(Lối vào khu phố đèn đỏ ở phố Mabbot, trước mặt trải dài một đoạn đường ray xe điện gồ ghề rải những thanh sắt trơ xương, những ngọn lửa trơi đỏ và xanh cùng các tín hiệu báo nguy. Những dãy nhà nhơ nhớp với cửa ngõ toác hoác. Những ngọn đèn hiếm hoi với chùm quạt cầu vồng mờ ảo. Xung quanh chiếc xe trượt tuyết bán kem đang dừng của Rabaiotti, những người đàn ông và đàn bà lùn tịt đang cãi vã. Họ chộp lấy những miếng bánh xốp kẹp giữa những cục san hô và tuyết đồng. Vừa mút, họ vừa chậm chạp tản ra. Trẻ em. Đầu nhọn hình thiên nga của chiếc xe trượt, vươn cao, rẽ lối xuyên qua lớp sương mù, trắng và xanh dưới một ngọn đèn hải đăng. Còi tàu gọi và đáp.)
TIẾNG GỌI: Đợi đã, tình yêu của em, anh sẽ đến với em đây.
TIẾNG ĐÁP: Vòng ra đằng sau chuồng ngựa.
(Một gã khờ điếc câm với đôi mắt lồi, cái miệng méo mó dãi dề, giật giật lướt qua, quằn quại trong cơn bệnh múa giật St. Vitus. Một vòng tay trẻ em vây kín lấy hắn.)
LŨ TRẺ: Kithogue! Chào cờ!
GÃ KHỜ: (Nâng cánh tay trái bị bại liệt và khò khè.) Grhahute!
LŨ TRẺ: Ánh sáng lớn ở đâu?
GÃ KHỜ: (Ụ à ụ ịch.) Ghaghahest.
(Chúng buông hắn ra. Hắn lại giật giật bước đi. Một người phụ nữ lùn tịt đang đu trên sợi dây vắt ngang qua hai hàng rào, miệng đếm. Một bóng người sải dài dựa vào thùng rác, bị cánh tay và chiếc mũ che khuất, đang ngáy, rên rỉ, nghiến răng kèn kẹt rồi lại ngáy. Trên một bậc thềm, một tên lùn đang bới móc đống rác rưởi khom mình vác một bao tải giẻ rách và xương xẩu. Một bà già đứng cạnh với ngọn đèn dầu nham nhở nhét chai rượu cuối cùng vào miệng bao tải của hắn. Hắn xốc chiến lợi phẩm lên, giật giật chiếc mũ lưỡi trai cho lệch sang một bên rồi lầm lì khập khiễng bước đi. Bà già lúp xúp quay về sào huyệt, chiếc đèn trên tay lúc lắc. Một đứa trẻ chân vòng kiềng, ngồi bệt trên bậc cửa với một con cầu bằng giấy, lủi thủi bò theo mụ, bám lấy vạt áo rồi trèo lên. Một gã thợ thuyền say xỉn dùng cả hai tay bám lấy hàng rào của một khoảnh sân, lảo đảo nặng nề. Ở một góc đường, hai gã tuần đêm mặc áo choàng có cầu vai, tay đặt trên bao dùi cui, sừng sững cao lớn. Một chiếc đĩa vỡ vụn: một người phụ nữ thét lên: một đứa trẻ khóc thét. Tiếng chửi rủa của một kẻ nào đó gầm lên, lầm bầm, rồi dứt. Những bóng người lang thang, ẩn nấp, ngó nghiêng từ các xó xỉnh. Trong căn phòng được thắp sáng bằng cây nến cắm trong cổ chai, một ả đầu bù tóc rối đang gỡ những túm chấy rận ra khỏi mái tóc của một đứa trẻ bị tràng nhạc. Giọng Cissy Caffrey, hãy còn trẻ, cất lên eo éo từ một con hẻm.)
CISSY CAFFREY:
Tôi tặng Molly
Vì nàng vui tính,
Cái đùi con vịt,
Cái đùi con vịt.
(Binh nhì Carr và Binh nhì Compton, gậy chỉ huy kẹp chặt dưới nách, khi họ diễu hành loạng choạng quay ngoắt 140 độ và cùng nhau phóng ra một tràng đánh rắm. Tiếng cười của những người đàn ông vang lên từ ngõ hẻm. Một mụ đàn bà dữ dằn khàn giọng đáp trả.)
MỤ ĐÀN BÀ DỮ DẰN: Đồ đít rậm, quả báo đấy mày. Cố lên cô gái vùng Cavan.
CISSY CAFFREY: Tôi càng thêm may mắn. Cavan, Cootehill và Belturbet. (Ả hát.)
Tôi tặng Nelly
Để nhét vào bụng,
Cái đùi con vịt,
Cái đùi con vịt.
(Binh nhì Carr và Binh nhì Compton quay lại đáp trả, quân phục đỏ rực dưới ánh đèn, những cái hốc đen ngòm của mũ trùm lên chỏm đầu húi cua vàng hoe của họ. Stephen Dedalus và Lynch đi xuyên qua đám đông sát cạnh những gã lính áo đỏ.)
BINH NHÌ COMPTON: (Hất ngón tay.) Tránh đường cho thầy tu.
BINH NHÌ CARR: (Quay lại gọi.) Sao hả thầy tu!
CISSY CAFFREY: (Giọng vút cao hơn.)
Nả nhận được rồi,
Dù nhét chỗ nào,
Cái đùi con vịt.
(Stephen, tay trái khua khua gân trúc, vui sướng tụng khúc ca nhập lễ mùa Phục sinh. Lynch, chiếc mũ lưỡi trai kéo thấp trán, đi theo cậu, vẻ mặt nhăn nhó nụ cười mỉa mai bất mãn.)
STEPHEN: Vidi aquam egredientem de templo a latere dextro. Alleluia.
(Hàm răng nham nhở đói khát của một mụ má mì luống tuổi thò ra từ khung cửa.)
MỤ MÁ MÌ: (Giọng thì thầm khàn đặc.) Xuy! Lại đây ta bảo. Còn trinh nguyên nhé. Xuy!
STEPHEN: (Altius aliquantulum.) Et omnes ad quos pervenit aqua ista.
MỤ MÁ MÌ: (Phụt ra dòng nọc độc theo dấu chân họ.) Bọn sinh viên y khoa Trinity. Ống dẫn trứng. Toàn cu với cặc chả được tích sự gì.
(Edy Boardman, sụt sịt, cúi gằm cùng Bertha Supple, kéo khăn quàng che mũi.)
EDY BOARDMAN: (Cãi cọ.) Rồi nhỏ đó nói: Tao thấy mày ở phố Faithful với cái gã bồ ruột, cái thằng thợ máy ở đường tàu, đội cái mũ trông như chậu rửa mặt. Mày thấy tao á, tao bảo thế. Chuyện đó đâu phải phần mày mà lên tiếng, tao bảo thế. Mày đố thấy tao bén mảng bẫy trai với một tay lính cao nguyên đã có vợ đấy, tao bảo thế. Cái loại nhỏ đó! Đúng là đồ cứng đầu! Cứng đầu như cừa! Mà lại đi lại với hai thằng một lúc, Kilbride lái tàu và hạ sĩ quan Oliphant.
STEPHEN: (Triumphaliter.) Salvi facti sunt.
Cậu khua khua gân trúc, làm vỡ tan hình ảnh ngọn đèn, tung tóe ánh sáng khắp thế gian. Một con chó spaniel lông khoang vàng trắng đang rình mò lủi theo sau, gầm gừ. Lynch đá một cú dọa nó chạy mất dép.
LYNCH: Vậy nghĩa là?
STEPHEN: (Nhìn ra sau.) Vậy nghĩa là cử chỉ ấy, chứ không phải âm nhạc hay mùi hương, sẽ là một ngôn ngữ phổ quát, món quà của các thứ tiếng làm hiển hiện không phải ý nghĩa trần tục mà là bản nguyên thể đầu tiên, nhịp điệu cấu trúc.
LYNCH: Triết lý tình dục pha chút thần học. Siêu hình học ở phố Mecklenburgh!
STEPHEN: Chúng ta có Shakespeare bị vợ đè đầu cưỡi cổ và Socrates sợ vợ. Ngay cả Stagirites thông thái nhất cũng bị một ả giang hồ xỏ mũi, đeo hàm thiết và cưỡi lên lưng.
LYNCH: Xì!
STEPHEN: Dù sao đi nữa, ai cần đến hai cử chỉ để minh họa cho một ổ bánh mì và một vò rượu? Động thái này minh họa cho ổ bánh mì và vò bánh mì hoặc rượu vang trong thơ Omar. Giữ gậy hộ tôi.
LYNCH: Mặc kệ cái gậy vàng của cậu. Chúng ta đang đi đâu thế?
STEPHEN: Linh miêu dâm đãng ạ, ta đến gặp la belle dame sans merci, Georgina Johnson, ad deam qui laetificat iuventutem meam.
(Stephen nhét gậy gân trúc vào tay hắn và từ từ giơ hai tay ra, đầu ngả ra sau cho đến khi cả hai bàn tay cách ngực một gang tay, úp xuống, ở các mặt phẳng giao nhau, các ngón tay chuẩn bị tách ra, tay trái ở vị trí cao hơn.)
LYNCH: Đâu là vò bánh mì? Chẳng ăn thua gì cả. Hoặc là đến sở hải quan. Cậu tự minh họa đi. Nào, cầm lấy cái nạng của cậu mà bước đi.
(Họ bước qua. Tommy Caffrey trèo lên một ngọn đèn gas, hai tay ôm lấy rồi co giật leo lên. Từ bậc trên cùng, cậu trượt xuống. Jacky Caffrey ôm lấy cột để trèo. Gã thợ thuyền lảo đảo va vào cột đèn. Hai cậu bé sinh đôi tót đi trong bóng tối. Gã thợ thuyền, lảo đảo, lấy ngón trỏ ấn vào một bên cánh mũi và phóng từ bên lỗ mũi kia một dòng nhầy nước dài sụt sùi. Vác ngọn đèn trên vai, hắn lảo đảo bước đi giữa đám đông với cây đuốc bùng cháy.
Những con rắn sương mù sông bò chậm rãi. Từ cống rãnh, khe nứt, hố xí, bãi rác, khói mù tù đọng bốc lên từ khắp mọi phía. Một ánh hồng lóe lên ở phía nam, xa hơn những khúc sông hướng ra biển. Gã thợ thuyền lảo đảo bước tới, rẽ đám đông và lách về phía đoạn đường ray. Phía bên kia, dưới chân cầu đường xe điện, Bloom xuất hiện, mặt đỏ bừng, thở hồng hộc, nhét bánh mì và sô-cô-la vào túi áo. Từ ô cửa hàng cắt tóc của Gillen, một bức chân dung ghép cho thấy hắn là hiện thân của vị anh hùng Nelson. Một chiếc gương lõm ở bên cạnh hiện ra trước mắt hắn hình ảnh gã lơ đễnh lâu ngày không gặp Booloohoom. Gladstone nghiêm nghị nhìn thẳng vào hắn, Bloom đối đầu với Bloom. Hắn bước qua, bị thu hút bởi ánh nhìn dữ tợn của Wellington hung hãn, nhưng trong chiếc gương lồi, cặp mắt lợn sữa và đôi má bánh bao của Jollypoldy kẻ ngốc nghếch vẫn nhởn nhơ cười không hề nao núng.
Trước cửa nhà Antonio Rabaiotti, Bloom dừng bước, mồ hôi đầm đìa dưới ánh đèn chói lọi. Hắn biến mất. Chỉ một lát sau, hắn lại xuất hiện và vội vã đi tiếp.)
BLOOM: Cá và khoai tây chiên. Hỏng bét. À!
(Hắn biến mất vào cửa hàng thịt heo Olhausen, dưới tấm cửa cuốn đang hạ xuống. Vài phút sau, hắn chui ra từ dưới cửa cuốn, thở phì phò Poldy, thổi phì phò Bloohoom. Trên mỗi tay hắn cầm một gói hàng, một gói chứa chân giò heo luộc còn ấm, gói kia chứa chân cừu luộc để lạnh, rắc đầy tiêu hột. Hắn thở hổn hển, đứng thẳng người lên. Rồi nghiêng người sang một bên, hắn ấn gói hàng vào mạn sườn và rên rỉ.)
BLOOM: Nhói sườn rồi. Sao mình lại chạy cơ chứ?
(Hắn cẩn thận lấy lại hơi thở rồi chậm rãi tiến về phía đoạn đường ray có dãy đèn. Ánh sáng lại lóe lên.)
BLOOM: Cái gì thế nhỉ? Đèn chớp à? Đèn pha.
(Hắn đứng ở góc phố Cormack, dõi theo.)
BLOOM: Bắc cực quang hay xưởng đúc thép? À, đội cứu hỏa chứ gì. Phía nam rồi. Cháy lớn. Biết đâu nhà hắn ấy chứ. Chỗ bụi rậm Beggar’s bush. Mình an toàn rồi. (Hắn vui vẻ ngân hừ.) Luân Đôn đang cháy, Luân Đôn đang cháy! Cháy rồi, cháy rồi! (Hắn bắt gặp gã thợ thuyền đang lảo đảo đi xuyên qua đám đông ở phía bên kia phố Talbot.) Mình sẽ lỡ mất hắn mất. Chạy thôi. Nhanh lên. Sang đường ở đây thì hơn.
(Hắn lao vọt sang đường. Bọn trẻ con la hét.)
LŨ TRẺ: Tránh ra, ông chú ơi!
(Hai người đi xe đạp, tay cầm đèn lồng giấy thắp sáng đung đưa, lướt ngang qua hắn, sượt qua người hắn, chuông xe kêu lanh canh.)
TIẾNG CHUÔNG: Kinhtongkongtong.
BLOOM: (Đứng sững lại, nhói đau vì một cơn co thắt.) Ôi!
(Hắn nhìn quanh, bất ngờ lao vọt về phía trước. Xuyên qua lớp sương mù đang dâng lên, một chiếc xe rải cát hình rồng, chạy với tốc độ thận trọng, nặng nề trượt về phía hắn, đèn pha đỏ rực nhấp nháy, cần gạt phát ra tiếng xèo xèo trên dây điện. Người lái xe đạp mạnh vào cái chuông chân.)
TIẾNG CHUÔNG: Beng Beng Bla Bak Blud Bugg Bloo.
(Phanh xe kẽo kẹt dữ dội. Bloom giơ bàn tay đeo găng trắng của cảnh sát, lóng ngóng bước cứng đờ ra khỏi đường ray. Người lái xe, chúi người về phía trước, mũi tẹt, đà lao chồm lên bánh lái, gào lên khi lướt qua những sợi xích và chốt khóa.)
NGƯỜI LÁI XE: Này cái thằng thối đít, mày đang làm xiếc đấy phỏng?
(Bloom lảo đảo bước lên lề đường rồi lại dừng lại. Hắn phủi một mẩu bùn trên má bằng bàn tay đang cầm gói đồ.)
BLOOM: Cấm đi qua. Suýt thì toi mạng nhưng lại khỏi được cơn đau xóc hông. Chắc phải tập lại các bài tập của Sandow thôi. Chống tay xuống đất. Phải mua bảo hiểm tai nạn đường phố nữa chứ. Công ty Bảo hiểm Tương tế. (Hắn sờ vào túi quần.) Thuốc tiên của má tội nghiệp. Gót chân dễ vướng vào đường ray hay dây giày vướng vào bánh răng lắm. Cái hôm bánh xe tù chở tội phạm tiện đứt giày tôi ở góc phố Leonard. Quá tam ba bận. Mẹo cày giày. Tên lái xe hỗn xược. Mình phải tố cáo hắn ta mới được. Áp lực làm chúng căng thẳng ấy mà. Hay là cái tên gã đã ngáng chân mình sáng nay với người đàn bà cưỡi ngựa kia nhỉ. Cùng một kiểu nhan sắc. Dù sao thì hắn cũng nhanh trí đấy chứ. Dáng đi cứng nhắc. Nói đùa mà ra ý thật. Cơn chuột rút khủng khiếp ở phố Lad. Ăn phải thứ gì độc hại rồi. Biểu tượng của sự may mắn. Tại sao nhỉ? Chắc là mất gia súc rồi. Dấu hiệu của con quái vật. (Hắn nhắm mắt lại một giây.) Hơi choáng váng đầu óc. Đến tháng hay ảnh hưởng của cái khác đây. Não bộ mụ mị mệt mỏi. Cảm giác mệt mỏi đó. Quá sức tôi lúc này rồi. Ôi!
(Một bóng người gớm ghiếc tì đôi chân tết chặt vào bức tường của O’Beirne, gương mặt lạ hoắc, nhuốm thủy ngân đen. Từ dưới chiếc mũ rộng vành và sombrero, bóng người ấy nhìn hắn bằng con mắt tà ác.)
BLOOM: Buenas noches, señorita Blanca, que calle es esta?
BÓNG NGƯỜI: (Thờ ơ, giơ cánh tay ra hiệu.) Mật khẩu. Sraid Mabbot.
BLOOM: Haha. Merci. Tiếng Esperanto. Slan leath. (Hắn lẩm bẩm.) Gián điệp Liên đoàn Gaelic, do tên hiếu chiến kia phái đến.
(Hắn bước tới trước. Một gã nhặt ve chai vai đeo bao tải chặn đường hắn. Hắn bước sang trái, gã nhặt giẻ rách bước sang trái.)
BLOOM: Xin lỗi.
(Hắn nhảy sang phải, gã nhặt giẻ nhảy sang phải.)
BLOOM: Xin lỗi.
(Hắn lách người, đi lùi, bước tránh sang một bên, lướt qua và đi tiếp.)
BLOOM: Đi bên phải, phải, phải. Nếu có biển chỉ dẫn do Câu lạc bộ Du lịch cắm ở Stepaside thì ai là kẻ mang lại ân huệ công cộng đó nhỉ? Chính là tôi, kẻ đã lạc đường và gửi bài tới chuyên mục của tờ Người đi xe đạp Ailen với tiêu đề Ở nơi Stepaside tối tăm nhất. Cứ đi, đi, đi bên phải. Giẻ rách và xương xẩu lúc nửa đêm. Hàng rào thì đúng hơn. Nơi đầu tiên kẻ giết người chạy đến. Để gột rửa tội lỗi của thế gian.
(Jacky Caffrey, bị Tommy Caffrey đuổi theo, lao thẳng vào người Bloom.)
BLOOM: Ồ.
(Bị va chạm, trên đôi chân khuỵu xuống, hắn khựng lại. Tommy và Jacky biến mất ở đằng kia, đằng kia. Bloom lấy đôi bàn tay đang cầm gói quà vỗ vỗ vào đồng hồ, túi đồng hồ, túi sách, túi tiền, cuốn Ngọt ngào của tội lỗi, xà phòng khoai tây.)
BLOOM: Cẩn thận móc túi. Chiêu trò cũ rích của bọn trộm. Va vào nhau. Rồi giật ví của bạn.
(Con chó săn tiến lại gần hếch mũi ngửi, mũi sát đất. Một bóng người nằm sảng hắt hơi. Một bóng người còng lưng để râu xuất hiện trong bộ ca-ftan dài của một trưởng lão xứ Sion và chiếc mũ phớt có tua rua màu đỏ sậm. Kính gọng sừngòng lơ lửng ở cánh mũi. Những vệt độc màu vàng hằn trên gương mặt hốc hác.)
RUDOLPH: Nửa vương miện thứ hai lãng phí tiền hôm nay. Tao đã bảo mày đừng bao giờ đi với lũ goy say xỉn mà. Nên mày chẳng kiếm được đồng nào.
BLOOM: (Giấu chân giò heo và chân cừu ra sau lưng và, mặt xám xịt, sờ vào đôi bàn chân ấm và lạnh.) Ja, ich weiss, papachi.
RUDOLPH: Mày xuống cái xó này làm gì? Mày không có linh hồn à? (Bằng những móng vuốt kèn kẹt yếu ớt, hắn sờ mó khuôn mặt im lìm của Bloom.) Mày không phải con trai ta Leopold, cháu nội của Leopold sao? Mày không phải là đứa con trai yêu quý Leopold của ta, kẻ đã rời bỏ ngôi nhà của cha mình và bỏ rơi vị thần của cha ông mình Abraham và Jacob sao?
BLOOM: (Thận trọng.) Con nghĩ vậy, thưa cha. Mosenthal. Tất cả những gì còn lại của ông ấy.
RUDOLPH: (Nghiêm khắc.) Có đêm chúng mang mày về nhà say khướt như chó sau khi tiêu sạch tiền của tốt đẹp của mày. Mày gọi bọn chạy nhảy đó là gì nhỉ?
BLOOM: (Trong bộ đồ vest Oxford xanh lịch sự thời trẻ với áo lót trắng, vai hẹp, đội mũ Alpine nâu, đeo đồng hồ quả quýt bạc thật của quý ông kiểu Waterbury không cần lên dây cót và dây xích đôi Albert gắn con dấu, một bên người phủ đầy bùn khô.) Đội săn thỏ, thưa cha. Chỉ có lần đó thôi.
RUDOLPH: Một lần! Bùn từ đầu đến chân. Cắt rách cả tay. Uốn ván đấy. Chúng làm mày tiêu đời đấy, Leopoldleben. Mày cẩn thận lũ đó.
BLOOM: (Yếu ớt.) Chúng thách con chạy nước rút. Trời bùn lắm. Con bị trượt chân.
RUDOLPH: (Đầy khinh bỉ.) Goim nachez! Cảnh tượng đẹp đẽ cho người mẹ tội nghiệp của mày!
BLOOM: Má ơi!
ELLEN BLOOM: (Đội mũ ren chũm chọe của nhân vật kịch câm mụ quản gia, mặc váy phồng crinoline và đệm mông của góa phụ Twankey, áo blouse tay phồng cài cúc đằng sau, găng tay xám và trâm cài cameo, mái tóc tết trong lưới mọc lên trên tay vịn cầu thang, tay cầm ngọn nến nghiêng và cất tiếng kêu đầy hoảng hốt.) Ơi Chúa cứu thế hồng phúc, chúng đã làm gì nó thế này! Muối ngửi của tôi đâu! (Mụ xốc vạt váy lên và lục lọi chiếc túi của chiếc váy lót màu xanh sẫm sọc. Một chiếc lọ nhỏ, một huy hiệu Agunn Dei, một củ khoai tây teo tóp và một con búp bê bằng celluloid rơi ra.) Trái tim cực thánh của Maria, rốt cuộc mày đã ở xó nào cơ chứ?
(Bloom, lẩm bẩm, mắt cúi gằm, bắt đầu nhét các gói đồ vào những chiếc túi đã đầy của mình nhưng rồi dừng lại, lẩm bẩm.)
MỘT GIỌNG NÓI: (Gay gắt.) Poldy!
BLOOM: Ai đấy? (Hắn cúi người xuống và lóng ngóng đỡ lấy một cú đấm.) Xin sẵn sàng phục vụ.
(Hắn ngước lên. Bên cạnh ảo ảnh những cây chà là, một người phụ nữ xinh đẹp trong trang phục Thổ Nhĩ Kỳ đứng trước mặt hắn. Những đường cong đầy đặn lấp đầy chiếc quần dài màu đỏ sọc vàng và chiếc áo khoác thêu chỉ vàng. Một chiếc khăn quấn bụng màu vàng rộng thắt quanh eo. Một chiếc khăn che mặt yashmak màu tím trong đêm che khuất khuôn mặt mụ, chỉ để lộ đôi mắt lớn sẫm màu và mái tóc đen nhánh.)
BLOOM: Molly!
MARION: Welly? Từ nay hãy gọi tôi là bà Marion, người anh em quý hóa ạ. (Giọng châm biếm.) Anh chồng tội nghiệp có bị lạnh chân khi phải chờ đợi lâu quá không?
BLOOM: (Nhón chân bên nọ chân bên kia.) Không, không. Chẳng lạnh chút nào đâu.
(Hắn thở dốc đầy xúc động, nuốt từng ngụm không khí, những câu hỏi, hy vọng, chân giò cho bữa tối của nàng, những điều muốn kể, sự biện hộ, khao khát, say đắm. Một đồng tiền lấp lánh trên trán nàng. Trên chân nàng mang nhẫn ngón chân nạm ngọc. Cổ chân nàng được nối với nhau bằng một sợi xích xiềng mảnh mai. Bên cạnh nàng là một con lạc đà, đầu trùm chiếc khăn xếp nhô cao, đang chờ đợi. Một cái thang lụa với vô số bậc trèo lên chiếc bành tô lủng lẳng của nó. Nó thong thả bước lại gần với cái mông quạu quọ. Nàng hung dữ tát vào hông nó, những chiếc vòng tay bằng vàng khua lủng lẳng giận dữ, mắng mỏ nó bằng tiếng Moor.)
MARION: Nebrakada! Femininum!
(Con lạc đà, nhấc một chân trước, ngắt từ trên cây một quả xoài lớn, chớp mắt dâng lên cho nữ chủ nhân bằng cái móng chẻ đôi, rồi cúi đầu, vừa khò khè vừa ngẩng cao cổ, lóng ngóng quỳ xuống. Bloom khom lưng làm ngựa nhún.)
BLOOM: Anh có thể cho em... ý anh là với tư cách quản lý kinh doanh của em... thưa bà Marion... nếu em...
MARION: Thế anh nhận ra có sự thay đổi nào à? (Hai bàn tay chậm rãi lướt qua chiếc yếm nạm ngọc, đôi mắt ánh lên vẻ chế nhạo thân thiện chậm rãi.) Ôi Poldy, Poldy, anh đúng là một gã đần già cỗi đáng thương! Hãy đi mà ngắm nhìn cuộc đời. Ngắm nhìn thế giới rộng lớn kia kìa.
BLOOM: Anh đang định quay lại lấy lọ thuốc nước da sáp trắng, nước hoa cam thôi. Cửa hàng đóng cửa sớm vào thứ Năm. Nhưng sáng mai là việc đầu tiên. (Hắn vỗ vỗ vào mấy cái túi.) Quả thận chuyển động này. À!
(Hắn chỉ về phía nam, rồi về phía đông. Một cục xà phòng chanh sạch mới tinh hiện lên, tỏa ra ánh sáng và hương thơm.)
XÀ PHÒNG:
Chúng tôi là một cặp đôi tuyệt vời là Bloom và tôi.
Anh ấy làm sáng trái đất. Tôi đánh bóng bầu trời.
(Khuôn mặt tàn nhang của Sweny, người bán dược phẩm, hiện lên trong đĩa mặt trời xà phòng.)
SWENY: Ba shilling một penny, xin vui lòng.
BLOOM: Vâng. Cho vợ tôi. Bà Marion. Công thức đặc biệt.
MARION: (Nhẹ nhàng.) Poldy!
BLOOM: Vâng, thưa bà?
MARION: Ti trema un poco il cuore?
(Với vẻ khinh khải, nàng thong thả bước đi, tròn trịa như một con bồ câu kiêu kỳ được cưng chiều, ngân nga khúc duet trong vở Don Giovanni.)
BLOOM: Em có chắc về cái khúc Voglio đó không? Ý anh là cách phát...?
(Hắn bước theo sau, bị theo đuôi bởi con chó sục đang ngửi hít. Mụ má mì luống tuổi chộp lấy tay áo hắn, những chiếc lông cứng trên nốt ruồi ở cằm lấp lánh.)
MỤ MÁ MÌ: Mười shilling một trinh nữ. Hàng tươi chưa ai chạm tới. Mười lăm. Chẳng có ai ở trong đó ngoài ông bố già say khướt của nó thôi.
(Mụ chỉ tay. Trong khe cửa của căn lều tối tăm, lén lút, ướt sũng vì mưa, Bridie Kelly đang đứng.)
BRIDIE: Phố Hatch. Có ý định gì không?
(Với một tiếng éc, ả phất chiếc khăn choàng hình cánh dơi rồi chạy biến. Một gã thợ thuyền lực lưỡng rảo bước đuổi theo. Hắn vấp ngã trên bậc thềm, gượng đứng dậy, lao vào bóng tối. Tiếng cười khúc khích yếu ớt vang lên, càng lúc càng yếu ớt.)
MỤ MÁ MÌ: (Đôi mắt sói sáng lên.) Hắn đang hưởng lạc đấy. Mấy chú không kiếm đâu ra một cô trinh nữ ở mấy cái động đĩ điếm này đâu. Mười shilling. Đừng có đứng đây lê la trước khi cảnh sát mặc thường phục tóm được chúng ta. Số sáu mươi bảy đúng là một con khốn.
(Vừa cười nham nhở, Gerty Macdowell vừa khập khiễng bước tới. Ả từ đằng sau kéo ra, đưa mắt đưa tình, và ngượng ngùng chìa ra chiếc khăn dính đầy máu của mình.)
GERTY: Với tất cả tài sản thế gian này, em xin trao gửi anh. (Ả lẩm bẩm.) Chính anh đã làm thế đấy. Em ghét anh.
BLOOM: Tôi á? Khi nào? Cô đang mơ mộng à. Tôi chưa bao giờ gặp cô.
MỤ MÁ MÌ: Tránh xa người ta ra, cái đồ lừa đảo này. Viết thư giả mạo cho người ta. Đi khách lang thang và chèo kéo. Tốt hơn là mẹ mày lấy roi thắt lưng quất cho mày một trận ở cột giường, cái đồ đĩ bợm như mày.
GERTY: (Với Bloom.) Khi anh thấy hết mọi bí mật trong ngăn kéo dưới cùng của em. (Ả vuốt ve tay áo hắn, dãi dề.) Đồ đàn ông có vợ hư hỏng! Em yêu anh vì đã làm thế với em.
(Ả lủi đi xiêu vẹo. Bà Breen trong chiếc áo khoác dày của nam giới có túi phùng phình, đứng giữa đường, đôi mắt tinh ranh mở trảo, cười toe toét với toàn bộ hàm răng bàn chải ăn cỏ của mình.)
BÀ BREEN: Anh...
BLOOM: (Húng hắng ho vẻ nghiêm trang.) Thưa phu nhân, lần cuối cùng chúng ta có được vinh hạnh này qua bức thư đề ngày mười sáu tháng này...
BÀ BREEN: Anh Bloom! Anh lại mò xuống tận chốn tội lỗi này ư! Tôi bắt quả tang anh rồi nhé! Đồ quỷ sứ!
BLOOM: (Vội vã.) Nhỏ tiếng thôi. Dù nghĩ về tôi thế nào đi nữa? Đừng bán đứng tôi chứ. Tai vách mạch rừng. Khỏe không? Lâu lắm rồi tôi không gặp. Trông cô rạng rỡ quá. Tuyệt cú mèo luôn. Thời tiết hợp mùa ghê cơ dạo này trong năm. Đồ đen hấp thụ nhiệt. Đường tắt về nhà qua đây. Khu phố thú vị. Cứu vớt những phụ nữ lầm đường lạc lối. Trại tế sinh Magdalen. Tôi là thư ký...
BÀ BREEN: (Giơ một ngón tay lên.) Nào, đừng có bốc phét nữa! Tôi biết có người sẽ không thích điều đó đâu. Ơ chờ đấy tôi gặp Molly nhé! (Tinh ranh.) Khai mau ngay lập tức không thì có mà họa đấy!
BLOOM: (Nhìn ra sau.) Cô ấy hay bảo thích đi thăm thú lắm. Xem cảnh nghèo khổ ấy mà. Thích sự lạ mắt mà. Cả lính hầu da đen mặc đồng phục nữa nếu có tiền. Othello con quái vật da đen. Eugene Stratton. Kể cả người gõ xương và diễn viên góc sân khấu trong buổi biểu diễn ca nhạc của Livermore. Anh em nhà Bohee. Cả thợ quét dọn nữa chứ.
(Tom và Sam Bohee, những anh chàng da màu trong bộ đồ vải trắng, tất đỏ, cổ áo cao cứng đờ và những bông cúc đỏ lớn cài nguyệt áo, nhảy chồm lên. Mỗi người đeo một cây đàn banjo. Những ngón tay da đen nhỏ hơn, nhạt màu hơn của họ khua khua gảy những sợi dây tưng tưng. Nhấp nháy đôi mắt Kaffir trắng và những chiếc răng nanh, họ nhảy múa một bài breakdown bằng đôi ủng cồng kềnh, gảy đàn, ca hát, quay lưng vào nhau, mũi chân gót chân, gót chân mũi, với đôi môi da đen vỗ đốp chát chúa.)
TOM VÀ SAM:
Có ai trong nhà cùng Dina
Có ai trong nhà, tôi biết mà,
Có ai trong nhà cùng Dina
Đang gảy cây đàn banjo già.
(Họ giật phăng chiếc mặt nạ đen ra khỏi khuôn mặt non choẹt: rồi vừa khúc khích, cười tủm tỉm, khua khoắng, gảy đàn, họ nhảy điệu nhảy cakewalk tưng tưng bỏ đi.)
BLOOM: (Với nụ cười chua chát mơn trớn.) Làm một chút trò hề nhé, nếu cô có nhã ý? Cô có muốn tôi ôm cô lấy một thoáng giây thôi không?
BÀ BREEN: (Cười ré lên vui vẻ.) Ồ, cái đồ khốn này! Anh nên tự ngắm lại mình đi!
BLOOM: Vì tình nghĩa xưa. Tôi chỉ định một nhóm bạn thân thiết, sự hòa quyện của những chuyện gia đình nhỏ nhặt khác nhau của chúng ta. Cô biết tôi vẫn dành một góc mềm yếu cho cô mà. (Buồn bã.) Chính tôi đã gửi cho cô tấm bức thiệp tình nhân hình con cừu non đáng yêu đó.
BÀ BREEN: Lạy Chúa Alice, trông anh đúng là một thảm họa thánh thần! Cười chết mất thôi. (Ả chìa tay ra tò mò.) Anh giấu cái gì sau lưng thế? Nói cho chúng tôi nghe xem nào, ngoan đi.
BLOOM: (Túm lấy cổ tay ả bằng bàn tay rảnh rỗi.) Josie Powell ngày trước, cô nàng đắt giá nhất ở Dublin. Thời gian trôi nhanh thật đấy! Cô còn nhớ không, ngược dòng thời gian về quá khứ, đêm Giáng sinh xưa, tiệc mừng tân gia nhà Georgina Simpson khi họ đang chơi trò Irving Bishop, bị bịt mắt tìm cây kim và đọc suy nghĩ? Chủ đề là, cái gì nằm trong hộp thuốc hít này?
BÀ BREEN: Anh là ngôi sao của đêm hội với màn ngâm thơ nửa hài nửa bi và trông anh rất ra dáng. Anh luôn là người được phụ nữ yêu mến mà.
BLOOM: (Quý ông của các bà, mặc áo vest tối màu với ve áo lụa moire, phù hiệu hội tam điểm xanh ở khuy áo, nơ đen và khuy áo xà cừ, chiếc ly sâm-panh lấp lánh nghiêng trong tay.) Thưa các quý ông quý bà, tôi xin gửi lời chúc tới Ireland, quê hương và sắc đẹp.
BÀ BREEN: Những ngày tháng thân thương đã qua không thể tìm lại. Bài ca ngọt ngào cũ của tình yêu.
BLOOM: (Hạ giọng đầy hàm ý.) Thú thật là tôi tò mò phát sốt lên được để tìm xem cái gì đó của ai đó hiện tại có giống cái ấm trà nhỏ không.
BÀ BREEN: (Ríu rít.) Giống ấm trà lắm chứ lị! Luân Đôn giống ấm trà và tôi thì ngập tràn vị ấm trà đây này! (Ả cọ người vào hắn.) Sau những trò chơi trinh thám trong phòng khách và pháo giấy từ cây thông, chúng ta đã ngồi trên chiếc ghế dài ở cầu thang. Dưới tán cây tầm gửi. Một người thì buồn, hai người thì vui.
BLOOM: (Đội chiếc mũ tím kiểu Napoleon với hình trăng lưỡi liềm bằng hổ phách, các ngón tay và ngón cái từ từ trượt xuống lòng bàn tay ẩm ướt mềm mại mà ả ngoan ngoãn dâng hiến.) Giờ khắc huyền diệu của đêm tối. Anh đã lấy cái dằm ra khỏi bàn tay này, cẩn thận, chậm rãi.) (Trìu mến, khi hắn trượt chiếc nhẫn hồng ngọc vào ngón tay ả.) Là ci darem la mano.
BÀ BREEN: (Trong chiếc áo đầm dạ hội liền mảnh bằng lụa xanh ánh trăng, đội vương miện tiên nữ bằng kim tuyến trên trán với tấm thiệp khiêu vũ rơi bên chiếc giày satin xanh ánh trăng, uốn cong lòng bàn tay mềm mại, thở gấp.) Voglio e non. Anh nóng quá! Anh nóng như lửa đốt! Tay trái gần trái tim nhất.
BLOOM: Khi cô đưa ra lựa chọn hiện tại, họ bảo đó là Người đẹp và Quái vật. Tôi không bao giờ có thể tha thứ cho cô vì điều đó. (Nắm chặt tay đấm lên trán.) Hãy nghĩ xem điều đó có ý nghĩa gì. Tất cả những gì cô có ý nghĩa với tôi lúc đó. (Khàn giọng.) Người phụ nữ kia, nó đang bóp nát tôi đây này!
(Denis Breen, đội mũ chóp trắng, đeo bảng quảng cáo của Wisdom Hely, lê bước qua họ trong đôi dép đi trong nhà, bộ râu cùn chìa ra, lẩm bẩm bên phải bên trái. Cậu bé Alf Bergan, khoác tấm áo choàng hình con át bích, bám theo hắn kè kè bên trái bên phải, cười ngặt nghẽo.)
ALF BERGAN: (Chỉ tay chế nhạo tấm bảng quảng cáo.) U. p: lên.
BÀ BREEN: (Với Bloom.) Trò vui nhộn dưới lầu. (Ả lườm hắn một cái.) Sao anh không hôn lên vết thương cho nó lành? Anh muốn thế còn gì.
BLOOM: (Bàng hoàng.) Bạn thân nhất của Molly đấy! Cô nỡ làm thế á?
BÀ BREEN: (Chiếc lưỡi thịt đặt giữa đôi môi, chìa ra một nụ hôn chim bồ câu.) Hnhn. Câu trả lời là quả chanh. Anh có món quà nhỏ nào cho tôi ở đó không?
BLOOM: (Thờ ơ.) Đồ Kosher. Một món ăn nhẹ cho bữa tối. Ngôi nhà mà không có thịt hộp thì chưa trọn vẹn. Tôi đã xem vở Leah, do bà Bandmann Palmer đóng. Người thể hiện xuất sắc các tác phẩm của Shakespeare. Tiếc là vứt xừ mất chương trình rồi. Chỗ đó bán chân giò heo ngon tuyệt. Sờ thử xem.
(Richie Goulding, ghim ba chiếc mũ phụ nữ trên đầu, xuất hiện, nặng nề nghiêng về một bên bởi chiếc cặp da màu đen của văn phòng luật sư Collis and Ward trên đó có hình đầu lâu và xương chéo vẽ bằng nước vôi trắng. Hắn mở ra và cho thấy bên trong đầy xúc xích Ba Lan, cá trích xông khói, cá tuyết xông khói Findon và những viên thuốc nén chặt.)
RICHIE: Giá hời nhất Dublin.
(Hói Pat, con bọ hung phiền toái, đứng trên lề đường, gấp khăn ăn, chờ đợi để được phục vụ.)
PAT: (Tiến lại với chiếc đĩa nghiêng nước sốt tràn lênh láng.) Bít tết và thận. Chai bia lager. Hì hì hì. Đợi tôi phục vụ nhé.
RICHIE: Lạy Chúa. Thâm căn cố đế trong mọi...
(Với cái đầu cúi gầm, hắn bướng bỉnh bước tới. Gã thợ thuyền lảo đảo đi ngang qua, húc hắn bằng chiếc chĩa bốc lửa.)
RICHIE: (Kêu lên đau đớn, tay ôm lấy lưng.) Á! Thận rồi! Đèn đóm đâu!
BLOOM: (Chỉ vào gã thợ thuyền.) Gián điệp đấy. Đừng gây chú ý. Tôi ghét đám đông ngu ngốc. Tôi không đi chơi bời gì đâu. Tôi đang lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo lắm.
BÀ BREEN: Lại chuyện phét lác bịp bợm quen thuộc với mấy câu chuyện tào lao của anh rồi đấy.
BLOOM: Tôi muốn kể cho cô nghe một bí mật nhỏ về việc làm sao tôi lại có mặt ở đây. Nhưng cô không được kể cho ai nghe đâu nhé. Kể cả Molly. Tôi có lý do đặc biệt lắm.
BÀ BREEN: (Háo hức.) Ồ, chết cũng không hé răng đâu.
BLOOM: Đi bộ tiếp đi nhỉ? Đi không?
BÀ BREEN: Đi chứ.
(Mụ má mì đưa ra một ra hiệu nhưng chẳng ai để ý. Bloom tiếp tục bước đi cùng bà Breen. Con chó sục lẽo đẽo theo sau, rên rỉ đáng thương, ngoáy đuôi.)
MỤ MÁ MÌ: Thịt mỡ thằng Do Thái!
BLOOM: (Mặc bộ đồ thể thao bằng vải thô màu yến mạch, cài một nhành kim ngân ở khuy áo, áo sơ mi màu vàng sang trọng, khăn quàng cổ caro chéo Saint Andrew, giày trắng, áo khoác bụi màu nâu nhạt vắt trên tay, giày da màu nâu đỏ, ống nhòm đeo chéo và chiếc mũ phớt xám.) Cô có nhớ cách đây rất lâu, từ nhiều năm trước, ngay sau khi Milly, đứa mà chúng ta gọi là Marionette, cai sữa khi tất cả chúng ta cùng đi xem đua ngựa Fairyhouse không nhỉ?
BÀ BREEN: (Mặc bộ đồ sành điệu kiểu Saxe, đội mũ nhung trắng và khăn voan mạng nhện.) Leopardstown.
BLOOM: Ý tôi là, Leopardstown. Và Molly thắng được bảy shilling nhờ con ngựa ba tuổi tên là Nevertell và lúc trên đường về qua Foxrock trên chiếc xe ngựa cũ rích năm chỗ ngồi đó, lúc ấy cô đang ở thời kỳ rực rỡ nhất và cô đội chiếc mũ nhung trắng mới tinh có viền lông chồn mà bà Khê khuyên cô nên mua vì nó được giảm giá còn mười chín đồng mười một xu, một đoạn dây thép và một mảnh vải nhung cũ rích, và tôi cá với cô là mụ ta làm thế có chủ ý đấy...
BÀ BREEN: Chứ lại chẳng thế, con mèo mả ấy chứ! Đừng có nói với tôi thế! Lời khuyên hay ho chưa kìa!
BLOOM: Bởi vì nó chẳng hợp với cô bằng một góc cái mũ nồi xinh xắn có cánh chim thiên đường mà anh đã khen ngợi trên đầu cô và em trông thật đáng yêu biết bao dù tiếc thật khi phải giết nó, đồ sinh hư ác độc, bé tí tẹo teo với trái tim to bằng dấu chấm câu.
BÀ BREEN: (Bóp tay hắn, làm nũng.) Đồ ác độc hư hỏng tôi đây mà!
BLOOM: (Nhỏ giọng, bí mật, ngày càng nhanh hơn.) Và Molly đang ăn chiếc bánh mì kẹp thịt bò gia vị lấy từ giỏ ăn trưa của bà Joe Gallaher. Thành thật mà nói, dù con bé có những người khuyên bảo hay ngưỡng mộ, anh chưa bao giờ thích phong cách của nó lắm. Nó là...
BÀ BREEN: Quá...
BLOOM: Đúng thế. Và Molly cứ cười ngất vì Rogers và Maggot O’Reilly đang nhại tiếng gà gáy khi chúng ta đi ngang qua một trang trại và Marcus Tertius Moses, thương gia buôn trà, lái xe đi ngang qua chúng ta trên chiếc xe ngựa hai bánh cùng con gái ông ta, cô Dancer Moses là tên cô ấy, và con chó poodle trên đùi cô ấy nhổm dậy và cô hỏi anh có bao giờ nghe hoặc đọc hoặc biết hoặc bắt gặp...
BÀ BREEN: (Háo hức.) Có, có, có, có, có, có, có.
(Ả mờ dần khỏi bên cạnh hắn. Được con chó rên rỉ theo sau, hắn tiếp tục bước về phía cửa địa ngục. Trong một mái vòm, một người phụ nữ đang đứng, cúi gập người, hai chân dạng ra, đang tè bậy thảm hại. Bên ngoài một quán rượu đóng cửa, một đám người la cà đang lắng nghe câu chuyện mà gã trưởng nhóm sứt mũi đang khào khào kể với vẻ hài hước khàn đạc. Một đôi tay của họ ngã vật xuống vật lộn, gầm gừ, trong trò chơi đánh nhau vô tích sự ướt sũng.)
GÃ TRƯỞNG NHÓM: (Khom người, giọng nói biến dạng ở mũi.) Và khi Cairns từ giàn giáo ở phố Beaver tụt xuống thì hắn ta nín nhịn thế quái nào được lại đái thẳng vào cái xô đựng vữa đang chờ sẵn trên đống dăm bào cho đám thợ trát tường của Derwan.
ĐÁM NGƯỜI LA CÀ: (Cười hô hố bằng vòm họng sứt.) Ơ lạy chúa!
(Những chiếc mũ lấm tấm sơn của họ lúc lắc. Lấm đầy keo dán và vôi từ nhà xưởng của chúng, chúng nhảy nhót cụt lủn xung quanh hắn.)
BLOOM: Trùng hợp ghê cơ. Chúng tưởng thế là buồn cười lắm. Chẳng có gì buồn cười cả. Ban ngày ban mặt. Cố bước đi. May mà không có phụ nữ nào ở đây.
ĐÁM NGƯỜI LA CÀ: Lạy chúa, chuyện hay đấy. Muối Glauber. Ơ lạy chúa, đái vào vại vữa của đàn ông kìa.
(Bloom bước qua. Những ả đĩ rẻ tiền, đi lẻ, đi cặp, quấn khăn choàng, tóc tai bù xù, gọi với theo từ các con hẻm, cửa ra vào, góc phố.)
MẤY Ả ĐĨ:
Mày đi đâu đấy, anh chàng kỳ lạ?
Cái giò giữa thế nào rồi?
Có mang theo diêm không?
Này, lại đây tao làm cho cứng lên nào.
(Hắn lội bì bõm qua đống bùn nhơ nhớp của chúng để ra tới con phố sáng sủa phía trước. Từ một chỗ phồng lên của tấm rèm cửa sổ, một chiếc máy hát chìa ra cái loa bằng đồng móp méo. Trong bóng tối, một chủ quán rượu lậu đang mặc cả với gã thợ thuyền và hai gã lính áo đỏ.)
GÃ THỢ THUYỀN: (Nấc cụt.) Cái nhà khỉ gió ở đâu rồi?
CHỦ QUÁN RƯỢU LẬU: Phố Purdon. Một shilling một chai bia đen. Người đàn bà đàng hoàng.
GÃ THỢ THUYỀN: (Túm lấy hai gã lính áo đỏ, lảo đảo bước đi cùng họ.) Lên nào, hỡi quân đội Anh quốc!
BINH NHÌ CARR: (Sau lưng hắn.) Gã này điên nửa mùa rồi còn gì.
BINH NHÌ COMPTON: (Cười.) Ghê nhỉ!
BINH NHÌ CARR: (Với gã thợ thuyền.) Canteen doanh trại Portobello. Cứ hỏi tìm Carr nhé. Cứ gọi Carr là được.
GÃ THỢ THUYỀN: (Hét lên.)
Chúng ta là những chàng trai.
Của vùng Wexford.
BINH NHÌ COMPTON: Này! Giá của viên trung sĩ nhất thế nào nhỉ?
BINH NHÌ CARR: Bennett á? Hắn là bạn tôi. Tôi yêu lão Bennett.
GÃ THỢ THUYỀN: (Hét lên.)
Cái xiềng xích nghiệt ngã.
Và giải phóng quê hương.
(Hắn lảo đảo tiến về phía trước, kéo theo cả bọn. Bloom khựng lại, bối rối. Con chó tiến lại gần, lè lưỡi thở hồng hộc.)
BLOOM: Cuộc rượt đuổi vô nghĩa thật. Động đĩ điếm. Chúa mới biết chúng đi đâu rồi. Bọn say xỉn đi nhanh gấp đôi. Lộn xộn thật đấy. Vụ náo loạn ở Westland row. Rồi nhảy lên toa hạng nhất với vé hạng ba. Rồi đi quá đà. Tàu có đầu máy ở phía sau. Lẽ ra có thể đưa mình đến Malahide hoặc một nhánh đường ray qua đêm hoặc đâm tàu. Cạn ly thứ hai là dính đòn ngay. Một lần là đủ liều. Mình bám theo hắn làm gì cơ chứ? Dù sao thì hắn vẫn là kẻ khá nhất trong đám đó. Nếu mình không nghe về vụ bà Beaufoy Purefoy thì mình đã không đi và đã chẳng gặp rồi. Định mệnh. Hắn sẽ mất chỗ tiền mặt đó mất. Trạm cứu trợ ở đây. Kinh doanh tốt cho mấy gã bán hàng rong, đàn cơ khí. Các ngươi thiếu thứ gì? Cả mau chóng đi, chóng tàn. Suýt nữa thì mất mạng với cái quái vật máy ủi bánh xe đường ray xe điện xe rải cát chói lọi khổng lồ ấy rồi nếu không nhờ có sự tỉnh táo. Dù sao thì sự tỉnh táo cũng không cứu nổi bạn mãi đâu. Nếu hôm đó tôi đi ngang qua cửa hàng của Truelock muộn hơn hai phút thì đã bị bắn chết rồi. Sự vắng mặt của thể xác. Dù sao nếu viên đạn chỉ sượt qua áo khoác thì cũng kiếm được tiền bồi thường thiệt hại tinh thần, năm trăm bảng. Hắn là ai nhỉ? Tay chơi câu lạc bộ phố Kildare. Chúa phù hộ cho người giữ rừng của hắn.
(Hắn nhìn chăm chú về phía trước, đọc trên vách tường dòng chữ nguệch ngoạc bằng phấn Giấc mơ ướt át cùng một hình vẽ dương vật.) Lạ thật! Molly đang vẽ trên cửa kính xe trượt tuyết bị đóng băng ở Kingstown. Trông như thế nào nhỉ? (Những ả búp bê sặc sỡ uốn éo trong các khung cửa sáng đèn, ở các ô cửa sổ, hút thuốc lá lá thơm. Mùi cỏ thơm ngọt lợ lững lờ trôi về phía hắn trong những vòng khói tròn chậm chạp.)
NHỮNG VÒNG KHÓI: Ngọt ngào thay những vị ngọt. Ngọt ngào của tội lỗi.
BLOOM: Xương sống của mình hơi oải rồi. Đi tiếp hay quay về? Còn chỗ thức ăn này thì sao? Ăn vào rồi người ngợm dính nhầy nhụa như mỡ lợn cho mà xem. Thật là ngớ ngẩn. Lãng phí tiền bạc. Một shilling tám xu là quá đắt. (Con chó săn áp cái mõm lạnh ngắt sụt sịt vào tay hắn, ngoáy đuôi.) Lạ thật sao chúng cứ bám lấy mình nhỉ. Cả con quái vật hôm nay nữa chứ. Nói chuyện với nó trước thì hơn. Giống như phụ nữ, chúng thích những cuộc hội ngộ tình cờ. Hôi như chồn hôi. Mỗi người một sở thích. Nhỡ nó bị dại thì sao. Mấy ngày chó điên. Hành động thất thường. Chó ngoan! Fido! Chó ngoan! Garryowen! (Con chó sói nằm ngửa ra, quằn quại tục tĩu với đôi chân cầu xin, chiếc lưỡi đen dài thè lè.) Ảnh hưởng của môi trường xung quanh đây mà. Cho quách đi cho rồi chuyện. Miễn là không có ai thấy. (Vừa gọi những lời khích lệ vừa lủi thủi quay lại với dáng đi rón rén của kẻ trộm đêm, bị con chó bám theo vào một góc tối nồng nặc mùi thiu. Hắn mở một gói đồ ra và định thả chiếc chân giò heo xuống thật nhẹ nhàng nhưng rồi lại ngần ngại sờ vào chân cừu.) Cũng đáng giá ba xu đấy chứ. Nhưng thế thì mình phải cầm ở tay trái. Tốn sức hơn. Tại sao nhỉ? Nhỏ hơn vì ít dùng. Ôi, mặc kệ nó đi. Hai shilling rưỡi.
(Với vẻ tiếc nuối, hắn để chiếc chân giò heo và chân cừu chưa bọc trượt rơi xuống. Con chó ngao lóng ngóng cào cấu đống đồ và ngấu nghiến gặm nhấm với sự tham lam gầm gừ, nghiền nát cả xương. Hai tên tuần đêm mặc áo mưa tiến lại, lặng lẽ, cảnh giác. Chúng lầm bầm với nhau.)
TUẦN ĐÊM: Bloom. Của Bloom. Dành cho Bloom. Bloom.
(Mỗi tên đặt một tay lên vai Bloom.)
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Bắt quả tang tại trận. Không được gây ô uế.
BLOOM: (Lắp bắp.) Tôi đang làm việc thiện cho người khác mà.
(Một đàn hải sâm, chim hải âu bão, đói khát bay vút lên từ vũng bùn Liffey với những chiếc bánh Banbury trong mỏ.)
HẢI ÂU: Kaw kave kankury kake.
BLOOM: Người bạn của con người. Được huấn luyện bởi sự tử tế.
(Hắn chỉ tay. Bob Doran, ngã nhào từ chiếc ghế đẩu cao, lảo đảo ngã vào con chó spaniel đang nhai ngấu nghiến.)
BOB DORAN: Towser. Cho xin cái chân nào. Đưa chân đây.
(Con chó bò gầm gừ, lớp lông gáy dựng ngược, một cục khớp giò heo kẹt giữa hàm răng mà từ đó nước bọt sủi bọt dại dề dề. Bob Doran âm thầm ngã xuống một khoảnh sân.)
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: Luật bảo vệ động vật.
BLOOM: (Nhiệt tình.) Một công việc cao cả! Tôi đã mắng tên tài xế xe điện ở cầu Harold’s cross vì đối xử tệ bạc với con ngựa tội nghiệp bị ghẻ lở do dây cương. Chẳng được tích sự gì mà toàn nhận lại mấy câu chửi rủa tồi tệ. Đương nhiên là trời lạnh giá và đó là chuyến xe điện cuối cùng. Mọi câu chuyện về cuộc sống rạp xiếc đều vô cùng đồi trụy.
(Signor Maffei, mặt tái xanh vì đam mê, trong trang phục người huấn luyện sư tử với khuy kim cương trước ngực, bước ra, cầm một chiếc vòng giấy rạp xiếc, một cây roi ngựa uốn cong và khẩu súng lục để khống chế con chó săn hung dữ đang ngấu nghiến.)
SIGNOR MAFFEI: (Với nụ cười nham hiểm.) Thưa các quý ông quý bà, chú chó xám đã được giáo dục của tôi đây. Chính tôi đã thuần hóa con ngựa bất kham Ajax bằng chiếc yên có gai sáng chế dành cho loài ăn thịt của mình. Chiếc roi quất dưới bụng bằng dải da thắt nút. Hệ thống ròng rọc và dây thừng siết cổ sẽ thu phục con sư tử của bạn, cho dù nó có bướng bỉnh đến đâu, ngay cả con Leo ferox kia, kẻ ăn thịt người vùng Libya. Một thanh xà beng nung đỏ và chút dầu xoa bóp bôi vào chỗ cháy đã cho ra đời Fritz ở Amsterdam, chú linh cẩu biết suy nghĩ. (Hắn trừng mắt nhìn.) Tôi sở hữu dấu ấn Ấn Độ giáo. Ánh mắt của tôi làm được điều đó với những viên ngọc sáng lấp lánh trước ngực này. (Với nụ cười mê hoặc.) Tôi xin giới thiệu Mademoiselle Ruby, niềm kiêu hãnh của sàn diễn.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Lại đây. Tên và địa chỉ.
BLOOM: Tôi nhất thời quên mất. À, đúng rồi! (Hắn bỏ chiếc mũ cao cấp ra, chào.) Tiến sĩ Bloom, Leopold, bác sĩ nha khoa. Các bạn đã nghe danh von Blum Pasha rồi chứ. Hàng triệu ki-lô-gam. Donnerwetter! Sở hữu nửa nước Áo. Ai Cập. Anh họ.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Bằng chứng.
(Một tấm danh thiếp rơi ra từ phía trong vành mũ da của Bloom.)
BLOOM: (Đội mũ phớt đỏ, mặc áo khoác dáng dài kiểu cadi với dải băng xanh rộng, đeo huy hiệu giả Bắc đẩu bội tinh, vội vã nhặt tấm danh thiếp lên và đưa ra.) Xin phép nhé. Câu lạc bộ của tôi là Quân đội và Hải quân Trẻ. Luật sư: Ngài John Henry Menton, số 27 Bachelor’s Walk.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: (Đọc.) Henry Flower. Không nơi cư trú cố định. Trái phép theo dõi và quấy rối.
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: Có bằng chứng ngoại phạm đấy. Anh đã bị cảnh cáo rồi đấy nhé.
BLOOM: (Lấy từ túi ngực ra một bông hoa màu vàng nhàu nát.) Đây chính là bông hoa đang nói tới. Nó được tặng bởi một người mà tôi không biết tên. (Ra vẻ thuyết phục.) Các bạn biết câu nói đùa cũ rích đó đấy, hoa hồng xứ Castile. Bloom. Sự đổi tên. Virag. (Hắn lẩm bẩm riêng tư và kín đáo.) Chúng ta đã đính hôn rồi đấy, trung sĩ ạ. Có phụ nữ dính líu vào. Mối tình rắc rối. (Hắn nhẹ nhàng đẩy vai tên tuần đêm thứ hai.) Thôi nào. Đó là thói quen của chúng tôi những người đàn ông trong hải quân mà. Bộ quân phục làm nên tất cả. (Hắn nghiêm túc quay sang tên tuần đêm thứ nhất.) Dù sao thì, tất nhiên, thỉnh thoảng anh cũng gặp phải Waterloo của mình thôi. Tối nào đó hãy ghé qua làm ly rượu vang Burgundy lâu năm nhé. (Nói với tên tuần đêm thứ hai một cách vui vẻ.) Tôi sẽ giới thiệu, thanh tra ạ. Cô ấy rất hào hứng đấy. Làm việc đó nhanh trong chớp mắt.
(Một khuôn mặt đen nhiễm thủy ngân xuất hiện, dẫn theo một nhân vật đang che khăn voan.)
THỦY NGÂN ĐEN: Lâu đài đang tìm hắn ta kìa. Hắn đã bị đuổi khỏi quân đội vì tội danh kỷ luật.
MARTHA: (Che khăn voan dày, cổ quàng một sợi dây thừng màu đỏ sậm, tay cầm một tờ Irish Times, với giọng điệu trách móc, chỉ tay.) Henry! Leopold! Lionel, kẻ lầm đường lạc lối! Hãy rửa sạch tên tuổi cho tôi.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: (Nghiêm khắc.) Về đồn.
BLOOM: (Hoảng sợ, đội mũ lên đầu, lùi lại, rồi vò ngực và giơ cẳng tay phải lên vuông góc, hắn ra dấu hiệu và tư thế chuẩn của người thợ cả.) Không, không, ngài hội trưởng kính mến, ánh sáng tình yêu. Nhận dạng nhầm rồi. Chuyến tàu thư Lyons. Lesurques và Dubosc. Các vị nhớ vụ án huynh đệ tương tàn nhà Childs chứ. Chúng tôi là những người làm nghề y. Bằng cách đánh chết hắn ta bằng một chiếc rìu. Tôi bị buộc tội oan. Thà để một kẻ có tội nhởn nhơ còn hơn chín mươi chín người bị kết án oan.
MARTHA: (Nức nở sau lớp khăn voan.) Hứa hôn giả dối. Tên thật của tôi là Peggy Griffin. Anh ấy viết thư cho tôi rằng anh ấy khổ sở lắm. Tôi sẽ mách anh tôi, cầu thủ bóng bầu dục đội hình tuyển Bective của anh, cái tội kẻ trêu hoa ghẹo nguyệt vô tâm này cho xem.
BLOOM: (Che tay lên miệng.) Cô ta say rượu rồi. Người phụ nữ này đang say xỉn đấy. (Hắn lẩm bẩm mơ hồ mật khẩu của Ephraim.) Shitbroleeth.
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: (Nước mắt rưng rưng, nói với Bloom.) Anh nên cảm thấy vô cùng xấu hổ về bản thân mình mới đúng.
BLOOM: Thưa các bồi thẩm đoàn, xin hãy để tôi giải thích. Chỉ là hiểu lầm vớ vẩn thôi. Tôi là một người đàn ông bị hiểu lầm. Tôi đang bị đem ra làm vật tế thần. Tôi là một người đàn ông có gia đình đàng hoàng, không một vết nhơ trong nhân cách. Tôi sống ở phố Eccles. Vợ tôi, tôi là con gái của một vị chỉ huy lừng lẫy, một quý ông ngẩng cao đầu dũng cảm, người mà các bạn gọi là gì ấy nhỉ, Thiếu tướng Brian Tweedy, một trong những chiến binh của nước Anh đã góp phần giành chiến thắng trong các trận chiến của chúng ta. Đạt cấp bậc thiếu tá vì chiến công phòng thủ anh dũng tại Rorke’s Drift.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Trung đoàn nào.
BLOOM: (Quay về phía khán đài.) Trung đoàn Dublin Hoàng gia, các bạn ơi, tinh hoa của đất nước, nổi tiếng khắp thế giới. Tôi nghĩ tôi thấy một số đồng đội cũ ở đó trên kia giữa các bạn. R. D. F., cùng với cảnh sát thủ đô của chúng ta, những người bảo vệ mái nhà của chúng ta, những chàng trai gan dạ nhất và là thân hình đẹp nhất, về mặt thể chất, đang phục vụ cho quốc vương của chúng ta.
MỘT GIỌNG NÓI: Đồ phản bội! Ủng hộ người Boer! Thằng nào la ó Joe Chamberlain thế?
BLOOM: (Đặt tay lên vai tên tuần đêm thứ nhất.) Bố già của tôi cũng từng là Thẩm phán hòa bình. Tôi là một người Anh trung thành cũng như các anh vậy, thưa ngài. Tôi đã chiến đấu dưới lá cờ vì vua và đất nước trong cuộc chiến tranh quên lãng dưới quyền tướng Gough ở công viên và bị thương tật ở Spion Kop và Bloemfontein, đã được nêu tên trong bản thông cáo. Tôi đã làm tất cả những gì một người da trắng có thể làm. (Với tình cảm trầm lắng.) Jim Bludso. Giữ chặt ống xả sát bờ sông.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Nghề nghiệp hoặc buôn bán.
BLOOM: Vâng, tôi theo nghề viết lách, tác giả kiêm nhà báo. Trên thực tế, chúng tôi vừa cho ra mắt một tuyển tập truyện đoạt giải mà tôi là người sáng tạo ra, một thứ hoàn toàn mới mẻ. Tôi có mối liên hệ với báo chí Anh và Ireland. Nếu các anh gọi điện...
(Myles Crawford bước ra giật cục, ngậm một chiếc bút lông giữa hai hàm răng. Cái mỏ đỏ rực của chiếc mũ rơm bùng cháy trong hào quang. Một tay hắn cầm lủng lẳng một bó hành Tây Ban Nha và tay kia áp ống nghe điện thoại vào tai.)
MYLES CRAWFORD: (Yếm gà rung rinh.) Alo, bảy mươi bảy tám bốn. Alo. Báo Freeman’s Urinal và Weekly Arsewipe đây. Làm tê liệt châu Âu nhé. Mày chọn cái nào? Túi xanh à? Ai viết thế? Có phải Bloom không?
(Ông Philip Beaufoy, mặt tái mét, đứng trong bói thẩm đoàn, trong bộ đồ buổi sáng chỉnh tề, túi áo ngực thò chóp chiếc khăn tay, quần màu oải hương nhăn nheo và giày da bóng. Hắn mang theo một chiếc cặp lớn có nhãn Những cú đánh chí mạng của Matcham.)
BEAUFOY: (Kéo dài giọng.) Không, không phải anh đâu. Không bao giờ có chuyện đó nếu tôi còn biết. Tôi không thấy thế, thế thôi. Không một quý ông bẩm sinh nào, không một ai có những suy nghĩ sơ đẳng nhất của một quý ông lại hạ mình xuống hành động đặc biệt ghê tởm như vậy. Một trong số những kẻ đó, thưa ngài. Một kẻ đạo văn. Một tên nịnh hót giả mạo làm nhà văn. Thấy rõ ràng là với sự đê tiện bẩm sinh nhất, hắn đã sao chép một số bản in chạy hàng nhất của tôi, toàn đồ tuyệt đỉnh, một viên ngọc thực sự, những đoạn tình cảm trong đó không có gì phải nghi ngờ. Sách về tình yêu và sự giàu sang vĩ đại của Beaufoy, mà chắc hẳn tòa án quen thuộc, là một cái tên quen thuộc khắp vương quốc.
BLOOM: (Lẩm bẩm với vẻ mặt hèn mọn rụt rè.) Cái đoạn về bàn tay phù thủy đang cười nắm tay nhau tôi có ý kiến phản đối, nếu được phép...
BEAUFOY: (Môi cong lên, mỉm cười trịch thượng trước tòa.) Cái đồ lừa ngốc nghếch này! Cậu thật kỳ quặc đến mức phát tởm cho mà xem! Tôi không nghĩ cậu cần phải quá phiền lòng về điều đó đâu. Người đại diện văn học của tôi, ông J. B. Pinker, đang có mặt ở đây. Tôi đoán là chúng ta sẽ nhận được phí nhân chứng thông thường phải không thưa ngài? Chúng ta thiệt hại khá nhiều tiền vì tên nhà báo khốn kiếp này, cái con quạ ở Rheims này, kẻ thậm chí chưa từng học đại học.
BLOOM: (Không rõ ràng.) Đại học cuộc đời. Nghệ thuật tồi.
BEAUFOY: (Hét lên.) Đó là lời nói dối đồi bại chết tiệt, cho thấy sự thối nát về đạo đức của gã đàn ông này! (Hắn dang rộng chiếc cặp.) Chúng ta có ở đây bằng chứng kết tội, tang vật trúng tay, thưa ngài, một mẫu tác phẩm trưởng thành của tôi bị bôi nhọ bởi dấu ấn của con quái vật.
MỘT GIỌNG NÓI TỪ KHÁN ĐÀI:
Moses, Moses, vua của người Do Thái,
Lấy Daily News chùi đít ngay.
BLOOM: (Can đảm.) Phóng đại quá đáng rồi.
BEAUFOY: Cái đồ hèn mọn bỉ oỉ! Mày đáng bị dìm xuống ao bèo, cái đồ cặn bã này! (Nói với tòa.) Nhìn đời sống riêng tư của gã này mà xem! Sống bốn cuộc đời một lúc! Thánh nhân ngoài đường và ác quỷ trong nhà. Không xứng đáng được nhắc đến trong xã hội nam nữ lẫn lộn! Tên tội phạm chủ mưu của thời đại!
BLOOM: (Nói với tòa.) Còn hắn, một gã độc thân, làm sao...
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Vụ án Nhà vua kiện Bloom. Gọi người phụ nữ tên Driscoll.
NGƯỜI XƯỚNG GỌI: Mary Driscoll, người hầu bếp!
(Mary Driscoll, một cô hầu gái lếu thếch, bước tới. Cô ta đeo một cái xô vắt qua khuỷu tay và cầm một bàn chải cọ sàn trên tay.)
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: Lại một người nữa! Cô thuộc tầng lớp bất hạnh à?
MARY DRISCOLL: (Đầy phẫn nộ.) Tôi không phải là đứa hư hỏng. Tôi có nhân thân đàng hoàng và đã làm việc bốn tháng ở chỗ làm trước. Tôi có công việc ổn định, sáu bảng một năm cùng cơ hội được nghỉ ngày thứ Sáu và tôi phải nghỉ việc vì những thói lăng nhăng của hắn ta.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Cô cáo buộc hắn ta điều gì?
MARY DRISCOLL: Hắn ta đã có ý định sàm sỡ nhưng tôi còn biết trọng danh dự dù tôi nghèo hèn.
BLOOM: (Mặc áo khoác trong nhà bằng vải sần ripol, quần flannel, dép không gót, chưa cạo râu, tóc tai bù xù: nhỏ nhẹ.) Tôi đối xử với cô rất đàng hoàng. Tôi tặng cô kỷ vật, những chiếc tất ngọc lục bảo xinh xắn vượt xa địa phận của cô. Do bất cẩn, tôi đã bênh vực cô khi cô bị buộc tội ăn cắp vặt. Làm gì cũng phải có giới hạn chứ. Hãy chơi đẹp đi.
MARY DRISCOLL: (Kích động.) Có Chúa đang chứng giám cho tôi đêm nay nếu tôi từng sờ tay vào chỗ hàu đó!
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Hành vi phạm tội bị phàn nàn? Có chuyện gì xảy ra à?
MARY DRISCOLL: Hắn ta đã sàm sỡ tôi ở phía sau nhà, thưa quan tòa, khi bà chủ đi mua sắm một buổi sáng với yêu cầu mượn một chiếc kẹp băng. Hắn ôm chặt lấy tôi và hậu quả là tôi bị bầm tím ở bốn chỗ. Và hắn đã hai lần táy máy vào quần áo của tôi.
BLOOM: Cô ta phản kháng lại đấy chứ.
MARY DRISCOLL: (Khinh bỉ.) Tôi còn biết trọng cái bàn chải cọ sàn hơn thế nhiều. Tôi đã mắng mỏ hắn, thưa quan tòa, và hắn nói: cứ giữ im lặng đi.
(Tiếng cười vang lên khắp phòng xử án.)
GEORGE FOTTRELL: (Thư ký tòa án hình sự và hòa giải, giọng vang dội.) Trật tự phiên tòa! Bị cáo bây giờ sẽ đưa ra một tuyên bố giả mạo.
(Bloom, nhận không có tội và tay cầm một bông súng nở rộ, bắt đầu một bài diễn văn dài khó hiểu. Họ sẽ nghe luật sư biện hộ nói gì trong bài diễn văn đầy nhiệt huyết trước bồi thẩm đoàn lớn. Hắn đã sa cơ lỡ vận nhưng, dù bị đóng mác là con cừu đen, nếu có thể nói vậy, hắn có ý định cải tà quy chính, tìm lại ký ức quá khứ theo cách thuần túy tình chị em và quay về với thiên nhiên như một loài động vật thuần túy trong nhà. Là đứa trẻ sinh non bảy tháng, hắn đã được một người cha già liệt giường nuôi dưỡng và chăm sóc cẩn thận. Có thể đã có những lúc lầm đường lạc lối của một ông bố lầm lỡ nhưng hắn muốn sang trang mới và bây giờ, khi cuối cùng đã đứng trước cọc roi trừng phạt, để sống một cuộc đời bình dị lúc hoàng hôn của cuộc đời, thấm đượm những khung cảnh tình cảm từ bầu ngực phập phồng của gia đình. Là một người Anh đã thích nghi, hắn đã nhìn thấy chiều hè hôm ấy từ bệ lái của buồng lái đầu máy xe lửa thuộc công ty đường sắt Loop trong lúc trời ngớt mưa những khung cảnh thoáng qua, qua những khung cửa sổ của những hộ gia đình tràn ngập tình yêu ở thành phố Dublin và các quận đô thị mang khung cảnh thực sự nông thôn của hạnh phúc của miền đất tốt lành với giấy dán tường Dockrell giá một shilling chín xu một tá, những đứa trẻ ngây thơ sinh ra ở Anh đang ngập ngừng cầu nguyện với Thẻ Thánh, những học sinh trẻ tuổi đang vật lộn với những bài tập của mình hoặc những tiểu thư trẻ tuổi kiểu mẫu đang chơi đàn piano hoặc chốc chốc tất cả cùng nhiệt thành đọc chuỗi mân côi gia đình quanh đống lửa Giáng sinh tí tách trong khi ở những con hẻm nhỏ và lối đi xanh tươi những cô thôn nữ dạo chơi cùng người yêu trong lúc những giai điệu của chiếc đàn accordion âm vang bọc kim loại Britannia với bốn ống hơ và mười hai tầng quạt gió, một sự hy sinh, món hời lớn nhất từ trước tới nay....
(Tiếng cười rộ lên một lần nữa. Hắn lẩm bẩm không rõ tiếng. Các phóng viên phàn nàn rằng họ không nghe rõ gì cả.)
PHÓNG VIÊN TỐC KÝ VÀ VIẾT TAY: (Không rời mắt khỏi sổ tay.) Cởi giày hắn ra.
GIÁO SƯ MACHUGH: (Từ bàn báo chí, húng hắng ho và gọi.) Hoóc nó ra đi, anh bạn. Nhổ từng cục ra xem nào.
(Cuộc thẩm vấn chéo tiếp tục diễn ra xoay quanh Bloom và chiếc xô. Một chiếc xô lớn. Chính bản thân Bloom. Bệnh đường ruột. Ở phố Beaver. Đau bụng, vâng. Khá nặng đấy. Một chiếc xô trát vữa. Bằng cách bước đi cứng đờ. Đã chịu đựng nỗi khổ không thể tả xiết. Nỗi đau đớn chết chóc. Khoảng trưa. Tình yêu hay rượu vang Burgundy. Vâng, một ít rau bina. Khoảnh khắc quyết định. Hắn không nhìn vào trong xô. Không một ai. Khá là bừa bộn. Không hoàn toàn. Một số báo cũ Titbits.)
(Sự hỗn loạn và tiếng reo hò nhạo báng. Bloom trong chiếc áo đuôi tôm rách tươm dính vôi trắng, chiếc mũ lụa móp méo lệch sang một bên đầu, một miếng dán băng dính vắt ngang mũi, nói không thành tiếng.)
J. J. O’MOLLOY: (Trong bộ tóc giả xám và áo choàng của luật sư, nói với giọng phản đối đầy đau đớn.) Đây không phải là chỗ cho sự đùa cợt bất lịch sự trên nỗi đau của một kẻ lầm đường lỡ bước đang say xỉn. Chúng ta không ở trong một khu chợ gấu hay một trò hề ở Oxford và đây cũng không phải là một sự bóp méo công lý. Khách hàng của tôi là một đứa trẻ, một người nhập cư nước ngoài nghèo khó bắt đầu từ con số không như một kẻ trốn vé và bây giờ đang cố gắng kiếm từng xu lương thiện. Tội danh bịa đặt này là do sự lãng quên tạm thời của di truyền, do ảo giác gây ra, những hành vi quen thuộc như sự việc có tội bị cáo buộc là hoàn toàn được phép ở quê hương của khách hàng tôi, xứ sở của các pharaoh. Thoạt nhìn, tôi xin trình bày với các vị rằng không có ý định thực hiện hành vi quan hệ xác thịt. Sự thân mật đã không xảy ra và hành vi phạm tội bị Driscoll phàn nàn, rằng trinh tiết của cô ta bị gạ gẫm, đã không lặp lại. Tôi xin đặc biệt bàn về hiện tượng lại giống. Đã có những trường hợp đắm tàu và mộng du trong gia đình khách hàng của tôi. Nếu bị cáo có thể nói được, hắn có thể lật mở một câu chuyện—một trong những câu chuyện kỳ lạ nhất từng được kể giữa hai bìa sách. Bản thân hắn, thưa quan tòa, là một đống đổ nát về thể xác do bệnh ngực yếu của thợ giày. Lời khai của hắn là hắn có gốc gác Mông Cổ và không chịu trách nhiệm về hành động của mình. Thực ra là thần trí không bình thường.
BLOOM: (Đi chân trần, ngực chim bồ câu, mặc áo lót và quần dài lascar, các ngón chân lúng túng hướng vào trong, mở đôi mắt nốt ruồi nhỏ xíu và ngơ ngác nhìn xung quanh, đưa bàn tay chậm rãi xoa trán. Sau đó, hắn kéo thắt lưng theo kiểu thủy thủ và nhún vai cúi chào tòa theo kiểu phương Đông, giơ một ngón cái hướng lên trời.) Hắn làm trời tối nay đẹp quá cơ. (Hắn bắt đầu ngân nga đơn giản.)
Li li poo lil chile
Blingee pigfoot evly night
Payee two shilly...
(Hắn bị la ó át giọng.)
J. J. O’MOLLOY: (Gay gắt với đám đông.) Đây là một cuộc chiến đấu đơn độc. Thề có âm phủ, tôi sẽ không để bất kỳ khách hàng nào của mình bị bịm mõm và quấy rối theo cách này bởi một lũ chó ghẻ và linh cẩu cười. Bộ luật Mosaic đã thay thế luật rừng. Tôi nói điều đó và tôi nói một cách dứt khoát, không hề có ý định phá hoại công lý trong một phút nào, bị cáo không phải là tòng phạm trước khi hành vi xảy ra và bên nguyên đơn chưa hề bị xâm hại. Người trẻ tuổi được bị cáo đối xử như thể cô ta chính là con gái ruột của mình. (Bloom cầm tay J. J. O’Molloy và đưa lên môi hôn.) Tôi sẽ gọi chứng cứ phản bác để chứng minh hùng hồn rằng bàn tay ẩn giấu lại đang giở trò cũ. Khi nghi ngờ hãy trừng phạt Bloom. Khách hàng của tôi, một người đàn ông bản tính rụt rè, là người cuối cùng trên thế giới làm bất cứ điều gì kém nam tính mà sự khiêm tốn có thể phản đối hoặc ném đá vào một cô gái lầm đường lạc lối khi một tên khốn nạn nào đó, kẻ chịu trách nhiệm cho tình trạng của cô ta, đã thỏa mãn ý nguyện tồi tệ của hắn trên người cô ấy. Hắn muốn hướng thiện. Tôi coi hắn là người da trắng tốt nhất mà tôi biết. Hắn hiện đang sa cơ lỡ vận do việc thế chấp tài sản rộng lớn của mình tại Agendath Netaim ở Tiểu Á xa xôi, các hình chiếu của nó sẽ được trình chiếu ngay bây giờ. (Nói với Bloom.) Tôi đề nghị anh hãy làm một việc hào phóng.
BLOOM: Một xu cho mỗi bảng.
(Hình ảnh hồ Kinnereth với đàn gia súc mờ ảo đang gặm cỏ trong sương mù bạc được chiếu lên tường. Moses Dlugacz, bạch tạng mắt chồn, mặc quần yếm xanh, đứng bật dậy trên khán đài, mỗi tay cầm một quả cam chanh và một quả thận lợn.)
DLUGACZ: (Khàn giọng.) Bleibtreustrasse, Berlin, W. 13.
(J. J. O’Molloy bước lên bục thấp và trang nghiêm nắm lấy vạt áo khoác của mình. Khuôn mặt anh ta dài ra, trở nên tái nhợt và có râu, với đôi mắt trũng sâu, những vết bầm của bệnh lao phổi và gò má đỏ ửng của John F. Taylor. Anh ta đưa khăn tay lên miệng và chăm chú quan sát dòng máu hồng hoa đang chảy xiết.)
J. J. O’MOLLOY: (Gần như không thành tiếng.) Xin lỗi. Tôi đang bị cảm lạnh nặng, vừa từ giường bệnh bước ra. Một vài từ được lựa chọn cẩn thận. (Anh ta đảm nhận cái đầu chim, bộ ria mép cáo và sự hùng biện hình ống của Seymour Bushe.) Khi cuốn sách của thiên thần được mở ra nếu có bất cứ điều gì mà lồng ngực ưu tư đã khai mở về sự biến đổi tâm hồn và sự biến đổi tâm hồn xứng đáng được tồn tại, tôi xin nói hãy trao cho người bị cáo trước vành móng ngựa đặc ân thiêng liêng của sự nghi ngờ hợp lý.
(Một tờ giấy có ghi gì đó được chuyển vào tòa án.)
BLOOM: (Mặc trang phục tòa án.) Có thể đưa ra những lời giới thiệu tốt nhất. Các ông Callan, Coleman. Ngài Wisdom Hely Thẩm phán hòa bình. Sếp cũ của tôi Joe Cuffe. Ngài V. B. Dillon, cựu thị trưởng Dublin. Tôi đã di chuyển trong vòng tròn mê hoặc cao quý nhất... Các nữ hoàng xã hội Dublin.
(Thờ ơ.) Chiều nay tôi vừa trò chuyện tại dinh phó vương với những người bạn cũ của tôi, ngài Robert và phu nhân Ball, nhà thiên văn học hoàng gia, tại buổi tiếp tân. Ngài Bob, tôi nói...
BÀ YELVERTON BARRY: (Mặc đầm dạ hội opal khoét ngực sâu và găng tay ngà voi dài đến khuỷu tay, khoác áo choàng chần bông gạch viền chồn, cài lược kim cương và lông chim bồ nông trên tóc.) Bắt hắn đi, cảnh sát. Hắn đã viết cho tôi một lá thư ẩn danh bằng chữ in tay khi chồng tôi đang ở North Riding thuộc Tipperary trong chuyến tuần tra Munster, ký tên James Lovebirch. Hắn nói rằng hắn đã nhìn thấy từ hàng ghế khán giả những đôi gò bồng đảo vô song của tôi khi tôi ngồi trong lô ghế của Nhà hát Hoàng gia trong buổi biểu diễn theo lệnh của vở La Cigale. Hắn nói hắn vô cùng say đắm tôi. Hắn đã có những lời lẽ khiếm nhã mời gọi tôi có hành vi sai trái vào lúc bốn rưỡi chiều thứ Năm tuần tới, theo giờ Dunsink. Hắn đề nghị gửi qua đường bưu điện cho tôi một tác phẩm viễn tưởng của Monsieur Paul de Kock, có tựa đề Cô gái mang ba chiếc áo nịt ngực.
BÀ BELLINGHAM: (Mặc áo choàng lông chồn hải cẩu và đội mũ, quấn kín mũi, bước ra từ chiếc xe ngựa brougham và soi qua cặp kính lặn bằng đồi mồi mà cô ấy lấy ra từ bên trong chiếc múp lông thú opossum khổng lồ của mình.) Cả tôi nữa. Vâng, tôi tin đó chính là kẻ đáng ghét đó. Bởi vì hắn đã đóng cửa xe ngựa của tôi bên ngoài phòng khám của ngài Thornley Stoker vào một ngày mưa tuyết trong đợt lạnh giá tháng Hai năm chín mươi ba khi ngay cả lưới cống nước thải và phao bi trong bể nước phòng tắm của tôi cũng bị đóng băng. Sau đó, hắn gửi kèm một bông hoa edelweiss hái trên đỉnh núi, như hắn nói, để vinh danh tôi. Tôi đã mang nó đi kiểm tra bởi một chuyên gia thực vật học và nhận được thông tin rằng đó là một bông hoa khoai tây trồng trong nhà được lấy trộm từ khung ép của trang trại kiểu mẫu.
BÀ YELVERTON BARRY: Thật hổ thẹn cho hắn!
(Đám đông ả đĩ và kẻ rách rưới tràn lên.)
ĐÁM Ả ĐĨ VÀ KẺ RÁCH RƯỚI: (Hét lên.) Bắt cướp! Hoan hô nào, Râu Xanh! Ba lần hoan hô cho Ikey Mo!
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: (Lấy còng tay ra.) Còng đây rồi.
BÀ BELLINGHAM: Hắn đã gửi cho tôi thư bằng nhiều chữ viết tay khác nhau với những lời tán tụng quá đà là một nữ thần Vệ nữ mặc đồ lông thú và bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với người đánh xe chịu giá lạnh Palmer của tôi trong khi ngay trong hơi thở đó hắn lại tỏ ra ghen tị với miếng bịt tai và áo cừu lông cừu của anh ta và sự gần gũi may mắn của anh ta với thân thể tôi, khi đứng sau ghế của tôi mặc đồng phục của tôi và phù hiệu gia tộc của huy hiệu Bellingham được trang trí màu đen, đầu hươu đực cắt ngang màu vàng. Hắn ca ngợi đến mức phóng đại đôi chân dưới của tôi, đôi bắp chân căng phồng trong chiếc tất lụa kéo lên tận đỉnh, và ca ngợi nồng nhiệt những khob báu ẩn giấu khác của tôi bằng ren vô giá mà hắn nói hắn có thể hình dung ra. Hắn giục giã tôi (Nói rằng hắn cảm thấy sứ mệnh trong đời là giục giã tôi.) làm ô uế chiếc giường cưới, phạm tội ngoại tình vào cơ hội sớm nhất có thể.
QUÝ CÔ MERVYN TALBOYS: (Trong trang phục nữ kỵ mã, mũ cứng, giày ống cao có cựa gà, áo lê-ghê đỏ thắm, găng tay ngả màu vàng dài có thêu dây, váy dài lê thê được nhấc lên và roi săn mà cô ấy dùng để đập liên tục vào ủng của mình.) Cả tôi nữa. Bởi vì hắn đã nhìn thấy tôi trên sân polo của công viên Phoenix trong trận đấu Ireland và Phần còn lại của Ireland. Đôi mắt tôi, tôi biết, tỏa sáng thần thánh khi tôi chứng kiến Đại úy Slogger Dennehy của trung đoàn Inniskillings giành chiến thắng trong hiệp đấu cuối cùng trên chú ngựa cưng Centaur của anh ta. Don Juan bình dân này đã quan sát tôi từ sau một chiếc xe ngựa hackney và gửi cho tôi trong hai lớp phong bì một bức ảnh đồi trụy, loại được bán sau khi trời tối trên các đại lộ Paris, xúc phạm đến bất kỳ quý cô nào. Tôi vẫn còn giữ nó. Nó mô tả một ả thiếu nữ bán khỏa thân, mảnh mai và xinh đẹp (vợ của hắn, như hắn đã long trọng bảo đảm với tôi, được hắn chụp từ thực tế), đang thực hiện hành vi quan hệ bất chính với một tên đấu sĩ bò tót cơ bắp, rõ ràng là một tên khốn nạn. Hắn giục giã tôi làm điều tương tự, cư xử hư hỏng, phạm tội với các sĩ quan trong đồn trú. Hắn van nài tôi làm bẩn bức thư của hắn theo một cách không thể diễn tả bằng lời, trừng phạt hắn như hắn xứng đáng được nhận, cưỡi lên và cưỡi hắn, cho hắn một trận roi ngựa độc ác nhất.
BÀ BELLINGHAM: Tôi cũng vậy.
BÀ YELVERTON BARRY: Tôi cũng vậy.
(Một số quý cô Dublin rất đang hoàng giơ những bức thư không đàng hoàng nhận được từ Bloom lên.)
QUÝ CÔ MERVYN TALBOYS: (Dậm những chiếc cựa lanh lanh trong một cơn thịnh nộ bất chợt.) Tôi sẽ làm vậy, thề có Chúa trên cao. Tôi sẽ quất roi tên hèn nhát nhát gan đó bao lâu còn đứng vững trên người hắn. Tôi sẽ lột da sống hắn.
BLOOM: (Mắt nhắm lại, co rúm lại đầy kỳ vọng.) Ở đây à? (Hắn quằn quại.) Lại nữa! (Hắn thở hổn hển co ro.) Tôi thích sự nguy hiểm.
QUÝ CÔ MERVYN TALBOYS: Chắc chắn rồi! Tao sẽ làm cho mày nóng mặt lên. Tao sẽ bắt mày nhảy điệu Jack Latten vì chuyện đó.
BÀ BELLINGHAM: Đánh mông hắn cho tốt vào, cái đồ mới nổi này! Vẽ cờ hoa kỳ lên đó luôn đi!
BÀ YELVERTON BARRY: Thật đồi bại! Không có lời nào bào chữa cho hắn được! Đã có vợ rồi cơ mà!
BLOOM: Tất cả những người này. Tôi chỉ có ý định đánh đòn thôi. Một cảm giác ấm áp ran rát mà không có dịch nhờn. Dùng roi tinh tế để kích thích tuần hoàn máu.
QUÝ CÔ MERVYN TALBOYS: (Cười nhạo báng.) Ồ, thế à, anh bạn đẹp trai của tôi? Này, thề có Chúa hằng sống, mày sẽ nhận được bất ngờ lớn nhất đời mày bây giờ, tin tao đi, trận đòn tàn nhẫn nhất mà một người đàn ông từng thỏa thuận. Mày đã khơi dậy con hổ cái đang ngủ quên trong bản tính tao thành cơn thịnh nộ rồi đấy.
BÀ BELLINGHAM: (Lắc chiếc múp lông và kính lặn một cách thù hằn.) Cho hắn biết tay đi, Hanna cưng. Cho hắn một bài học. Quất cho tên chó ghẻ này thân tàn ma dại đi. Roi chín khúc. Thiến hắn đi. Giải phẫu sinh sống hắn đi.
BLOOM: (Rùng mình, co ro, chắp hai tay lại: với vẻ mặt hèn mọn.) Lạnh quá! Ôi buốt giá quá! Chỉ vì vẻ đẹp tiên nữ của các vị thôi. Hãy quên và tha thứ đi. Định mệnh. Tha cho tôi lần này đi. (Hắn chìa nốt bên má kia ra.)
BÀ YELVERTON BARRY: (Nghiêm khắc.) Đừng làm thế bằng bất cứ giá nào, cô Talboys! Hắn ta phải bị trừng trị thích đáng!
QUÝ CÔ MERVYN TALBOYS: (Cởi găng tay một cách bạo lực.) Tao sẽ không làm thế đâu. Đồ chó lợn và từ trước đến nay vẫn thế kể từ khi sinh ra! Dám cả gan mở miệng nói chuyện với tao à! Tao sẽ quất hắn bầm tím giữa đường phố công cộng. Tao cắm cập vào người hắn ngập cán. Hắn là một thằng cắm sừng nổi tiếng. (Cô ta quất roi săn một cách tàn nhẫn trong không khí.) Cởi quần hắn ra không chậm trễ gì nữa. Lại đây, thưa ngài! Nhanh lên! Sẵn sàng chưa?
BLOOM: (Run rẩy, bắt đầu tuân theo.) Thời tiết dạo này ấm quá cơ.
(Davy Stephens, tóc uốn lọn, đi qua cùng một lũ bán báo chân trần.)
DAVY STEPHENS: Sứ giả của Trái tim Cực thánh và Báo Evening Telegraph kèm phụ bản Ngày Thánh Patrick. Chứa địa chỉ mới của tất cả những kẻ bị cắm sừng ở Dublin.
(Đức ông Canon O’Hanlon mặc áo choàng vàng kim đang giơ cao và trưng bày một chiếc đồng hồ bằng đá cẩm thạch. Trước mặt ngài, cha Conroy và cha John Hughes S. J. cúi gập người.)
ĐỒNG HỒ: (Mở cửa.)
Cuckoo.
Cuckoo.
Cuckoo.
(Tiếng vòng đồng của một chiếc giường kêu lanh canh.)
VÒNG ĐỒNG: Cạch tùng. Cạch tùng cạch. Cạch tùng.
(Một tấm sương mù cuộn lại nhanh chóng, nhanh chóng để lộ khuôn mặt trong bồi thẩm đoàn của Martin Cunningham, chủ tọa, đội mũ lụa, Jack Power, Simon Dedalus, Tom Kernan, Ned Lambert, John Henry Menton, Myles Crawford, Lenehan, Paddy Leonard, Nosey Flynn, M’Coy và khuôn mặt vô danh của một Kẻ Vô Danh.)
KẺ VÔ DANH: Cưỡi ngựa không yên. Chấp nặng nhẹ. Mẹ kiếp, hắn đã tóm được cô ta rồi.
CÁC BỒI THẨM ĐOÀN: (Tất cả quay đầu về phía giọng nói.) Thật á?
KẺ VÔ DANH: (Gầm gừ.) Chổng vó lên trời. Đặt một ăn năm mươi.
CÁC BỒI THẨM ĐOÀN: (Tất cả cúi đầu đồng tình.) Đa số chúng ta cũng nghĩ thế.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Hắn là một kẻ bị đánh dấu. Lại một lọn tóc của cô gái khác bị cắt. Truy nã: Jack the Ripper. Thưởng một nghìn bảng.
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: (Kính sợ, thì thầm.) Và mặc đồ đen. Theo mộc môn. Vô chính phủ.
NGƯỜI XƯỚNG GỌI: (To giọng.) Xét rằng Leopold Bloom không rõ nơi cư trú là một tên khủng bố, kẻ làm giả, kẻ đa thê, má mì và bị cắm sừng nổi tiếng và là mối phiền toái công cộng đối với công dân Dublin và xét rằng tại phiên tòa xét xử này, vị đáng kính nhất...
(Danh dự của ngài, Sir Frederick Falkiner, máy ghi âm Dublin, trong trang phục tư pháp bằng đá xám đứng dậy từ ghế thẩm phán, râu đá. Ngài mang trên tay một quyền trượng ô. Từ vầng trán của ngài mọc lên sừng cừu đực Mosaic.)
THẨM PHÁN: Tao sẽ chấm dứt nạn buôn bán nô lệ trắng này và quét sạch loài sâu bọ đáng ghét này khỏi Dublin. Thật đáng xấu hổ! (Ngài đội chiếc mũ đen lên.) Hãy bắt giữ hắn, ngài Phó cảnh sát trưởng, khỏi vành móng ngựa nơi hắn đang đứng và giam giữ tại nhà tù Mountjoy theo ý muốn của Hoàng thượng và ở đó bị treo cổ cho đến khi chết và đừng làm sai nếu không thì ngươi phải chịu trách nhiệm hoặc xin Chúa thương xót linh hồn ngươi. Đưa hắn đi. (Một chiếc mũ sọ đen hạ xuống đầu ngài.)
(Phó cảnh sát trưởng Long John Fanning xuất hiện, đang hút một điếu xì gà Henry Clay nồng nặc.)
LONG JOHN FANNING: (Cau mày và cất giọng vang dội trầm bổng.) Ai sẽ treo cổ Judas Iscariot đây?
(H. Rumbold, thợ cạo bậc thầy, mặc áo khoác màu máu và tạp dề thợ thuộc da, một sợi dây thừng cuộn trên vai, leo lên bục. Một chiếc gậy tự vệ và một cây gậy đinh tán giắt ở thắt lưng. Hắn nham hiểm xoa đôi bàn tay quắp lại, nổi cộm những khớp tay bằng đấm đồng.)
RUMBOLD: (Nói với thẩm phán với sự quen thuộc nham hiểm.) Harry Treo Cổ, thưa Bệ hạ, nỗi kinh hoàng vùng Mersey. Năm guinea một cổ họng. Được ăn cả ngã về không.
(Chuông nhà thờ George đổ chậm rãi, tiếng sắt đen vang dội.)
TIẾNG CHUÔNG: Heigho! Heigho!
BLOOM: (Tuyệt vọng.) Khoan đã. Dừng lại. Hải âu. Trái tim nhân hậu. Tôi đã thấy. Sự ngây thơ. Cô gái trong chuồng khỉ. Vườn thú. Con tinh tinh dâm ô. (Thở hổn hển.) Khung xương chậu. Cú đỏ mặt ngây thơ của cô ấy làm tôi mất hết tinh thần. (Tràn ngập cảm xúc.) Tôi đã rời khỏi khu vực đó. (Hắn quay sang một bóng người trong đám đông, van xin.) Hynes, tôi có thể nói chuyện với anh không? Anh biết tôi mà. Ba shilling đó anh cứ giữ lấy. Nếu anh muốn thêm một chút nữa...
HYNES: (Lạnh lùng.) Anh là người lạ hoàn toàn.
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: (Chỉ tay ra góc đường.) Quả bom ở đây này.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Máy nổ hẹn giờ.
BLOOM: Không, không. Chân lợn. Tôi đi đám tang mà.
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: (Rút dùi cui ra.) Đồ nói dối!
(Con chó săn nhấc mõm lên, lộ ra khuôn mặt xám xịt lở loét của Paddy Dignam. Nó đã gặm nhấm tất cả. Nó thở ra hơi thở thối rữa của tử thi. Nó phát triển đến kích thước và hình dáng con người. Chiếc áo khoác chó x dachshund biến thành tấm áo liệm màu nâu. Đôi mắt xanh lóe lên tia máu. Một nửa cái tai, toàn bộ cái mũi và cả hai ngón tay cái đã bị ma quỷ ăn trụi.)
PADDY DIGNAM: (Giọng vang vọng.) Đúng vậy. Đó là đám tang của tôi. Bác sĩ Finucane tuyên bố đã chết khi tôi chết vì nguyên nhân tự nhiên.
(Hắn ngẩng khuôn mặt xám xịt bị cắt xén lên hướng mặt trăng và tru lên thảm thiết.)
BLOOM: (Đắc thắng.) Các anh nghe thấy chưa?
PADDY DIGNAM: Bloom, tôi là linh hồn của Paddy Dignam. Nghe đây, nghe đây, hãy nghe đây!
BLOOM: Giọng nói là của Esau.
TUẦN ĐÊM THỨ HAI: (Làm dấu thánh.) Làm sao có chuyện đó được?
TUẦN ĐÊM THỨ NHẤT: Không có trong sách giáo catechism một xu đâu nhé.
PADDY DIGNAM: Bằng phép hoán sinh. Ma quỷ.
MỘT GIỌNG NÓI: Xàm xí.
PADDY DIGNAM: (Nghiêm túc.) Ngày trước tôi làm việc cho ông J. H. Menton, luật sư, ủy viên tuyên thệ và bản khai, ở số 27 Bachelor’s Walk. Bây giờ tôi đã chết, thành tâm thất trái phì đại. Cay đắng thật. Người vợ tội nghiệp suy sụp tinh thần khủng khiếp. Cô ấy chịu đựng thế nào rồi? Can ngăn cô ấy đừng uống chai rượu sherry đó. (Hắn nhìn quanh.) Một ngọn đèn. Tôi phải giải quyết nhu cầu động vật. Múc bơ sữa đó không hợp với tôi.
(Dáng người bệ vệ của John O’Connell, người giữ mộ, bước ra, tay cầm một chùm chìa khóa buộc ruy băng tang. Đứng bên cạnh anh ta là cha Coffey, tuyên úy, bụng cóc, cổ vẹo, mặc áo surplice và đội mũ trùm đầu khăng khăng, lờ đờ cầm một cây gậy hoa anh túc xoắn.)
CHA COFFEY: (Ngáp, rồi tụng ca với tiếng khàn khàn.) Namine. Jacobs. Vobiscuits. Amen.
JOHN O’CONNELL: (Gầm thét qua loa phóng thanh.) Dignam, Patrick T, đã qua đời.
PADDY DIGNAM: (Vểnh tai lên, nhăn mặt.) Âm điệu. (Hắn nguầy nguậy bò tới và áp tai xuống đất.) Tiếng gọi của chủ nhân tôi!
JOHN O’CONNELL: Giấy khai tử số ký tự U. P. tám mươi lăm nghìn. Lô mười bảy. Ngôi nhà của các Chìa khóa. Thửa đất số một trăm linh một.
(Paddy Dignam lắng nghe với nỗ lực thấy rõ, suy nghĩ, cái đuôi dựng thẳng, đôi tai vểnh lên.)
PADDY DIGNAM: Cầu cho linh hồn ngài được yên nghỉ.
(Hắn luồn lách qua miệng cống than, chiếc áo choàng màu nâu kéo lê sợi dây qua những hòn sỏi lách cách. Theo sau hắn là một con chuột đực già béo mục với đôi bàn chân rùa nấm dưới lớp mai xám. Giọng Dignam nghẹt thở, vang lên gầm gừ dưới lòng đất: Dignam đã chết và đi xuống dưới. Tom Rochford, ngực đỏ như chim hồng tước, đội mũ và mặc quần cộc, nhảy xuống từ cỗ máy hai cột của anh ta.)
TOM ROCHFORD: (Một tay đặt trước ngực, cúi chào.) Reuben J. Tôi tìm thấy một đồng florin. (Hắn nhìn chằm chằm vào miệng cống.) Đến lượt tôi rồi đấy. Theo tôi lên Carlow.
(Anh ta thực hiện một cú nhảy cá hồi liều lĩnh trên không trung và bị nuốt chửng vào miệng cống than. Hai đĩa trên cột lảo đảo, đôi mắt của con số không. Mọi thứ lùi dần. Bloom lại lội bì bõm qua vũng bùn. Tiếng hôn ríu rít giữa các làn sương mù. Tiếng piano vang lên. Hắn đứng trước một ngôi nhà sáng đèn, lắng nghe. Những nụ hôn, bay vút lên từ tổ ấm, bay lượn quanh hắn, ríu rít, hót vang, gù gù.)
NHỮNG NỤ HÔN: (Hót vang.) Leo! (Ríu rít.) Icky licky micky sticky cho Leo! (Gù gù.) Coo coocoo! Yummyyum, Womwom! (Hót vang.) Big comebig! Pirouette! Leopopold! (Ríu rít.) Leeolee! (Hót vang.) O Leo!
(Chúng sột soạt, bay lượn trên quần áo hắn, đậu xuống, những đốm sáng chóng mặt, những hạt kim tuyến bạc.)
BLOOM: Chạm tay một người. Âm nhạc buồn. Nhạc nhà thờ. Có lẽ ở đây.
(Zoe Higgins, một ả đĩ trẻ trong chiếc váy lụa sapphire, cài ba khuy đồng, một chiếc băng đô nhung đen mảnh quanh cổ, gật đầu, chạy lon ton xuống bậc thềm và tiếp cận hắn.)
ZOE: Anh đang tìm ai à? Hắn ở bên trong với bạn hắn đấy.
BLOOM: Đây có phải nhà bà Mack không?
ZOE: Không, số tám mươi mốt. Nhà bà Cohen. Anh đi xa hơn chưa chắc đã kiếm được chỗ tốt hơn đâu. Mụ Slipperslapper. (Thân thiện.) Tối nay mụ ta cũng đang làm việc với gã bác sĩ thú y chỉ điểm chuyên cho mụ mấy con ngựa thắng cuộc và trả tiền cho con trai mụ ở Oxford. Làm việc quá giờ nhưng hôm nay vận may của mụ ta lại đến. (Đầy nghi ngờ.) Anh không phải bố nó đấy chứ?
BLOOM: Không đời nào!
ZOE: Cả hai anh đều mặc đồ đen. Con chuột nhỏ có ngứa ngáy gì tối nay không?
(Làn da nhạy cảm của hắn cảm nhận được những ngón tay của ả đang tiến lại gần. Một bàn tay lướt qua đùi trái hắn.)
ZOE: Hòn dái thế nào rồi?
BLOOM: Lệch sang bên. Lạ là chúng lại nằm bên phải. Nặng hơn thì phải. Một trong một triệu thợ may của tôi, Mesias, nói thế.
ZOE: (Bỗng hoảng hốt.) Anh bị săng cứng rồi đấy.
BLOOM: Chắc không đâu.
ZOE: Tôi thấy thế đấy.
(Bàn tay ả luồn vào túi quần bên trái của hắn và lôi ra một củ khoai tây đen sì teo tóp. Ả nhìn nó và Bloom bằng đôi môi ẩm ướt im lặng.)
BLOOM: Bùa hộ mệnh. Vật gia bảo.
ZOE: Cho Zoe nhé? Giữ làm kỷ niệm nhé? Vì đã rất tử tế mà, chịu không?
(Ả tham lam nhét củ khoai tây vào túi rồi bám lấy tay áo hắn, ôm ấp hắn bằng sự ấm áp mềm mại. Hắn cười ngượng ngùng. Chầm chậm, từng nốt nhạc, âm nhạc phương Đông vang lên. Hắn nhìn vào viên pha lê màu nâu trong đôi mắt ả, được viền phấn kohl. Nụ cười của hắn dịu lại.)
ZOE: Lần sau gặp là anh nhận ra tôi ngay.
BLOOM: (Buồn bã.) Tôi chưa bao giờ yêu một con cừu non thân thiết nào mà nó không chắc chắn...
(Những chú cừu đang nhảy nhót, gặm cỏ trên núi. Gần đó là những hồ nước. Xung quanh bờ hồ là những bóng râm đen của những lùm tuyết tùng. Hương thơm bốc lên, một lớp lông tơ nhựa cây dày đặc. Nó cháy rực, phương Đông, bầu trời xanh ngắt, bị xé toạc bởi chuyến bay bằng đồng của những đại bàng. Dưới đó là thành phố phụ nữ, khỏa thân, trắng muốt, tĩnh lặng, mát mẻ, trong sự xa hoa. Một đài phun nước róc rách giữa những đóa hoa hồng gấm. Những bông hồng khổng lồ róc rách vang lên tiếng rượu nho đỏ. Một thứ rượu của sự xấu hổ, dục vọng, máu trào ra, róc rách kỳ lạ.)
ZOE: (Róc rách hát theo giai điệu, đôi môi kỹ nữ dính đầy mỡ lợn và nước hoa hồng.) Schorach ani wenowach, benoith Hierushaloim.
BLOOM: (Say mê.) Tôi cứ tưởng cô có gốc gác tử tế qua giọng điệu đấy chứ.
ZOE: Và anh biết suy nghĩ đã làm gì không?
(Ả nhẹ nhàng cắn vào tai hắn bằng chiếc răng bọc vàng nhỏ xíu, phả vào người hắn hơi thở nồng nặc mùi tỏi thiu.) Những cánh hoa hồng tách ra, lộ ra một ngôi mộ bằng vàng của các vị vua và những bộ xương mục rữa của họ.
BLOOM: (Lùi lại, máy móc vuốt ve ngực phải của ả bằng một bàn tay phẳng phiu vụng về.) Cô là người Dublin à?
ZOE: (Khéo léo túm lấy một sợi tóc lạc và cuộn nó vào búi tóc.) Đời nào có chuyện đó. Tôi là người Anh. Anh có điếu xì gà tẩu nào không?
BLOOM: (Như trước.) Ít khi hút lắm, cưng ạ. Thỉnh thoảng điếu xì gà thôi. Trò trẻ con. (Khiếm nhã.) Cái miệng có thể làm được nhiều việc có ích hơn là ngậm một ống cỏ dại hôi hám.
ZOE: Thôi đi. Làm một bài diễn văn tranh cử đi rồi biết.
BLOOM: (Trong bộ quần áo yếm công nhân bằng vải nhung kẻ, áo len đen với cà vạt đỏ thả lỏng và mũ apache.) Nhân loại thật không thể cứu vãn được. Ngài Walter Ralegh đã mang từ thế giới mới củ khoai tây đó và thứ cỏ dại đó, một thứ tiêu diệt dịch bệnh bằng cách hấp thụ, một thứ khác đầu độc tai, mắt, trái tim, trí nhớ, ý chí, sự hiểu biết, tất cả. Nghĩa là ông ta đã mang chất độc đến một trăm năm trước khi một người khác mà tôi quên tên mang thức ăn đến. Tự tử. Những lời nói dối. Tất cả thói quen của chúng ta. Này, hãy nhìn vào đời sống công chúng của chúng ta mà xem!
(Tiếng chuông nửa đêm vang lên từ những ngọn tháp xa xôi.)
TIẾNG CHUÔNG: Quay lại đi, Leopold! Thị trưởng Dublin!
BLOOM: (Trong áo choàng và dây chuyền ủy viên hội đồng thành phố.) Các cử tri Aran Quay, Inns Quay, Rotunda, Mountjoy và North Dock, tốt hơn là nên làm đường xe điện, tôi nói vậy, từ chợ gia sản đến con sông. Đó là âm nhạc của tương lai. Đó là chương trình của tôi. Cui bono? Nhưng những tên cướp biển Vanderdeckens trên con tàu ma tài chính của chúng...
MỘT CỬ TRI: Ba lần hoan hô cho vị thủ hiến tương lai của chúng ta!
(Bắc cực quang của đoàn rước đuốc nhảy múa.)
ĐOÀN RƯỚC ĐUỐC: Hoan hô!
(Một số nhân vật có máu mặt, ông lớn thành phố và công dân danh dự của Dublin bắt tay Bloom và chúc mừng anh ta. Timothy Harrington, cựu thị trưởng Dublin ba lần, uy nghi trong sắc đỏ thị trưởng, dây chuyền vàng và cà vạt lụa trắng, hội ý với ủy viên hội đồng Lorcan Sherlock, quyền thị trưởng. Họ gật đầu mạnh mẽ đồng ý.)
CỰU THỊ TRƯỞNG HARRINGTON: (Mặc áo choàng đỏ cầm quyền trượng, dây chuyền vàng thị trưởng và khăn choàng lụa trắng lớn.) Rằng bài phát biểu của ủy viên hội đồng ngài Leo Bloom được in bằng tiền của người đóng thuế. Rằng ngôi nhà nơi anh ta sinh ra được trang hoàng bằng một tấm bảng kỷ niệm và con đường trước đây được gọi là Cow Parlour ngoài phố Cork từ nay được gọi là Đại lộ Bloom.
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG LORCAN SHERLOCK: Nhất trí thông qua.
BLOOM: (Đầy nhiệt huyết.) Những người Hà Lan bay này hay những người Hà Lan dối trá này khi họ ngả lưng trong chiếc ghế bọc đệm ở boong sau, gieo xúc xắc, họ quan tâm gì chứ? Máy móc là tiếng kêu của họ, là ảo tưởng của họ, là thuốc tiên của họ. Thiết bị tiết kiệm sức lao động, kẻ thay thế, quái vật nhân tạo phục vụ cho việc tàn sát lẫn nhau, những con yêu tinh gớm ghiếc được sinh ra bởi một lũ thèm khát tư bản chủ nghĩa trên sức lao động bị đĩ điếm hóa của chúng ta. Người nghèo chết đói trong khi chúng đang cho hươu núi hoàng gia ăn cỏ hoặc bắn nông dân và chim trĩ trong sự phô trương ngu ngốc về tiền tài và quyền lực. Nhưng triều đại của chúng đã chấm dứt muôn đời muôn thưở và muôn...
(Tiếng vỗ tay kéo dài. Những cột cờ Venice, cột mây và cổng chào lễ hội mọc lên. Một dải băng mang dòng chữ Cead Mile Failte và Mah Ttob Melek Israel vắt ngang con đường. Tất cả các cửa sổ đều nườm nượp người xem, chủ yếu là phụ nữ. Dọc theo tuyến đường, các trung đoàn Bộ binh Hoàng gia Dublin, Bộ binh Scotland của Nhà vua, Bộ binh Cameron và Bộ binh xứ Wales, đứng nghiêm, giữ đám đông lại sau. Những nam sinh trường Trung học đứng chót vót trên cột đèn, cột điện thoại, bệ cửa sổ, gờ tường, máng xối, ống khói, lan can, ống thoát nước, huýt sáo và reo hò. Trụ mây xuất hiện. Một ban nhạc kèn và trống vang lên từ đằng xa chơi bài Kol Nidre. Những người đánh trống tiến lại với cờ đại bàng hoàng gia được kéo lên, mang theo các biểu ngữ và vẫy những tán lá cọ phương Đông. Tiêu chuẩn giáo hoàng chryselephantine vươn cao, được bao quanh bởi các dải băng của lá cờ thành phố. Phần đầu của đoàn rước xuất hiện do John Howard Parnell, cảnh sát trưởng thành phố, dẫn đầu trong chiếc áo choàng hình bàn cờ, Athlone Poursuivant và Ulster King of Arms. Theo sau họ là Ngài Joseph Hutchinson, thị trưởng Dublin, ngài thị trưởng Cork, các vị thị trưởng Limerick, Galway, Sligo và Waterford, hai mươi tám quý tộc đại diện Ireland, sirdars, các đại gia và các maharajah mang khăn trải ghế, Sở Cứu hỏa Đô thị Dublin, chương của các vị thánh tài chính theo thứ tự ưu tiên tài phiệt, giám mục Down và Connor, Đức Hồng y Michael cardinal Logue, tổng giám mục Armagh, linh mục toàn Ireland, Đức cha, Tổng giám mục rất đáng kính Dr William Alexander, tổng giám mục Armagh, linh mục toàn Ireland, giáo trưởng do thái, người điều hành giáo hội Presbyterian, người đứng đầu các nhà nguyện Baptist, Anabaptist, Methodist và Moravian và thư ký danh dự của hội những người bạn. Theo sau họ là các guild và ngành nghề và đội quân tình nguyện với cờ hoa tung bay: thợ làm thùng, người buôn chim, thợ máy, người đi thu thập báo, thư ký luật, thợ mát-xa, chủ quán rượu, thợ làm dây nịt, thợ quét ống khói, thợ lọc mỡ lợn, thợ dệt lụa tabinet và poplin, thợ móng ngựa, nhà kho Ý, thợ trang trí nhà thờ, thợ làm giày, thợ mai táng, thợ bán lụa tơ tằm, thợ kim hoàn, chủ tiệm bán hàng, thợ cắt nút chai, thẩm định tổn thất hỏa hoạn, thợ nhuộm và giặt là, nhà đóng chai xuất khẩu, thợ thuộc da, thợ viết vé, thợ khắc con dấu huy hiệu, nhân viên ký gửi ngựa, nhà môi giới vàng bạc, nhà cung cấp dụng cụ cricket và bắn cung, thợ làm rây, đại lý trứng và khoai tây, thợ làm tất và găng tay, nhà thầu hệ thống ống nước. Theo sau họ là các quý ông phòng ngủ, Gậy Đen, Phó Garter, Gậy Vàng, tổng quản ngựa, đại chambelan, bá tước thống soái, đại cảnh sát trưởng mang thanh kiếm nhà nước, vương miện sắt của thánh Stephen, chén thánh và kinh thánh. Bốn kèn tug tấu khúc chào mừng. Beefeaters đáp lại, thổi kèn chào mừng. Dưới một khải hoàn môn, Bloom xuất hiện, đầu trần, mặc áo choàng nhung đỏ viền lông chồn, mang gậy của Thánh Edward, quả cầu và vương trượng với chim bồ câu, gươm ngắn. Hắn ngồi trên một con ngựa trắng sữa với chiếc đuôi đỏ dài thướt tha, được trang hoàng lộng lẫy, với dây cương vàng. Sự phấn khích tột độ. Những người phụ nữ từ ban công ném cánh hoa hồng xuống. Không khí ngập tràn hương thơm. Đàn ông reo hò. Đám trẻ của Bloom chạy giữa những người đứng xem với cành táo gai và bụi chim úa.)
ĐÁM TRẺ CỦA BLOOM:
Con chim úa, chim úa,
Vua của muôn loài chim,
Ngày của thánh Stephen
Bị bắt trong bụi gai.
MỘT THỢ RÈN: (Lẩm bẩm.) Nể danh Chúa! Đó có phải là Bloom không? Hắn trông khó mà qua nổi ba mươi mốt tuổi.
MỘT THỢ LÁT ĐƯỜNG VÀ LÁT GẠCH: Đó chính là Bloom nổi tiếng bây giờ, nhà cải cách vĩ đại nhất thế giới. Ngả mũ xuống!
(Tất cả bỏ mũ ra. Phụ nữ thì thầm háo hức.)
MỘT NỮ TRIỆU PHÚ: (Giàu có.) Anh ấy thật tuyệt vời phải không?
MỘT NỮ QUÝ TỘC: (Cao quý.) Tất cả những gì người đàn ông đó đã thấy!
MỘT NHÀ NỮ QUYỀN: (Nam tính.) Và đã làm!
MỘT THỢ LẮP CHUÔNG: Khuôn mặt kinh điển! Hắn có vầng trán của một nhà tư tưởng.
(Thời tiết của Bloom. Một tia nắng mặt trời xuất hiện ở phía tây bắc.)
GIÁM MỤC DOWN VÀ CONNOR: Tôi xin giới thiệu ngài hoàng đế-chủ tịch và vua-chủ tịch không còn nghi ngờ gì nữa, vị cai trị tối cao và hùng mạnh nhất của vương quốc này. Chúa phù hộ cho Leopold Đệ nhất!
TẤT CẢ: Chúa phù hộ cho Leopold Đệ nhất!
(Bloom trong bộ lễ phục phó tế và áo choàng màu tím, hướng về giám mục Down và Connor, đầy uy nghiêm.) Cảm ơn ngài, vị linh mục hơi đáng kính.
WILLIAM, TỔNG GIÁM MỤC ARMAGH: (Trong cổ áo tím và mũ xúc xắc.) Ngài có vì quyền lực của mình mà làm cho luật pháp và lòng thương xót được thực thi trong mọi phán quyết của ngài ở Ireland và các vùng lãnh thổ thuộc về đó không?
BLOOM: (Đặt tay phải lên tinh hoàn, thề.) Xin Đấng Sáng Tạo đối xử với tôi như vậy. Tất cả những điều này tôi hứa sẽ làm.
MICHAEL, TỔNG GIÁM MỤC ARMAGH: (Đổ một bình dầu thơm lên đầu Bloom.) Gaudium magnum annuntio vobis. Habemus carneficem. Leopold, Patrick, Andrew, David, George, hãy được xức dầu!
(Bloom khoác chiếc áo choàng bằng vải vàng và đeo một chiếc nhẫn hồng ngọc. Hắn bước lên và đứng trên hòn đá định mệnh. Các quý tộc đại diện đồng thời đội chiếc vương miện của họ lên. Chuông vui mừng vang lên ở nhà thờ Christ, Saint Patrick, George và Malahide vui vẻ. Pháo hoa chợ Mirus bay lên từ mọi phía với thiết kế pháo hoa tượng trưng. Các quý tộc tỏ lòng tôn kính, từng người một, tiến lại gần và quỳ gối.)
CÁC QUÝ TỘC: Tôi xin trở thành thần dân thân xác và linh hồn của ngài để tôn sùng trần thế.
(Bloom giơ tay phải lên, trên đó lấp lánh viên kim cương Koh-i-Noor. Con ngựa của hắn hí lên. Sự im lặng lập tức. Máy phát không dây liên lục địa và liên hành tinh được cài đặt để nhận thông điệp.)
BLOOM: Các thần dân của ta! Chúng ta theo đây bổ nhiệm chú ngựa chiến trung thành Copula Felix làm Đại tể tướng di truyền và thông báo rằng chúng ta ngày hôm nay đã từ bỏ người vợ trước và đã ban bàn tay hoàng gia của mình cho công chúa Selene, ánh hào quang của màn đêm.
(Người vợ morganatic trước đây của Bloom được vội vã đưa đi trên chiếc Black Maria. Công chúa Selene, trong bộ đồ màu xanh ánh trăng, vương miện trăng lưỡi liềm bạc trên đầu, bước xuống từ chiếc kiệu Sedan, do hai người khổng lồ khiêng. Một tràng pháo tay bùng nổ.)
JOHN HOWARD PARNELL: (Giương lá cờ hoàng gia.) Bloom lừng lẫy! Người kế vị anh trai nổi tiếng của tôi!
BLOOM: (Ôm John Howard Parnell.) Chúng tôi cảm ơn anh từ tận đáy lòng, John, vì sự chào đón hoàng gia chân thành này đến với xứ sở Ireland xanh tươi, vùng đất hứa của tổ tiên chung của chúng ta.
(Quyền công dân thành phố được trao cho anh ta dưới hình thức một hiến chương. Chìa khóa Dublin, bắt chéo trên chiếc gối nhung đỏ, được trao cho anh ta. Anh ta cho thấy tất cả những gì anh ta đang mặc là tất màu xanh.)
TOM KERNAN: Ngài xứng đáng với điều đó, thưa ngài.
BLOOM: Vào ngày này hai mươi năm trước, chúng ta đã đánh bại kẻ thù truyền kiếp tại Ladysmith. Pháo binh và súng xoay trên lạc đà của chúng ta đã bắn vào chiến tuyến của hắn với hiệu quả rõ rệt. Nửa dặm tiến lên! Chúng xông lên! Mọi thứ giờ đã mất! Chúng ta có chịu thua không? Không! Chúng ta đẩy chúng chạy thục mạng! Kìa! Chúng ta xông lên! Triển khai sang bên trái, kỵ binh nhẹ của chúng ta càn quét qua các cao điểm Plevna và, thốt lên tiếng thét chiến trận Bonafide Sabaoth, chém hạ các xạ thủ Saracen không sót một tên.
NHÀ NGUYỆN CỦA THỢ IN FREEMAN: Nghe! Nghe!
JOHN WYSE NOLAN: Kìa gã đã trốn thoát James Stephens.
NAM SINH BLUECOAT: Hoan hô!
MỘT CƯ DÂN CŨ: Anh là niềm tự hào của đất nước, thưa ngài, chính là anh đấy.
MỘT BÀ BÁN TÁO: Hắn là một người đàn ông mà Ireland đang cần.
BLOOM: Các thần dân yêu quý của tôi, một kỷ nguyên mới sắp sửa bừng sáng. Ta, Bloom, bảo đảm với các ngươi rằng nó thậm chí đang ở ngay trước mắt rồi. Vâng, trên danh nghĩa của một Bloom, các ngươi chẳng bao lâu nữa sẽ bước vào thành phố vàng sắp tới, Bloomusalem mới trong Nova Hibernia của tương lai.
(Ba mươi hai công nhân, đeo phù hiệu, từ tất cả các quận của Ireland, dưới sự hướng dẫn của nhà xây dựng Derwan, xây dựng Bloomusalem mới. Đó là một tòa nhà khổng lồ với mái bằng thủy tinh, được xây dựng theo hình dạng một quả thận lợn khổng lồ, chứa bốn mươi nghìn phòng. Trong quá trình mở rộng, một số tòa nhà và đài 1u bị phá hủy. Các văn phòng chính phủ được chuyển tạm thời sang các nhà kho đường sắt. Vô số ngôi nhà bị san bằng mặt đất. Cư dân được xếp vào thùng phi và hộp, tất cả đều được đánh dấu đỏ bằng các chữ cái: L. B. Một số kẻ ăn xin ngã từ thang xuống. Một phần bức tường của Dublin, chen chúc những người đi xem trung thành, sụp đổ.)
NGƯỜI XEM: (Đang hấp hối.) Morituri te salutant. (Họ chết.)
(Một người đàn ông mặc áo khoác măng-tô nâu nhảy vụt lên qua một cái bẫy. Hắn chỉ ngón tay dài ngoẵng về phía Bloom.)
NGƯỜI MẶC ÁO MĂNG-TÔ: Đừng tin một lời hắn nói. Gã đó là Leopold M’Intosh, kẻ phóng hỏa khét tiếng. Tên thật của hắn là Higgins.
BLOOM: Bắn hắn đi! Đồ chó của đạo Thiên Chúa! Xử lý xong M’Intosh nhé!
(Một phát đại bác. Người đàn ông mặc áo măng-tô biến mất. Bloom dùng vương trượng đánh ngã những bông hoa anh túc. Cái chết tức tủa của nhiều kẻ thù hùng mạnh, chủ trang trại, thành viên quốc hội, thành viên ủy ban thường trực, được báo cáo. Đội cận vệ của Bloom phân phát tiền Maundy, huy chương kỷ niệm, bánh mì và cá, phù hiệu kiêng khem, xì gà Henry Clay đắt tiền, xương bò miễn phí làm súp, bao cao su bằng cao su trong phong bì niêm phong buộc bằng chỉ vàng, kẹo bơ cứng, kẹo dứa, thư tình dưới dạng mũ gấp, com-lê may sẵn, thố cháo thịt, chai dung dịch Jeyes, tem mua hàng, 40 ngày ân xá, tiền giả, xúc xích thịt lợn nuôi bằng sữa, vé xem kịch, vé mùa áp dụng cho tất cả các tuyến xe điện, phiếu xổ số hoàng gia và đặc quyền Hungary, quầy ăn tối một xu, sách tái bản giá rẻ của Mười hai cuốn sách tệ nhất thế giới: Froggy And Fritz (chính trị), Chăm sóc em bé (trẻ sơ sinh), 50 bữa ăn với giá 7/6 (ẩm thực), Jesus có phải là thần mặt trời không? (lịch sử), Xua tan nỗi đau (y tế), Cẩm nang nhi đồng về vũ trụ (vũ trụ), Cùng cười nào (hài hước), Cẩm nang của người vận động tranh cử (báo chí), Thư tình của mẹ phụ trợ (khiêu dâm), Ai là ai trong không gian (thiên văn), Những bài hát chạm đến trái tim chúng ta (giai điệu), Con đường làm giàu của Pennywise (tiết kiệm). Một cuộc xông lên và tranh giành hỗn loạn. Phụ nữ chen nhau tiến lên để chạm vào vạt áo của Bloom. Quý cô Gwendolen Dubedat chen qua đám đông, nhảy lên ngựa của hắn và hôn lên cả hai má hắn giữa những tiếng hoan hô lớn. Một bức ảnh đèn flash magiê được chụp. Trẻ sơ sinh và trẻ bú mớm được giơ lên.)
PHỤ NỮ: Cha nhỏ ơi! Cha nhỏ ơi!
TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ BÚ MỚM:
Vỗ tay vỗ tay cho đến khi Poldy về nhà,
Bánh ngọt trong túi chỉ dành riêng cho Leo.
(Bloom, cúi người xuống, nhẹ nhàng chọc vào bụng em bé Boardman.)
EM BÉ BOARDMAN: (Nấc cụt, sữa đông vón cục chảy ra từ miệng.) Hajajaja.
BLOOM: (Bắt tay với một thiếu niên mù.) Người anh em hơn cả anh em! (Vòng tay ôm vai một cặp đôi già.) Những người bạn già thân thiết! (Hắn chơi trò bốn góc với những cậu bé cô bé rách rưới.) Thò đầu ra nào! Trò trốn tìm!) (Hắn đẩy xe đẩy sinh đôi.) Ticktacktwo wouldyousetashoe? (Hắn biểu diễn trò ảo thuật, rút những chiếc khăn lụa đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh dương, chàm và tím từ miệng ra.) Roygbiv. 32 feet mỗi giây. (Hắn an ủi một góa phụ.) Sự vắng mặt làm trái tim trẻ lại. (Hắn nhảy điệu Highland fling với những động tác kỳ quặc.) Chạy đi, hỡi bọn quỷ sứ! (Hắn hôn những vết lở loét do nằm liệt giường của một cựu chiến binh bị bại liệt.) Những vết thương danh dự! (Hắn ngáng chân một viên cảnh sát béo.) U. p: lên. U. p: lên. (Hắn thì thầm vào tai một nữ phục vụ đang đỏ mặt và cười tử tế.) Ồ, hư hỏng quá, hư hỏng quá! (Hắn ăn một củ cải sống do Maurice Butterly, một nông dân, đưa cho.) Tuyệt vời! Xuất sắc!) (Hắn từ chối nhận ba shilling do Joseph Hynes, nhà báo, đưa cho.) Anh bạn thân mến, không có chi! (Hắn đưa áo khoác của mình cho một kẻ ăn xin.) Xin hãy nhận cho. (Hắn tham gia cuộc đua bụng với những người khuyết tật nam nữ lớn tuổi.) Nào các chàng trai! Uốn éo đi nào các cô gái!
NGƯỜI DÂN: (Nghẹn ngào vì xúc động, gạt một giọt nước mắt trên chiếc khăn quàng cổ màu ngọc lục bảo.) Xin Chúa nhân từ phù hộ cho anh ấy!
(Sừng cừu vang lên ra hiệu im lặng. Lá cờ của Zion được giương lên.)
BLOOM: (Cởi áo choàng một cách ấn tượng, lộ ra thân hình sồ sề, mở một tờ giấy ra và trang trọng đọc.) Aleph Beth Ghimel Daleth Hagadah Tephilim Kosher Yom Kippur Hanukah Roschaschana Beni Brith Bar Mitzvah Mazzoth Askenazim Meshuggah Talith.
(Một bản dịch chính thức được đọc bởi Jimmy Henry, phó thư ký thành phố.)
JIMMY HENRY: Tòa án Lương tâm nay đã mở cửa. Bệ hạ Công giáo tối cao của chúng ta sẽ thi hành công lý ngoài trời. Tư vấn y tế và pháp lý miễn phí, giải pháp cược kép và các vấn đề khác. Tất cả đều nhiệt liệt được mời. Được ban hành tại thành phố trung thành Dublin của chúng ta vào năm thứ 1 của Kỷ nguyên Thiên đàng.
PADDY LEONARD: Tôi phải làm gì về tiền thuế và phí của mình đây?
BLOOM: Hãy nộp chúng đi, anh bạn.
PADDY LEONARD: Cảm ơn ngài.
NOSEY FLYNN: Tôi có thể thế chấp bảo hiểm hỏa hoạn của mình không?
BLOOM: (Cứng rắn.) Thưa các ngài, xin lưu ý rằng theo luật bồi thường ngoài hợp đồng, các ngài bị ràng buộc bởi chính sự cam kết của mình trong sáu tháng với số tiền năm bảng.
J. J. O’MOLLOY: Tôi có nói là một vị Daniel không nhỉ? Không! Một Peter O’Brien!
NOSEY FLYNN: Tôi rút năm bảng ở đâu?
PISSER BURKE: Cho bệnh bàng quang à?
BLOOM:
Acid. nit. hydrochlor. dil., 20 minims
Tinct. nux vom., 5 minims
Extr. taraxel. lig., 30 minims.
Aq. dis. ter in die.
CHRIS CALLINAN: Góc sai vị trí của hoàng đạo mặt trời dưới Aldebaran là gì?
BLOOM: Rất vui được nghe từ cậu, Chris. K. 11.
JOE HYNES: Sao anh không mặc quân phục?
BLOOM: Khi tổ tiên của tôi có ký ức thánh thiện mặc quân phục của kẻ độc tài Áo trong một nhà tù ẩm ướt thì quân phục của anh ở đâu?
BEN DOLLARD: Hoa păng-xê?
BLOOM: Trang trí (làm đẹp) các khu vườn ngoại ô.
BEN DOLLARD: Khi sinh đôi đến?
BLOOM: Bố (phụ thân, bố) bắt đầu suy nghĩ.
LARRY O’ROURKE: Giấy phép tám ngày cho cơ sở mới của tôi. Anh còn nhớ tôi chứ, ngài Leo, khi anh ở số bảy. Tôi đang gửi một tá bia đen cho phu nhân đấy.
BLOOM: (Lạnh lùng.) Anh nhầm người rồi đấy. Phu nhân Bloom không nhận bất kỳ món quà nào.
CROFTON: Quả là một buổi lễ vui tươi.
BLOOM: (Trang trọng.) Các anh gọi đó là một buổi lễ vui tươi. Tôi gọi đó là một bí tích.
ALEXANDER KEYES: Khi nào chúng ta mới có viện nguyên lão của riêng mình?
BLOOM: Tôi đại diện cho sự cải cách đạo đức đô thị và mười điều răn rõ ràng. Thế giới mới thay thế thế giới cũ. Sự đoàn kết của tất cả, người Do Thái, Hồi giáo và ngoại giáo. Ba mẫu đất và một con bò cho tất cả con cái của thiên nhiên. Xe tang ô tô mui trần. Lao động chân tay bắt buộc cho tất cả. Tất cả các công viên mở cửa cho công chúng ngày và đêm. Máy rửa bát điện. Bệnh lao, mất trí, chiến tranh và ăn xin từ nay phải chấm dứt. Ân xá chung, lễ hội hàng tuần với quyền được hóa trang, tiền thưởng cho tất cả, tiếng Esperanto là ngôn ngữ phổ quát với tình anh em phổ quát. Không còn chủ nghĩa yêu nước của mấy gã ngồi quán bar và mấy kẻ lừa đảo phù thũng nữa. Tiền miễn phí, tiền thuê nhà miễn phí, tình yêu tự do và một nhà thờ thế tục tự do trong một nhà nước thế tục tự do.
O’MADDEN BURKE: Cáo tự do trong chuồng gà tự do.
DAVY BYRNE: (Ngáp.) Iiiiiiiiiaaaaaaach!
BLOOM: Các chủng tộc hỗn hợp và hôn nhân hỗn hợp.
LENEHAN: Thế còn tắm chung thì sao?
(Bloom giải thích cho những người gần anh ta nghe các kế hoạch tái thiết xã hội của mình. Tất cả đều đồng ý với anh ta. Người quản lý bảo tàng phố Kildare xuất hiện, kéo theo một chiếc xe tải trên đó có những bức tượng khỏa thân đang run rẩy của một số nữ thần, Venus Callipyge, Venus Pandemos, Venus Metempsychosis, và các hình nặn thạch cao, cũng khỏa thân, đại diện cho chín nàng thơ mới, Thương mại, Âm nhạc thính phòng, Tình yêu, Quảng cáo, Sản xuất, Tự do ngôn luận, Bầu cử đa số, Ẩm thực, Vệ sinh cá nhân, Giải trí buổi hòa nhạc bên bờ biển, Đẻ không đau và Thiên văn học cho mọi người.)
CHA FARLEY: Hắn là tín đồ Anh giáo, kẻ bất khả tri, kẻ theo bất cứ đạo nào đang tìm cách lật đổ đức tin thánh thiện của chúng ta.
BÀ RIORDAN: (Xé nát di chúc của mình.) Tôi thất vọng về anh quá! Đồ đàn ông tồi tệ!
MẸ GROGAN: (Cởi giày để ném vào Bloom.) Đồ quái vật! Con người ghê tởm!
NOSEY FLYNN: Chơi một khúc đi, Bloom. Một trong những bài hát ngọt ngào cũ kỹ ấy.
BLOOM: (Với sự hài hước tưng bừng.)
Tôi thề rằng tôi sẽ không bao giờ rời bỏ cô ấy,
Hóa ra cô ấy là kẻ lừa dối tàn nhẫn.
Với tiếng tooraloom tooraloom tooraloom tooraloom của tôi.
HOPPY HOLOHAN: Bloom muôn năm! Xưa nay chẳng có ai bằng anh ấy cả.
PADDY LEONARD: Người Ireland trên sân khấu!
BLOOM: Vở nhạc kịch đường sắt nào giống đường xe điện ở Gibraltar? Vở Những hàng rào xứ Castile.
(Tiếng cười.)
LENEHAN: Kẻ đạo văn! Đả đảo Bloom!
NỮ TI TRI ÂN CHE KHĂN VOAN: (Nhiệt tình.) Tôi là tín đồ của Bloom và tôi tự hào về điều đó. Tôi tin tưởng anh ấy bất chấp tất cả. Tôi sẵn sàng hy sinh mạng sống vì anh ấy, người đàn ông hài hước nhất trên đời.
BLOOM: (Nháy mắt với những người đứng xem.) Tôi cá là cô ấy là một cô gái xinh đẹp đấy.
THEODORE PUREFOY: (Mặc mũ câu cá và áo khoác dầu.) Hắn sử dụng thiết bị cơ khí để cản trở những mục đích thiêng liêng của tự nhiên.
NỮ TI TRI ÂN CHE KHĂN VOAN: (Tự đâm mình.) Thần tượng anh hùng của tôi! (Ả chết.)
(Nhiều phụ nữ cực kỳ hấp dẫn và nhiệt tình cũng tự sát bằng cách đâm mình, chết đuối, uống axit prussic, aconite, thạch tín, cắt tĩnh mạch, tuyệt thực, lao mình dưới xe lu, từ đỉnh cột của Nelson, vào thùng bia khổng lồ của nhà máy bia Guinness, ngạt thở bằng cách đút đầu vào lò gas, thắt cổ bằng dây nịt sành điệu, nhảy từ cửa sổ các tầng khác nhau.)
ALEXANDER J DOWIE: (Dữ dội.) Hỡi những người theo đạo Thiên Chúa và những kẻ chống Bloom, gã đàn ông gọi là Bloom xuất phát từ gốc rễ địa ngục, một nỗi ô nhục cho những người đàn ông theo đạo Thiên Chúa. Một kẻ phóng đãng ma quái từ những ngày đầu đời, con dê hôi thám xứ Mendes này đã có những dấu hiệu sớm của sự đồi trụy từ thuở nhỏ, gợi nhớ đến các thành phố vùng đồng bằng, với một mụ bà ngoại đồi trụy. Kẻ đạo đức giả đê tiện này, bị phơi bày sự khét tiếng, chính là con bò trắng được nhắc đến trong sách Khải huyền. Một kẻ tôn sùng Ả Đĩ Vĩ Đại, sự mưu mô chính là hơi thở trong mũi hắn. Cọc củi thiêu và vạc dầu sôi là dành cho hắn. Caliban!
ĐÁM ĐÔNG: Treo cổ hắn đi! Quay hắn lên! Hắn tệ hại chẳng kém gì Parnell. Ngài Fox!
(Mẹ Grogan ném giày vào Bloom. Một số chủ cửa hàng từ phố Dorset thượng và hạ ném những vật có giá trị thương mại ít hoặc không có, xương giò heo, hộp sữa đặc, bắp cải ươn, bánh mì thiu, chân cừu, những mẩu mỡ vụn.)
BLOOM: (Kích động.) Đây là sự điên rồ giữa mùa hè, lại là trò đùa khủng khiếp nào đó rồi. Thề có Chúa, tôi vô tội như tuyết chưa rọi nắng! Đó là anh trai Henry của tôi. Hắn là hình bóng thứ hai của tôi. Hắn sống ở số 2 Dolphin’s Barn. Lời vu khống, con rắn độc, đã vu oan cho tôi. Hỡi đồng bào, sgenl inn ban bata coisde gan capall. Tôi kêu gọi người bạn cũ của tôi, Tiến sĩ Malachi Mulligan, chuyên gia tình dục, đưa ra lời chứng y tế thay cho tôi.
DR MULLIGAN: (Mặc áo khoác mô-tô, đeo kính bảo hộ màu xanh trên trán.) Tiến sĩ Bloom bất thường về lưỡng tính. Hắn vừa trốn khỏi nhà thương điên tư nhân dành cho các quý ông mất trí của Tiến sĩ Eustace. Sinh ra ngoài giá thú, chứng động kinh di truyền hiện diện, hậu quả của dục vọng không kềm chế. Dấu vết của bệnh phù voi đã được phát hiện trong số tổ tiên của hắn. Có các triệu chứng rõ rệt của chứng triển lãm mãn tính. Khả năng dùng cả hai tay cũng tiềm ẩn. Hắn bị hói sớm do thủ dâm, do đó mang tính lý tưởng lệch lạc, một kẻ ăn chơi đã cải tà quy chính, và có răng bằng kim loại. Do phức cảm gia đình, hắn đã tạm thời mất trí nhớ và tôi tin rằng hắn chịu nhiều oan ức hơn là gây ra tội lỗi. Tôi đã khám âm đạo và, sau khi áp dụng thử nghiệm axit cho 5427 sợi lông hậu môn, nách, ngực và mu, tôi tuyên bố hắn là trinh nam virgo intacta.
(Bloom giữ chiếc mũ cao cấp của mình che kín cơ quan sinh dục.)
DR MADDEN: Chứng tiểu lệch dưới cũng rất rõ rệt. Vì lợi ích của các thế hệ tương lai, tôi đề nghị các bộ phận bị ảnh hưởng nên được bảo quản trong rượu mạnh trong bảo tàng quái thai quốc gia.
DR CROTTHERS: Tôi đã khám nước tiểu của bệnh nhân. Nó chứa albumin. Tiết nước bọt không đủ, phản xạ đầu gối ngắt quãng.
DR PUNCH COSTELLO: Mùi hôi thối của người Do Thái rất rõ rệt.
DR DIXON: (Đọc giấy chứng nhận sức khỏe.) Giáo sư Bloom là một ví dụ hoàn hảo về người đàn ông nữ tính mới. Bản tính đạo đức của ông ấy đơn giản và đáng yêu. Nhiều người thấy ông ấy là một người đàn ông đáng yêu, một nhân vật đáng yêu. Ông ấy là một anh chàng khá kỳ quặc nhìn chung, rụt rè dẫu không thiểu năng theo nghĩa y học. Ông ấy đã viết một bức thư thực sự đẹp đẽ, một bài thơ tự thân nó, gửi cho nhà truyền giáo tòa án của Hiệp hội Bảo vệ Linh mục Cải cách, điều này làm sáng tỏ mọi thứ. Ông ấy thực tế là người kiêng rượu tuyệt đối và tôi có thể khẳng định rằng ông ấy ngủ trên giường rơm và ăn thức ăn khắc khổ nhất, đậu khô sống mùa đông và mùa hè. Ông ấy mặc áo tế bằng lông ngựa thuần túy sản xuất tại Ireland quanh năm và tự roi mình mỗi thứ Bảy. Ông ấy, tôi hiểu, từng là một phạm nhân hạng nhất trong trại cải huấn Glencree. Một báo cáo khác cho biết ông ấy là một đứa trẻ sinh ra rất lâu sau khi cha mất. Tôi kêu gọi sự khoan hồng nhân danh từ thiêng liêng nhất mà các cơ quan phát âm của chúng ta từng được yêu cầu thốt lên. Ông ấy sắp sinh con rồi.
(Sự hỗn loạn và lòng trắc ẩn chung. Phụ nữ ngất xỉu. Một người Mỹ giàu có quyên góp trên đường phố cho Bloom. Tiền vàng và bạc, séc trống, tiền giấy, đồ trang sức, trái phiếu kho bạc, hối phiếu đáo hạn, giấy biên nhận nợ, nhẫn cưới, dây chuyền đồng hồ, mề-đay, vòng cổ và vòng tay nhanh chóng được quyên góp.)
BLOOM: Ồ, tôi rất muốn được làm mẹ.
BÀ THORNTON: (Mặc áo nữ hộ lý.) Ôm tôi thật chặt vào, cưng ơi. Anh sẽ sớm qua khỏi thôi. Ôm chặt vào, cưng ơi.
(Bloom ôm chặt lấy mụ và sinh ra tám đứa con trai màu vàng và trắng. Chúng xuất hiện trên chiếc cầu thang trải thảm đỏ được trang trí bằng cây đắt tiền. Tất cả tám đứa trẻ đều khôi ngô, với khuôn mặt bằng kim loại có giá trị, được nuôi dạy tốt, ăn mặc đàng hoàng và cư xử lịch sự, nói năm thứ tiếng hiện đại trôi chảy và quan tâm đến các nghệ thuật và khoa học khác nhau. Mỗi đứa đều có tên được in rõ ràng trên ngực áo: Nasodoro, Goldfinger, Chrysostomos, Maindorée, Silversmile, Silberselber, Vifargent, Panargyros. Chúng ngay lập tức được bổ nhiệm vào các vị trí tin cậy công cộng cao ở nhiều quốc gia khác nhau với tư cách là giám đốc điều hành ngân hàng, giám đốc giao thông đường sắt, chủ tịch công ty trách nhiệm hữu hạn, phó chủ tịch tập đoàn khách sạn.)
MỘT GIỌNG NÓI: Bloom, anh là Đấng Mê-si ben Joseph hay ben David?
BLOOM: (U ám.) Anh đã nói thế đấy.
ANH EM BUZZ: Vậy hãy làm phép lạ giống như Cha Charles.
BANTAM LYONS: Tiên tri xem ai sẽ thắng giải Saint Leger.
(Bloom đi trên lưới, che mắt trái bằng tai trái, đi xuyên qua mấy bức tường, trèo lên cột của Nelson, treo mình trên gờ đỉnh bằng mí mắt, ăn mười hai tá hàu (bao gồm cả vỏ), chữa lành cho nhiều người mắc bệnh scrofula, co cơ mặt giống như nhiều nhân vật lịch sử, Lãnh chúa Beaconsfield, Lãnh chúa Byron, Wat Tyler, Moses xứ Ai Cập, Moses Maimonides, Moses Mendelssohn, Henry Irving, Rip van Winkle, Kossuth, Jean Jacques Rousseau, Nam tước Leopold Rothschild, Robinson Crusoe, Sherlock Holmes, Pasteur, quay đồng thời mỗi chân theo các hướng khác nhau, ra lệnh cho thủy triều quay đầu lại, làm nhật thực mặt trời bằng cách duỗi ngón út ra.)
BRINI, SỨ THẦN GIÁO HOÀNG: (Trong trang phục zouave giáo hoàng, áo giáp thép làm yếm ngực, giáp tay, giáp đùi, giáp chân, bộ ria mép phàm tục lớn và mũ mitre bằng giấy nâu.) Leopoldi autem generatio. Moses sinh ra Noah và Noah sinh ra Eunuch và Eunuch sinh ra O’Halloran và O’Halloran sinh ra Guggenheim và Guggenheim sinh ra Agendath và Agendath sinh ra Netaim và Netaim sinh ra Le Hirsch và Le Hirsch sinh ra Jesurum và Jesurum sinh ra MacKay và MacKay sinh ra Ostrolopsky và Ostrolopsky sinh ra Smerdoz và Smerdoz sinh ra Weiss và Weiss sinh ra Schwarz và Schwarz sinh ra Adrianopoli và Adrianopoli sinh ra Aranjuez và Aranjuez sinh ra Lewy Lawson và Lewy Lawson sinh ra Ichabudonosor và Ichabudonosor sinh ra O’Donnell Magnus và O’Donnell Magnus sinh ra Christbaum và Christbaum sinh ra ben Maimun và ben Maimun sinh ra Dusty Rhodes và Dusty Rhodes sinh ra Benamor và Benamor sinh ra Jones-Smith và Jones-Smith sinh ra Savorgnanovich và Savorgnanovich sinh ra Jasperstone và Jasperstone sinh ra Vingtetunieme và Vingtetunieme sinh ra Szombathely và Szombathely sinh ra Virag và Virag sinh ra Bloom et vocabitur nomen eius Emmanuel.
BÀN TAY CHẾT: (Viết trên tường.) Bloom là một con cá tuyết.
CRAB: (Trong trang phục kẻ cướp bụi.) Anh đã làm gì ở cái máng gia súc phía sau Kilbarrack?
MỘT TRẺ SƠ HÍ NỮ: (Lắc đồ chơi kêu lách cách.) Và dưới cầu Ballybough?
MỘT BỤI GAI: Và trong thung lũng của quỷ?
BLOOM: (Đỏ bừng mặt từ trán đến mông, ba giọt nước mắt rơi từ mắt trái.) Hãy tha thứ cho quá khứ của tôi.
NHỮNG NGƯỜI THUÊ NHÀ BỊ TRỤC XUẤT IRELAND: (Mặc áo đuôi tôm, quần cộc, với gậy shillelagh hội chợ Donnybrook.) Quất roi hắn đi!
(Bloom với đôi tai lừa ngồi vào gông với hai tay đan chéo, đôi chân chìa ra. Hắn huýt sáo bài Don Giovanni, a cenar teco. Trẻ mồ côi Artane, nắm tay nhau, nhảy múa xung quanh hắn. Các cô gái của Sứ đoàn Cổng Nhà tù, nắm tay nhau, nhảy múa theo chiều ngược lại.)
TRẺ MỒ CÔI ARTANE:
Mày con lợn, đồ chó bẩn thỉu!
Mày tưởng phụ nữ yêu mày lắm đấy!
CÁC CÔ GÁI SỨ ĐOÀN CỔNG NHÀ TÙ:
Nếu mày gặp Kay
Bảo hắn rằng hắn có thể
Gặp mày ở trà
Nhắn hộ tao câu đó.
HORNBLOWER: (Mặc áo ephod và mũ săn, thông báo.) Và hắn sẽ mang những tội lỗi của dân chúng đến Azazel, linh hồn ở trong hoang mạc, và đến Lilith, con quỷ đêm. Và họ sẽ ném đá hắn và làm ô uế hắn, vâng, tất cả từ Agendath Netaim và từ Mizraim, vùng đất của Ham.
(Tất cả mọi người ném những hòn đá giả vào Bloom. Nhiều du khách chân chính và chó hoang đến gần hắn và làm ô uế hắn. Mastiansky và Citron tiến lại gần trong bộ áo choàng gaberdine, đeo tóc mai dài. Họ lắc râu với Bloom.)
MASTIANSKY VÀ CITRON: Belial! Laemlein xứ Istria, đấng Mê-si giả! Abulafia! Rút lại đi!
(George R Mesias, thợ may của Bloom, xuất hiện, kẹp bàn là thợ may dưới nách, đưa ra một hóa đơn.)
MESIAS: Tiền sửa một chiếc quần mười một shilling.
BLOOM: (Vui vẻ xoa tay.) Y như những ngày xưa. Bloom tội nghiệp!
(Reuben J Dodd, kẻ phản bội râu đen, kẻ chăn cừu tồi tệ, vác trên vai cái xác chết đuối của con trai mình, tiến đến cái gông.)
REUBEN J: (Thì thầm khàn giọng.) Lộ tẩy rồi. Cảnh sát đang lùng bắt kìa. Tóm lấy chiếc xe điện đầu tiên đi.
ĐỘI CỨU HỎA: Pflaap!
ANH EM BUZZ: (Khoác cho Bloom chiếc áo choàng màu vàng thêu ngọn lửa vẽ và chiếc mũ chóp nhọn cao. Hắn đeo một túi thuốc súng quanh cổ hắn và giao hắn cho lực lượng dân sự, nói rằng.) Hãy tha thứ cho những lầm lỗi của hắn.
(Trung sĩ Myers thuộc Đội Cứu hỏa Dublin theo yêu cầu chung châm lửa đốt Bloom. Tiếng khóc than.)
NGƯỜI DÂN: Tạ ơn Chúa!
BLOOM: (Trong bộ áo liền mảnh có chữ I. H. S. đứng thẳng giữa ngọn lửa phượng hoàng.) Đừng khóc cho tôi, hỡi những người con gái xứ Erin.
(Hắn cho phóng viên Dublin xem những dấu vết bị cháy. Những người con gái xứ Erin, trong trang phục màu đen, cầm sách cầu nguyện lớn và nến dài thắp sáng trên tay, quỳ xuống và cầu nguyện.)
NHỮNG NGƯỜI CON GÁI XỨ ERIN:
Thận của Bloom, cầu cho chúng con
Bông hoa của Nhà tắm, cầu cho chúng con
Người cố vấn của Menton, cầu cho chúng con
Người vận động tranh cử cho Freeman, cầu cho chúng con
Hội viên Tam điểm từ thiện, cầu cho chúng con
Xà phòng lang thang, cầu cho chúng con
Sweets of Sin, cầu cho chúng con
Âm nhạc không lời, cầu cho chúng con
Kẻ khiển trách Người dân, cầu cho chúng con
Người bạn của mọi chiếc diềm xếp nếp, cầu cho chúng con
Bà mụ nhân từ nhất, cầu cho chúng con
Khoai tây bảo vệ khỏi dịch hạch và dịch bệnh, cầu cho chúng con.
(Một dàn hợp xướng sáu trăm giọng hát, do Vincent O’Brien chỉ huy, hát bài hợp xướng từ vở Messiah của Handel Alleluia vì Chúa Trời Toàn Năng trị vì, được đệm đàn organ bởi Joseph Glynn. Bloom trở nên câm lặng, co rút, hóa than.)
ZOE: Cứ nói cho đến khi mặt mày đen sì lại thì thôi.
BLOOM: (Đội mũ caubeen có ghim tẩu thuốc lá ở vành, giày da bụi bặm, tay cầm bọc khăn tay đỏ của người di cư, dắt theo một con lợn gỗ sẫm màu bằng dây thừng, với nụ cười trong mắt.) Để tôi đi bây giờ nào, bà chủ nhà, vì thề có tất cả lũ dê ở Connemara, tôi vừa mới ăn một trận đòn nhừ tử xong. (Với giọt nước mắt trong mắt.) Toàn là điên rồ. Chủ nghĩa yêu nước, nỗi buồn cho người đã khuất, âm nhạc, tương lai của giống nòi. Tồn tại hay không tồn tại. Giấc mơ cuộc đời đã chấm dứt. Kết thúc nó một cách bình yên. Họ có thể sống tiếp. (Hắn nhìn xa xăm đầy u sầu.) Tôi tiêu đời rồi. Một vài viên ngậm aconite. Rèm cửa kéo xuống. Một bức thư. Rồi ngả lưng nghỉ ngơi. (Hắn thở nhẹ nhàng.) Không còn nữa. Tôi đã sống. Tạm biệt. Tạm biệt.
ZOE: (Cứng nhắc, ngón tay luồn vào vòng cổ.) Thật không? Hẹn lần sau nhé. (Ả cười nhạo.) Chắc anh dậy ngược giường hoặc xuất tinh quá sớm với cô bồ nhí của anh rồi. Ồ, tôi đọc được suy nghĩ của anh đấy!
BLOOM: (Cay đắng.) Đàn ông và đàn bà, tình yêu, nó là cái thá gì chứ? Một cái nút chai và cái chai. Tôi chán ngấy nó rồi. Cho mọi thứ tan tành đi.
ZOE: (Bỗng hờn dỗi.) Tôi ghét cái đồ cặn bã không thành thật. Cho một con đĩ rách rưới một cơ hội đi chứ.
BLOOM: (Hối hận.) Tôi rất khó chịu. Cô là một điều tà ác cần thiết. Cô ở đâu đến thế? Luân Đôn à?
ZOE: (Lưu loát.) Hog’s Norton nơi lợn chơi đàn organ. Tôi sinh ra ở Yorkshire. (Ả nắm lấy bàn tay đang lần mò ngực mình.) Này, chú bé Tittlemouse. Dừng việc đó lại và làm việc tệ hơn đi. Anh có tiền cho một chốc lát không? Mười shilling?
BLOOM: (Cười, gật đầu chậm rãi.) Hơn thế nữa, huri ạ, còn hơn thế nữa.
ZOE: Và hơn thế nữa của mẹ à? (Ả vỗ nhẹ vào hắn một cách thờ ơ bằng đôi bàn tay nhung.) Anh có vào phòng nhạc để xem chiếc pianola mới của chúng tôi không? Lại đây rồi tôi sẽ cởi đồ ra cho.
BLOOM: (Sờ gáy mình một cách đầy hoài nghi với sự bối rối vô song của một kẻ bán hàng rong đang đánh giá sự đối xứng của những quả lê đã gọt vỏ của ả.) Sẽ có người ghen tuông khủng khiếp nếu cô ta biết đấy. Con quái vật mắt xanh. (Nghiêm túc.) Cô biết việc đó khó khăn thế nào mà. Tôi không cần phải nói với cô đâu.
ZOE: (Được nịnh.) Mắt không thấy thì tim không đau. (Ả vỗ nhẹ vào hắn.) Đi nào.
BLOOM: Phù thủy đang cười! Bàn tay ru nôi.
ZOE: Đứa bé ngoan!
BLOOM: (Mặc đồ trẻ sơ sinh và áo choàng dài, đầu to, với một lớp tóc sẫm màu, dán đôi mắt to vào chiếc váy lụa trơn của ả và đếm những chiếc khuy đồng của nó bằng ngón tay mũm mĩm, chiếc lưỡi ẩm ướt thè lè và nói ngọng.) Một hai ba: ba hai một.
CÁC KHUY ÁO: Yêu tôi. Không yêu tôi. Yêu tôi.
ZOE: Im lặng là đồng ý. (Với những móng vuốt nhỏ hé mở, ả chộp lấy bàn tay hắn, ngón trỏ truyền vào lòng bàn tay hắn cái chạm mật khẩu của giám thị bí mật, lôi kéo hắn đến ngày tàn.) Tay nóng lòng lạnh.
(Hắn ngập ngừng giữa những mùi hương, âm nhạc, sự cám dỗ. Ả dẫn hắn về phía bậc thềm, kéo hắn đi bởi mùi hương nách, sự độc ác của đôi mắt được trang điểm, tiếng sột soạt của chiếc váy mà trong những nếp gấp uốn lượn của nó ẩn chứa mùi hôi của loài dã thú giống đực đã chiếm hữu ả.)
LŨ THÚ GIỐNG ĐỰC: (Thở ra mùi lưu huỳnh của sự động dục và phân và lồng lộn trong chuồng của chúng, gầm gừ nhẹ nhàng, cái đầu bị đánh thuốc lắc qua lắc lại.) Tốt!
(Zoe và Bloom đi đến cửa ra vào nơi hai ả đĩ là chị em đang ngồi. Họ tò mò nhìn hắn từ dưới cặp chân mày được kẻ chì và mỉm cười trước cái cúi đầu vội vã của hắn. Hắn lóng ngóng bước hụt.)
ZOE: (Bàn tay may mắn của ả lập tức cứu hắn.) Ồ hố! Đừng ngã ngửa lên cầu thang nhé.
BLOOM: Người công chính ngã bảy lần. (Hắn đứng sang một bên ở ngưỡng cửa.) Nhường bước cho phụ nữ là phép lịch sự.
ZOE: Phụ nữ trước, đàn ông sau.
(Ả bước qua ngưỡng cửa. Hắn ngập ngừng. Ả quay lại và, đưa tay ra, kéo hắn qua. Hắn nhảy cẫng lên. Trên giá treo mũ bằng sừng ở sảnh có chiếc mũ và áo mưa của một đàn ông. Bloom cởi mũ nhưng, nhìn thấy chúng, cau mày, rồi mỉm cười, bận tâm. Một cánh cửa ở chiếu nghỉ rẽ được mở toang. Một người đàn ông mặc áo sơ mi tím và quần xám, đi tất nâu, bước đi với dáng đi của loài vượn, cái đầu trói và bộ râu dê ngẩng cao, ôm một vò nước đầy, cặp dây đeo quần màu đen hai đuôi lủng lẳng ở gót chân. Nhanh chóng quay mặt đi, Bloom cúi xuống kiểm tra trên bàn sảnh đôi mắt cún con của một con cáo đang chạy: rồi, cái đầu ngẩng lên ngửi ngửi, bước theo Zoe vào phòng nhạc. Một tấm rèm giấy mô-ve làm mờ ánh sáng của chiếc đèn chùm. Vòng quanh và vòng quanh một con bướm đêm bay lượn, va chạm, trốn thoát. Sàn nhà được bao phủ bởi một lớp khảm vải dầu gồm các hình thoi ngọc bích, xanh da trời và chu sa. Dấu chân được in khắp nơi theo mọi hướng, gót chạm gót, gót chạm hõm, mũi chạm mũi, chân khóa chặt, một điệu múa morris của những đôi chân xào xạc không có thân thể, tất cả hỗn độn lộn xộn. Các bức tường được treo giấy dán tường hình lá thủy tùng và những khoảng trống trong sáng. Trong lò sưởi trải một tấm bình phong làm bằng lông công. Lynch ngồi xổm khoanh chân trên tấm thảm lò sưởi bằng tóc bện, đội ngược mũ ra đằng sau. Với một cây gậy, hắn gõ nhịp chậm rãi. Kitty Ricketts, một ả đĩ gầy gò tái nhợt trong trang phục hải quân, găng tay da hươu cuộn lại để lộ vòng cổ tay san hô, một chiếc ví xích trong tay, ngồi chót vót trên mép bàn lắc lư cái chân và nhìn vào gương mạ vàng trên lò sưởi. Một đoạn dây áo nịt ngực của ả thò ra hơi thấp hơn áo khoác. Lynch chỉ vào cặp đôi ở đàn piano với vẻ chế nhạo.)
KITTY: (Ho sau tay áo.) Nó hơi ngốc nghếch một chút đấy. (Ả ra hiệu bằng ngón trỏ lúc lắc.) Blemblem. (Lynch dùng cây gậy tốc váy và váy lót trắng của ả lên. Ả nhanh chóng chỉnh lại cho ngay ngắn.) Hãy tôn trọng bản thân đi. (Ả nấc cục, rồi nhanh chóng cúi chiếc mũ thủy thủ xuống mà dưới đó mái tóc rực lên, đỏ ngầu vì lá móng.) Ôi, xin lỗi nhé!
ZOE: Cho thêm ánh đèn đi, Charley. (Ả đi đến đèn chùm và vặn van gas hết cỡ.)
KITTY: (Nhìn chằm chằm vào ngọn lửa gas.) Nó bị cái quái gì thế tối nay?
LYNCH: (Trầm ngâm.) Hồn ma và yêu tinh xuất hiện.
ZOE: Vỗ tay cho Zoe nào.
(Cây gậy trong tay Lynch lóe lên: một cái chọc lò bằng đồng. Stephen đứng cạnh chiếc pianola nơi chiếc mũ và gậy gân trúc đang vứt bừa bãi. Bằng hai ngón tay, cậu lặp lại một lần nữa chuỗi các quãng năm trống rỗng. Florry Talbot, một ả đĩ béo phì tóc vàng yếu ớt trong chiếc áo rách rưới bằng dâu tây mốc meo, ngả ngốn dạng chân dạng tay ở góc sô-fa, cẳng tay mềm nhũn thõng thợng qua gối ôm, lắng nghe. Một cục lẹo nặng trĩu sụp xuống mí mắt đang buồn ngủ của ả.)
KITTY: (Nấc cụt một lần nữa với một cú đá của chiếc giày ngựa.) Ôi, xin lỗi!
ZOE: (Nhanh chóng.) Bồ của mày đang nghĩ đến mày đấy. Thắt một nút trên áo lót đi.
(Kitty Ricketts cúi đầu. Chiếc khăn boa của ả tháo ra, trượt, lướt qua vai, lưng, tay, ghế xuống đất. Lynch dùng cây gậy nhấc con sâu rông cuộn tròn lên. Ả uốn éo cái cổ, rúc vào. Stephen liếc nhìn ra sau vào hình bóng ngồi xổm với chiếc mũ đội ngược ra đằng sau.)
STEPHEN: Thực ra thì việc Benedetto Marcello tìm thấy nó hay làm ra nó chẳng có tầm quan trọng gì cả. Nghi lễ là sự nghỉ ngơi của nhà thơ. Nó có thể là một bài thánh ca cổ kính dâng lên Demeter hoặc cũng minh họa cho Cœla enarrant gloriam Domini. Nó dễ bị ảnh hưởng bởi các nút hoặc chế độ cách xa nhau như hyperphrygian và mixolydian và bởi các văn bản khác nhau như các thầy tu đang hú hét quanh bàn thờ của David tức là Circe hay tôi đang nói gì nhỉ bàn thờ của Ceres và lời mách nước của David từ chuồng ngựa cho tay bassoon trưởng của mình về sự ổn định của sự toàn năng của hắn. Nhưng quái quỷ thật, đó là chuyện hoàn hảo khác rồi. Jetez la gourme. Faut que jeunesse se passe. (Cậu dừng lại, chỉ vào chiếc mũ của Lynch, mỉm cười, cười lớn.) Khối kiến thức của cậu nằm ở bên cái u nào thế?
CHIẾC MŨ: (Với sự hằn học đầy mỉa mai.) Xì! Nó là vì nó thế. Lý do của phụ nữ. Hy Lạp-Do Thái là Do Thái-Hy Lạp. Cực đoan gặp nhau. Cái chết là hình thức cao nhất của sự sống. Xì!
STEPHEN: Cậu nhớ khá chính xác tất cả các lỗi lầm, lời khoác lác, sai sót của tôi. Tôi sẽ tiếp tục nhắm mắt làm ngơ trước sự bất trung này đến bao giờ nữa đây? Đá mài!
CHIẾC MŨ: Xì!
STEPHEN: Tặng cậu một câu nữa này. (Cậu cau mày.) Lý do là bởi vì nốt chủ âm và nốt trội được ngăn cách bởi khoảng cách lớn nhất có thể...
CHIẾC MŨ: Khoảng nào? Nói nốt đi. Cậu không nói nổi đâu.
STEPHEN: (Cố gắng.) Khoảng mà. Là hình elip lớn nhất có thể. Phù hợp với. Sự trở về cuối cùng. Quãng tám. Mà.
CHIẾC MŨ: Mà gì?
(Bên ngoài, chiếc máy hát bắt đầu vang lên bài The Holy City.)
STEPHEN: (Đột ngột.) Cái gì đã đi ra tận cùng thế giới để không vượt qua chính nó, Chúa, mặt trời, Shakespeare, một nhân viên tiếp thị, sau khi thực sự vượt qua chính nó thì trở thành chính bản thân cái đó. Đợi một lát. Đợi một giây. Mặc kệ tiếng ồn của tên khốn đó trên đường phố. Bản thân mà chính nó vốn dĩ đã được định trước không thể tránh khỏi để trở thành. Ecco!
(Lynch cười khúc khích nhạo báng nhìn Bloom và Zoe Higgins.) Một bài phát biểu uyên bác thật đấy, phải không?
ZOE: (Nhanh nhẹn.) Chúa phù hộ cho cái đầu của anh, hắn biết nhiều hơn những gì anh đã quên rồi đấy.
(Với sự ngu ngốc béo phì, Florry Talbot nhìn Stephen.)
FLORRY: Người ta bảo ngày tận thế sắp đến vào mùa hè này đấy.
KITTY: Không đời nào!
ZOE: (Bật cười.) Chúa bất công vĩ đại!
FLORRY: (Bị xúc phạm.) Thì có đăng trên báo về Kẻ phản Christ cơ mà. Ôi, chân tôi ngứa quá.
(Những cậu bé bán báo chân trần rách rưới, vừa chạy vừa giật con diều đuôi én, chạy xẹt qua, la hét.)
ĐÁM BÁN BÁO: Báo phát hành khẩn cấp. Kết quả đua ngựa bập bênh. Quái vật biển ở kênh đào Hoàng gia. Sự đến nơi an toàn của Kẻ phản Christ.
(Stephen quay lại và nhìn thấy Bloom.)
STEPHEN: Một thời gian, các thời gian và nửa thời gian.
(Reuben J Kẻ phản Christ, người Do Thái lang thang, một bàn tay túm mở trên lưng, lê bước tiến lên. Vắt ngang thắt lưng hắn là chiếc ví hành hương từ đó thò ra những giấy nhận nợ và hối phiếu bị từ chối. Cao trên vai, hắn vác một cây sào chèo thuyền dài từ móc của nó, khối thịt ướt sũng dính chùm của đứa con trai duy nhất của hắn, được cứu khỏi dòng nước Liffey, lủng lẳng từ cạp quần. Một con yêu tinh trong hình hài của Punch Costello, què cụt, gù lưng, đầu to nước, mõm vẩu với trán lùi và mũi Ally Sloper, lộn nhào qua bóng tối đang buông xuống.)
TẤT CẢ: Cái gì thế?
CON YÊU TINH: (Hàm răng va cập vào nhau, nhảy nhót tứ tung, trợn mắt, kêu chít chít, nhảy như chuột túi với hai tay dang rộng túm lấy, rồi bất thong lốc thò khuôn mặt không môi qua ngạc đùi.) Il vient! C’est moi! L’homme qui rit! L’homme primigène! (Hắn xoay vòng vòng với tiếng tru của đạo sĩ dervish.) Sieurs et dames, faites vos jeux! (Hắn khom người tung hứng. Những hành tinh roulette nhỏ bé bay ra từ tay hắn.) Les jeux sont faits! (Các hành tinh lao vào nhau, phát ra những tiếng nứt lép bép.) Rien va plus! (Các hành tinh, những quả khinh khí cầu bồng bềnh, phồng to bay vút đi. Hắn nhảy vọt vào khoảng không.)
(Florry Talbot chìm dần vào trạng thái hôn mê, lén làm dấu thánh.) Ngày tận thế!
(Một luồng hơi ấm áp của phụ nữ rò rỉ ra từ người ả. Sự mờ mịt mù mịt chiếm lấy không gian. Xuyên qua màn sương mù trôi nổi bên ngoài, chiếc máy hát vang lên át tiếng ho và tiếng lê chân.)
MÁY HÁT:
Giê-ru-sa-lem!
Hãy mở cổng và ca hát
Hô-sê-na...
(Một quả pháo hoa phóng vút lên trời và nổ tung. Một ngôi sao trắng rơi xuống từ đó, tuyên bố sự hoàn thành của mọi sự vật và sự tái lâm lần thứ hai của tiên tri Ê-li. Dọc theo một sợi dây thăng bằng tàng hình vô tận căng từ thiên đỉnh đến thiên đỉnh, Ngày tận thế, một con bạch tuộc hai đầu mặc váy kilt của gân gổ, mũ busby và váy tartan, quay cuồng qua lớp sương mù, lộn đầu xuống đất, dưới hình hài của Ba chiếc chân của Man.)
NGÀY TẬN THẾ: (Với giọng Scotland.) Ai sẽ nhảy điệu keel row, keel row, keel row?
(Trên lớp sương mù trôi nổi và những tiếng ho nghẹt thở, giọng của Ê-li, khàn đặc như tiếng chim cồng cộc, vang lên chói tai. Đổ mồ hôi đầm đìa trong chiếc áo surplice bằng vải cỏ rộng thùng thình với ống tay áo hình phễu, hắn hiện ra với khuôn mặt người giữ đền, phía trên bục diễn thuyết được phủ biểu tượng vinh quang cũ. Hắn đập mạnh tay xuống lan can.)
Ê-LI: Đừng có sủa bậy, xin vui lòng, trong cái sạp này. Jake Crane, Creole Sue, Dove Campbell, Abe Kirschner, ho thì ngậm miệng lại mà ho. Này, tao đang điều khiển toàn bộ đường dây chính này đấy. Các chàng trai, làm ngay đi. Giờ của Chúa là 12 giờ 25. Nói với mẹ là con sẽ có mặt ở đó. Nhanh chóng đặt hàng và cậu sẽ đánh một con át chủ bài mượt mà. Nhập bọn ngay đây. Đặt vé thẳng đến ngã tư cõi vĩnh hằng, chuyến chạy không ngừng nghỉ. Chỉ một lời nữa thôi. Cậu là thần thánh hay là cục đất ngu ngốc? Nếu sự tái lâm thứ hai đến Coney Island thì chúng ta đã sẵn sàng chưa? Florry Christ, Stephen Christ, Zoe Christ, Bloom Christ, Kitty Christ, Lynch Christ, các cậu phải cảm nhận được nguồn lực vũ trụ đó chứ. Chúng ta có bị co ro vì vũ trụ không? Không. Hãy đứng về phía các thiên thần. Hãy là một lăng kính. Cậu có thứ đó bên trong, bản ngã cao hơn. Cậu có thể kề vai sát cánh với một Giê-su, một Phật tổ, một Ingersoll. Cậu có cùng chung nhịp rung động này không? Tao bảo là có đấy. Một khi cậu tóm được điều đó, hỡi giáo đoàn, thì một chuyến đi vui vẻ đến thiên đường sẽ trở thành chuyện cũ rích. Cậu hiểu ý tao chứ? Nó làm bừng sáng cuộc sống, chắc chắn rồi. Thứ nóng bỏng nhất từ trước tới nay. Nó là cả chiếc bánh có mứt bên trong. Nó là dòng sản phẩm sắc bén dễ thương nhất. Nó thật vĩ đại, siêu phàm. Nó hồi sinh. Nó rung động. Tao biết và tao là một tay rung động cừ khôi đấy. Nói đùa ngoài lề và đi vào bản chất thực tế, A. J. Christ Dowie và triết lý hài hòa, cậu đã nắm được chưa? Được rồi. Số 77 tây phố 69. Hiểu ý tao chứ? Thế đấy. Cậu gọi cho tao qua điện thoại mặt trời bất cứ lúc nào. Đồ lừa đảo, tiết kiệm tem đi. (Hắn hét lên.) Bây giờ là bài hát vinh quang của chúng ta. Tất cả cùng nhiệt tình hòa giọng hát nào. Encore! (Hắn hát.) Jeru...
MÁY HÁT: (Lấn át giọng hắn.) Whorusalaminyourhighhohhhh... (Đĩa nhạc mài mòn cọ xát vào kim.)
BA Ả ĐĨ: (Bịt tai lại, hét lên.) Ahhkkk!
Ê-LI: (Xắn tay áo lên, mặt đen sì, hét lên hết cỡ, hai tay giơ cao lên trời.) Người anh em lớn trên kia, Ngài Chủ tịch, ông nghe thấy những gì tao vừa nói với mày đấy chứ. Chắc chắn rồi, tao có vẻ tin tưởng mạnh mẽ vào mày, Ngài Chủ tịch. Tao chắc chắn đang nghĩ bây giờ cô Higgins và cô Ricketts đã ngấm đạo giáo vào tận trong người rồi. Chắc chắn tao thấy chẳng có người phụ nữ nào hoảng sợ tồi tệ hơn cách mày vừa mới thể hiện đâu, cô Florry, ngay lúc tao vừa thấy mày. Ngài Chủ tịch, ông hãy đến đây và giúp tao cứu những người chị em thân yêu của chúng ta. (Hắn nháy mắt với khán giả.) Ngài Chủ tịch của chúng ta, ông ấy nắm thóp tất cả mà chẳng nói năng gì cả.
KITTY-KATE: Tôi đã không kìm chế được bản thân. Trong một phút yếu lòng tôi đã phạm lỗi và làm những gì tôi đã làm trên đồi Constitution. Tôi được giám mục làm phép thêm sức và gia nhập vào scapular nâu. Chị của mẹ tôi đã cưới một người nhà Montmorency. Chính một gã thợ ống nước làm công đã hủy hoại cuộc đời tôi khi tôi còn trong trắng.
ZOE-FANNY: Tôi để hắn quất cho tơi tả chỉ vì vui thôi.
FLORRY-TERESA: Đó là hậu quả của thức uống rượu vang đỏ portwine trên đỉnh rượu Hennessy ba sao. Tôi đã phạm tội với Whelan khi hắn lẻn vào giường.
STEPHEN: Lúc khởi đầu là lời nói, lúc kết thúc là thế giới không có hồi kết. Chúc phúc cho tám mối phước lành.
(Tám mối phước lành, Dixon, Madden, Crotthers, Costello, Lenehan, Bannon, Mulligan và Lynch trong trang phục áo choàng sinh viên y khoa trắng, bốn người một hàng, bước đi đều tăm tắp, diễu hành nhanh chóng trong tiếng bước chân ồn ào.)
TÁM MỐI PHƯỚC LÀNH: (Không mạch lạc.) Bia thịt bò chó chiến mua kinh thánh kinh doanh barnum chửi rủa giám mục.
LYSTER: (Mặc quần cộc màu xám quaker và đội mũ rộng and, nói một cách kín đáo.) Hắn là bạn của chúng ta. Tôi không cần nhắc tên đâu. Hãy tìm kiếm ánh sáng đi.
(Hắn nhảy múa điệu coranto đi qua. Best bước vào trong trang phục thợ cắt tóc, được giặt là sáng bóng, mái tóc quấn trong giấy uốn. Ông ta dẫn theo John Eglinton, người mặc áo kimono kiểu manda-rin màu vàng Nankeen, thêu chữ thằn lằn, và đội chiếc mũ chùa cao.)
BEST: (Mỉm cười, nhấc mũ lên và lộ ra cái đầu cạo trọc mà từ chóp đầu mọc tua tủa một túm tóc giả buộc bằng nơ cam.) Tôi vừa làm đẹp cho anh ấy thôi mà, bạn biết đấy. Một điều đẹp đẽ, bạn biết đấy, Yeats nói, hay ý tôi là, Keats nói.
JOHN EGLINTON: (Lấy ra một chiếc đèn lồng tối màu đội mũ xanh và rọi về một góc: với giọng điệu chì chiết.) Thẩm mỹ học và mỹ phẩm chỉ dành cho phòng boudoir. Tôi ra đi tìm sự thật. Sự thật trần trụi cho một người bình thường. Tanderagee muốn sự thật và có ý định lấy cho bằng được.
(Trong nón sáng của đèn pha phía sau xô than, vị ollave, mắt thánh thiện, dáng người có râu của Mananaun MacLir đang trầm ngâm, cằm chống đầu gối. Ông ta từ từ đứng dậy. Một làn gió biển lạnh buốt thổi từ cái miệng tu sĩ của ông ta. Xung quanh đầu ông ta những con lươn và cá trình đang uốn éo. Ông ta phủ đầy rong biển và vỏ sò. Tay phải cầm một cái bơm xe đạp. Tay trái nắm lấy một con tôm hùm đất khổng lồ bằng hai cái kìm của nó.)
MANANAUN MACLIR: (Với giọng của sóng biển.) Aum! Hek! Wal! Ak! Lub! Mor! Ma! Vị yoghin trắng của các vị thần. Nhà thông thái huyền bí của Hermes Trismegistos. (Với giọng gió biển rít lên.) Punarjanam patsypunjaub! Tao không để ai dắt mũi đâu. Đã có kẻ nói rằng: hãy cẩn thận bên trái, sự sùng bái Shakti. (Với tiếng kêu của chim bão.) Shakti Shiva, người Cha ẩn giấu trong bóng tối! (Ông ta dùng bơm xe đạp đập vào con tôm hùm đất ở tay trái. Trên mặt số hợp tác của nó phát sáng mười hai cung hoàng đạo. Ông ta kêu lên với sự mãnh liệt của đại dương.) Aum! Baum! Pyjaum! Ta là ánh sáng của mái ấm! Ta là bơ kem mộng mơ.
(Một bàn tay phản bội xương xẩu bóp nghẹt ánh sáng. Ánh sáng xanh lụi dần thành màu hoa cà. Ngọn đèn gas rít lên hú hét.)
ĐÈN GAS: Pooah! Pfuiiiiiii!
(Zoe chạy đến đèn chùm và, uốn cong chân, điều chỉnh van.)
ZOE: Ai có điếu thuốc lá nào không vì tôi đang ở đây này?
LYNCH: (Ném một điếu thuốc lên bàn.) Đây.
ZOE: (Đầu hơi nghiêng sang một bên với niềm kiêu hãnh giả tạo.) Đó là cách đưa thuốc cho một quý cô à? (Ả rướn người lên để châm điếu thuốc qua ngọn lửa, xoay tròn nó chậm rãi, để lộ những búm lông nâu dưới nách. Lynch dùng cây gậy chọc lò bạo gan hất một bên váy của ả lên. Lộ ra từ nịt bít tất trở lên, phần thịt của ả dưới lớp sapphire hiện lên màu xanh của thủy quái. Ả thản ranh hút thuốc.) Anh có thấy nốt ruồi làm duyên ở mông tôi không?
LYNCH: Tôi không nhìn đâu.
ZOE: (Lườm nguýt làm duyên.) Không á? Anh không dám làm việc nhỏ hơn thế đâu. Anh có muốn mút một quả chanh không?
(Vừa nheo mắt với vẻ ngượng ngùng giả tạo vừa liếc nhìn Bloom bằng ánh mắt bên lề đầy ngụ ý, sau đó xoay người về phía hắn, kéo chiếc váy ra khỏi cây gậy chọc lò. Chất lỏng màu xanh lại chảy tràn qua da thịt ả. Bloom đứng đó, mỉm cười đầy khao khát, xoay ngón tay cái. Kitty Ricketts liếm ngón giữa bằng nước bọt và, nhìn vào gương, vuốt phẳng cả hai lông mày. Lipoti Virag, basilicogrammate, trượt nhanh xuống ống khói và bước hai bước sang trái trên đôi cà kheo hồng vụng về. Hắn mặc chồng chéo mấy lớp áo khoác và mặc một chiếc áo măng-tô nâu bên dưới giữ một cuộn giấy da. Trong mắt trái lóe lên kính một mắt của Cashel Boyle O’Connor Fitzmaurice Tisdall Farrell. Trên đầu đội chiếc mũ pshent Ai Cập. Hai cây bút lông thò ra trên tai.)
VIRAG: (Khép gót chân, cúi chào.) Tên tôi là Virag Lipoti, đến từ Szombathely. (Hắn ho suy ngẫm, khô khốc.) Sự khỏa thân bừa bãi hiện diện khá rõ quanh đây nhỉ, hử? Vô tình nhìn từ phía sau cho thấy sự thật là cô ta không mặc những món đồ kín đáo mà anh đặc biệt sùng bái. Dấu tiêm trên đùi tôi hy vọng anh nhận ra chứ? Tốt.
BLOOM: Papachi. Nhưng...
VIRAG: Mặt khác, người thứ hai, ả với má hồng anh đào và thợ làm tóc trắng, người có mái tóc mang không ít công sức từ cỗ elixir gopherwood của bộ lạc chúng ta, đang mặc đồ đi bộ và thắt eo chặt bởi chỗ ngồi của ả, tôi đoán vậy. Xương sống ở phía trước, có thể nói thế. Sửa cho tôi nếu tôi sai nhưng tôi luôn hiểu rằng hành vi được thực hiện như vậy bởi những con người tinh nghịch với những thoáng đồ lót thu hút anh nhờ vào tính chất triển lãm của nó. Tóm lại. Hippogriff. Tôi nói đúng chứ?
BLOOM: Cô ta hơi gầy.
VIRAG: (Khá dễ chịu.) Chính xác! Quan sát tốt đấy và những cái túi phồng của váy cùng hiệu ứng hơi bồng ở hông được thiết kế để gợi lên sự đầy đặn của hông. Một món mua mới tại một buổi xả hàng khổng lồ nào đó mà một gã khờ đã bị lừa tiền. Đồ trang sức phù phiếm để đánh lừa con mắt. Quan sát sự chú ý đến từng chi tiết của hạt bụi. Đừng bao giờ mặc vào ngày mai những gì anh có thể mặc hôm nay. Parallax! (Với một cái giật đầu thần kinh.) Anh có nghe thấy bộ não của tôi kêu rắc một tiếng không? Pollysyllabax!
BLOOM: (Một khuỷu tay tì lên tay, ngón trỏ tì vào má.) Cô ấy trông có vẻ buồn.
VIRAG: (Cynically, những chiếc răng chồn hở màu vàng, dùng một ngón tay kéo mí mắt trái xuống và sủa khàn khàn.) Lừa bịp! Cẩn thận với ả gái tơ và vẻ tang tóc giả tạo. Bông hoa lily của con hẻm. Ai cũng có chiếc cúc độc thân được phát hiện bởi Rualdus Columbus. Đè ngã ả. Ôm lấy ả. Tắc kè hoa. (Thân thiện hơn.) Thế thì, cho phép tôi thu hút sự chú ý của anh đến mục số ba. Có rất nhiều thứ hiển thị rõ ràng trước mắt thường của anh. Quan sát khối lượng vật chất thực vật được cung cấp oxy trên hộp sọ của ả ta. Này, ả ta nhảy nhổm lên kìa! Con vịt xấu xí của bữa tiệc, dáng dài và sâu dưới lườn.
BLOOM: (Tiếc nuối.) Khi anh ra ngoài mà không mang theo súng.
VIRAG: Chúng tôi có đủ các nhãn hiệu cho anh, nhẹ, vừa và mạnh. Trả tiền, chọn món. Anh có thể hạnh phúc biết bao với người này...
BLOOM: Với...?
VIRAG: (Lưỡi cong lên.) Lyum! Nhìn kìa. Thân hình của ả rộng đấy. Ả ta được phủ một lớp mỡ khá đáng kể. Rõ ràng có vú nặng về ngực anh nhận xét rằng ả có ở phía trước sát phía trước hai khối u có kích thước rất đáng nể, có xu hướng rơi vào đĩa súp giữa trưa, trong khi ở phía sau thấp hơn là hai khối u bổ sung, gợi ý trực tràng mạnh mẽ và sưng tấy để sờ nắn, không có gì để chê ngoại trừ độ gọn gàng. Những phần thịt như vậy là sản phẩm của sự nuôi dưỡng cẩn thận. Khi được nuôi vỗ béo trong chuồng, gan của chúng đạt kích thước khổng lồ. Những viên bánh mì mới với cỏ riêm và gôm benjamin bị đánh gục bởi các vương quốc trà xanh ban cho chúng trong sự tồn tại ngắn ngủi của chúng những chiếc gối cắm kim tự nhiên bằng mỡ khổng lồ. Hợp với sở thích của anh chứ, hử? Nồi thịt nóng hổi của Ai Cập để khao khát. Đầm đìa trong đó. Lycopodium. (Hổ họng giật giật.) Bốp chát! Hắn lại thế nữa kìa.
BLOOM: Tôi không thích cái cục lẹo.
VIRAG: (Nâng cung mày.) Tiếp xúc với nhẫn vàng, họ nói thế. Argumentum ad feminam, như chúng ta đã nói ở thành Rome cổ đại và Hy Lạp cổ đại dưới thời chấp chính của Diplodocus và Ichthyosauros. Còn lại, biện pháp cứu cánh của Eva. Không bán. Chỉ cho thuê. Huguenot. (Hắn giật giật.) Đó là một âm thanh buồn cười. (Hắn ho khích lệ.) Nhưng có lẽ đó chỉ là một nốt mụn cóc. Tôi cho rằng anh sẽ nhớ những gì tôi đã dạy anh về điểm đó chứ? Bột mì với mật ong và nhục đậu khấu.
BLOOM: (Suy ngẫm.) Bột mì với lycopodium và syllabax. Thử thách tìm kiếm này. Hôm nay là một ngày mệt mỏi bất thường, một chương của những tai nạn. Khoan đã. Ý tôi là, máu mụn cóc làm lây mụn cóc, anh đã nói...
VIRAG: (Nghiêm khắc, mũi gồ cứng, mắt bên nháy liên hồi.) Đừng xoay ngón tay cái nữa và hãy suy nghĩ đàng hoàng đi nào. Nhìn xem, anh đã quên rồi đấy. Hãy tập thể dục ghi nhớ của anh đi. La causa è santa. Tara. Tara. (Nói riêng.) Chắc chắn hắn sẽ nhớ thôi.