Tuyển Tập Truyện Ngắn Triệu Bôn

Lượt đọc: 213 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kiếp Trước

❊ ❊ ❊

Bà ăn mày không có tên riêng. Cả xóm này chỉ gọi bà là bà ăn mày. Nhưng, con chó mực của bà lại có cái tên rất choáng: Thiên Cầm (tác giả thành thật xin lỗi bạn đọc nào có tên như vậy).

Khốn khổ cho con chó. Nó gầy giơ xương, bước đi xiêu vẹo, nhử mắt lèm nhèm, lông thì trụi từng đám vì ghẻ lở. Hễ chủ dừng lại ngả nón xin trước cửa nhà ai là nó liền tranh thủ nằm ạch xuống, dùng cái chân sau gãi cuống cuồng lên bụng, lên nách, miệng rên ư ử. Bởi thế mới có kẻ động cỡn về chữ nghĩa gọi nó là Thiên cầm, tức là Cây đàn nhà trời. Lại nữa, có những người thích bỡn cợt trên nỗi đau của người khác, họ cấm bà ăn mày gọi nó là con Mực, mà phải gọi là Thiên Cầm thì họ mới cho bà vài trăm bạc rách, nắm gạo, hoặc bát cơm nguội...

Dần dà, con chó của bà ăn mày tỏ ra rằng nó cũng là tay khó tính, thích văn hoa kiểu cách chứ chẳng phải phường tầm thường, quê kệch. Ai muốn gọi nó, phải gọi đủ hai tiếng Thiên Cầm nó mới chịu ngẩng mặt lên. Nếu chị gọi: “Ê! Cầm!” là nó phớt, không thèm đáp lại.

Một hôm bà ăn mày đến nhà tôi. Tôi đang mải viết văn, nghe tiếng con chó gãi phần phật trước rồi mới nghe tiếng bà ăn mày: “Con cắn cỏ lạy ông làm ơn làm phúc...”. Tôi biếu bà lão mấy đồng bạc lẻ, thấy hơi ít, lại xúc cho bà lưng ống gạo. Trời sắp mưa, khoảng sân bê tông trước khu nhà tập thể hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Tôi ái ngại cho bà già đáng tuổi mẹ mình, bèn hỏi:

- Bà ăn uống gì chưa? Tôi không nấu cơm, nhưng có mỳ ăn liền. Tôi làm cho bà một bát nhé?

Bà lão cóm róm bước qua khung cửa, định ngồi bệt xuống nền gạch, phải nói mãi mới chịu ngồi nhớm lên ghế. Con Thiên Cầm ngồi xệp hai chân sau, mặt hếch lên nhìn chủ, như một vị đại thần biết giữ lễ vua tôi cung kính quỳ hầu bên cạnh đấng hoàng đế.

Bà lão ăn nhỏ nhẹ được vài thìa mỳ tôm thì từ miệng con Thiên Cầm có cục dãi to như hạt ngô rớt xuống đánh tạch. Lần thứ hai nó lặp lại hiện tượng ấy, khiến tôi giật mình nghĩ đến bệnh chó dại người ta thường loan báo trên ti vi. Tôi vội hỏi:

- Con chó của bà làm sao thế?

Bà ăn mày không muốn trả lời. Khi bát mỳ tôm còn lại chừng một phần ba, bà lấy trong bị ra cái bát sắt sứt sẹo, trút cho con chó. Bấy giờ bà mới thở dài, giọng ngùi ngùi:

- Nó thèm đấy ông ạ!

Ra thế! - Tôi thầm nghĩ - câu thành ngữ “thèm nhỏ dãi” được nghe từ tấm bé, mãi nay tôi mới thực hiểu ý nghĩa của nó là thế nào? Tôi xúi bà bán con chó đi, hoặc cho ai nuôi, đỡ cho bà khỏi phải cưu mang nó mà nó thì đỡ khổ. Nhưng bà lắc đầu:

- Ốc không tha nổi ốc, tôi có muốn đèo thêm rêu làm gì thưa ông. Nhưng mà con này dại lắm kia. Mấy lần tôi cho người khác là mấy lần nó trốn về với tôi - Bà già vuốt vào lưng con chó lúc nó đang liếm lấy liếm để cái bát sắt đã sạch nhẵn, và nói với nó vô cùng âu yếm - Theo tao làm gì để khổ sở, thèm nhạt thế này hở con?

Bà già ra đi giữa trưa nắng, con Thiên Cầm xiêu vẹo theo sau. Con chó trung thành, tận tụy thế, mà có lần bà lão suýt giết chết nó chỉ vì một mê cơm cháy. Chẳng là, sợ mưa lụt chưa dứt, bà để dành mê cơm cháy lại làm nguồn lương thực dự trữ cho hai “thầy trò”. Đêm, con Thiên Cầm rúc mõm vào ăn vụng hết. Sáng hôm sau thức dậy, bà lão ăn mày trói cả bốn chân con chó lại, dùng gộc cây phang. Nó kêu la thê thảm nhưng nào ai bênh. Tới khi nó không la được nữa, chỉ còn thở thoi thóp, bà lão mới dừng tay. Sau trận đòn thập tử nhất sinh ấy, nét mặt con Thiên Cầm không bao giờ trở lại hí hởn vui vẻ nữa, nhưng hình như nó càng biết thân biết phận, càng nhẫn nhục chạy theo làm bạn với bà.

Tôi đi nằm, để chiều tiếp tục chương tiểu thuyết vừa mới sang được ít dòng, và ngỡ chuyện về con Thiên Cầm chỉ có thế.

Một mùa hè ngắc ngứ và chật vật đã trôi qua. Mùa thu bắt đầu bằng những trận mưa dầm dề thối đất. Bà lão ăn mày lại hiện ra trước cửa phòng tôi vào một lúc rất hiếm hoi trời hửng nắng. Lần này bà đi một mình. Và lại như lần trước, tôi nhặt mấy tờ bạc lẻ cùng một ống gạo đem ra biếu bà, bà nhận, nhưng tỏ ra khá hờ hững. Bà bảo rằng bà đi xin ăn khắp thiên hạ, không thấy ai thơm thảo, đức độ như tôi...

Tôi xua tay:

- Thiếu gì người tốt. Bà đừng khen quá lời.

- Ông cho tôi nói thế đã - lời lẽ bà lão rành rọt và tự tin khác thường - Vì thế, chuyện này tôi chỉ kể ông nghe. Cái con Mực nhà tôi...

- À phải. Nó đâu rồi bà?

- Để tôi nói hết đã.

Bà lão có vẻ bực vì sự láu táu của tôi. Nhưng liền đó, bà ngồi im, nước mắt rân rấn trong đôi mắt mờ đục. Khá lâu sau, bà mới cất giọng nghèn nghẹn: “Thề với ông, tôi không dám đơn sai nhời nói. Cơ mà sao ở bãi sông có lắm cô hồn đến thế. Người chết oan chết ức, người chết đói chết khát, người bơ vơ không nơi chôn cất... Đêm nào là đêm tôi không trò chuyện với người âm hả ông! Dưng gặp người âm giữa lúc thức thì tôi mới lần này là một. Khốn khổ khốn nạn, có chỗ nào đặt lưng đâu mà bảo rằng mơ ngủ cơ chứ... Lời lẽ bà lão tuôn như suối với đôi mắt bỗng lấp lóe như mắt của người đang lên đồng. Chỉ vì không sao bắt chước được cách diễn đạt của bà, tôi đành kể lại theo cách tôi hiểu vậy:

Bà ăn mày cũng có một nơi ở, mà bà gọi là “nhà”. Nó gồm bốn cái que cắm xuống cát, chung quanh che chiếu rách và đủ loại túi ni lông bà nhặt được trong các đống rác, ở dưới gậm cầu. Đêm ấy trời đổ mưa rào. Càng về khuya mưa càng dữ. Túp lều của bà bị nước xối đổ nghiêng, nên suốt đêm bà phải ôm con Mực ngồi mong trời sáng. Sau khi đoàn tàu hỏa lao qua cầu, cả vũng bến sông rung chuyển trong một tia chớp chói lòa đánh xuống bãi dâu. Tiếng sét nổ quá gần làm tai bà lão điếc đặc, con Thiên cầm thì run bần bật trong lòng bà. Rồi, tự dưng con chó của bà quát lên bằng tiếng người:

- Anh làm hại tôi thế còn chưa đủ hả!

Có tiếng một người khác đáp lại:

- Báo cáo thủ trưởng. Em trốn khỏi địa ngục, mấy ngày nay đi tìm thủ trưởng khắp nơi. Sao thủ trưởng nỡ mắng nhiếc em? Em lặn lội tìm thủ trưởng, chỉ cốt thông báo cho thủ trưởng biết đầu đuôi câu chuyện...

- Chuyện gì?

- Về cái đêm thủ trưởng và em ăn tối ở khách sạn nổi năm sao ấy mà. Thủ trưởng còn nhớ không?

- Không.

- Thủ trưởng quên cả bát hồng yến rồi sao?

- Hồng yến là cái gì? Ta không biết! !

- Trời ơi... Thế này nhé: Con chim yến nhả dãi trong người nó ra kết thành tổ để đẻ trứng vào đó. Loài người lấy cái tổ của nó nấu ăn, gọi là món yến sào. Sợi yến thoáng trông từa tựa sợi miến dong. Nhưng thỉnh thoảng có vài sợi còn dính tia máu, ấy chính là khi con yến nhả hết dãi rồi mà vẫn chưa đan xong tổ, nó phải nhá thêm cả máu của nó ra mới đủ. Ta gọi những sợi yến dính máu ấy là hồng yến. Thủ trưởng nhớ chưa nào?

- Thì có liên quan gì đến ta?

- Có liên quan chứ. Tối hôm ấy thủ trưởng gọi lão chủ khách sạn đến bảo làm cho thủ trưởng một bát hồng yến. Lão chủ khách sạn cầm tờ thực đơn lên xem, nói rằng không có món đó. Thủ trưởng đập bàn: Thì tôi gọi la-cát vậy. Được không? - Dạ, được chứ ạ.

Nhưng thưa quý khách, kiếm hồng yến đặng đủ một chén thì... - Thì sao? Chẳng lẽ khách sạn năm sao không biết nấu yến! - Dạ thưa, trong kho của chúng tôi hiện có tới năm, sáu chục tổ gì đó. Nhưng mỗi tổ may lắm kiếm nổi vài ba sợi hồng yến mà thôi. Bởi vậy, tôi e giá thành... - Sợ tụi này thiếu tiền hả? - Dạ đâu dám - Thế thì làm ngay đi. Bao nhiêu tổ, bấy nhiêu tiền. Tôi thanh toán tất!...

- À à... - Tiếng con Thiên Cầm ầm ừ - Giờ tôi mới láng máng nhớ ra.

- Thế đấy. Thủ trưởng có nhớ số tiền trả cho bát hồng yến ấy đủ để nuôi một gia đình nghèo trong mấy năm không? Nhưng tai họa đâu chịu dừng ở đó.

- Lại còn gì nữa?

- Phàm là ăn yến, bao giờ người ta cũng cần đến cái khoản kia. Huống chi đây là hồng yến. Đêm ấy, thủ trưởng bắt đủ chục cô chiêu đãi viên đứng xếp hàng, rồi lựa một cô trẻ nhất, đẹp nhất, đặc biệt là phải còn trinh, thủ trưởng lột truồng cô bé ra, bắt cô nằm vào bồn tắm, rồi đổ sâm banh cho cô ấy tắm...

Hồn ma kia chép miệng than:

- Nếu không có thêm cái tội này, chưa chắc mấy ông Nam Tào, Bắc Đẩu đã gạch tên thủ trưởng, bắt thủ trưởng đột tử ngay trên bụng cô gái ấy để làm trò cười nơi cửa miệng thế gian. Còn tôi thì can tội đua nịnh, lấy tiền của Nhà nước cung phụng thủ trưởng ăn chơi. Do đó tôi mới tông xe vào gốc cây, rồi bị đày xuống địa ngục chứ!

- A ha ha - Thiên Cầm cười khoái trá - Rõ là thằng nói láo.

- Sao cơ?

- Nếu tôi nặng tội hơn anh, sao tôi không bị đầy xuống địa ngục.

- Chà, không ngờ thủ trưởng vẫn đa nghi, vẫn thích kéo bè kéo cánh như xưa - Người kia phẫn nộ thật sự - giờ tôi nói toẹt ra cho ông biết: ông chẳng còn nghĩa lý gì với tôi nữa đâu. Sở dĩ người ta không tống cổ ông xuống tầng địa ngục thứ mười tám, vì nếu giam cùm dưới đó chỉ mới là cực hình mà thôi. Người ta muốn ông phải nếm cho đủ mùi nhục nhã nên mới bắt ông đầu thai vào kiếp chó, lại là con chó hèn kém, xấu xí, đói khát, nhục nhã nhất trong loài chó, thế mới đáng kiếp!

- Thật vậy ư?

- Thật như tôi đang nói với ông. Thật như là ông đang rét run trong tay mụ ăn mày. Thật như là lũ ghẻ đang đánh chén trong máu trong thịt ông. Còn nghi ngờ nữa hay thôi? Và hãy bỏ cái giọng hống hách làm bố thiên hạ đi, con chó ghẻ lở kia ơi?

Không nghe con Thiên cầm đáp lại, chỉ nghe tiếng tru não nề lẫn những lời than thở ê chề của nó:

- Biết làm sao được, hở trời?...

Người kia thôi phẫn nộ:

- Xin hỏi thật: sau này, nếu được sung sướng, thủ trưởng có tìm cách giúp tôi thoát khỏi địa ngục hay không?

- Tất nhiên rồi. Chúng mình đã gắn bó với nhau trong một tiền kiếp tội lỗi. Nếu tạo hóa còn cho chúng ta được gắn bó bên nhau trong một kiếp sau tốt lành, thì còn gì vui sướng hơn!

Tới đây, kẻ giấu mặt bỗng hạ thấp giọng, như nói thầm:

- Chỉ vì mục đích ấy mà tôi vượt qua hàng rào lửa địa ngục tới đây để báo cho anh một tin vui: nghiệp chướng anh đã trả hết rồi. Từ đây, anh sẽ được hóa thân thành kiếp khác. Xin có lời chúc mừng!

Người kia vừa dứt lời, con Thiên Cầm bỗng trút một hơi thở thật dài, không đau đớn, không rên la, nó tắt thở mà như đang ngủ ngon lành trong lòng bà lão ăn mày...

Bà lão thuật hết câu chuyện, gương mặt nhăn nheo rạng ngời. Bà bảo thế nào con Thiên Cầm cũng nhớ ơn mà phù hộ cho công việc của tôi. Đáng tiếc, lúc đó tôi đã khuyên bà: “Con chó bị ướt mưa, nó chết rét đấy. Bà đừng mê tín thế”. Tôi đã làm mếch lòng bà lão ăn mày. Bà không thèm nói với tôi câu nào nữa. Bà đứng dậy bỏ đi, mấy đồng bạc lẻ cùng gói gạo tôi cho bà, vẫn nằm nguyên trên bàn.

- A di đà Phật! - Bạn đọc nên nhớ, xưa nay tôi chẳng hề tin vào đức Phật, đức Chúa, hay bất cứ đấng thần linh nào. Chính tôi cũng không hiểu cớ sao tôi lại bật lên mấy tiếng ấy - Nếu quả thật có một kiếp sau, hẳn tôi sẽ phải hóa thân làm một sinh vật nào đó ngu si, đần độn tột bậc mất thôi. Bởi, tôi biết tôi đã mắc vào một nghiệp chướng: bao lâu nay, bằng ngòi bút của mình, tôi đã ba hoa khoác lác quá thể. Một đôi lần tôi đã a dua theo kẻ khác, biến người trung thực thành kẻ gian phi và một vài lần tôi đã nâng lũ giòi bọ lên thành những siêu nhân.

5/1994

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012 Nguồn pdf: Sưu tầm Chuyển sang text: hoi_ls
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Triệu Bôn

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.