lời ru cho nàng ngủ: “À ơi... thế gian đá nát vàng phai - Tình nàng le lói sao Mai giữa trời. À ơi... Mòn chân khắp nẻo quê người - Nghìn năm ta chỉ một lời đinh ninh...”.
Về khuya đêm đó chàng chợt tỉnh giấc vì hơi lạnh đang tỏa ra từ thân thể nàng. Lạnh tê buốt. Tiếng sóng từ khơi xa vọng tới nghe sao lạ lùng, sao giống tiếng khóc thê lương, đau xót đứt từng khúc ruột cho thân phận con người. Chàng bất giác sờ tay lên má vợ và kinh hãi thấy má nàng đang đầm nước mắt. Chàng hoảng hốt lay gọi:
- Nàng ơi! Tỉnh dậy! Anh van xin nàng! Cho anh đổi mạng sống cho nàng!...
Bất lực. Chàng bật khóc, nước mắt đỏ như máu. Sự thể không sao cứu vãn được nữa. Nước mắt chàng nhỏ xuống người nàng, loang tới đâu da thịt nàng hóa trở lại thành đá tới đó.
Sáng hôm sau, giữa nền trời trong xanh, mây trắng quấn quanh những vỉa đá xám trên cao, người làng Nhồi lại kéo nhau ra đứng đông nghịt bờ sông. Họ ngước lên đỉnh núi, đầy kinh ngạc:
- NÀNG VỌNG PHU lại trở về!
Hà Nội, 20/8/1995