Tuyển Tập Truyện Ngắn Triệu Bôn

Lượt đọc: 195 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người Chết Trở Về

❊ ❊ ❊

Thuận là một trong những cây bút đã đi suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Hòa bình, anh về làm việc ở một tòa báo tại Thủ đô, nếp sinh hoạt khá ổn định, nhưng lâu lâu Thuận lại nổi máu thèm một chuyến đi lang thang với chiếc ba lô lính, cuốc bộ từ vùng này tới vùng khác, ăn ở đâu, nơi đó là nhà, ngả lưng chỗ nào, thì chỗ ấy là giường.

Quãng ba năm sau ngày toàn thắng. Thuận cũng đã làm một chuyến lang thang như vậy ở mạn bắc khu Bốn cũ. Cuốn sổ ghi chép đầy ngạt chữ, trong túi đã cạn tiền, Thuận mua một vé xe hỏa ở ga Yên Vực để ra Hà Nội. Lúc ngồi trốn nắng buổi trưa trong quán nước chờ tàu trước cửa ga, tình cờ Thuận nghe bà lão bán quán nói rằng có một anh bộ đội người làng Rủn, báo tử chán chê rồi, vợ ở lại chịu mãn tang chồng mới đi bước nữa. Nhưng, đúng cái hôm chị vợ xuống thị xã mua thiếp mời chuẩn bị đám cưới thì anh chồng cũ lù lù “mò” về.

Bà lão nhổ quết trầu xong thốt lên:

- Hơn bảy chục tuổi đầu, thấy đã lắm chuyện, mãi giờ mới thấy chuyện lạ như rứa. Bà cũng có thằng bố hĩm - con trai bà - đi Nam, bặt tin sáu, bảy năm nay, ước gì hắn còn sống mà về với vợ với con...

Thuận hỏi bà lão:

- Có thật thế không, bà? Dạo đầu tháng cháu cũng mới đi qua vùng ấy.

- Sao lại không thật! - Bà lão hơi phật ý trước cái nhìn nghi hoặc của Thuận - Đây với Rủn có xa xôi gì. Thằng cháu nội của bà mới đi xe ngựa trên đó về chiều hôm qua.

Thế là Thuận quên phắt tấm vé xe hỏa nằm trong túi ngực. Anh đáp xe ngựa lên Rủn, nửa buổi chiều thì tới nhà anh xã đội trưởng xã Đông Khê tên là Tân, cũng là một thương binh bị thương ở thành cổ Quảng Trị.

Tân lấy chiếc xắc cốt móc trên cột nhà xuống, chìa cho Thuận xem mảnh giấy chứng thương, cười rất hồn nhiên:

- Tôi cũng bị quân lực trung đoàn xếp vào danh sách những người tử trận đấy. May là danh sách chưa kịp gửi đi, thì tôi bò về được tới đơn vị. Riêng cái chuyện anh vừa hỏi, tôi nghe bà con nói là ở bên xóm Nông Giang, chứ không phải ở đây.

- Theo anh, nguồn tin này có chính xác không?

Tân khoát tay về hướng mặt trời lặn.

- Cách nhau vài cánh đồng thôi mà. Ngày nào dân làng Rủn chúng tôi chả có người đi chợ Dị phải qua đó. Tôi cũng muốn sang bên ấy xem binh tình thế nào. Xã này còn tám trường họp bặt tin, bà con đến hỏi từng ngày. Rối cả ruột.

Hôm sau, ở xóm Nông Giang, người ta còn biết rõ anh bộ đội “từ cõi chết trở về” ấy tên là Thái, trung úy, đại đội trưởng xe tăng, nhưng là người làng Vồm, bên kia dãy núi Rừng Thông và nằm sát bờ sông Chu.

Trên quãng đường đồng dẫn tới làng Vồm, Thuận phải gắng hết sức chạy đua với cơn giông và với bầu trời đang sập tối. Chớp xanh lè trên ngọn Rừng Thông. Những dây sét làm mặt đất rung chuyển không khác gì tiếng sét gầm của “vua chiến trường”. Lúc những hạt mưa đầu tiên bắn chan chát xuống vành mũ cối, Thuận rẽ đại vào một ngôi nhà đầu làng vừa le lói ánh đèn.

Chị chủ nhà cầm đèn đứng sững trước khung cửa rộng, đôi mắt đen như hai hạt nhãn nhìn người khách đang ngập ngừng dưới sân.

- Chào chị.

- Vâng. Chào anh.

- Chị làm ơn cho tôi trú mưa một lúc?

Người phụ nữ đắn đo vài giây.

- Nhà tôi chỉ có hai mẹ con. Anh thông cảm cho. Anh chịu khó đi lại nhà bác công an xã vậy.

Chị chỉ dẫn khá tỉ mỉ: Hết ngõ này, gặp con đường to, anh rẽ phải. Đi một quãng, gặp cái giếng, anh rẽ trái... Thuận “vâng vâng” nhưng càng nghe chị chỉ dẫn anh càng thấy lung bung trong đầu. Anh chào chị, bước ra khỏi mảnh sân trắng xóa mưa. Chị chợt kêu lên:

- Anh không có đèn pin à?

- Không, chị ạ.

- Áo mưa, anh cũng không có.

- Có. Nhưng đằng nào cũng ướt hết rồi, thôi chào chị nhé.

- Thế thì anh vào đây mà nghỉ. Nước mưa đầu, dễ ốm lắm.

Nào ngờ, đây chính là gia đình của trung úy đại đội trưởng xe tăng tên là Thái, mà bà con ở xóm Nông Giang đã nói với Thuận. Có điều, Thái về nghỉ phép xong, vừa ra tàu trưa nay, bình thường như biết bao anh bộ đội khác.

Còn cái “người chết trở về” kia, theo lời chị Mai - tên người phụ nữ này - ở mãi trên làng Kè, cách làng Vồm chừng mười lăm cây số.

Chị Mai giục Thuận đi thay quần áo khô, rồi đi pha trà thật đậm mời anh uống.

- Anh ấy cũng ở chiến trường miền Nam, phải không chị?

- Sao anh biết?

Thuận chỉ vào chén trà thơm ngát và đặc như nước cà phê. Cái “gu” uống trà của lính Quân giải phóng dù ở đâu cũng nhận ra. Và nhờ thế mà câu chuyện giữa chủ nhà và khách trở nên đặc biệt cởi mở.

- Tôi với nhà tôi cùng học hết lớp mười, sau lễ cưới đúng bảy ngày thì anh ấy nhập ngũ. Ai đời, trong lá thư đầu tiên gửi về, anh ấy viết: “Trông ra ngọn cỏ lá cây. Thấy hiu hiu gió, thì hay anh về...” làm tôi lo nẫu cả ruột gan suốt mấy năm trời. Hôm vừa rồi, anh ấy về tới nhà, tôi liền sai thằng con lấy roi cho mẹ. Anh ấy hỏi: Để làm gì? Tôi bảo: Em phải nọc anh ra, đánh cho một trận, cho bõ tức!

Người phụ nữ che miệng cười, gương mặt sáng hồng lên niềm hạnh phúc tới giờ đã có thể coi là viên mãn. Nhưng cũng đúng lúc này, những gia đình có người đi không về, thì sao? Thuận trộm nghĩ thế mà bỗng so vai lại vì một cảm giác lạnh buốt trong hơi mưa ngoài hiên đang phả vào.

Chị Mai thở dài.

- Không hiểu cái bộ ba ấy họ dàn xếp thế nào, anh nhỉ?

- Bộ ba nào vậy?

- Ồ, anh chưa biết ư. Một đêm, người chồng về gõ cửa, vợ anh ấy cùng người chồng mới cưới đang ngủ trong buồng. Mẹ anh ấy thức dậy, nghe đúng là tiếng nói của con trai mình nhưng không dám ra mở cửa. Bà cụ thắp hương khấn:

“Con sống khôn chết thiêng. Mẹ chỉ có mỗi mình con. Con đi rồi, vợ con ở nhà ăn ở với mẹ thật hết lòng hết dạ, nên con hãy phù hộ cho nó như phù hộ cho đứa em gái của con”...

Thuận nhíu mày, ngờ ngợ những chi tiết éo le trong câu chuyện chị chủ nhà kể giống như trong một cuốn tiểu thuyết nào đó. Từ phút ấy, Thuận đâm ra lưỡng lự, không biết có nên tiếp tục chặng đường lên làng Kè nữa hay thôi. Nhưng rồi sáng hôm sau Thuận vẫn tạm biệt làng Vồm, để lần bước ngược theo dòng sông Chu đang mùa nước lớn ngập tràn những bãi dâu, vạt mía, và ngổn ngang rác rến thượng nguồn.

Xưa nay, cả trong thời bình lẫn thời chiến, từ những nỗi nguy nan chết người tới những cuộc bù khú bạn bè, Thuận vốn là con người không chịu bỏ cuộc giữa chừng. Tuy vậy, chặng đường ngược sông Chu này khiến Thuận mệt bải hoải. Vào lúc mặt trời đã lên cao, nhân phải chờ phà sang sông ở bến Vạn Hà, Thuận lân la làm quen với mấy đứa trẻ nhỏ ngồi câu tôm bên kè đá.

- Các “tướng” ơi - Thuận lên tiếng - lên làng Kè, đi theo bờ sông gần hơn hay theo đường ô tô gần hơn? Một cậu bé quay phắt lại, nói trống không:

- Lại hỏi đường lên làng Kè!

Thuận không hiểu ý đứa trẻ nói gì. Nó giải thích:

- Chuyến phà trước, có một chú bộ đội vừa hỏi thăm đường lên làng Kè, y hệt chú. Có phải chú là bạn của cái chú “báo tử” mới về không?

Đôi mắt Thuận vụt sáng lên mừng rỡ:

- Cháu cũng biết chú ấy?

- Không. Nhưng cháu có thằng bạn cùng lớp, nó mới lên thăm cô nó lấy chồng trên Kè.

- Cái chú ấy hay lắm cơ nhá - Cậu bé ngồi cạnh đó nói chen vào - về tới làng rồi mà còn quẳng ba lô lên đê để chơi chọi dế với trẻ con, đợi tối mịt...

Lần thứ hai đôi mắt Thuận vụt sáng, nhưng không phải là những tia sáng mừng rỡ ban nãy... Anh hấp tấp cắt ngang lời cậu bé lúc chân tay anh bỗng run lên lẩy bẩy:

- Chọi dế như thế nào?

- Chú không biết chọi dế à?

- Biết chứ. Nhưng chú muốn hỏi cái chú bộ đội ấy chọi dế như thế nào?

- À... chiều hôm ấy, bọn trẻ làng Kè đang chọi dế chơi thì chú ấy tới. Chú ấy cũng xem chọi dế, rồi hỏi dò xem vợ chú ấy ở nhà có chuyện gì không. Từ khi chú ấy có giấy báo tử, cô ấy đã lấy ai chưa. Bọn trẻ chạy về làng gọi cô ấy ra tới nơi thì chú ấy bỏ đi mất...

Lũ trẻ đứa nào cũng giật nảy mình quay lại nhìn Thuận, mắt tròn xoe, ngơ ngác, còn chính Thuận không hề biết là anh vừa đập tay vào ngực mình, thét lên hai tiếng “Trời ơi” nghe thật xót xa.

Thuận lặng thinh đứng dậy, quên cả chào mấy cháu nhỏ. Anh không sang phà, mà thất thểu đi về phía thị xã. Té ra... Té ra là thế. Cái buổi chiều Thuận qua núi Go, gặp bốn đứa trẻ nằm ép bụng xuống cỏ xanh, đầu chụm vào chỗ mấy cái bao diêm nhốt dế, và la hét cổ vũ cho hai chú dế chọi đang xòe cánh đá nhau tanh tách. Thấy hay hay, Thuận bèn nhập bọn chọi dế, và hỏi đùa một câu:

- Này. Cô Lan có nhà không, các bạn nhỏ? Mấy đứa nhao nhao hỏi cô Lan nào? Lan cô giáo hay Lan thợ may? Thuận trả lời hú họa: “Lan cô giáo”, vì đoán các cô giáo làng nào mà chẳng thích lấy các loài hoa, hoa huệ, hoa cúc... đặt tên cho mình. Khốn nỗi, Thuận vừa trả lời xong, bốn đứa trẻ bỏ cả chọi dế, quây lấy Thuận để cật vấn.

- Chú là chú Bính?

- Chú là chồng cô giáo cháu. Đúng không?

- Sao mãi giờ chú mới về?

Một trong bốn đứa trẻ chạy như tên bắn xuống chân núi. Rất may là Thuận đã đuổi theo giữ nó lại.

- Cháu chạy đi đâu thế?

- Chú ơi - Đứa trẻ nói giọng nghèn nghẹn xúc động - cháu về gọi cô giáo. Chủ nhật vừa rồi xã mới làm lễ truy điệu chú Bính. Chú là chú Bính chứ gì? Trông nét mặt chú, chúng cháu biết ngay mà!

Đứa trẻ định giật tay ra khỏi tay Thuận để chạy tiếp khiến Thuận hoảng hốt, cố hết sức giãi bày. Nhưng anh càng giãi bày lũ trẻ càng không tin lời anh. Cuối cùng, Thuận đành rút tấm thẻ nhà báo chìa ra cho lũ trẻ xem...

Lúc sáng, chị Mai ở làng Vồm đã dặn đi dặn lại Thuận: “Dù có dù không, trên đường về, thế nào anh cũng phải ghé qua cho tôi biết tin. Nhé!”. Và Thuận đã hứa. Nhưng, giờ thì Thuận không thể thực hiện được lời hứa ấy. Anh đi như trong giấc mơ, mãi tắt mặt trời mới hay rằng mình đã đứng trước sân ga thị xã.

Có một chiến sĩ không biết từ đâu lại, đang mải miết bước trên những đám mây vàng. Khi anh đi xa rồi Thuận mới kịp nhận ra cái bóng của anh cao lớn làm sao. Chiếc quân hiệu trên mũ anh chính là ngôi sao hôm đang sáng long lanh ngoài chân trời. Thuận thì thầm:

“Quê hương vừa làm lễ truy điệu anh. Cha mẹ anh và con anh đang khóc anh. Nhưng vợ anh thì vẫn nóng lòng ngóng đợi anh về.

Về đi!

Mau chân lên. Anh chiến sĩ ơi!”.

Viết năm 1978.

 

Sửa lại 12/7/1992

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012 Nguồn pdf: Sưu tầm Chuyển sang text: hoi_ls
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Triệu Bôn

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.