Tuyển Tập Truyện Ngắn Triệu Bôn

Lượt đọc: 276 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người Gầm

❊ ❊ ❊

Hết chiến tranh tôi còn làm lính thêm bảy năm nữa rồi chuyển ngành ra một cơ quan dân sự.

Cơ quan mới của tôi cách doanh trại đơn vị cũ khu chợ Đồng Xuân - Bắc Qua. Chiều chiều nhớ đơn vị tôi thường xách cái túi đựng quần áo lót lững thững về đó tắm. Tắm xong, thế nào cũng tạt vào phòng cậu Hội lái xe, hoặc phòng của cha con anh Sông Ba ở tầng một, chơi tới nhập nhoạng tối mới về.

Vợ chồng anh Sông Ba mới bỏ nhau.

Họ lấy nhau từ chiến trường Tây Nguyên đói khổ, giặc giã bom đạn đầy trời, có với nhau đứa con trai tên nghe rất ngộ, thằng Vượt Thác.

Chị Hồng ở cữ đúng vào hôm bọn lính Mỹ mở trận càn. Trận càn này mang cái tên tiếng Mỹ, có nghĩa là “sa mạc lửa”.

Bom khoan, bom phạt, bom chất độc, bom xăng, xe tăng, đại bác, và nghìn nghịt lính Mỹ ào tới hòng thiêu cháy rừng Tây Nguyên, biến Tây Nguyên thành bãi sa mạc không người. Anh Sông Ba lưng cõng vợ mới sinh, tay cầm súng, tay bồng đứa con đỏ hỏn, vượt thác thoát ra khỏi vòng vây, rồi đặt luôn tên khai sinh cho thằng bé là Vượt Thác. Vượt Thác còn có một tên nữa là thằng Ba Lô do chúng tôi đặt, tuy không dám nói nhưng chúng tôi đều chạnh lòng lo, anh Sông Ba đã đặt cho con một cái tên rất gở. Thác theo tiếng Hán còn có nghĩa là chết. Hơn nữa, khi vợ chồng anh Sông Ba được lệnh ra Bắc nhận nhiệm vụ mới, thằng Vượt Thác đã vượt Trường Sơn trong cái ba lô của cha nó. Anh Sông Ba khoét hai bên hông ba lô hai cái lỗ tròn cho thằng bé bốn tháng tuổi, thò chân qua, rồi cứ thế ngày nối ngày tháng tiếp tháng theo giao liên “hành quân” ra hậu phương.

Thế mà không hiểu ông trời tai quái làm sao, nỡ đẩy vợ chồng anh Sông Ba đến chỗ phải chia lìa. Anh Sông Ba nhường căn hộ tập thể cho vợ, cha con đưa nhau vào ở trong doanh trại.

Tiếng là doanh trại quân đội, nhưng toàn lính viết văn làm báo nên chả khác cơ quan dân sự là mấy. Hết giờ làm việc ai nấy đạp xe về nhà, trên tầng hơn hai chục căn phòng dài hun hút còn lại mỗi mình tôi, dưới tầng một cha con anh Sông Ba “chấn” đầu phía Nam, đầu phía Bắc là phòng của cậu Hội. Lúc nào muốn bốn nhân mạng lớn bé chúng tôi quây quần lại ăn uống, vui chơi, nô nghịch như trong một gia đình.

Anh cả của cái gia đình bấp bênh này đương nhiên phải là anh Sông Ba. Anh lớn tuổi nhất trong bọn. Người anh cao to, da đen nhẻm, dáng đi dáng ngồi đều bạo tợn nặng nề, tiếng nói ồm ồm lệnh vỡ, tính nết lúc hiền thì thủ thỉ dịu dàng, mà hễ thất trực là đùng đùng giận dữ quát hét như ông Trương Phi thời Tam Quốc chiến bên Tàu.

Quả là anh Sông Ba hùng hơn hẳn chúng tôi. Nếu ai trên thế gian có những người “coi trời bằng vung”, một trong những người đó phải là anh.

Hồi đó chúng tôi đi chiến trường ai cũng phải làm đủ mấy “công đoạn”, nào đeo gạch tập hành quân, nào lấy quyết định đi chiến trường, nào chuyển sinh hoạt, chuyển lương, làm chính sách hậu phương, thành lập đoàn hành quân... Với Sông Ba việc đó nhẹ như lông hồng. Tới khuya hai anh em còn nằm dài trên sàn nhà uống rượu, dốc ngược bi đông, Sông Ba tợp một ngụm, quăng cái chén đánh xoảng vào góc nhà, thở khì và bảo: “Thôi ngủ, sáng mai đi chiến trường”.

- Ai đi?

- Tao.

- Anh đi chiến trường nào?

- Xì... Đồ trẻ nít. Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Nguyên, Miền Đông, Sài Gòn, U Minh, Năm Căn... Thiếu mẹ gì nơi đáng “oánh” nhau. Còn phải hỏi!

Thế là sáng hôm sau anh Sông Ba ra đi, không hiểu mớ thủ tục kia anh làm tới đâu, chỉ thấy anh cõng cái ba lô cóc xẹp trên lưng, khẩu súng lục đeo sề sệ trước bẹn, với cái mũ tai bèo bạc phếch vẫy xích lô ra ga Hàng Cỏ rồi đón xe quân sự đi nhờ vào phía Nam.

Xe vào quân khu 4, tới Vinh anh nhảy xuống, vẫy xe khác đi tiếp vào Thạch Hà, vào Đồng Hới, Vĩnh Linh, rồi tự vượt sông Bến Hải, gặp đơn vị nào bám theo đơn vị ấy. Chưa quen rồi phải quen. Chưa thân rồi phải thân. Cùng ra trận với nhau chẳng ai bỏ ai chết đói. Cứ thế anh vượt Trường Sơn ròng rã. Mấy tháng sau đơn vị mới nhận được thư anh gửi ra, nói là anh đang trụ ở mặt trận B5 - tức chiến trường Tây Nguyên.

Ấy chính là cái lần anh Sông Ba gặp chị Hồng, rồi cưới chị Hồng, để sáu bảy năm sau trở ra “đi một về ba”, với từng chồng bản ghi chép, từng chồng bản thảo truyện ngắn, truyện dài. Rồi con số ba vỡ ra thành con số một và con số hai. Anh có đau xót hay không mà bề ngoài vẫn nghêu ngao với tấm thân không vợ một con và không cửa, không nhà. Con người như thế ai mà chịu được. Nhưng mặc. Ai thương anh, anh thương lại. Ai ghét anh, anh bỏ qua. Lúc thì như cục đất củ khoai, lúc như thùng thuốc nổ và xin thú thật tôi thèm có được cái tính hồn nhiên đến ngang tàng “hảo hớn” của anh. Nhưng tôi là đứa hèn. Hèn, không với tới được nên lúc sợ lúc ghét. Mà sợ trộn lẫn ghét lại hóa ra một thứ tình. Tình gì nhỉ? Chả biết. Chỉ biết những ngày đầu rời khỏi quân đội tôi thường nhớ đến anh. Nhớ anh, hay nhớ thằng cu Vượt Thác - Ba Lô, tôi cũng không rõ nữa. Ngày nào không được vuốt cái gáy tóc mềm như tơ của thằng Vượt Thác - Ba Lô, không được cù vào bụng vào nách nó, không được hôn vào chim nó để cười quên trời, quên đất ngày ấy tôi cứ có cảm giác trông giống nơi hai bàn tay, như ngỡ mình bỏ quên vật gì ở đâu mà lại không rõ là bỏ quên vật gì?

Thế mà thằng Vượt Thác chết!

Được tin ấy, tôi vứt tung cả sổ sách giấy má giữa cuộc họp để chạy về đơn vị cũ. Tầng trên, tầng dưới vắng tanh. Mọi người đang cùng anh Sông Ba đưa thằng Vượt Thác xuống nghĩa trang. Người còn lại ở doanh trại duy nhất là ông Mạnh gác cổng. Ông Mạnh nói với tôi vắn tắt như một lời thông báo: Thằng Vượt Thác chết vì bệnh máu trắng. Nó ủ bệnh lâu lắm rồi nhưng không ai biết.

Bệnh máu trắng? Tôi xây xẩm mặt mày... Những buổi sáng ở rừng mặt trời chưa kịp mọc, cây lá còn ướt đẫm sương đêm. Tiếng ì ì của loại máy C130 vọng tới. Nhìn ra cửa hầm đã thấy trời đục ngầu màn bụi của chất độc hóa học. Chúng tôi ai nấy vội vàng cầm dao quắm, cầm xẻng, ai không sẵn có dao quắm và xẻng thì rút dao găm hoặc vác gộc cây, vác đá tảng, chạy lên nương sắn đang mẩy củ, tay cầm khăn mặt nhúng nước bịt mũi bịt miệng, tay cầm dao cầm xẻng, cầm cây cầm đá, dùng cả báng súng, hối hả chặt, phạt, đập gẫy ngang thân những cây sắn để chất độc hóa học không kịp theo “mạch máu” của cây ngấm xuống củ.

Cả nương sắn tốt ngờm ngợp chốc lát gẫy đổ tơi bời, quay lắc. Bấy giờ mới ngừng tay đứng thở và lo cho cái thân của mình. Phủi tóc, cởi áo ra giũ, nhảy xuống suối tắm gội. Chẳng qua mình làm phép với mình cho nó yên con mắt, chứ ai biết thuốc độc Mỹ đã chui vào tận gan tận phổi mình ra sao. Đến như cái cây sắn bị chặt ngang thân rồi mà vẫn không kịp ngăn dòng nhựa chất độc thấm xuống thì cái khăn mặt bịt mũi bịt miệng nào có ý nghĩa gì. Thôi mặc thế rồi lại cười, lại tếu, lại họp hành tranh cãi, sá gì cái vị nhần nhận đắng trong từng miếng sắn luộc kia...

Anh Sông Ba, vợ anh Sông Ba, cả đến thằng Vượt Thác, cả tôi và tất cả chúng tôi một thế hệ xông pha đều đã trải qua những lớp “sương mù” giết người. Thấy mình vẫn còn sống là cho rằng mọi thứ đã qua. Để đến buổi sáng thằng cháu Vượt Thác im lìm xuống nghĩa trang Văn Điển làm tôi giật mình, tim nhói buốt, giá như tôi có thể treo cổ cái thằng cha tổng thống của nước Mỹ dạo đó lên!

Bác Mạnh gác cổng phân bua như nhận lỗi.

- Sáng nay tôi có gọi điện sang cơ quan cậu, họ bảo cậu đi họp vắng. Thành thử...

Cơn bực bất thần sốc lên trong lòng. Tôi giận sự vô tâm của những người ở đơn vị cũ, giận lây sang cả bác Mạnh vì trước một nỗi đau như thế mà chả ai cho tôi biết. Tôi cau mặt cắt ngang lời ông.

- Bác gọi cho tôi để làm gì? Con người bây giờ thật bạc bẽo. Họ chỉ biết lo cho họ chứ họ còn nghĩ được đến ai khác!

- Ấy ấy - Bác Mạnh hủi tay của tôi thấy gương mặt bác lúc đó dúm dó lại, trông rất thương - Cậu chớ nói thế. Oan cho mọi người. Trưa hôm qua thằng Vượt Thác còn nhoăn nhoắt leo trèo lên cây hoa đại này. Tôi quát vào nhà kẻo nắng lại ốm ra đấy làm khổ bố mày. Nó vào được một lúc đã thấy cậu Sông Ba chạy ra gọi xe cấp cứu. Hỏi vì sao, Sông Ba bảo không sao, thằng bé chỉ ngã không dậy được thôi. Thế mà lúc 3 giờ chiều nó đã chết ở bệnh viện rồi. Mọi sự cứ rối tinh, rối mù cả lên...

Bác Mạnh còn nói thêm những gì, tôi không nghe hết và chính tôi cũng không hiểu do chân tôi bước hay do phép màu nào đã đun đẩy, đã ném tôi về đứng trước tấm cánh cửa căn gác xép ở cơ quan mới của tôi. Tôi xoay trần (cái áo sơ mi lính vứt vào góc nhà), nằm vật xuống nền xi măng nghe dưới lưng lành lạnh còn trên ngực lại hầm hập hơn lửa trời từ lớp mái tôn thấp tè dội xuống. Đầu óc tôi tan hoang nghĩ về kiếp người. Hóa ra... Hóa ra... Thằng Trùng Khánh, thằng Lê Trạm chết ở căn hầm đào giữa vườn cây thốt nốt, cả hai đứa đều trút hơi thở cuối cùng trên tay mình. Thằng Tử Mặc phóng viên báo “Đường chín Khe Sanh” cũng trút hơi thở cuối cùng trên tay mình, trước khi nhắm mắt nó còn bảo “Anh hãy nhận em là em của anh đi. Em thèm có một người anh trai lắm...”. Rồi cô bé Út Hoa y tá, rồi anh Bảy Dội, anh Tư Cục ở rừng U Minh. Rồi mẹ con cô thư ký đánh máy Mỹ Dung, anh Ba Thoại, anh Hiểu, anh Bính, rồi... rồi... Cuộc đời mình đã nhìn thấy cái chết biết bao lần, tự tay mình đã vuốt mắt cho biết bao người. Nhưng con người vẫn không thể làm quen được với cái chết, nhất là với cái chết của thằng cún con, thằng chuột nhắt, thằng chó nhắt lợn nhắt kia...

Hình như tôi đã ngủ. Giấc ngủ chỉ sập xuống trong vài giây. Nhưng rõ ràng là nắng cuối chiều đã nhạt vàng trên mái ngói. Tôi cảm thấy như mình có lỗi với nỗi đau mất mát của anh Sông Ba nên vội chạy về đơn vị cũ để chia buồn với anh.

Tôi chạy sang tới nơi lúc ngọn đèn bảo vệ trước vọng gác đã sáng. Cả tòa nhà chỉ còn lại một nơi đang ồn ào náo nhiệt là căn phòng của cậu Hội lái xe. Cái quạt trần mở hết cỡ quay ào ào như nổi bão. Dưới nền gạch lom nhom gần chục người tranh nhau nói cười la hét, người cởi trần, người mặc áo, người nửa ngồi nửa nằm, có người nằm thẳng cẳng tay vắt trán như đang ngủ và ba bốn cái bi đông lính vứt ngả nghiêng cùng bát đũa, ly cốc quanh tờ báo trải rộng ở giữa đặt mâm lòng lợn luộc đầy như cái nón úp. Mùi rượu xộc ra tận cửa.

Tôi ngớ người. Cái gì đây? Thế nào đây? Cái chết của thằng Vượt Thác là chuyện có thật hay chỉ là do đầu óc hoảng loạn của mình vừa bị cuốn vào con ác mộng? Tôi vừa thụt chân lại, định quay ra thì nghe tiếng anh Sông Ba nói như quát:

- Nè nè cái thằng kia. Quay lại. Nhào dô!

Một anh bạn nhà thơ chạy ra ôm chặt vai tôi, phả sang tôi một thứ mùi ngột ngạt của mồ hôi khô trên áo, mùi rượu nặng và cái thứ mùi gì nữa đang toát ra từ đôi gò má ướt láng nước mắt của anh.

- Vào đi! - Anh nhà thơ nói nhỏ, thở khụt khịt - Sông Ba nó đang đau lòng. Chạy trốn nỗi đau đấy. Đừng về mà nó giận. Vào đi, vào đi...

Về sau anh nhà thơ này mới thuật lại cho tôi biết, sau khi đắp điếm cho thằng bé Vượt Thác dưới nghĩa trang xong, trên đường về thấy có người bày nguyên một cỗ lòng lợn còn bốc hơi bán ở bên đường. Sông Ba bắt cậu Hội dừng xe xuống mua tất. Nhiều người định gàn, nhưng thấy nét mặt lầm lì dễ sợ của anh Sông Ba không ai dám hé miệng ra nói. Lúc xe tiếp tục đi, anh Sông Ba đã “ra lệnh” cho mọi người “Sống với chết là cái con khỉ gì. Không thằng nào được buồn. Buồn, tao bắn”.

Ấy là chuyện mấy ngày sau tôi mới biết. Còn ngay lúc đó, vừa quay vào đám nhậu tôi đã phải chứng kiến một cảnh rất ngộ nghĩnh nực cười. Cậu Hội tự nhiên la to:

- Làng nước ơi. Con lợn này không có gan!

Một người nhấm nháy chỉ tay vào sau lưng anh Sông Ba. Mấy người đồng thanh đòi “Khám người anh Sông Ba!”. Anh Sông Ba tuồn lẹ buồng gan lợn cho người ngồi bên cạnh rồi xòe cá hai bàn tay dính mỡ nhếnh nháng ra trước mặt:

- Đâu? Đâu?

Lại đồng thanh rồ lên:

- Nó tuồn sang thằng Thạo rồi. Khám người thằng Thạo!

Thạo lại tuồn buồng gan trở lại cho anh Sông Ba, rồi lại xòe hai bàn tay ra “Đâu? Đâu?”. “Vui” nổ trời, lúc lâu buồng gan lợn mới được ném vào mâm. Anh Sông Ba không hiểu lấy con dao găm ở đâu, đếm đầu người, cắt chia cho mỗi người một miếng.

- Hết ghen tị chưa? Tụi tham ăn!

Có người nào đó nói:

- Tiện dao thì thái nốt mớ lòng ấy ra. Chứ ai lại để dây cà dây muống lòng thòng thế.

- Hứ! - Anh Sông Ba phản đối - ăn uống không nhồm nhoàm còn gì ngon. Cha nội? Nếu muốn cảnh giả sang trọng thì cút xéo!

Và để làm mẫu cho mọi người, anh vỡ một khúc lòng dài như con rắn, cầm hai đầu lôi căng, ngoạm một miếng vào giữa cho khúc lòng đánh phụt làm mấy người sợ bị nước mỡ bắn vào quần áo vội dạt ra, cười khanh khách.

Dù biết mọi người chỉ giả vờ vui, dựa vào hơi men để nói nói cười cười cố không cho những khoảng lặng len vào, nhưng tôi vẫn không thể bắt chước họ. Không muốn uống rượu, không muốn góp chuyện, không muốn cười, không muốn nói. Lúc sau tôi lặng lẽ đứng dậy ra về mặc cho anh Sông Ba quát “Thằng đảo ngũ. Đứng lại”.

Trời đột ngột nổi cơn dông. Chớp sáng lòe trên ngọn cây sấu, cây xà cừ.

Dưới quầng sáng đỏ lan tỏa ra từ cái bóng điện trước trạm gác, tôi thấy một bóng người như mớ giẻ đen đang gục rũ xuống dưới gốc cây hoa đại. Cái đống giẻ đen cứ rung lên bần bật. Không cần hỏi tôi cũng biết con người đang ngầm ngột nức nở kia là chị Hồng, vợ anh Sông Ba.

Tôi đứng lại một lát, muốn tìm lời an ủi chị Hồng. Nhưng biết an ủi chị thế nào đây? Bàn tay tôi vừa khẽ chạm vào vai áo của chị, chị đã giật mình ngã xoài ra, hai tay ôm ghì lấy gốc cây đại, như sợ bị sức mạnh nào lôi bật ra khỏi đó. Tôi vừa thì thầm “Chị Hồng ơi. Em đây...” vừa vực cho chị ngồi dậy. Người chị đang trong cơn rung giật không thể ngừng. Tôi chỉ nghe những âm thanh hần hật hừ hự ú ớ từ trong ngực chị phát ra. Hình như chị đang mê sảng gọi thằng Vượt Thác - Chị vẫn gọi nó là thằng Út, tôi biết.

Tới lúc tôi bảo “Em dìu chị vào nhà nhé?” thì chị chợt tỉnh hẳn. Chị lắc đầu, hai tay khuơ khuơ, đôi mắt vừa lấy lại thần sắc nhìn xoáy vào mặt tôi.

- Vào đâu? Chú nói vào đâu?

- Em đưa chị vào nhà. Anh Sông Ba và mọi người đang ở trong đó.

Đôi mắt lạ lùng của chị Hồng còn xoáy vào mắt tôi một lúc thật lâu nữa, rồi không nói không rằng, chị nghiêng vai cúi người như phải len lách qua tôi để bước thẳng ra đường. Tôi không dám giữ chị lại. Chính tôi cũng đang nhoi nhói trong lòng vì những tiếng cười say từ phòng cậu Hội vọng ra tận đây.

Đầu óc tôi trống rỗng, nhưng là trống rỗng một cách gắng gượng, gò ép. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời tôi phát chán cái tính ủy mị đa cảm của mình. Đa cảm nên coi là một loại nan y. Kẻ mắc bệnh này suốt đời chỉ thom thóm lo mình phạm phải điều “không phải”, chỉ tẩn mẩn nhặt dây, nhặt nhợ mà quấn chân mình. Từ nay tôi phải tập cho được cái tính vô cảm, cái tính tàn bạo, phải “ăn cháo lú” để dám chường mặt ra, dám ganh dua, dám vấy bùn, dám sát phạt với đời. Tôi mất ngủ suốt đêm vì lẩm nhẩm nghiền ngẫm một ý nghĩ ấy.

Nhưng hỡi ôi, con cừu dù có khoác da hổ thì cừu vẫn cứ là cừu mà thôi. Không ai thay được bàn tay bí mật, bàn tay quái quỷ của tạo hóa. Chốc chốc tôi lại bổi hổi trong ngực nhớ thằng Vượt Thác - Ba Lô. Chẳng lẽ từ nay, mãi mãi tôi không còn được gặp lại nó nữa ư? Viết suốt đêm, ngày lăn ra ngủ, cứ thấy nhồn nhột dưới gan bàn chân, giãy đạp, cọ xát hai bàn chân vào nhau, nhưng nằm im được một lát lại thấy nhí nháy nhột nhột. Tới lúc nghe tiếng trẻ con cười khúc khích, mới biết thủ phạm là đứa nào. Bực điên tiết, định vùng dậy cho nó một bạt tai, nhưng sực ngửi thấy mùi kẹo thơm. Hóa ra “nó” dành cho chú cái kẹo... chú lớn rồi, không còn biết thèm kẹo như trẻ con. Cái kẹo này lại để dành cho cháu. Giấc ngủ không trở lại nữa và cơn bực tức cũng tiêu tan...

Đêm cuối mùa hè đổ một trận mưa rào ngắn. Sau mưa, phố xá nhà cửa oi bức hẩm lên. Sau oi bức là gió thoang thoảng dịu mát, rồi mát, rồi se se lạnh. Tôi lại vực dậy, như lần từng bước trở về tòa nhà doanh trại của đơn vị cũ. Mấy nẻo phố xanh le ánh đèn, không một bóng người. Từ mặt đất đến bầu trời tràn ngập vẻ hoang sơ lạ lẫm, không hiểu có phải cảnh tượng trên hành tinh loài người đang sống hay không.

Lúc tôi vừa lách người qua hai cánh cổng sắt khép hờ, chớm đặt chân đến gốc cây hoa đại, bỗng người tôi rụng rời, có cảm giác cả cái tòa nhà này đang sụp đổ. Thoạt đầu là một tiếng hú rùng rợn bật lên. Tiếng hú của rừng hoang núi thẳm, của hang cùng ngõ tận của trận mạc, của bão táp... ép chặt lại. Sau tiếng hú chuyển thành tiếng gầm rung chuyển như xé tung cả đất cả trời.

Rồi tắt lặng.

Rồi lại đột ngột dội lên. Lần này tôi kịp định thần nhận ra tiếng gầm của ai và phát ra từ đâu. Tôi chạy vội đến nơi đầu mút phía Nam của khu hành lang tầng một. Phòng anh Sông Ba tối đèn. Tôi không gọi, không gõ cửa mà đứng trước cánh cửa đóng kín, nghe cho hết tiếng gầm, khắp người tôi nổi gai ốc.

Liền theo tiếng gầm là tiếng nấc, tiếng nuốt nước mắt ừng ực từ căn phòng tối vọng ra. Rồi tất cả lại im lìm...

30/10/2000

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012 Nguồn pdf: Sưu tầm Chuyển sang text: hoi_ls
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Triệu Bôn

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.