Triệu Bôn từng kể với tôi rằng, bút danh của ông chỉ là ký tự để ghi dấu quê hương, ông sinh trưởng ở làng Cổ Bôn, huyện Đông Sơn, quê hương của Bà Triệu anh hùng. Triệu Bôn tức là người con của làng Bôn mang dòng máu Triệu Thị Trinh. Đây cũng là quê của nhà sử học Lê Văn Hưu, thời Trần, 17 tuổi đã đồ bảng nhãn, tác giả của “Đại Việt sử ký”, bộ chính sử đầu tiên của nước ta. Triệu Bôn bảo rằng, ngôi mộ của Thượng thư Bộ binh, Chánh sử quan Lê Văn Hưu ở quê vẫn còn, các hậu duệ họ Lê vẫn gìn giữ những kỷ vật của bậc tiền bối. Tiếc rằng bộ sử ký ba mươi quyển của ông mà sử gia Ngô Sỹ Liên sau này dựa vào đó để biên soạn thành bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” nổi tiếng, nay không còn nữa. Triệu Bôn bảo rằng, người ta có thể không biết đến cái tên Lê Văn Sửu, nhưng không thể không nhớ đến Triệu Trinh Nương, đến làng Bôn của ông.
May thay, thiên hạ nhớ cả làng Bôn, nhớ cả nhà văn Triệu Bôn, tác giả của “Mầm sống”, “Rừng lá đỏ”, “Tiểu đoàn trong vòng vây” và nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết rất ấn tượng về người lính và chiến tranh của ông.
Tôi nhớ lần đầu gặp Triệu Bôn trong một cuộc họp cộng tác viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Khi biết tôi cũng là con nhà nông lại từng dạy học ở Việt Bắc, Triệu Bôn tưởng như gặp lại người anh em thân thiết.
- Mình cũng là dân sư phạm, lại từng làm báo ở quân khu Việt Bắc. Thế là mình và ông đều là đồng nghiệp của nhau rồi.

Triệu Bôn có lối xưng hô ông, tôi, bác, tôi rất chân chất, dễ gần. Đến với ông ở căn phòng tầng hai, lát gỗ lim nâu bóng, số 4 Lý Nam Đế, cả chủ và khách đều ngồi bệt xuống sàn gỗ, uống trà Thái Nguyên, hút thuốc lá quấn và bàn chuyện văn chương, sự đời. Có lần thấy ông loay hoay mãi với mấy bao tải căng phồng ở góc nhà, chưa kịp hỏi, ông đã phân trần:
- Mình mới đi viết bài ở Việt Bắc về. Tranh thủ mua mấy bao sắn khô. Đợt tới, nghỉ phép, đưa lên tàu về Thanh cho mấy đứa trẻ. Quê mình làm ruộng mà quanh năm không đủ ăn ông ạ. Mình là cái thằng viết văn nhưng kiêm cả kiếp lạc đà...
Vâng, những anh chàng viết văn chúng ta, có mấy ai thoát khỏi kiếp lạc đà? Hiếm những người giàu như bá tước Lep Tolxtôi mà viết được văn hay như thế. Nhưng “lạc đà” như tác giả “Mầm sống”, gian truân chìm nổi như ông, thì cũng thật hiếm người. Tôi nhớ mãi những lần đến thăm ông ở căn gác xép góc trong cùng trụ sở Hội Văn nghệ Hà Nội 19 Hàng Buồm. Đó là những ngày bi đát nhất của đời ông. Mới chuyển từ báo Người Hà Nội sang Tổng cục Du lịch. Mới được tấn phong chức Tổng biên tập Tạp chí Du lịch. Mới về sống cùng người bạn văn chương Hoàng Việt Hằng, thì cơn xuất huyết não quái ác quật ông xuống, tưởng không thể gượng dậy nổi. Hàng năm trời ông vật lộn với bệnh tật. Lại như ngày ấu thơ, tập nói và tập đi. May thay, thi sĩ Hoàng Việt Hằng là người bạn đời, người cộng sự, người giúp việc lý tưởng đã giúp ông vượt qua những tháng năm giông bão này. Không những thế, Hằng còn sinh cho ông thằng cu Cóc, chú bé mà hơn mười năm sau, mới học cấp II, đã nối nghiệp bố mẹ, tập viết báo, viết văn, có lúc từng kiếm được nhuận bút để thuốc thang cho bố.
Có người bảo rằng, đời nhà văn Triệu Bôn, ít nhất có ba lần đói: thời trẻ, đói tình yêu; thời trung niên, đói tiền bạc; thời kháng chiến, đói sức khỏe. Đúng vậy chăng?
Nhưng vượt lên tất cả những sự đói ấy là một Triệu Bôn đầy nghị lực và quyết tâm chống trả số phận. Ông từng viết: “Tôi cam phận suốt đời nghèo đói để có một đời văn chương”. Đấy không phải chỉ là tâm sự mà là tuyên ngôn. Ông đã tuyên chiến với đói nghèo, tuyên chiến với bệnh tật. Ngay cả những lúc nằm trên giường bệnh ông vẫn nghĩ và viết hàng loạt tác phẩm bao gồm truyện ngắn và tiểu thuyết: Tiểu đoàn trong vòng vây, Gã đau đời, Sao chiếu mệnh bay lạc, Một phút và nửa đời người, Kẻ trọng tội... Hàng chục đầu sách đã được ông viết trong thập niên cuối cùng của thế kỉ XX (1990 - 2000). Và người đọc hẳn sẽ rưng rưng khi nghĩ rằng đây là những dòng tâm huyết của một nhà văn quân đội, một “phế binh” trong đời thường, là ký thác của cả đời cầm súng, cầm bút, như ông từng tâm sự: “Tôi là một trong muôn vàn cuộc đời lớn lên trong quân ngũ và ở chiến trường... Cách mạng và quân đội là mối ân sâu nghĩa nặng đối với tôi. Trọn đời tôi dành tình yêu thương kính trọng cho những người lính chiến đấu vì nhân dân, tổ quốc...”
Hà Nội. Ngày 12-9- 2003