Ulysses

Lượt đọc: 238 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
[ 6 ]

❊ ❊ ❊

Martin Cunningham là người đầu tiên thò cái đầu đội mũ lụa vào chiếc xe ngựa đang kêu cót két, rồi uyển chuyển bước vào và ngồi xuống. Ông Power bước theo sau, cẩn thận khom tấm thân cao ngòng của mình xuống.

—Nào, Simon, lên đi.

—Xin mời anh trước, ông Bloom nói.

Ông Dedalus nhanh chóng đội lại mũ và bước lên xe, miệng lẩm bẩm:

—Đúng rồi, đúng rồi.

—Chúng ta đã đủ mặt cả chưa? Martin Cunningham hỏi. Lên đi chứ, Bloom.

Ông Bloom bước vào và ngồi vào chỗ trống. Ông kéo cửa xe lại và sập mạnh hai lần cho đến khi khớp hẳn. Ông luồn một tay qua quai da vịện thành xe, rồi qua cửa sổ xe đang mở, đăm đăm nhìn những tấm rèm rủ xuống dọc con đại lộ. Một tấm rèm bị kéo lệch sang một bên: một bà già đang dòm ngó. Chiếc mũi bẹt trắng bệch áp sát vào tấm kính. Thầm tạ ơn trời phật vì người xấu số không phải là mình. Thật kỳ lạ cái cách họ quan tâm đến một cỗ quan tài. Mừng rỡ thấy chúng ta ra đi bởi họ đã quá phiền toái khi chúng ta đến. Công việc này có vẻ hợp với họ. Lén lút thậm thụt trong các góc khuất. Lê la trong đôi dép lê lẹt xẹt vì sợ hắn thức giấc. Rồi chuẩn bị chu đáo. Khâm liệm. Molly và bà Fleming đang dọn giường. Kéo dịch sang phía anh chút nữa. Tấm vải liệm của chúng ta. Nào ai biết ai sẽ chạm vào mình khi đã chết. Tắm rửa và gội đầu. Tôi tin là họ còn cắt cả móng tay móng chân lẫn tóc tai. Giữ lại một nhúm trong phong bì. Dù sao thì chúng vẫn cứ mọc dài ra. Đúng là một công việc ô uế.

Tất cả cùng chờ đợi. Không ai nói gì cả. Chắc là đang xếp mấy vòng hoa vào trong. Mình đang ngồi lên cái gì mà cứng thế nhỉ. À, thỏi xà phòng đó: nằm ở túi quần sau. Tốt hơn là nên chuyển nó đi chỗ khác. Chờ có dịp đã.

Tất cả chờ đợi. Rồi có tiếng bánh xe chuyển động ở phía trước: rồi gần hơn: rồi tiếng móng ngựa. Một cú xóc. Chiếc xe ngựa bắt đầu lăn bánh, kẽo kẹt và tròng trành. Phía sau, tiếng móng ngựa và bánh xe kẽo kẹt khác cũng chuyển động theo. Những chiếc rèm bên đại lộ lần lượt lùi lại phía sau, rồi đến ngôi nhà số chín với chiếc khánh tang bằng đăng ten và cánh cửa khép hờ. Xe đi với tốc độ thong thả.

Họ vẫn tiếp tục chờ đợi, đầu gối nảy xóc lên xuống, cho đến khi xe rẽ hướng và chạy dọc theo đường ray xe điện. Đường Tritonville. Nhanh hơn chút nữa. Bánh xe lạo xạo lăn trên mặt đường lát đá cuội và những tấm kính ọp ẹp rung lên lách cách trong khung cửa.

—Hắn đang chở chúng ta đi đâu thế này? ông Power thò đầu qua cả hai khung cửa sổ hỏi.

—Irishtown, Martin Cunningham đáp. Ringsend. Phố Brunswick.

Ông Dedalus gật đầu, mắt nhìn ra ngoài.

—Đó là một phong tục cổ kính đẹp đẽ, ông nói. Tôi rất vui khi thấy nó vẫn chưa bị mai một.

Tất cả cùng lặng ngắm qua cửa sổ những chiếc mũ phớt và mũ lưỡi trai được người đi đường nhấc lên chào. Sự kính trọng. Chiếc xe ngựa rẽ khỏi đường ray xe điện sang con đường phẳng phiu hơn chạy ngang qua ngõ Watery. Đang chăm chú quan sát, ông Bloom nhìn thấy một thanh niên dẻo dai, mặc đồ tang, đầu đội chiếc mũ rộng andh.

—Có một người quen của anh vừa đi qua kìa, Dedalus, ông nói.

—Ai thế nhỉ?

—Con trai và là người thừa kế của anh đấy.

—Nó ở đâu cơ? ông Dedalus vừa nói vừa rướn người sang phía bên kia.

Chiếc xe ngựa lướt qua những cống rãnh lộ thiên và những đống đất đá bị cày xới trước các khu nhà ổ chuột, trờ tới góc đường rồi lượn trở lại đường ray xe điện, ầm ầm lăn bánh với những tiếng bánh xe va đập lách cách. Ông Dedalus ngả người ra sau, lẩm bẩm:

—Lại cái thằng đểu giả Mulligan đi cùng với nó phải không? Tên cận vệ trung thành của hắn cơ đấy!

—Không, ông Bloom nói. Nó đi một mình.

—Chắc lại đang tạt về chỗ mụ dì Sally của nó rồi, dòng họ Goulding ấy mà, cái mụ bợm nhậu chuyên bòn rút tiền và con bé Crissie, cục phân nhỏ của bố, đứa trẻ khôn ngoan biết rõ bố đẻ mình là ai, ông Dedalus càu nhàu.

Ông Bloom cười nhạt trên con đường Ringsend. Hãng Wallace Bros: nhà máy làm chai lọ: cầu Dodder.

Richie Goulding cùng chiếc cặp đựng tài liệu pháp lý. Goulding, Collis và Ward, hắn gọi hãng luật của mình là thế. Những trò đùa của hắn ngày càng trở nên nhạt nhẽo. Hắn từng là một tay chơi có hạng. Nhảy waltz trên phố Stamer với Ignatius Gallaher vào một buổi sáng Chủ nhật, đội cả hai chiếc mũ của bà chủ nhà lên đầu. Đi quậy phá suốt đêm. Giờ thì bắt đầu ngấm đòn rồi đấy: cái tội đau lưng của hắn ấy, tôi e thế. Vợ phải là lưng cho. Tưởng là uống thuốc là chữa khỏi được. Toàn là vụn bánh mì cả chứ gì. Lời lãi tới khoảng sáu trăm phần trăm ấy chứ.

—Nó đang du du với một đám du côn hạ đẳng, ông Dedalus bực bội gầm gừ. Nghe thiên hạ đồn thì cái thằng Mulligan khốn kiếp hai lần bảy lượt đó là một tên lưu manh nhúng chàm chính hiệu. Tiếng tăm của hắn ta thối tha khắp cả Dublin. Nhưng với ơn Chúa và Đức Mẹ phù hộ, tôi nhất định sẽ viết một bức thư gửi cho mẹ hắn, hay dì hắn, hoặc bất cứ bà già nào nuôi nấng hắn, để cho mụ ta sáng mắt ra, mở to như cái cổng làng ấy chứ. Hãy tin tôi đi, tôi sẽ cho hắn một bài học nhớ đời.

Ông cất cao giọng át cả tiếng bánh xe lạo xạo:

—Tôi quyết không để cái thằng cháu hoang đàng của mụ ta phá hoại đời con tôi. Con trai của một tên bán hàng hạ cấp. Chỉ đi bán dải ruy băng thuê ở hiệu của họ hàng tôi, Peter Paul M’Swiney. Đừng có hòng.

Ông im bặt. Ông Bloom liếc nhìn bộ râu mép đang tức giận của ông Dedalus rồi sang khuôn mặt hiền hòa của ông Power cùng đôi mắt và bộ râu của Martin Cunningham, đang nghiêm nghị lắc đầu. Quả là một kẻ ồn ào và ngoan cố. Mở miệng ra là con với cái. Ông ấy nói đúng. Phải có cái gì để lại cho đời sau chứ. Ước gì bé Rudy còn sống. Được nhìn nó lớn lên. Được nghe tiếng nó vang dội trong nhà. Được cùng đi dạo với Molly trong bộ đồ thủy thủ Eton. Con trai tôi. Nhìn thấy chính mình trong đôi mắt nó. Chắc sẽ là một cảm giác kỳ lạ lắm. Từ máu thịt mình ra. Chỉ là một sự tình cờ. Chắc là vào buổi sáng hôm ấy, khi cô ấy đứng bên cửa sổ ở sân thượng Raymond nhìn hai con chó đang vờn nhau sát bức tường của chốn đoạn tuyệt điều ác. Và tay trung sĩ thì đang nhe răng cười ngước lên. Cô ấy mặc chiếc áo đầm màu kem bị rách một đường mà chưa bao giờ khâu lại. Ôm em một cái đi anh, Poldy. Chúa ơi, em thèm chết đi được. Sự sống bắt đầu như thế đấy.

Lúc đó bụng mang dạ chửa. Phải từ chối cả buổi hòa nhạc ở Greystones. Đứa con trai của tôi đang nằm trong bụng cô ấy. Lẽ ra tôi đã có thể giúp nó tiến thân trong cuộc đời. Lẽ ra tôi đã có thể làm được điều đó. Giúp nó tự lập. Lại còn phải cho học cả tiếng Đức nữa chứ.

—Chúng ta có bị muộn giờ không thế? ông Power hỏi.

—Mười phút, Martin Cunningham nói khi nhìn vào đồng hồ.

Molly. Milly. Cũng chỉ là một dạng phảng phất như thế. Những câu thề thốt kiểu con trai ngang ngược của nó. Ôi chúa tể bầu trời! Ôi các vị thần và đàn cá nhỏ! Dù sao thì nó vẫn là một cô con gái cưng. Chẳng mấy chốc mà thành thiếu nữ. Mullingar. Ba yêu dấu của con. Một cô sinh viên trẻ. Phải rồi: cũng là một người phụ nữ rồi. Cuộc đời, cuộc đời.

Chiếc xe ngựa nghiêng ngả sang hai bên, bốn chiếc rương của họ tròng trành theo.

—Lẽ ra Corny phải cho chúng ta mượn một cỗ xe rộng rãi hơn mới phải, ông Power nói.

—Lẽ ra hắn có thể làm thế, ông Dedalus nói, nếu như không vướng cái tật lác mắt của hắn. Anh có hiểu ý tôi không?

Ông nhắm tịt mắt trái lại. Martin Cunningham bắt đầu phủi những mẩu vụn bánh mì đóng cục dưới đệm ghế.

—Cái quái gì thế này, nhân danh Chúa cơ chứ? Vụn bánh mì á? ông thốt lên.

—Hình như mới có ai tổ chức cắm trại dã ngoại ở đây thì phải, ông Power nói.

Tất cả cùng nhổm mông lên và khó chịu nhìn lớp da bọc ghế đã mốc meo và rơi rụng hết cúc. Vừa nhăn mũi, ông Dedalus vừa cúi xuống lườm nguýt và nói:

—Trừ phi tôi lầm to. Anh nghĩ sao, Martin?

—Tôi cũng thấy thế, Martin Cunningham đáp.

Ông Bloom hạ mông xuống ngồi. May quá mình đã tắm rửa sạch sẽ. Thấy chân cẳng hoàn toàn sạch sẽ. Nhưng ước gì bà Fleming vá đôi tất này cẩn thận hơn chút nữa.

Ông Dedalus thở dài cam chịu.

—Dù sao đi nữa, ông nói, đó cũng là điều tự nhiên nhất trên đời.

—Tom Kernan có đến không thế? Martin Cunningham hỏi, tay khẽ xoắn chỏm râu.

—Có chứ, ông Bloom đáp. Anh ấy đi cùng Ned Lambert và Hynes ở phía sau.

—Thế còn bản thân Corny Kelleher đâu? ông Power hỏi.

—Đang ở nghĩa trang rồi, Martin Cunningham đáp.

—Sáng nay tôi có gặp M’Coy, ông Bloom nói. Cậu ấy bảo sẽ cố gắng đến.

Chiếc xe ngựa khựng lại đột ngột.

—Có chuyện gì thế nhỉ?

—Chúng ta bị dừng lại rồi.

—Đang ở đâu thế này?

Ông Bloom thò đầu qua cửa sổ.

—Kênh lớn rồi, ông nói.

Nhà máy gas. Người ta bảo hít khí này chữa được bệnh ho gà. May mà Milly chưa từng bị. Tội nghiệp lũ trẻ! Căn bệnh hành hạ chúng quằn quại đến tím tái cả người. Thật là đáng thương. So với thiên hạ thì tụi nhỏ nhà mình mắc ít bệnh tật hơn. Chỉ bị sởi thôi. Nước hạt lanh. Dịch sốt ban đỏ, dịch cúm. Đi vận động cho Thần Chết ấy mà. Đừng bỏ lỡ cơ hội này nhé. Trại cứu tế động vật đằng kia kìa. Con Athos già tội nghiệp! Hãy đối xử tốt với Athos nhé, Leopold, đó là tâm nguyện cuối cùng của tôi. Xin hãy thực hiện ý nguyện đó. Chúng ta phải tuân lệnh họ ngay cả khi đã nằm dưới mồ. Những dòng chữ trối trăn nguệch ngoạc lúc hấp hối. Hắn đã để chuyện đó bận tâm vào lòng, rồi cứ thế héo mòn mà chết. Con vật hiền lành. Chó của mấy ông già thường hay như thế.

Một hạt mưa rơi tí tách lên vành mũ ông. Ông rụt đầu lại và kịp nhìn thấy những chấm mưa lất phất trên mấy phiến đá xám. Rời rạc. Thật kỳ lạ. Cứ như nhìn qua cái rây lọc vậy. Tôi biết ngay mà. Thảo nào lúc nãy giày tôi cứ kêu cót két.

—Thời tiết đang thay đổi rồi, ông điềm tĩnh nói.

—Tiếc thật, lại không giữ được trời đẹp, Martin Cunningham nói.

—Đất đai đang rất cần nước, ông Power nói. Kìa, mặt trời lại ló rạng rồi kìa.

Ông Dedalus nheo mắt nhìn qua cặp kính về phía vầng thái dương đang bị che khuất, thầm rủa xả bầu trời trong bụng.

—Thời tiết đúng là thất thường như cái đít trẻ con, ông nói.

—Chúng ta đi tiếp thôi.

Chiếc xe lại quay những bánh xe cứng nhắc và những chiếc rương tròng trành nhẹ nhàng. Martin Cunningham xoắn chỏm râu nhanh hơn.

—Tối qua Tom Kernan thật là xuất thần, anh ta nói. Nhất là lúc Paddy Leonard nhại lại điệu bộ của hắn ngay trước mặt.

—Ồ, phải khơi cho hắn hứng lên chứ, Martin, ông Power hào hứng nói. Đợi lát nữa anh nghe Simon kể chuyện Ben Dollard hát bài The Croppy Boy đi.

—Tuyệt đỉnh, Martin Cunningham ra điều ta đây nói. Cách hắn hát khúc ballad giản dị đó, Martin ạ, là màn thể hiện sâu sắc nhất mà tôi từng được nghe trong suốt cuộc đời mình.

—Sâu sắc sắc sảo, ông Power cười lớn nói. Hắn mê tơi cái món đó mà. Cả cái cách sắp xếp mang tính hồi tưởng nữa chứ.

—Anh có đọc bài diễn văn của Dan Dawson không? Martin Cunningham hỏi.

—Tôi chưa đọc, ông Dedalus đáp. Nó ở đâu thế?

—Trên tờ báo sáng nay này.

Ông Bloom rút tờ báo từ trong túi áo ngực. Cuốn sách đó mình phải đổi lại cho cô ấy mới được.

—Không, không, ông Dedalus nhanh chóng nói. Để lát nữa đi.

Ánh mắt ông Bloom lướt dọc theo mép tờ báo, rà soát mục cáo phó: Callan, Coleman, Dignam, Fawcett, Lowry, Naumann, Peake, vị Peake nào thế nhỉ? có phải cái tay từng làm ở hãng Crosbie and Alleyne không? không phải, Sexton, Urbright. Những ký tự mực in đang phai mờ nhanh chóng trên tờ giấy rách rưới sắp tả tơi. Nhờ ơn Bông Hồng Nhỏ. Vô cùng thương tiếc. Để lại niềm đau thương khôn xiết cho người thân. Hưởng thọ 88 tuổi sau một cơn trọng bệnh kéo dài và đầy dằn vặt. Giỗ đầu: Quinlan. Cầu xin Chúa nhân từ thương xót linh hồn bác ấy.

Đã một tháng từ ngày Henry quý mến bay đi

Về với ngôi nhà trên thiên đàng cao vời vợi

Trong lúc gia đình khóc thương tiếc nuối

Vẫn mong ngày đoàn tụ chốn bồng lai.

Mình đã xé chiếc phong bì đó đi chưa nhỉ? Rồi. Mình đã cất bức thư của cô ấy vào đâu sau khi đọc trong bồn tắm nhỉ? Ông vỗ nhẹ vào túi áo ghi-lê. Vẫn nằm yên trong đó. Henry quý mến đã bay đi. Trước khi sự kiên nhẫn của tôi cạn kiệt.

Trường tiểu học. Bãi chứa của Meade. Cọc mốc. Giờ chỉ còn hai kẻ ở đó. Đang gật gù ngủ gật. Say khướt như rận. Đầu óc toàn bã đậu. Tên kia thì đang lượn lờ đánh xe đón khách. Một tiếng trước tôi vừa đi ngang qua đó. Mấy bác tài xe ngựa ngả mũ chào.

Tấm lưng của một tay gác ghi đột ngột vươn thẳng lên cạnh cột điện đường ngay sát cửa sổ chỗ ông Bloom ngồi. Sao bọn chúng không phát chế ra cái gì tự động đi nhỉ, có phải bánh xe tự vận hành thì tiện hơn biết bao nhiêu không? À nhưng mà thế thì cái tay đó sẽ mất việc à? À mà nếu thế thì lại có kẻ khác kiếm được việc làm nhờ chế ra phát minh mới chứ sao?

Phòng hòa nhạc Antient. Chẳng có chương trình gì ở đó cả. Một người mặc bộ đồ màu vàng sậm đeo băng tang ở tay. Chẳng có vẻ gì là đau buồn lắm. Tang khó một nửa. Chắc là dân làm luật đây.

Họ lướt qua bục giảng u ám của thánh Mark, dưới gầm cầu xe lửa, qua nhà hát Queen’s: trong sự tĩnh lặng. Những tấm biển quảng cáo dán chi chít: Eugene Stratton, Mrs Bandmann Palmer. Không biết tối nay mình có thể đi xem vở Leah được không nhỉ. Tôi tự nhủ thế. Hay là vở Bông hồng Killarney? Đoàn opera Elster Grimes. Một sự đổi mới hoành tráng và mạnh mẽ. Những tờ áp phích ẩm ướt sáng rực cho tuần tới. Vui chơi trên chuyến tàu Bristol. Martin Cunningham có thể xin được vé mời đi xem ở nhà hát Gaiety. Lại phải khoản đãi vài ly rồi. Hòa cả làng thôi.

Chiều nay hắn tới. Những bài hát của cô ấy.

Tiệm Plasto. Tượng đài đài phun nước tưởng niệm Sir Philip Crampton. Ông ta là ai thế nhỉ?

—Anh khỏe chứ? Martin Cunningham nói, giơ lòng bàn tay lên trán chào.

—Hắn có thấy chúng ta đâu, ông Power nói. Có chứ, hắn thấy đấy chứ. Anh khỏe cả chứ?

—Ai cơ? ông Dedalus hỏi.

—Blazes Boylan chứ ai, ông Power đáp. Kìa, hắn đang phô cái chỏm tóc vuốt keo kìa.

Đúng lúc ấy mình đang nghĩ đến hắn.

Ông Dedalus rướn người sang chào. Từ ngưỡng cửa quán Red Bank, chiếc đĩa trắng của chiếc mũ rơm lóe lên câu trả lời: một vóc dáng bảnh bao: lướt qua.

Ông Bloom ngắm nghía móng tay bàn tay trái, rồi đến móng tay bàn tay phải. Móng tay, phải rồi. Hắn ta có điểm gì đặc biệt mà cô ấy lại nhìn thấy nhỉ? Sự mê hoặc. Gã đàn ông tồi tệ nhất ở Dublin. Chính điều đó lại giúp hắn ta sống dai. Đôi khi họ có trực giác để cảm nhận bản chất một con người. Bản năng mà. Nhưng với một tuýp người như thế. Móng tay mình đây. Mình đang ngắm chúng đấy thôi: được dũa cắt gọn gàng. Và sau đó: ngồi thầm lặng suy tư. Thân hình bắt đầu mềm nhão ra một chút. Mình để ý thấy điều đó: qua ký ức. Nguyên nhân do đâu nhỉ? Chắc là da không thể co lại đủ nhanh khi thịt mỡ xèo xuống. Nhưng phom dáng vẫn còn đó. Phom dáng vẫn còn nguyên ở đó. Vai. Hông. Đẫy đà. Đêm khiêu vũ diện đồ. Tấm váy lót dính chặt vào giữa hai khe mông phía sau.

Ông đan hai tay vào nhau đặt giữa hai đầu gối, và với một vẻ mãn nguyện, ông phóng ánh mắt vô định lướt qua khuôn mặt những người ngồi cùng.

Ông Power hỏi:

—Chuyến lưu diễn hòa nhạc thế nào rồi, Bloom?

—Ồ, rất khả quan, ông Bloom đáp. Tôi nghe được nhiều tiếng vang lớn lắm. Ý tưởng hay đấy chứ...

—Anh có tự mình đi theo không?

—À không, ông Bloom đáp. Thực ra thì tôi phải về hạt Clare có chút việc riêng. Ý tưởng là sẽ lưu diễn qua các thị trấn lớn. Lỗ chỗ này thì bù chỗ kia thôi.

—Phải đấy, Martin Cunningham nói. Mary Anderson hiện cũng đang ở trên đó.

—Anh có nghệ sĩ tên tuổi nào không?

—Louis Werner đang tổ chức lưu diễn cho cô ấy, ông Bloom nói. Ồ có chứ, chúng tôi sẽ quy tụ toàn những ngôi sao hàng đầu. J. C. Doyle và John MacCormack tôi hy vọng thế và. Tóm lại là những người xuất sắc nhất.

—Và cả Nữ danh ca nữa chứ, ông Power cười nói. Nhân vật cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng.

Ông Bloom buông hai bàn tay đang đan vào nhau ra bằng một cử chỉ lịch thiệp nhẹ nhàng rồi lại đan vào nhau. Tượng Smith O’Brien. Ai đó vừa đặt một bó hoa ở đó. Phụ nữ. Chắc là ngày giỗ của ông ấy rồi. Chúc mừng sinh nhật vui vẻ nhé. Chiếc bánh xe ngựa lướt qua bức tượng của Farrell, vô tình lướt qua những đôi đầu gối đang xuôi theo số phận.

Hừ: một ông già ăn mặc lếch thếch bên vỉa hè rao hàng, miệng há hốc: hừ.

—Bốn sợi dây giày một xu đây.

Tự hỏi tại sao hắn lại bị gạch tên khỏi danh sách hành nghề luật sư nhỉ. Văn phòng đặt ở phố Hume. Cùng một tòa nhà với người cùng tên với Molly, Tweedy, luật sư hoàng gia vùng Waterford. Vẫn giữ chiếc mũ lụa đó cho đến tận bây giờ. Tàn tích của một thời đoan trang xưa cũ. Lại còn mặc đồ tang nữa chứ. Thật là một cú trượt dài thảm hại, gã khốn khổ tội nghiệp! Bị đá đi như cục tơi ở một đám tang. O’Callaghan đang ở những ngày tàn của cuộc đời.

Và Quý bà danh ca. Mười một giờ kém hai mươi. Đã thức dậy. Bà Fleming đang dọn dẹp. Đang làm tóc, miệng ngâm nga: voglio e non vorrei. Không phải: vorrei e non. Đang soi những ngọn tóc xem có bị chẻ ngọn không. Mi trema un poco il. Giọng cô ấy cất lên ở nốt ba đó thật đẹp: âm điệu đầy sướt mướt. Một chú chim hoét. Một con chim hoét nhỏ. Có từ throstle dùng để diễn tả đúng cái âm điệu đó.

Ánh mắt ông lướt nhẹ qua khuôn mặt ưa nhìn của ông Power. Đã điểm bạc ở hai bên mang tai. Quý bà: mỉm cười. Tôi mỉm cười đáp lại. Một nụ cười có sức mạnh lan tỏa xa. Có khi chỉ là phép lịch sự xã giao thôi. Gã trai tốt tính. Ai mà biết chuyện hắn bao nuôi một cô bả là thật hay giả? Chẳng mấy vui vẻ gì cho người vợ. Thế mà người ta bảo, ai nhỉ người đã nói với tôi chuyện đó ấy nhỉ, giữa họ chẳng có chuyện nhục dục xác thịt đâu. Cứ nghĩ là chuyện đó sẽ sớm phai nhạt chứ nhỉ. À đúng rồi, chính là Crofton đã bắt gặp hắn một buổi tối mang cho cô ta một cân thịt thag bò. Cô ta là ai nhỉ? Cô tiếp viên quán rượu ở Jury’s. Hay ở khách sạn Moira nhỉ?

Họ đi lướt qua bức tượng vị Lãnh tụ với chiếc áo choàng khổng lồ.

Martin Cunningham huých nhẹ ông Power.

—Hậu duệ của tộc Reuben đấy, anh ta nói.

Một bóng người cao gầy râu đen, lưng còng chống gậy, đang lết đi vòng qua góc cửa hàng Voi của hãng Elvers, giơ một bàn tay cong khum khum mở rộng áp vào sống lưng.

—Vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp thuở ban đầu, ông Power nói.

Ông Dedalus dõi theo bóng người đang lết đi và điềm tĩnh mắng với theo:

—Cầu trời gãy mẹ cái cột sống nhà mày đi!

Ông Power cười nấc ngất ngây, giơ tay che mặt khỏi cửa sổ khi chiếc xe ngựa chạy ngang qua bức tượng của Gray.

—Tất cả chúng ta đều từng trải qua cảm giác đó cả rồi, Martin Cunningham cười lớn nói.

Ánh mắt anh ta chạm vào mắt ông Bloom. Anh ta vuốt ve bộ râu, nói thêm:

—À, hầu như tất cả chúng ta.

Ông Bloom bỗng hăng hái cất lời hướng về phía khuôn mặt những người bạn đồng hành.

—Có một câu chuyện cười cực hay đang lan truyền về vụ Reuben J và đứa con trai đấy các anh ạ.

—Chuyện về gã lái đò á? ông Power hỏi.

—Ừ. Hay tuyệt cú mèo luôn ấy chứ?

—Chuyện gì thế? ông Dedalus hỏi. Tôi chưa được nghe.

—Có dính líu đến một cô gái trong câu chuyện này, ông Bloom bắt đầu kể, và hắn ta quyết định tống cổ thằng bé đi Đảo Man cho khuất mắt, nhưng khi cả hai người bọn họ đang.....

—Cái gì cơ? ông Dedalus hỏi. Lại cái thằng thiếu niên ranh con hư hỏng đã được xác nhận danh tính ấy á?

—Đúng vậy, ông Bloom nói. Cả hai đang trên đường ra tàu thì hắn ta định dìm.....

—Dìm chết thằng Barabbas ấy đi! ông Dedalus thét lên. Cầu Chúa cho hắn làm thế thật đi!

Ông Power phát ra một tràng cười dài qua đôi cánh mũi đang che khuất.

—Không phải, ông Bloom nói, chính thằng con trai cơ.....

Martin Cunningham thô bạo chặn ngang lời ông:

—Reuben J và thằng con đang lúp xúp đi bộ dọc bến cảng sát bờ sông trên đường ra chỗ con tàu đi Đảo Man thì đột nhiên thằng ranh con giở chứng sổng chuồng, nhảy tót qua bức tường lao tỏm xuống sông Liffey.

—Lạy Chúa tôi! ông Dedalus hoảng hốt thốt lên. Nó chết rồi à?

—Chết cái nỗi gì! Martin Cunningham kêu lên. Còn khuya nhé! Một gã lái đò vớ lấy cái sào, vớt cổ quần nó lôi lên, và nó được đưa trả tận tay lão bố ngay trên bến cảng trong tình trạng thoi thóp gần chết. Cả thị trấn xúm lại xem.

—Đúng thế, ông Bloom nói. Nhưng cái hay ở chỗ này cơ.....

—Và Reuben J, Martin Cunningham tiếp lời, đã thưởng cho gã lái đò đúng hai đồng florin vì tội cứu mạng con trai mình.

Một tiếng thở dài nén nhịn phát ra từ bàn tay đang che mặt của ông Power.

—Ồ, hắn làm thế thật đấy, Martin Cunningham khẳng định. Hùng dũng như một người hùng. Hai đồng bạc florin trắng.

—Không thấy là quá đỉnh hay sao hả các anh? ông Bloom hăng hái nói.

—Thừa mẹ nó mất một si-linh tám xu rồi còn gì, ông Dedalus cằn nhằn.

Tiếng cười nghẹn ngào của ông Power khẽ bật ra trong khoang xe.

Cột tưởng niệm Nelson.

—Tám quả mận một xu đây! Tám quả một xu!

—Chúng ta nên tỏ ra trang nghiêm một chút đi các anh, Martin Cunningham nói.

Ông Dedalus thở dài.

—À thì phải thế thôi, ông nói, bé Paddy tội nghiệp chắc cũng chẳng chấp nhặt gì một nụ cười của chúng ta đâu. Bản thân thằng bé lúc sinh thời cũng từng kể biết bao nhiêu câu chuyện cười hay.

—Xin Chúa hãy tha thứ cho con! ông Power nói, tay dùng ngón tay lau những giọt nước mắt đang ứa ra. Paddy tội nghiệp! Chỉ mới cách đây một tuần, khi tôi gặp lại cậu ấy và thấy sức khỏe vẫn bình thường như mọi khi, tôi đâu có ngờ lại có ngày phải ngồi xe ngựa tiễn đưa cậu ấy thế này. Cậu ấy đã vĩnh viễn rời xa chúng ta rồi.

—Đúng là một con người nhỏ bé tử tế nhất trần đời từng đội mũ, ông Dedalus nói. Cậu ấy đi quá đột ngột.

—Sụp đổ hệ thống, Martin Cunningham nói. Trái tim mà.

Anh ta buồn bã vỗ nhẹ vào ngực mình.

Khuôn mặt đỏ bừng: nóng như lửa đốt. Nốc quá nhiều rượu mạnh John Barleycorn. Phương thuốc chữa cái mũi đỏ. Cứ nốc chè chén say sưa cho đến khi nó chuyển sang màu đỏ lựng. Hắn ta đã ném biết bao nhiêu tiền của vào việc nhuộm đỏ cái mũi đó rồi.

Ông Power đăm đăm nhìn những ngôi nhà lướt qua với vẻ lo lắng đầy xót xa.

—Cậu ấy ra đi đột ngột quá, anh bạn tội nghiệp, ông nói.

—Đó là cái chết tuyệt vời nhất, ông Bloom nói.

Đôi mắt mở trừng trừng của họ đổ dồn về phía ông.

—Không phải chịu đau đớn gì cả, ông nói. Chỉ trong khoảnh khắc là mọi chuyện chấm dứt. Giống như chết trong giấc ngủ vậy.

Không ai nói năng gì.

Phía dãy nhà này ít người qua lại nhỉ. Kinh doanh buồn tẻ ban ngày, các văn phòng môi giới nhà đất, khách sạn kiêm quán nước cấm, cẩm nang đường sắt Falconer, cao đẳng công chức, nhà sách Gill, câu lạc bộ thiên Chúa giáo, hội người mù chăm chỉ. Tại sao nhỉ? Chắc phải có lý do gì chứ. Nắng hoặc gió chăng. Cả ban đêm nữa chứ. Mấy đứa ở đợ và người hầu. Dưới sự bảo trợ của cố Cha Mathew. Viên đá nền để tưởng niệm Parnell. Suy sụp. Trái tim.

Những con ngựa bạch với chùm lông bờm trắng trước trán phóng galop rẽ qua góc quảng trường Rotunda. Một cỗ quan tài tí xíu lướt qua nhanh chóng. Đang vội vã đem chôn. Một chiếc xe tang đưa người chết. Dành cho người chưa vợ chưa chồng. Màu đen dành cho người đã lập gia đình. Màu lang cho người độc thân. Màu vàng xám dành cho xơ tu sĩ.

—Thật đáng thương, Martin Cunningham nói. Một đứa trẻ.

Khuôn mặt của một gã lùn, tím tái và nhăn nheo y như bé Rudy ngày trước. Thân hình dị dạng, yếu ớt như bột nhão, nằm trong chiếc quan tài bằng gỗ thông lót vải trắng. Do quỹ hội tương tế mai táng chi trả. Mỗi tuần một xu mua khoảnh đất bùn. Đứa. Bé. Ăn. Mày. Tội. Nghiệp. Chẳng có ý nghĩa gì cả. Lỗi của tạo hóa thôi. Nếu nó khỏe mạnh thì là giống mẹ. Bằng không thì là giống bố. Chúc may mắn lần sau vậy.

—Tội nghiệp sinh linh bé bỏng, ông Dedalus nói. Thoát được kiếp này là phúc cho nó rồi.

Chiếc xe ngựa ì ạch leo lên ngọn đồi ở quảng trường Rutland chậm hơn. Hãy lắc những khúc xương hắn đi. Trên những viên đá. Chỉ là một kẻ bần cùng. Chẳng ai nhận thân nhân.p>

—Giữa cuộc đời trần thế, Martin Cunningham nói.

—Nhưng tồi tệ nhất trong tất cả, ông Power nói, là kẻ tự kết liễu đời mình.

Martin Cunningham nhanh nhẹn rút đồng hồ ra xem, ho hắng rồi lại đút vào túi.

—Đó là sự nhục nhã lớn nhất trong dòng họ, ông Power nói thêm.

—Dĩ nhiên là do chứng mất trí tạm thời rồi, Martin Cunningham quả quyết nói. Chúng ta phải nhìn nhận sự việc bằng lòng trắc ẩn.

—Thiên hạ bảo kẻ nào làm thế là đồ hèn nhát, ông Dedalus nói.

—Chúng ta không có quyền phán xét, Martin Cunningham nói.

Ông Bloom đang định mở lời thì lại ngậm miệng lại. Đôi mắt to tròn của Martin Cunningham. Giờ thì đang nhìn đi chỗ khác. Quả là một người đàn ông giàu lòng trắc ẩn và nhân hậu. Sướng trí. Trông giống như khuôn mặt của Shakespeare. Lúc nào cũng có những lời hay ý đẹp để nói. Ở đây người ta chẳng có chút thương xót nào đối với hành động đó hay tội giết trẻ sơ sinh cả. Từ chối cả nghi thức an táng theo đạo Thiên Chúa. Ngày xưa họ còn đóng một cái cọc gỗ xuyên qua trái tim kẻ tự tử nằm dưới mồ nữa cơ. Cứ như thể trái tim hắn ta chưa đủ tan nát vậy đôi khi họ cũng ăn năn hối hận nhưng đã quá muộn. Người ta tìm thấy xác dưới lòng sông đang bấu víu lấy mấy khóm sậy. Anh ta nhìn tôi. Và cả cái mụ vợ bợm nhậu kinh khủng của mụ ta nữa chứ. Hết lần này đến lần khác lập gia đình cho mụ ta để rồi hầu như thứ Bảy nào mụ ta cũng đem đồ đạc đi cầm đồ. Hành hạ anh ta sống dở chết dở. Làm cho trái tim bằng đá cũng phải tan nát. Sáng thứ Hai. Lại làm lại từ đầu. Vai kề vai gánh vác. Lạy Chúa, chắc mụ ta trông thảm hại lắm vào cái đêm mà ông Dedalus kể với tôi rằng ông ấy có mặt ở đó. Say xỉn lượn lờ khắp nơi và múa may quay cuồng với chiếc ô của Martin.

Và người ta gọi tôi là viên ngọc của châu Á,

Châu Á,

Nàng geisha.

Anh ta quay mặt đi không nhìn tôi nữa. Anh ta biết thừa. Lắc những khúc xương hắn đi.

Buổi chiều hôm có cuộc điều tra tử thi ấy. Chai thuốc có nhãn đỏ đặt trên bàn. Căn phòng trong khách sạn treo những bức tranh săn bắn. Ngột ngạt làm sao. Ánh nắng rọi qua nhữngh lá chớp của cửa sổ kiểu Venice. Đôi tai đỏ rực lông lá của ông pháp y dưới ánh mặt trời. Viên cảnh sát làm chứng nhân khai báo. Ban đầu cứ tưởng hắn ngủ say. Rồi thấy những vệt vàng trên mặt hắn. Hắn đã trượt xuống tận cuối giường. Kết luận nguyên nhân tử vong: quá liều thuốc. Chết do tai nạn bất ngờ. Bức thư. Dành cho con trai ta Leopold.

Không còn đau đớn nữa. Sẽ không bao giờ thức giấc nữa. Chẳng ai nhận thân nhân.

Chiếc xe ngựa phi nhanh dọc theo phố Blessington. Trên những viên đá.

—Tôi nghĩ chúng ta đang phóng nhanh đấy chứ lị, Martin Cunningham nói.

—Cầu Chúa phù hộ để hắn không làm chúng ta lật xe trên đường, ông Power nói.

—Tôi mong là thế, Martin Cunningham nói. Ngày mai ở bên Đức sẽ có một cuộc đua xe vĩ đại đấy. Giải Gordon Bennett.

—Ừ, lạy Chúa, ông Dedalus nói. Đáng để đi xem lắm đấy chứ lị, thề có Chúa.

Khi họ rẽ vào phố Berkeley, một chiếc đàn phong cầm tự động ở gần khu Basin tấu lên và đuổi theo sau họ một khúc ca vui nhộn rộn rã đặc trưng của các quán rượu ca nhạc. Có ai thấy Kelly ở đây không? Kay ee double ell wy. Bản hành khúc tang lễ trứ danh từ vở Saul. Hắn ta cũng tệ hại chẳng kém gì lão Antonio. Hắn bỏ rơi tôi bơ vơ một mình. Điệu múa xoay tròn! Bệnh viện Mater Misericordiae. Phố Eccles. Nhà của tôi ở tít đằng kia. Căn nhà lớn. Có cả khu dành cho bệnh nhân vô phương cứu chữa ở đó. Thật là đáng khích lệ. Nhà tế thế dành cho người hấp hối của Đức Mẹ. Nhà xác nằm ngay bên dưới thật tiện lợi. Nơi bà cụ Riordan qua đời. Trông đám phụ nữ mới kinh hãi làm sao. Chiếc cốc ăn uống của bà ấy và cảnh dùng thìa chà xát miệng bà ấy. Rồi tấm bình phong vây quanh giường cho bà ấy chết. Cậu sinh viên trẻ dễ thương hôm nọ đã băng bó vết con ong đốt cho tôi. Nghe nói cậu ấy đã chuyển sang bệnh viện phụ sản rồi. Từ thái cực này sang thái cực khác.

Chiếc xe ngựa phi nước đại rẽ qua một góc phố: khựng lại.

—Lại chuyện gì nữa đây?

Một đàn gia súc bị đóng dấu nung đang nhốn nháo đi qua cửa sổ, tiếng bò rống trầm đục, lê la trên những bước chân có đệm thịt, thong thả quất cái đuôi lên mấy phần mông xương xẩu dính đầy phân cục. Vây quanh và len lỏi giữa chúng là những con cừu bị bôi phẩm đỏ đang kêu bê bết vì sợ hãi.

—Dân tha hương di cư, ông Power nói.

—Huuuh! tiếng gã lùa gia súc cất lên, cây roi vụt vào mạn sườn chúng kêu phần phật. Huuuh! tránh ra chỗ khác!

Dĩ nhiên rồi, hôm nay là thứ Năm. Ngày mai là ngày làm thịt. Bầy bò tơ. Cuffe đã bán chúng với giá khoảng hai mươi bảy bảng một con. Chắc là đem đi Liverpool. Thịt bò quay cho nước Anh cổ kính. Bọn chúng thu mua toàn bộ những con béo múp míp ngon lành nhất. Và thế là phần thịt thứ năm bị vứt bỏ: toàn bộ đống đồ tươi sống đó, da, lông, sừng. Tính ra trong một năm thì thành một con số khổng lồ đấy chứ. Ngành kinh tế buôn bán thịt chết. Phụ phẩm của các lò mổ dùng cho xưởng thuộc da, xà phòng, bơ thực vật. Tự hỏi cái chiêu trò bốc dỡ thịt ôi thiu xuống khỏi tàu ở Clonsilla giờ còn áp dụng được không nhỉ.

Chiếc xe ngựa tiếp tục di chuyển xuyên qua đàn gia súc.

—Tôi không tài nào hiểu nổi tại sao hội đồng thành phố lại không cho chạy một tuyến xe điện từ cổng công viên thẳng ra các bến tàu nhỉ, ông Bloom nói. Toàn bộ số gia súc đó có thể được chở bằng toa xe lửa thẳng ra các tàu thủy.

—Thay vì cứ để chúng làm tắc nghẽn cả đường đi nước bước thế này, Martin Cunningham nói. Nói rất chuẩn. Lẽ ra họ phải làm thế từ lâu rồi.

—Đúng vậy, ông Bloom nói, và một điều nữa tôi hay nghĩ tới, là nên có những chuyến xe điện chuyên dụng chở đám ma giống như ở Milan ấy các anh biết đấy. Kéo thẳng đường ray ra đến tận cổng nghĩa trang và có những chuyến xe chuyên biệt, nào xe tang nào xe ngựa chở người đầy đủ cả. Các anh có hiểu ý tôi không?

—Thôi đi cho mọc đuôi, chuyện cổ tích à, ông Dedalus nói. Lại còn toa tàu hạng sang Pullman với phòng ăn salon nữa chắc.

—Thế thì có mà đói mốc mồm với Corny, ông Power nói thêm.

—Tại sao cơ chứ? ông Bloom hỏi, quay sang nhìn ông Dedalus. Chẳng lẽ làm thế văn minh lịch sự hơn là cứ để hai cỗ xe phi song song với nhau sao?

—Ừm, nghe cũng có lý đấy chứ nhỉ, ông Dedalus nhượng bộ.

—Và, Martin Cunningham nói tiếp, chúng ta sẽ không phải chứng kiến những cảnh tượng như hồi chiếc xe tang bị lật nhào ở góc quán Dunphy và hất tung cỗ quan tài lăn lóc ra đường.

—Cảnh đó mới khủng khiếp làm sao, khuôn mặt bàng hoàng của ông Power thốt lên, cái xác chết rơi vãi tung tóe giữa đường. Quá khủng khiếp!

—Lại vụ lật xe ở quán Dunphy chứ gì, ông Dedalus vừa nói vừa gật đầu. Cúp Gordon Bennett cơ đấy.

—Tạ ơn Chúa! Martin Cunningham thành kính lẩm bẩm.

Rầm! Lật nhào. Một cỗ quan tài văng bumb bíp ra giữa đường. Bung bét cả nắp. Paddy Dignam bắn tung tóe ra ngoài và cứng đờ người lăn lóc giữa đám bụi trong bộ áo dòng nâu rộng thùng thình. Khuôn mặt đỏ lựng: giờ đã xám xịt. Miệng há hốc. Đang ngơ ngác hỏi chuyện quái gì đang xảy ra thế này. Phải khép miệng hắn lại chứ. Trông há miệng thế kia thì kinh dị quá. Mà ruột gan bên trong phế phủ thì phân hủy nhanh lắm. Tốt hơn là nên bịt kín tất cả các lỗ tự nhiên trên cơ thể lại. Vâng, đúng thế. Bằng sáp chẳng hạn. Cơ vòng hậu môn bị lỏng ra rồi. Phải bịt kín mọi ngả.

—Quán của Dunphy kìa, ông Power thông báo khi chiếc xe rẽ phải.

Góc quán Dunphy. Những chiếc xe tang đỗ xếp hàng dài, mượn rượu giải sầu. Dừng chân bên vệ đường. Quả là một vị trí đắc địa để mở quán nhậu. Chắc lát nữa trên đường về chúng ta sẽ ghé vào đây uống mừng cho lão ấy. Chuyền tay nhau chén rượu giải sầu. Linh dược của cuộc sống.

Nhưng giả sử chuyện đó xảy ra thật thì sao nhỉ? Liệu hắn có bị chảy máu không nếu chẳng may bị một chiếc đinh cào rách da trong lúc va quệt? Chắc là có mà cũng có khi không ấy chứ. Tùy thuộc vào vị trí nào trên cơ thể. Vòng tuần hoàn máu đã ngừng lại rồi. Tuy nhiên vẫn có chút máu có lẽ rỉ ra từ động mạch nào đó. Tốt hơn là nên chôn họ trong vải màu đỏ: màu đỏ thẫm.

Họ lặng lẽ lái xe dọc theo con đường Phibsborough. Một chiếc xe tang trống không lướt qua với tốc độ phi nước đại, đi ngược từ nghĩa trang về: trông có vẻ nhẹ nhõm.

Cầu Crossguns: con kênh hoàng gia.

Nước đổ ào ào qua các cửa cống. Một người đàn ông đứng trên chiếc sà lan đang trôi sà xuống, giữa những chồng than bùn. Trên đường kéo thuyền bên kè khóa có một con ngựa đang lỏng dây cương. Trên chiếc thuyền Bugabu.

Ánh mắt họ dõi theo anh ta. Trên dòng nước tù đọng đầy cỏ dại, hắn ta đã thả trôi chiếc bè của mình xuôi về hướng bờ biển Ireland, được kéo bằng một sợi dây thừng lướt qua những vạt sậy, bùn lầy, những chai lọ nghẹt bùn, những xác chó chết trôi. Athos, Mullingar, Moyvalley, mình hoàn toàn có thể làm một chuyến đi bộ để thăm Milly dọc theo bờ kênh. Hoặc đạp xe xuống đó. Thuê chiếc xe cọc cạch nào đó, loại an toàn ấy. Hôm nọ lão Wren mua được chiếc ở buổi đấu giá nhưng lại là xe đạp nữ. Phát triển các tuyến đường thủy. Niềm đam mê của James M’Cann là chèo thuyền chở tôi qua phà. Đi lại đỡ tốn kém hơn. Đi theo từng chặng ngắn. Nhà thuyền trên sông. Cắm trại ngoài trời. Cả xe tang nữa chứ. Về thiên đường bằng đường thủy. Có lẽ tôi sẽ đi mà chẳng cần viết thư báo trước. Đến như một sự bất ngờ ấy, Leixlip, Clonsilla. Lệnh đênh trôi qua từng bậc khóa nước để đến Dublin. Cùng với than bùn từ các vùng đầm lầy miền trung. Chào. Ông nhấc chiếc mũ rơm màu nâu lên, chào Paddy Dignam.

Họ tiếp tục lái xe qua ngôi nhà của Brian Boroimhe. Gần tới nơi rồi.

—Tự hỏi không biết người bạn Fogarty của chúng ta dạo này thế nào rồi nhỉ, ông Power nói.

—Tốt hơn là nên đi hỏi Tom Kernan ấy, ông Dedalus nói.

—Sao lại thế? Martin Cunningham hỏi. Chắc là để lại cho lão ấy nỗi sầu bi thương nhớ chứ gì?

—Dù đã khuất tầm mắt, ông Dedalus nói, nhưng vẫn khắc ghi trong tim.

Chiếc xe rẽ trái hướng về phía đường Finglas.

Bãi đá của thợ cưa đá nằm bên phía tay phải. Chặng cuối cùng. Chen chúc trên dải đất hẹp, những hình thù lặng lẽ hiện ra, trắng xóa, tang tóc, giơ những đôi bàn tay bình thản, quỳ gối trong đau thương, đang chỉ trỏ. Những mảnh vỡ của hình hài được đẽo gọt. Trong sự tĩnh lặng trắng toát: đầy vẻ khẩn cầu. Loại tuyệt vời nhất có thể tìm thấy. Thos. H. Dennany, thợ điêu khắc và xây dựng lăng mộ.

Đã qua.

Ngay trên vỉa hè trước tiệm của Jimmy Geary, người giữ mộ, một lão lang thang đang ngồi càu nhàu, trút đất đá ra khỏi chiếc giày màu nâu bụi bặm há hốc toác hoác của lão. Sau chuyến hành trình của cuộc đời.

Rồi những khu vườn ảm đạm lần lượt lướt qua: từng căn một: những ngôi nhà u ám.

Ông Power giơ tay chỉ.

—Đó chính là nơi Childs bị sát hại, ông nói. Ngôi nhà cuối cùng ấy.

—Đúng thế thật, ông Dedalus nói. Quả là một vụ án rợn người. Seymour Bushe đã bào giúp hắn thoát tội. Sát hại chính anh ruột mình. Hoặc người ta đồn thế.

—Phía công tố chẳng có lấy một chút bằng chứng nào cả, ông Power nói.

—Chỉ là bằng chứng gián tiếp thôi, Martin Cunningham nói thêm. Đó là nguyên tắc tối cao của luật pháp. Thà bỏ sót chín mươi chín kẻ có tội còn hơn để oan sai cho một người vô tội.

Họ nhìn sang. Nơi cõi lòng vấy máu của kẻ sát nhân. Nó lướt qua trong bóng tối. Cửa đóng then cài, không người ở, khu vườn mọc đầy cỏ dại. Cả khu đất tàn lụi đi xuống địa ngục. Bị kết án oan uổng. Tội ác giết người. Hình ảnh kẻ sát nhân hằn trong đôi mắt người bị sát hại. Chúng khoái đọc mấy chuyện đó lắm. Tìm thấy đầu đàn ông trong vườn. Trang phục của nạn nhân gồm có. Cách thức nạn nhân bị tước đoạt sự sống. Vụ bạo hành gần đây nhất. Hung khí được sử dụng. Kẻ sát nhân vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Manh mối. Một chiếc dây giày. Thi thể sẽ được quật mộ khám nghiệm. Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt.

Bị gò bó trong chiếc xe ngựa chật chội này. Cô ấy có lẽ sẽ không thích mình mò đến đó theo cách này mà không cho cô ấy biết trước. Phải hết sức cẩn trọng với phụ nữ. Sơ sẩy để chúng tóm được điểm yếu một lần thôi. Là chúng không bao giờ tha thứ cho mình đâu. Mười lăm.

Những thanh lan can cao của nghĩa trang Prospect lướt qua tầm mắt họ. Những hàng dương đen sẫm, những bóng hình trắng hiếm hoi. Những bóng hình xuất hiện thường xuyên hơn, những hình hài trắng xóa chen chúc giữa những tán cây, những bóng trắng và mảnh vỡ lặng lẽ trôi qua, duy trì những cử chỉ vô vọng trong không gian.

Bánh xe cọ xát rít lên vào mép vỉa hè: dừng lại. Martin Cunningham chìa tay ra, giật mạnh tay nắm cửa và đẩy tung cánh cửa ra bằng đầu gối. Anh ta bước xuống xe. Ông Power và ông Dedalus nối gót theo sau.

Phải đổi thỏi xà phòng đó ngay thôi. Tay ông Bloom nhanh chóng tháo cúc túi quần sau và chuyển thỏi xà phòng dính giấy bọc vào chiếc túi đựng khăn tay bên trong. Ông bước ra khỏi nghĩa trang, tay kia vẫn cầm tờ báo cất lại vào chỗ cũ.

Đám tang nghèo nàn: một xe tang và ba chiếc xe ngựa đưa đón. Tất cả cũng thế cả thôi. Những người khiêng quan tài, dây cương mạ vàng, lễ cầu hồn, những loạt súng tiễn đưa. Sự xa hoa phù phiếm của cái chết. Phía sau chiếc xe ngựa cuối cùng, một kẻ bán hàng rong đang đứng cạnh chiếc xe đẩy bày bánh kẹo và hoa quả. Đó là bánh Simnel, dính kết vào nhau: những chiếc bánh dành cho người chết. Bánh quy chó. Ai đã ăn chúng cơ chứ? Những người đưa tang đang đi ra.

Ông bước theo sau những người đồng hành. Ông Kernan và Ned Lambert đi trước, Hynes lững thững bước sau họ. Corny Kelleher đứng cạnh chiếc xe tang đã mở tung cửa và lấy ra hai vòng hoa. Ông ta trao một vòng cho cậu bé.

Đám tang của đứa trẻ kia biến đi đằng nào rồi nhỉ?

Một cỗ xe ngựa kéo thồ từ hướng Finglas đi tới với những bước chân nặng nề mệt nhọc, lê lết qua sự tĩnh lặng tang tóc của một cỗ xe bò kêu cót két chở theo một khối đá hoa cương. Người đánh xe đi ở hàng đầu giơ tay chào.

Đến lượt cỗ quan tài. Tới đây trước cả chúng ta, dẫu hắn đã là một thây ma. Con ngựa quay đầu lại nhìn nó với chùm lông bờm lệch lạc. Đôi mắt đờ đẫn: chiếc cổ áo siết chặt vào cổ, đè lên mạch máu hay cái quái gì đó. Liệu chúng có biết tụi nó chở những gì ra đây mỗi ngày không nhỉ? Chắc phải tới hai ba mươi đám tang mỗi ngày ấy chứ. Rồi còn nghĩa trang Mount Jerome dành cho người theo đạo Tin Lành nữa chứ. Đám tang diễn ra khắp nơi trên thế giới này vào mọi thời điểm từng giây từng phút. Hất đất chôn vùi họ theo từng xe chở với tốc độ ánh sáng. Hàng ngàn người mỗi giờ. Trái đất này quá đông đúc rồi.

Những người đưa tang đang bước qua cánh cổng: một phụ nữ và một thiếu nữ. Mụ mụ phù thủy cằm nhọn hoắt, một mụ đàn bà sỏi đời trong chuyện buôn bán mặc cả, chiếc mũ trùm đầu lệch sang một bên. Khuôn mặt cô thiếu nữ tèm nhèm nước mắt và bùn đất, bám chặt lấy cánh tay người phụ nữ, ngẩng lên nhìn mụ ta tìm kiếm một tín hiệu để được khóc. Khuôn mặt như cá chết, trắng bệch không còn giọt máu.

Những người khiêng tang vác cỗ quan tài lên vai và mang nó bước qua cánh cổng. Trọng lượng xác chết nặng thật đấy. Lúc bước ra khỏi bồn tắm tự dưng thấy mình nặng hơn. Đầu tiên là cái xác chết cứng đơ: tiếp đến là bạn bè của cái xác chết ấy. Corny Kelleher và cậu bé bước theo sau cầm những vòng hoa. Ai đi cạnh họ thế kia nhỉ? À, người em rể.

Tất cả cùng lầm lũi bước theo sau.

Martin Cunningham thì thầm:

—Tôi suýt chết ngạt với cái trò anh cứ mở miệng ra là bàn chuyện tự tử trước mặt Bloom đấy.

—Cái gì? ông Power thì thầm hỏi. Sao lại thế?

—Bố hắn tự tử bằng thuốc độc, Martin Cunningham thì thầm. Từng làm chủ khách sạn Queen’s ở Ennis. Anh chẳng nghe thấy hắn nói là chuẩn bị về Clare đấy thôi. Ngày giỗ.

—Lạy Chúa! ông Power thì thầm. Lần đầu tiên tôi nghe nói đấy. Tự tử bằng thuốc độc á?

Ông liếc nhìn về phía sau, nơi có một ánh mắt đăm chiêu mang theo dòng suy nghĩ đang đi theo hướng lăng mộ của vị hồng y. Đang lên tiếng.

—Hắn có mua bảo hiểm không thế? ông Bloom hỏi.

—Tôi tin là có, ông Kernan đáp. Nhưng hợp đồng bảo hiểm đã bị thế chấp ngập đầu ngập cổ rồi. Martin đang cố gắng xin cho thằng bé vào trại tế sinh Artane.

—Hắn để lại mấy đứa con cơ chứ?

—Năm đứa. Ned Lambert bảo sẽ cố xin cho một đứa con gái vào làm ở hãng Todd’s.

—Thật là một hoàn cảnh đáng thương, ông Bloom nhẹ nhàng nói. Năm đứa con thơ dại.

—Đúng là một đòn giáng quá nặng nề cho người vợ tội nghiệp, ông Kernan nói thêm.

—Thật sự là thế, ông Bloom đồng tình.

Giờ thì mụ ta tha hồ cười vào mặt hắn.

Ông cúi xuống nhìn đôi giày đã được đánh xi bóng lộn của mình. Cô ta đã sống thọ hơn hắn. Mất đi người chồng. Chết đi đối với cô ta còn đau đớn hơn là đối với tôi. Thế nào rồi cũng có người phải chết trước người kia. Các bậc hiền triết nói vậy. Trên thế giới này phụ nữ bao giờ cũng đông hơn đàn ông. Gửi lời chia buồn với góa phụ đi nào. Nỗi mất mát to lớn của chị. Hy vọng chị sẽ sớm theo anh ấy thôi. Chỉ có ở những góa phụ người Ấn Độ mới có tục lệ đó. Mụ ta rồi sẽ tái giá với kẻ khác cho xem. Lão ta á? Không đời nào. Mà ai mà biết được chuyện gì xảy ra sau đó chứ. Đạo làm góa phụ không còn là mốt từ khi Nữ hoàng già qua đời. Được kéo trên cỗ xe pháo tang lễ. Victoria và Albert. Nỗi tang tóc tưởng niệm ở Frogmore. Nhưng cuối cùng thì mụ ta cũng gài vài bông hoa vio-lét lên mũ của mình. Tận sâu trong tâm hồn mụ ta vẫn là kẻ hư vinh. Tất cả chỉ vì một cái bóng mờ. Người phối ngẫu thậm chí còn chẳng phải là vua. Đứa con trai mới là cốt lõi thực sự. Có cái gì mới mẻ để hy vọng chứ không phải cái quá khứ cứ muốn quay trở lại trong mòn mỏi ngóng chờ. Nó chẳng bao giờ quay lại đâu. Kiểu gì cũng phải có người đi trước: một mình, nằm dưới lòng đất: và sẽ chẳng bao giờ còn được nằm trên chiếc giường ấm áp của nàng nữa.

—Anh khỏe không, Simon? Ned Lambert khẽ hỏi, tay bắt mặt mừng. Đã cả thế kỷ nay không gặp anh rồi đấy.

—Không thể tuyệt vời hơn. Mọi người ở thành phố của Cork thế nào rồi?

—Tôi vừa xuống đó dự giải đua ngựa công viên Cork vào ngày Thứ Hai Phục Sinh, Ned Lambert nói. Vẫn chứng nào tật nấy thôi. Trọ ở nhà Dick Tivy mà.

—Thế còn Dick, gã đàn ông vững chãi đó dạo này ra sao rồi?

—Chẳng còn khoảng cách nào giữa hắn với thiên đàng nữa đâu, Ned Lambert đáp.

—Thề có thánh Phaolô! ông Dedalus kinh ngạc thốt lên. Dick Tivy bị hói đầu á?

—Martin đang định quyên góp một khoản giúp đỡ bọn trẻ, Ned Lambert nói, tay chỉ về phía trước. Mỗi người vài xu thôi. Chỉ để giúp chúng duy trì cuộc sống cho đến khi giải quyết xong tiền bảo hiểm.

—Đúng thế, đúng thế, ông Dedalus ngập ngừng nói. Có phải đứa con trai cả đang đứng ở đằng trước kia không?

—Đúng rồi, Ned Lambert nói, đi cùng với em trai vợ ấy mà. John Henry Menton đi ở đằng sau kìa. Hắn vừa ký tên đóng góp một bảng đấy.

—Tôi dám cá là hắn làm thế thật, ông Dedalus nói. Tôi vẫn thường bảo Paddy tội nghiệp là nên lưu tâm đến việc đó. John Henry không phải là kẻ tồi tệ nhất trên đời đâu.

—Sao hắn lại bị mất chức thế nhỉ? Ned Lambert hỏi. Rượu chè phải không?

—Lỗi lầm muôn thuở của những người đàn ông tài hoa thôi mà, ông Dedalus thở dài nói.

Họ dừng chân trước cửa nhà nguyện tang lễ. Ông Bloom đứng đằng sau cậu bé ôm vòng hoa, thẫn thờ nhìn mái tóc chải chuốt mượt mà của thằng bé và chiếc cổ gầy gò nhô lên trong chiếc cổ áo mới tinh. Tội nghiệp thằng bé! Lúc người bố lâm chung nó có mặt ở đó không nhỉ? Cả hai đều bất tỉnh nhân sự. Chợt bừng tỉnh vào giây phút cuối cùng để nhận ra nhau lần cuối. Tất cả những gì mà lẽ ra ông ấy có thể làm. Tôi đang nợ ông O’Grady ba si-linh. Liệu ông ấy có thông cảm không nhỉ? Những người khiêng tang khiêng cỗ quan tài vào trong nhà nguyện. Đầu của ông ấy nằm ở phía nào cơ chứ?

Một lát sau, ông bước theo những người khác vào trong, nheo mắt dưới ánh sáng lờ mờ qua các lớp vải che. Cỗ quan tài đặt trên cỗ giá đỡ trước cung thánh, bốn ngọn nến vàng cao vút ở bốn góc. Lúc nào cũng nằm ngay trước mặt chúng ta. Corny Kelleher vừa đặt vòng hoa ở mỗi góc phía trước, vừa ra hiệu cho cậu bé quỳ xuống. Những người đưa tang quỳ rải rác ở các băng ghế cầu nguyện. Ông Bloom đứng ở phía sau gần bồn đựng nước thánh và, khi tất cả đã quỳ xuống, ông cẩn thận đặt tờ báo đã mở ra từ túi áo xuống sàn rồi quỳ đầu gối phải lên trên đó. Ông nhẹ nhàng đặt chiếc mũ đen lên đầu gối trái và, tay giữ vành mũ, thành kính cúi đầu.

Một người phục vụ cầm chiếc xô đồng đựng thứ gì đó bước ra qua một cánh cửa. Vị linh mục mặc áo thụng trắng bước theo sau, một tay chỉnh lại chiếc khăn choàng thánh, tay kia cân bằng cuốn sách nhỏ đặt lên cái bụng phệ như cóc nhái của ông ta. Ai sẽ là người đọc cuốn sách đó? Tôi, chú quạ đen đáp.

Họ dừng chân bên chiếc giá đỡ và vị linh mục bắt đầu cất giọng khàn khàn trôi chảy đọc cuốn sách của mình.

Cha Coffey. Tôi biết ngay cái tên của lão nghe cứ như cái quan tài vậy. Dominenamine. Mõm mõm trông cứ như chó hung dữ ấy. Làm như mình là chùm sỏ không bằng. Tín đồ Thiên Chúa giáo cơ bắp. Ai mà dám nhìn đểu lão thì coi chừng cái mạng: linh mục đấy. Ngươi là Phê-rô. Dedalus bảo lão sẽ nổ tung phèo ra như con cừu ăn quá nhiều cỏ ba lá cho mà xem. Với cái bụng phệ y như con chó con bị ngộ độc. Hắn ta toàn tìm ra những từ ngữ hài hước thật đấy. Hừm: nổ tung phèo ra cơ đấy.

—Non intres in judicium cum servo tuo, Domine.

Được cầu kinh bằng tiếng Latinh khiến tụi nó cảm thấy mình quan trọng hơn hẳn. Thánh lễ cầu hồn. Dải băng tang đen. Giấy viết thư viền đen. Tên bạn được xướng trên bàn thờ. Nơi này lạnh lẽo thật đấy. Chắc phải ăn uống cho tươm chứ, cứ ngồi lì ở đây suốt cả buổi sáng trong bóng tối đứng chầu chực chờ khách tiếp theo ghé thăm. Lại còn đôi mắt cóc nữa chứ. Cái gì làm hắn phình to ra thế nhỉ? Molly cũng hay bị sình bụng sau khi ăn bắp cải. Chắc là do không khí ở vùng này rồi. Trông có vẻ chứa đầy hơi gas độc hại. Xung quanh khu này chắc chắn phải có một lượng khí gas độc hại kinh khủng. Lấy ví dụ như mấy tay hàng thịt đi: da dẻ bọn chúng cứ đỏ lựng như miếng thịt bò sống ấy. Ai là người kể cho mình nghe chuyện này nhỉ? Mervyn Browne. Dưới mấy căn hầm của nhà thờ thánh Werburgh có cái đàn phong cầm cổ xưa tuyệt đẹp tuổi đời một trăm năm mươi, đôi khi người ta phải khoan một lỗ trên nắp quan tài để xả bớt hơi gas độc rồi đốt đi. Khí xịt phì phì: màu xanh lét. Hít phải một ngụm là đời các ông đi tong luôn.

Đầu gối của tôi đau quá. Ái. Thế này thì đỡ hơn rồi.

Vị linh mục lấy một chiếc gậy có núm ở đầu từ trong xô của cậu bé ra rồi vẩy lên cỗ quan tài. Sau đó ông ta đi sang đầu bên kia và vẩy thêm lần nữa. Rồi quay trở lại và đút cây gậy vào xô. Trở lại trạng thái ban đầu trước khi nghỉ ngơi. Mọi thứ đều được viết sẵn trong sách cả rồi: lão buộc phải làm thế.

—Et ne nos inducas in tentationem.

Cậu bé phục vụ cất giọng lanh lảnh hát xướng đáp lại bằng giọng nam cao. Tôi vẫn thường nghĩ có lẽ tốt hơn nên dùng những người hầu nam trẻ tuổi. Khoảng từ mười lăm tuổi trở xuống. Còn sau độ tuổi đó thì, dĩ nhiên là...

Chắc đó là nước thánh rồi. Vẩy cho tỉnh ngủ bớt đi chứ. Lão ta chắc cũng chán ngấy cái công việc vẩy cái thứ đó lên tất cả những cái xác chết mà người ta khiêng đến đây rồi. Có hề gì đâu nếu lão có thể nhìn thấy cái thứ mà lão đang vẩy nước lên đó. Ngày nào cũng thế, một đợt xác mới: đàn ông trung niên, bà già, trẻ em, phụ nữ chết khi sinh con, đàn ông có râu, doanh nhân hói đầu, những thiếu nữ bị lao với lứa ngực lép kẹp như chim sẻ. Suốt cả năm trời ngày nào lão cũng lẩm bẩm đọc mấy bài kinh đó trên đầu họ rồi vẩy nước lên người họ: chúc ngủ ngon. Lên người Dignam kìa.

—In paradisum.

Bảo rằng hắn đang lên thiên đường hoặc đang ở trên thiên đường rồi. Câu nào lão cũng nói thế với tất cả mọi người. Đúng là một công việc nhàm chán. Nhưng lão buộc phải nói cái gì đó chứ.

Vị linh mục khép sách lại và bước đi, theo sau là cậu bé phục vụ. Corny Kelleher mở cánh cửa phụ và những người đào huyệt bước vào, nhấc bổng cỗ quan tài lên, khiêng ra ngoài và đẩy lên xe đẩy của họ. Corny Kelleher đưa một vòng hoa cho cậu bé và một vòng cho người em rể. Tất cả nối đuôi nhau đi qua cánh cửa phụ ra ngoài bầu trời xám dịu mát. Ông Bloom đi sau cùng, gấp lại tờ báo đút vào túi. Ông đăm đăm nhìn xuống đất cho đến khi chiếc xe chở quan tài lăn bánh rẽ sang trái. Những chiếc bánh xe bằng kim loại nghiến trên lớp sỏi đá tạo ra tiếng kêu rít sắc nhọn và đám giày dép thô kệch lếch thếch bước theo chiếc xe đẩy dọc theo con đường hầm mồ mả.

Ree ra ree ra roo. Chúa ơi, mình không được lẩm bẩm hát hò ở đây mới được.

—Khuôn viên của O’Connell kìa, ông Dedalus nói nhỏ quanh ông.

Đôi mắt dịu dàng của ông Power ngước lên chóp nón cao vút.

—Cậu ấy đang được nghỉ ngơi, ông nói, giữa những người thân thuộc của mình, cụ Dan O’ vĩ đại. Nhưng trái tim của cụ lại được an táng ở Rome. Biết bao nhiêu trái tim tan vỡ đang được chôn cất ở đây hở Simon!

—Mộ của cô ấy đằng kia kìa, Jack, ông Dedalus nói. Chẳng mấy chốc nữa tôi cũng sẽ nằm duỗi cẳng bên cạnh cô ấy thôi. Cứ để Ngài muốn mang tôi đi lúc nào thì mang.

Bắt đầu sụp đổ tinh thần, ông lủi thủi khóc thút thít một mình, bước đi lảo đảo một chút. Ông Power bèn đỡ lấy cánh tay ông.

—Cơ sự ở nơi cô ấy hiện giờ là tốt nhất rồi, anh nhẹ nhàng nói.

—Chắc là thế, ông Dedalus thở hắt ra yếu ớt nói. Tôi đoán chắc cô ấy đang ở trên thiên đường, nếu thực sự có thiên đường.

Corny Kelleher bước sang một bên nhường đường cho đoàn người đưa tang chậm chạp bước qua.

—Đúng là một dịp tang gia buồn bã, ông Kernan lịch sự mở lời.

Ông Bloom nhắm nghiền mắt lại và buồn bã cúi đầu hai lần.

—Mọi người đang đội mũ lên kìa, ông Kernan nói. Chắc chúng ta cũng có thể làm vậy được rồi. Chúng ta là những người cuối cùng. Nghĩa trang này quả là một nơi hiểm địa.

Họ đội mũ lên đầu.

—Vị linh mục đọc kinh nhanh quá phải không các anh? ông Kernan trách móc nói.

Ông Bloom nghiêm nghị gật đầu, ánh mắt nhìn vào cặp mắt đỏ ngầu chớp chớp. Đôi mắt bí ẩn, dò la kín đáo. Hình như là dân hội Tam Điểm: không chắc lắm. Lại đứng cạnh hắn ta nữa rồi. Chúng ta cùng chung một thuyền. Hy vọng hắn sẽ nói thêm điều gì khác.

Ông Kernan nói thêm:

—Nghi thức của giáo hội Ireland được sử dụng ở Mount Jerome giản dị hơn và gây ấn tượng hơn nhiều phải công nhận là thế.

Ông Bloom thận trọng đồng tình. Dĩ nhiên ngôn ngữ là một chuyện khác.

Ông Kernan trang trọng nói:

—Ta là sự sống lại và là sự sống. Câu đó chạm đến tận sâu thẳm trái tim con người.

—Đúng vậy, ông Bloom nói.

Tim anh thì có thể đấy chứ còn gã đang nằm trong cái hộp sáu nhân hai với mấy ngón chân chĩa lên trời thì sao hả? Chẳng chạm được đến đâu cả. Trung tâm của những tình cảm. Trái tim tan vỡ. Rốt cuộc thì cũng chỉ là một cái máy bơm, mỗi ngày bơm hàng ngàn gallon máu. Đến một ngày đẹp trời nào đó nó bị tắc nghẹt: và thế là xong đời. Khối kẻ nằm la liệt ở quanh đây: phổi, tim, gan. Những cái máy bơm gỉ sét cũ kỹ: chẳng có cái mẹ gì khác nữa đâu. Sự sống lại và là sự sống. Một khi đã chết là chết hẳn. Cái ý tưởng về ngày phán xét cuối cùng ấy. Lôi cổ tất cả bọn họ vùng dậy khỏi mồ mả. Hỡi Lazarus, hãy bước ra! Và thế là hắn bước ra thứ năm và mất luôn việc làm. Dậy đi! Ngày tận thế! Rồi thì mỗi tên lom khom đi tìm cái gan cái phèo của mình cùng mớ đồ đạc lỉnh kỉnh còn lại. Buổi sáng hôm đó tìm đỏ con mắt chẳng thấy nổi một mẩu bản thân mình. Một lạng thuốc súng giấu trong hộp sọ. Mười hai gram một pennyweight. Đo lường theo hệ Troy.

Corny Kelleher bước đều nhịp bước sang bên cạnh họ.

—Mọi việc diễn ra suôn sẻ hạng A cả chứ, anh ta nói. Phải không nào?

Anh ta liếc nhìn họ bằng đôi mắt tròng trọc trờn trợn. Đôi vai của cảnh sát. Với câu hát tooraloom tooraloom của anh.

—Đáng ra phải thế chứ, ông Kernan nói.

—Cái gì cơ? Hả? Corny Kelleher hỏi.

Ông Kernan trấn an anh ta.

—Cái gã đi sau đang đi cùng Tom Kernan là ai thế nhỉ? John Henry Menton hỏi. Trông mặt quen quá.

Ned Lambert ngoái lại nhìn.

—Là Bloom, hắn nói, chồng của nữ danh ca soprano Marion Tweedy hồi trước, bây giờ, ý tôi là thế. Cô ấy là vợ hắn đấy.

—À, ra thế, John Henry Menton nói. Lâu lắm rồi tôi không gặp cô ấy. Cô ấy từng là một phụ nữ xinh đẹp. Tôi đã từng khiêu vũ với cô ấy, chờ xem nào, mười bảy năm vàng son về trước, tại nhà Mat Dillon ở Roundtown. Và cô ấy quả là một bọc thịt đẫy đà.

Hắn nhìn ngược ra sau qua đám đông.

—Hắn ta làm nghề gì thế? hắn hỏi. Hắn kiếm sống bằng gì? Không phải hắn từng làm ở ngành văn phòng phẩm đấy chứ? Tôi nhớ có lần suýt hầm hè với hắn ta ở bãi chơi bóng gỗ.

Ned Lambert mỉm cười.

—Đúng thế, hắn từng làm ở hiệu Wisdom Hely’s, anh nói. Là nhân viên tiếp thị giấy thấm.

—Lạy Chúa tôi, John Henry Menton thốt lên, sao cô ấy lại đi lấy một gã dân da đen lai lịch mập mờ thế nhỉ? Hồi đó cô ấy có khối đám theo đuổi cơ mà.

—Bây giờ vẫn thế thôi, Ned Lambert nói. Hắn thỉnh thoảng đi tiếp thị quảng cáo.

Đôi mắt to tròn của John Henry Menton đăm đăm nhìn thẳng về phía trước.

Chiếc xe đẩy rẽ vào một con ngõ nhỏ. Một gã đàn ông béo tốt, ẩn nấp giữa đám cỏ dại, ngả mũ tỏ lòng thành kính. Những người đào huyệt chạm tay lên mũ chào.

—John O’Connell kìa, ông Power hài lòng nói. Hắn chẳng bao giờ quên một người bạn nào cả.

Ông O’Connell lặng lẽ bắt tay tất cả bọn họ. Ông Dedalus nói:

—Tôi lại đến thăm anh đây.

—Cậu Simon thân mến của tôi ơi, người quản trang trầm giọng đáp. Tôi chẳng mong gì có dịp phục vụ cậu ở đây đâu.

Chào Ned Lambert và John Henry Menton xong, ông ta bước đi bên cạnh Martin Cunningham, tay đang mân mê hai chiếc chìa khóa dài đung đưa sau lưng.

—Các anh có nghe câu chuyện đó chưa, ông ta hỏi họ, câu chuyện về Mulcahy ở khu Coombe ấy?

—Tôi chưa, Martin Cunningham đáp.

Họ đồng loạt nghiêng những chiếc mũ lụa và Hynes ghé tai lắng nghe. Người quản trang đút hai ngón cái vào hai đai thắt lưng dây đồng hồ vàng và thong thả cất giọng kín đáo hướng về những nụ cười ngơ ngác của họ.

—Người ta đồn rằng, ông ta kể, có hai gã say rượu mò ra đây vào một buổi tối sương mù để tìm mộ của một người bạn. Chúng hỏi thăm phần mộ của Mulcahy ở Coombe và được chỉ dẫn nơi chôn cất. Sau khi lếch thếch lội sương mù chán chê thì cuối cùng chúng cũng tìm thấy ngôi mộ. Một gã say đánh vần cái tên trên bia: Terence Mulcahy. Gã say thứ ba đang nheo mắt nhìn lên bức tượng Chúa Cứu Thế mà người vợ góa đã cho dựng lên.

Người quản trang nheo mắt nhìn về phía một trong những ngôi mộ họ vừa đi qua. Ông ta tiếp lời:

—Và, sau khi nheo mắt nhìn bức tượng thiêng thánh, gã thốt lên: Trông chẳng có một xu dính túi nào giống người cả! Đó không phải là Mulcahy, dù bất cứ kẻ nào đã tạc ra nó.

Được thưởng bằng những nụ cười, ông ta lùi lại phía sau và trò chuyện với Corny Kelleher, nhận lấy những tấm thẻ được đưa cho, lật qua lật lại và săm soi chúng trong lúc bước đi.

—Tất cả những chuyện đó đều có chủ đích cả đấy, Martin Cunningham giải thích với Hynes.

—Tôi biết chứ, Hynes nói. Tôi thừa biết chuyện đó.

—Để vực tinh thần một kẻ đang buồn bã lên thôi, Martin Cunningham nói. Hoàn toàn là lòng tốt xuất phát từ tâm: chẳng có âm mưu gì khác đâu.

Ông Bloom thầm ngưỡng mộ vóc dáng béo tốt phát đạt của người quản trang. Ai cũng muốn tạo mối quan hệ tốt đẹp với lão ta nhỉ. Một gã tử tế, John O’Connell, thực sự là một người tốt. Chìa khóa: giống như mục quảng cáo của Keyes vậy: chẳng sợ ai tẩu thoát ra ngoài được. Chẳng có giấy phép ra cổng nào cả. Lệnh bào chữa thân chủ habeas corpus. Lễ tang xong mình phải xem lại vụ quảng cáo đó mới được. Sáng nay lúc cô ta làm phiền lúc mình đang viết thư cho Martha, không biết mình có viết nhầm địa chỉ Ballsbridge lên cái phong bì dùng để che giấy không nhỉ. Hy vọng nó không bị vứt nhầm vào phòng thư chết. Cạo râu đi chắc sẽ gọn gàng hơn. Bộ râu mọc lởm chởm màu xám. Đó là dấu hiệu đầu tiên khi những sợi tóc bắt đầu bạc đi. Và tính nết thì ngày càng cáu kỉnh. Những sợi chỉ bạc lẫn trong đám râu xám. Tưởng tượng làm vợ của hắn ta xem. Lời ra tiếng vào không biết hắn có gan để cầu hôn bất kỳ cô gái nào không nhỉ. Dụ dỗ người ta ra sống ở nghĩa trang. Dùng chiêu bài đó để tán tỉnh cô ta. Ban đầu chắc cũng khiến cô ta rợn tóc gáy đấy chứ. Tán tỉnh thần chết. Bóng tối của màn đêm đang lẩn quẩn ở đây với tất cả những thây ma nằm la liệt xung quanh. Những cái bóng của lợ mồ mả khi nghĩa địa ngáp ngủ và Daniel O’Connell chắc phải là hậu duệ của ai đó nhỉ, ai là người từng nói hắn ta là một gã có dòng dõi kỳ lạ nhỉ, một kẻ sùng đạo lớn lao giống như một gã khổng lồ trong bóng tối ấy. Ngọn lửa trơi. Hơi gas từ những ngôi mộ. Phải làm sao để đánh lạc hướng tâm trí cô ta thì mới thụ thai được chứ. Phụ nữ đặc biệt rất hay nhạy cảm. Kể cho cô ấy nghe chuyện ma trên giường để dỗ cô ấy ngủ. Em đã bao giờ nhìn thấy ma chưa? À, anh thì rồi. Đó là một đêm tối như mực. Đồng hồ vừa điểm đúng mười hai giờ. Dù vậy thì họ vẫn cứ ôm hôn thắm thiết nếu có đủ hứng thú. Gái điếm ở những nghĩa trang Thổ Nhĩ Kỳ. Học hỏi được khối thứ nếu được dạy từ nhỏ. Cậu hoàn toàn có thể tóm được một cô góa phụ trẻ ở ngay đây. Đàn ông rất thích kiểu đó. Tình yêu giữa chốn mồ hoang mã lạnh. Romeo. Thêm chút gia vị của sự hoan lạc. Giữa chốn tử thần là sự sống. Đầu cuối gặp nhau. Thật trêu ngươi cho những thây ma tội nghiệp. Mùi thịt bò nướng sực nức đối với kẻ đang đói lả. Gặm nhấm ruột gan chúng. Niềm khao khát muốn trêu ngươi thiên hạ. Molly thì cứ muốn làm chuyện đó ngay cạnh cửa sổ. Dù sao thì hắn cũng có tới tám đứa con.

Hắn ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu kẻ ngã gục trong suốt cuộc đời mình, nằm la liệt quanh hắn hết cánh đồng này đến cánh đồng khác. Những thửa ruộng thánh thiện. Sẽ còn nhiều chỗ trống hơn nếu họ chôn họ theo tư thế đứng. Ngồi hay quỳ thì không chôn được rồi. Đứng á? Có khi một ngày nào đó cái đầu hắn sẽ nhô lên khỏi mặt đất trong một trận lở đất với cánh tay đang chỉ trỏ. Cả khu đất chắc hẳn đã bị đục khoét lỗ chỗ như tổ ong: những ô vuông thuôn dài. Và hắn giữ gìn khu vườn rất ngăn nắp gọn gàng: thảm cỏ được cắt tỉa và viền bờm xờm cẩn thận. Major Gamble gọi Mount Jerome là khu vườn của ông ta. Chà, đúng là thế thật. Lẽ ra phải trồng những loài hoa mang lại giấc ngủ ngàn thu. Những nghĩa trang ở Trung Quốc mọc đầy những cây anh túc khổng lồ sản xuất ra loại thuốc phiện hảo hạng nhất, Mastiansky đã kể với tôi thế. Vườn bách thảo nằm ngay đằng kia kìa. Chính là phần máu thịt thấm sâu vào lòng đất tạo nên sự sống mới. Cùng một ý tưởng với lũ người Do Thái mà người ta đồn là đã sát hại cậu bé theo đạo Thiên Chúa. Ai cũng có giá của mình cả. Một cái xác béo tốt được bảo quản kỹ lưỡng, quý ông, sành ăn, vô giá cho khu vườn cây ăn quả. Một món hời lớn. Cái xác của William Wilkinson, kiểm toán viên và kế toán viên, mới qua đời gần đây, ba bảng mười ba xu sáu xu. Xin cảm ơn.

Tôi dám cá là đất đai ở đây vô cùng màu mỡ nhờ phân bón từ xác chết, xương, thịt, móng tay. Những ngôi nhà mồ. Thật hãi hùng. Chuyển sang màu xanh rồi màu hồng đang phân hủy. Phân hủy nhanh trong đất ẩm ướt. Mấy cái xác gầy gò thì dai hơn. Rồi đến một dạng mỡ màng giống như mỡ động vật hoặc phô mai. Sau đó bắt đầu ngả sang màu đen, thứ mật mía màu đen rỉ ra từ chúng. Rồi khô quắp lại. Những con bướm đêm tử thần. Dĩ nhiên là những tế bào hay bất cứ thứ gì trong cơ thể vẫn tiếp tục sống. Biến hóa qua lại. Sống mãi mãi về mặt thực tế. Chẳng có gì để nuôi dưỡng thì chúng tự ăn chính mình.

Nhưng chúng chắc chắn phải sinh sôi ra một đống dòi bọ kinh khủng. Đất đai chắc chắn phải nhung nhúc đầy những sinh vật đó. Cái đầu của bạn cứ thế mà quay cuồng lên. Mấy đứa con gái miền biển xinh xắn ấy. Hắn ta trông có vẻ khá vui vẻ trước chuyện đó. Mang lại cho hắn cảm giác quyền lực khi nhìn thấy tất cả những kẻ khác gục ngã trước tiên. Tự hỏi hắn nhìn nhận cuộc đời ra sao nhỉ. Lại còn bắn mấy câu trò chuyện đùa cợt nữa chứ: làm ấm áp cả cỗ tim đen. Câu chuyện về bản tin ấy. Spurgeon đã lên thiên đường lúc 4 giờ sáng nay. 11 giờ đêm (giờ đóng cửa). Vẫn chưa tới nơi. Phé-rô. Bản thân những người chết, ít nhất là những người đàn ông, hẳn sẽ rất thích nghe một câu chuyện cười quái gở nào đó hoặc phụ nữ muốn biết mốt thời trang bây giờ là gì. Một quả lê mọng nước hoặc một ly cocktail quý bà, nóng hổi, đậm đà và ngọt ngào. Xua tan cái ẩm ướt. Đôi khi bạn phải cười nên tốt hơn hết là cứ cười theo cách đó. Những kẻ đào huyệt trong vở Hamlet. Cho thấy sự am hiểu sâu sắc về trái tim con người. Không dám đùa cợt về người chết ít nhất trong hai năm. De mortuis nil nisi prius. Hãy tháo tang phục ra đã. Thật khó tưởng tượng nổi đám tang của chính hắn ta. Trông có vẻ như một trò đùa nào đó. Người ta bảo đọc cáo phó của chính mình sẽ giúp bạn sống thọ hơn. Mang lại cho bạn nguồn sinh lực thứ hai. Một luồng sinh khí mới.

—Các anh có mấy người cho ngày mai thế? người quản trang hỏi.

—Hai, Corny Kelleher đáp. Mười rưỡi và mười một giờ.

Người quản trang đút mấy tờ giấy vào túi. Chiếc xe đẩy đã ngừng lăn bánh. Đám người đưa tang tản ra và di chuyển về hai phía của huyệt mộ, cẩn thận bước đi vòng qua các ngôi mộ. Những người đào huyệt khiêng cỗ quan tài đặt đầu nó sát miệng hố, luồn những dải băng xung quanh.

Đang chôn cất hắn. Chúng ta đến để chôn cất Caesar. Ngày tháng ba hoặc tháng sáu của hắn. Hắn chẳng biết ai đang ở đây cũng chẳng thèm quan tâm. Nào, cái gã cao lêu khêu mặc áo khoác mackintosh đằng kia là ai thế nhỉ? Nào, hắn là ai thế nhỉ, tôi rất muốn biết đấy? Nào, tôi sẵn sàng đánh đổi một chút để biết hắn là ai. Lúc nào cũng có những kẻ xuất hiện mà bạn chưa bao giờ mơ tới. Một gã hoàn toàn có thể sống độc thân suốt cuộc đời mình. Đúng vậy, hắn hoàn toàn có thể. Dù sao thì hắn cũng phải nhờ ai đó đắp cỏ lên mộ sau khi chết dù hắn có thể tự đào huyệt cho chính mình. Tất cả chúng ta đều thế cả thôi. Chỉ có con người mới chôn cất người chết. Không, cả loài kiến cũng thế. Điều đầu tiên đập vào mắt bất cứ ai. Chôn cất người chết. Giả sử câu chuyện Robinson Crusoe là thật đi. Thế thì Thứ Sáu đã chôn cất hắn. Suy cho cùng thì mọi thứ Sáu đều chôn cất một thứ Năm.

Ôi, Robinson Crusoe tội nghiệp!

Làm sao anh có thể làm thế được chứ?

Paddy tội nghiệp! Nằm trong chiếc hộp cất giấu lời dối trá cuối cùng trên trái đất của hắn. Khi bạn nghĩ về tất cả bọn chúng thì quả là một sự lãng phí gỗ. Bị gặm nhấm thủng lỗ chỗ. Lẽ ra người ta có thể phát minh ra một chiếc giá đỡ đẹp mắt với một kiểu tấm trượt, hạ nó xuống theo cách đó. Ừ nhưng mà chúng có thể phản đối việc bị chôn cất bằng đồ của kẻ khác. Chúng nổi tiếng là khó tính mà. Hãy chôn tôi vào lòng đất quê hương. Một nhúm đất từ thánh địa. Chỉ có người mẹ và đứa con chết yểu mới được chôn chung một quan tài. Tôi hiểu ý nghĩa của nó rồi. Tôi hiểu rồi. Để bảo vệ anh ta lâu nhất có thể ngay cả khi đã nằm dưới lòng đất. Ngôi nhà của người Ireland chính là cỗ quan tài của hắn. Ướp xác trong các hầm mộ, xác ướp cũng chung một ý tưởng đó.

Ông Bloom đứng lùi lại phía sau, tay cầm mũ, đếm những cái đầu để trần. Mười hai. Tôi là mười ba. Không phải. Gã mặc áo mackintosh mới là số mười ba. Con số của thần chết. Từ xó xỉnh nào mà hắn chui ra thế không biết? Tôi dám thề là hắn không có mặt trong nhà nguyện. Cái mê tín ngớ ngẩn đó về con số mười ba.

Ned Lambert có bộ tweed mặc bộ đồ đó mềm mại thật đấy. Thoáng sắc tím. Tôi từng có một bộ như thế hồi chúng tôi còn sống ở phố Lombard tây. Hắn ta từng là một gã bảnh bao ăn vận sành điệu. Từng thay ba bộ đồ trong một ngày. Mình phải mang bộ đồ xám đó ra hiệu Mesias để lộn mặt trái lại mới được. Ồ kìa. Nó được nhuộm rồi. Vợ hắn tôi quên mất hắn chưa kết hôn hoặc chủ nhà trọ của hắn lẽ ra phải nhặt mấy sợi chỉ thừa đó cho hắn chứ.

Cỗ quan tài chìm khuất xuống tầm mắt, được hạ xuống nhẹ nhàng bởi những người đàn ông dạng chân trên các giá đỡ mộ. Họ chật vật trèo lên và bước ra: và tất cả đều cất mũ. Hai mươi.

Khoảng lặng.

Giá như tất cả chúng ta đột nhiên biến thành một người khác.

Đâu đó từ xa vang lên tiếng lừa kêu. Mưa. Chẳng có con lừa nào ngu ngốc thế. Người ta bảo chẳng bao giờ nhìn thấy xác lừa chết cả. Sự xấu hổ của cái chết. Chúng đi trốn. Cả bố tội nghiệp cũng bỏ đi mất.

Luồng gió ngọt ngào dịu nhẹ thổi quanh những cái đầu để trần như một tiếng thì thầm. Tiếng thì thầm. Cậu bé đứng ở đầu mộ ôm chặt vòng hoa bằng cả hai bàn tay, đăm đăm lặng nhìn khoảng không gian đen ngòm. Ông Bloom bước ra sau người quản trang béo tốt nhân hậu. Bộ áo chùng đen cắt may khéo léo. Chắc là đang cân đo đong đếm xem ai sẽ là kẻ đi tiếp theo đây. Chà, đúng là một giấc ngủ ngàn thu. Không còn cảm giác gì nữa. Chính là khoảnh khắc bạn cảm nhận được. Chắc chắn là khó chịu lắm đấy. Ban đầu không thể tin nổi đâu. Chắc chắn có sự nhầm lẫn gì đó: phải là người khác chứ. Hãy thử sang ngôi nhà đối diện xem. Khoan đã, tôi đã muốn thế. Tôi vẫn chưa làm thế mà. Rồi căn phòng tang lễ tối tăm. Chúng muốn có ánh sáng. Tiếng thì thầm xung quanh bạn. Anh có muốn gặp linh mục không? Rồi bắt đầu lảm nhảm vẩn vơ. Sự cuồng sảng làm lộ ra tất cả những gì anh che giấu suốt cả cuộc đời. Cuộc đấu tranh sinh tử. Giấc ngủ của hắn không tự nhiên chút nào. Véo mí mắt dưới của hắn ta xem. Quan sát xem mũi hắn có nhọn không, hàm có sụp xuống không, gan bàn chân có ngả màu vàng không. Kéo chiếc gối ra và kết liễu hắn luôn dưới sàn nhà vì đằng nào hắn cũng chết chắc rồi. Có ác quỷ trong bức tranh về cái chết của kẻ tội đồ hiện lên hình ảnh một người đàn bà. Khao khát được ôm chầm lấy cô ta ngay trong chiếc áo ngủ. Màn cuối của vở opera Lucia. Liệu tôi có bao giờ còn được nhìn thấy em nữa không? Bùm! Hắn hấp hối. Cuối cùng cũng đi đời nhà ma. Thiên hạ bàn tán về bạn một chút: rồi quên bẵng đi. Đừng quên cầu nguyện cho anh ấy nhé. Hãy nhớ đến anh ấy trong những lời cầu nguyện của bạn. Ngay cả Parnell. Ngày hoa cúc dại đang tàn lụi. Rồi họ lại nối tiếp nhau: rơi tõm xuống một cái hố, người này nối tiếp người kia.

Giờ thì chúng ta đang cầu nguyện cho sự yên nghỉ của linh hồn anh ấy. Hy vọng anh vẫn khỏe và không phải xuống địa ngục. Một sự thay đổi không khí tuyệt vời. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, từ chảo lửa cuộc đời rơi vào lò lửa luyện ngục.

Hắn có bao giờ nghĩ đến cái hố đang chờ sẵn chính mình không nhỉ? Người ta bảo bạn sẽ nghĩ đến nó khi bạn run lẩy bẩy dưới ánh mặt trời. Ai đó đang bước đi trên đó. Lời cảnh báo của người gọi tên. Ngay gần bạn thôi. Ngôi mộ của tôi đằng kia hướng về phía Finglas, khoảnh đất tôi đã mua. Mẹ ơi, mẹ tội nghiệp của con, và cả bé Rudy nữa.

Những người đào huyệt cầm xẻng lên và hất những cục đất sét nặng trịch vào cỗ quan tài. Ông Bloom quay mặt đi chỗ khác. Lỡ như hắn vẫn còn sống suốt thời gian qua thì sao nhỉ? Hừm! Lạy Chúa tôi, thế thì khủng khiếp lắm đây! Không, không: dĩ nhiên là hắn chết rồi. Dĩ nhiên là hắn đã chết. Hết thứ Hai là hắn chết. Lẽ ra người ta phải ban hành luật đâm xuyên qua tim để xác định cho chắc chắn hoặc lắp một chiếc đồng hồ điện hay điện thoại trong quan tài kèm theo loại lỗ thông gió bằng vải bạt nào đó. Lá cờ cấp cứu. Ba ngày. Quá lâu để giữ chúng lại trong mùa hè. Tốt hơn là nên tống khứ chúng đi ngay khi bạn chắc chắn không còn...

Đất sét rơi xuống mềm mại hơn. Bắt đầu bị lãng quên. Xa mặt cách lòng.

Người quản trang bước ra xa vài bước và đội mũ lên. Đã xem đủ rồi. Những người đưa tang lấy lại can đảm, từng người một, kín đáo đội mũ lên. Ông Bloom đội mũ lên và nhìn thấy bóng dáng béo tốt đang uyển chuyển lách qua mê cung những ngôi mộ. Lặng lẽ, vững vàng trên phần đất của mình, ông ta bước qua những cánh đồng u ám.

Hynes đang hí hoáy ghi chép gì đó vào sổ tay. À, ghi tên tuổi ấy mà. Nhưng mà hắn biết hết tất cả rồi cơ mà. Không phải: đang tiến về phía mình.

—Tôi đang ghi chép lại tên tuổi thôi, Hynes thì thầm nói. Tên thánh của anh là gì nhỉ? Tôi không nhớ rõ lắm.

—L, ông Bloom đáp. Leopold. Cậu có thể ghi thêm tên của M’Coy vào nữa nhé. Cậu ấy nhờ tôi đấy.

—Charley, Hynes vừa viết vừa nói. Tôi biết rồi. Cậu ấy từng làm cho tờ Freeman mà.

Thế mà trước khi nhận việc ở nhà xác dưới quyền Louis Byrne hắn từng làm ở đó. Một ý tưởng hay cho các bác sĩ làm khám nghiệm tử thi. Tự khám phá ra những gì họ tưởng là họ biết. Hắn chết vào một ngày thứ Ba. Bị sa thải. Ôm tiền quỹ quảng cáo cao chạy xa bay. Charley, anh là cưng của em. Đó là lý do tại sao cậu ấy nhờ tôi. Ồ thôi, chẳng hại gì cả. Tôi đã lo chu toàn việc đó rồi, M’Coy ạ. Cảm ơn nhé, anh bạn già: vô cùng biết ơn. Mang lại cho hắn một ơn huệ: chẳng mất gì cả.

—Nói nghe xem nào, Hynes nói, anh có biết cái gã mặc, gã đang đứng ở đằng... này không?

Hắn ngoái nhìn xung quanh.

—Mackintosh áo măng-tô. Đúng, tôi thấy hắn, ông Bloom nói. Giờ hắn đâu mất tiêu rồi?

—M’Intosh, Hynes vừa hí hoáy viết vừa nói. Tôi không biết hắn là ai. Tên hắn là thế thật à?

Hắn bước đi, đảo mắt tìm kiếm xung quanh.

—Không phải, ông Bloom vừa quay người vừa dừng lại nói. Này, Hynes!

Hắn không nghe thấy. Cái quái gì thế nhỉ? Hắn biến đi đằng nào rồi không biết? Chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Thật là hết chỗ nói. Có ai ở đây nhìn thấy không? Kay ee double ell. Biến thành tàng hình mất rồi. Lạy Chúa tôi, chuyện gì đã xảy ra với hắn thế nhỉ?

Một người đào huyệt thứ bảy tiến đến bên cạnh ông Bloom để nhặt chiếc xẻng đang bỏ không.

—Ồ, xin lỗi ông nhé!

Ông nhanh nhẹn bước sang một bên.

Đất sét, màu nâu, ẩm ướt, bắt đầu xuất hiện trong hố sâu. Nó đùn lên cao. Gần đầy rồi. Một gò đất ẩm ướt đùn lên cao hơn nữa, cao hơn nữa, và những người đào huyệt dừng tay gác xẻng lên. Tất cả lại cùng cất mũ trong giây lát. Cậu bé dựa vòng hoa vào một góc: người em rể đặt vòng hoa của mình lên một khối đất. Những người đào huyệt đội mũ lên và mang những chiếc xẻng dính đầy đất hướng về chiếc xe đẩy. Sau đó gõ nhẹ lưỡi xẻng lên thảm cỏ: cho sạch đất. Một người cúi xuống nhặt nhạnh búi cỏ dài vướng trên cán xẻng. Một người khác, rời khỏi nhóm đồng nghiệp, chậm rãi bước đi với cây xẻng vác trên vai, lưỡi xẻng ánh lên sắc xanh. Lặng lẽ ở đầu ngôi mộ, một người khác đang cuộn tròn dải băng buộc quan tài lại. Dây rốn của hắn ta. Người em rể, quay mặt đi, đặt thứ gì đó vào bàn tay đang rảnh rang của hắn. Lặng lẽ cảm ơn. Xin lỗi nhé, ông anh: làm phiền anh rồi. Lắc đầu từ chối. Tôi biết điều đó chứ. Cho các anh tự thưởng với nhau thôi mà.

Những người đưa tang chậm chạp tản ra không mục đích, theo những con đường vòng vèo, chốc chốc lại dừng chân để đọc tên khắc trên một ngôi mộ.

—Chúng ta hãy đi vòng qua phần mộ của vị thủ lĩnh đi, Hynes nói. Vẫn còn thời gian mà.

—Đi thôi, ông Power nói.

Họ rẽ phải, thả trôi theo những dòng suy nghĩ chậm chạp. Với nỗi kính sợ, giọng điệu vô cảm của ông Power cất lên:

—Có người bảo cụ ấy không hề nằm trong ngôi mộ đó đâu. Rằng cỗ quan tài toàn được nhét đầy đá cuội. Rằng sẽ có một ngày cụ ấy sẽ quay trở lại.

Hynes lắc đầu.

—Parnell sẽ không bao giờ quay trở lại đâu, hắn nói. Cụ ấy nằm ở đó rồi, toàn bộ phần thể xác phàm trần của cụ ấy. Nguyện cho tro cốt cụ được bình yên.

Ông Bloom thẫn thờ bước đi dọc theo khu lăng mộ giữa những vị thiên thần đau buồn, những cây thánh giá, những chiếc cột gãy, những hầm mộ gia đình, những niềm hy vọng bằng đá đang chắp tay cầu nguyện với đôi mắt ngước lên, những trái tim và bàn tay của nước Ireland cổ kính. Thực tế hơn là nên đem số tiền đó làm từ thiện cho những người còn sống. Cầu nguyện cho linh hồn được siêu thoát. Liệu có ai thực sự làm thế không? Cứ chôn quách đi cho xong chuyện. Giống như đổ than xuống hầm vậy. Rồi vứt gom chúng lại với nhau cho nhanh gọn. Ngày lễ các linh hồn. Ngày hai mươi bảy tôi sẽ ra mộ cụ ấy. Mười shilling cho người làm vườn. Lão ta giữ cho cỏ không mọc dại. Bản thân lão già. Lưng còng gập xuống với chiếc kéo cắt tỉa. Gần đất xa trời rồi. Người đã qua đời. Người đã từ giã cõi đời này. Cứ như thể họ tự nguyện làm điều đó vậy. Tất cả bọn họ đều bị tống khứ đi cả. Những kẻ đã tẻo teo. Sẽ thú vị hơn nhiều nếu họ tự giới thiệu họ là ai. Người này người nọ, thợ làm xe. Tôi từng đi tiếp thị thảm lót sàn bằng bần. Tôi đã trả năm shilling cho mỗi bảng Anh. Hoặc một mụ đàn bà với cái xoong của mụ ta. Tôi đã nấu món thịt hầm Ireland ngon tuyệt cú mèo. Lẽ ra nên là bài thơ điếu văn ở một vùng quê hứa hẹn nào đó của ai nhỉ của Wordsworth hay Thomas Campbell. Về với cõi vĩnh hằng, người Tin Lành hay dùng câu đó. Của cố bác sĩ Murren. Vị danh y vĩ đại đã gọi ngài về với Chúa. Chà, đó là mảnh đất của Chúa dành cho họ mà. Một khu nghỉ dưỡng nông thôn tuyệt đẹp. Mới được trát vữa và sơn sửa lại. Địa điểm lý tưởng để ngồi hút tẩu thuốc và đọc tờ Church Times. Quảng cáo kết hôn thì họ chẳng bao giờ thèm trang hoàng làm đẹp cả. Những vòng hoa rỉ sét treo trên núm cửa, những vòng hoa bằng lá đồng mạ. Đáng đồng tiền bát gạo hơn. Dù vậy, hoa tươi vẫn mang tính thơ ca hơn. Mấy thứ kia thì khá nhàm chán, chẳng bao giờ héo tàn. Chẳng biểu lộ điều gì cả. Vòng hoa bất tử.

Một chú chim thản nhiên đậu trên cành cây dương. Trông như đồ nhồi bông vậy. Giống như món quà cưới mà thị trưởng Hooper tặng chúng ta. Hừ! Chẳng thèm nhúc nhích dù chỉ một chút. Nó biết thừa chẳng có ai dùng súng cao su bắn nó cả. Động vật chết trông còn bi thảm hơn. Con bé ngớ ngẩn Tiểu Milly đem chôn chú chim nhỏ đã chết trong chiếc hộp diêm ở bếp, xung quanh ngôi mộ được trang trí bằng một vòng hoa cúc và mấy mảnh vỡ đồ chơi bằng sứ.

Trái Tim Thánh Thiên Chúa là đây: đang vạch áo cho người xem lưng. Trái tim đeo trên tay áo. Lẽ ra nó phải nằm lệch sang một bên và được sơn màu đỏ giống như một trái tim thực thụ. Nước Ireland đã được dâng hiến cho nó hay cái quái gì đó đại loại thế. Trông chẳng có vẻ gì là vui vẻ cả. Tại sao lại phải chịu đựng sự đày đọa này nhỉ? Liệu chim chóc có đến mổ xén giống như cậu bé mang giỏ hoa quả không nhưng hắn bảo không vì lẽ ra chúng phải sợ cậu bé đó chứ. Hắn chính là vị thần Apollo đó.

Biết bao nhiêu con người! Tất cả những người ở đây từng một thời rong ruổi khắp Dublin. Những người ra đi mãi mãi. Các bạn bây giờ như thế nào thì chúng tôi ngày xưa cũng thế ấy.

Vả lại làm sao bạn có thể nhớ hết mọi người được cơ chứ? Ánh mắt, dáng đi, giọng nói. À, giọng nói thì có chứ: máy hát đĩa. Lắp một chiếc máy hát ở mỗi ngôi mộ hoặc giữ nó trong nhà. Sau bữa trưa ngày Chủ nhật. Lôi cụ cố đáng kính ra nghe. Kraahraark! Chàohellohello amawfullyglad kraark awfullygladaseeagain hellohello amawf krpthsth. Gợi cho bạn nhớ về giọng nói giống như bức ảnh gợi cho bạn nhớ về khuôn mặt. Bằng không thì bạn chẳng thể nào nhớ nổi khuôn mặt sau mười lăm năm, ví dụ thế. Lấy ai làm ví dụ bây giờ? Ví dụ như một gã nào đó đã qua đời hồi tôi còn làm ở hiệu Wisdom Hely’s.

Rtststr! Tiếng sỏi đá lạo xạo. Chờ đã. Dừng lại!

Ông đăm đăm nhìn xuống một căn hầm mộ bằng đá. Con vật gì thế nhỉ. Chờ đã. Nó kìa.

Một con chuột xám béo múp míp lững thững bò dọc theo thành hầm mộ, làm sỏi đá dịch chuyển. Một lão già dơ dáy: cụ tổ dòng họ: nó rành đường đi nước bước lắm. Con vật sống béo tốt luồn lách chui vào bên dưới bệ chân cột, ngoằn ngoèo rúc vào trong đó. Đúng là một chỗ ẩn náu tuyệt vời để cất giấu kho báu.

Ai đang sống ở đó thế nhỉ? Nơi an nghỉ của Robert Emery. Robert Emmet được chôn cất ở đây dưới ánh đuốc phải không nhỉ? Đang đi tuần tra đấy à.

Cái đuôi biến mất tiêu rồi.

Một trong số những tên đó sẽ xử lý gọn ghẽ một gã nào đó chỉ trong chớp mắt. Lóc sạch xương chẳng từ một ai. Thức ăn bình thường đối với chúng thôi mà. Xác chết chẳng qua chỉ là thịt thối rữa. Chà, thế còn phomát thì sao? Xác chết của sữa. Tôi từng đọc trong cuốn Những chuyến hải hành tới Trung Quốc rằng người Trung Quốc bảo người da trắng ngửi cứ như xác chết vậy. Hỏa táng vẫn tốt hơn. Các ông linh mục kịch liệt phản đối chuyện đó. Làm tay sai cho phe bên kia. Những kẻ thiêu xác hàng loạt và thợ lò nướng kiểu Hà Lan. Thời kỳ dịch hạch. Hố chôn vôi sống để ăn mòn xác họ. Phòng độc khí. Tro bụi trở về với cát bụi. Hoặc thủy táng trên biển. Cái tháp im lặng của người Parsi nằm ở đâu nhỉ? Bị chim rúc ăn thịt. Đất, lửa, nước. Người ta bảo chết đuối là cách chết thoải mái nhất. Thấy toàn bộ cuộc đời mình trong chớp mắt. Nhưng được hồi sinh thì không đâu. Dù sao thì cũng không thể chôn cất trên không trung được. Rơi xuống từ máy tbay. Tự hỏi liệu tin tức có lan truyền mỗi khi có một cỗ quan tài mới được hạ xuống không nhỉ. Hệ thống liên lạc ngầm dưới lòng đất. Chúng ta đã học được điều đó từ chúng. Chắc tôi cũng chẳng thấy ngạc nhiên đâu. Một bữa ăn thịnh soạn đều đặn cho tụi chúng. Ruồi nhặng xuất hiện trước khi xác chết kịp lạnh hẳn. Ngửi thấy mùi của Dignam rồi kìa. Bọn chúng chắc chẳng màng đến mùi vị đó đâu. Thứ bột nhão mủn nát trắng bệch như muối của xác chết: mùi vị, hương vị hệt như củ cải trắng sống.

Những cánh cổng lấp lánh ở phía trước: vẫn mở. Lại trở về với thế giới trần tục. Thế là đủ cho chốn này rồi. Mỗi lần đến đây là lại thấy mình tiến gần hơn một chút. Lần cuối cùng tôi đến đây là đám tang của bà Sinico. Cả bố tội nghiệp nữa. Tình yêu giết chết con người. Và thậm chí còn dùng đèn lồng bới đất vào ban đêm giống như vụ án tôi từng đọc để mò mẫm những người đàn bà mới chôn hoặc thậm chí là những cái xác đang thối rữa với những vết lở loét chảy mủ. Xem xong là nổi cả da gà. Ta sẽ hiện hình về gặp ngươi sau khi chết. Ngươi sẽ nhìn thấy hồn ma của ta sau khi chết. Hồn ma của ta sẽ ám ảnh ngươi sau khi chết. Có một thế giới khác sau cái chết mang tên địa ngục. Tôi không thích thế giới bên kia mà cô ấy đã viết. Tôi cũng thế. Vẫn còn khối thứ để nhìn, để nghe và để cảm nhận. Cảm nhận những sinh thể ấm áp đang sống ở quanh mình. Hãy để chúng ngủ yên trong chiếc giường đầy dòi bọ của chúng. Lượt này chúng đừng mong tóm được tôi. Những chiếc giường ấm áp: cuộc đời ấm áp tràn trề nhựa sống.

Martin Cunningham bước ra từ con đường nhỏ, đang nghiêm túc trò chuyện.

Luật sư thì phải. Tôi biết mặt hắn. Menton, John Henry, luật sư, ủy viên tuyên thệ và lấy lời khai. Dignam từng làm việc trong văn phòng của hắn. Thời của Mat Dillon lâu lắm rồi. Lão Mat vui tính. Những buổi tối tụ họp chén tạc chén thù. Gà tây lạnh, xì gà, những chiếc ly pha lê Tantalus. Trái tim vàng ngọc thực sự. Phải rồi, Menton. Nổi khùng lên vào cái buổi chiều ở sân bóng gỗ chỉ vì tôi vượt mặt hắn ta. Hoàn toàn là do ăn may thôi: độ nghiêng của bóng. Hắn lại đâm ra căm ghét tôi tận xương tủy từ dạo ấy. Ghét ngay từ cái nhìn đầu tiên. Molly và Floey Dillon tay trong tay dưới bóng cây tử đinh hương, cười khúc khích. Gã đàn ông lúc nào cũng thế, thấy phụ nữ ở bên cạnh là nổi máu sĩ diện hão.

Mũ bị móp một vết ở bên cạnh. Chắc là do va quệt xe ngựa.

—Xin lỗi ông, ông Bloom đứng cạnh họ lên tiếng.

Họ khựng lại.

—Mũ của ông bị móp một chút rồi kìa, ông Bloom vừa nói vừa chỉ tay.

John Henry Menton trợn mắt nhìn ông chằm chằm trong chốc lát mà không cử động.

—Đúng thế kìa, Martin Cunningham bồi thêm, cũng đưa tay chỉ.

John Henry Menton cởi mũ ra, dùng tay đẩy cái vết móp phồng trở lại rồi cẩn thận vuốt ve lớp lông nỉ trên tay áo khoác. Hắn đội sụp chiếc mũ lên đầu.

—Giờ thì ổn rồi, Martin Cunningham nói.

John Henry Menton hất mạnh cằm xuống để tỏ ý xác nhận.

—Cảm ơn anh, hắn cụt ngủn nói.

Họ tiếp tục rảo bước hướng về phía cổng. Ông Bloom, với vẻ mặt buồn thiu, lùi lại vài bước để khỏi phải nghe lén. Martin đang ra điều ta đây dạy đời. Martin có thể quấn một gã đầu đất như thế quanh ngón tay út mà hắn chẳng hề hay biết.

Đôi mắt cá ngừ luộc. Kệ hắn đi. Có khi lát nữa khi ngộ ra thì hắn sẽ phải hối hận cho mà xem. Kiểu gì mình cũng nắm thóp được hắn bằng cách đó.

Cảm ơn nhé. Sáng nay trông chúng ta mới oai phong làm sao chứ lại!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.