Đồng bằng vàng nghe tiếng móng ngựa, lanh lảnh âm thép.
Im-pơ-tơn-thơn thơn-thơn-thơn.
Những mẩu vụn, nhặt mẩu vụn trên móng tay cái ráp sì, những mẩu vụn.
Kinh tởm! Và sắc vàng càng thêm rực rỡ.
Một âm sáo gỗ khàn khàn cất lên.
Cất lên. Sắc hoa xanh phủ trên.
Mái tóc vương vương sắc vàng.
Một đóa hồng nhảy múa trên bầu ngực mượt mà lụa là, hoa hồng xứ Castile.
Rung rinh, rung rinh: Idolores.
Ép! Ai ở trong... chốn vàng son hé mở?
Tiếng chuông lanh lảnh kêu lên đầy thương cảm với sắc đồng.
Và một tiếng gọi, trong trẻo, ngân dài và thổn thức. Tiếng gọi lịm dần trong cõi chết.
Mồi nhử. Lời ngọt ngào. Nhưng kìa: những vì sao sáng phai mờ. Những âm thanh ríu rít đáp lời.
Ôi hoa hồng! Xứ Castile. Bình minh đang hửng sáng.
Lục lạc khua rang rảng, lọc cọc vui tai.
Tiền xu kêu. Đồng hồ gõ nhịp.
Lời thổ lộ. Sonnez. Ta có thể. Dây nịt bật nảy. Không rời xa nàng. Chát. La cloche! Đét đùi. Lời thổ lộ. Ấm áp. Người yêu hỡi, giã biệt!
Lục lạc. Bloo.
Những hợp âm gầm rú đổ sập. Khi tình yêu ngốn nghiến. Chiến tranh! Chiến tranh! Màng nhĩ.
Một cánh buồm! Một tấm khăn lướt bay trên sóng nước.
Lạc lõng. Chim hoét trổi khúc sáo. Mọi thứ giờ đã mất sạch.
Tù và. Tù và gai.
Khi lần đầu hắn thấy. Than ôi!
Tràn trề. Rộn rã.
Hót vang. A, tiếng dụ dỗ! Đầy sức quyến rũ.
Martha! Lại đây!
Bộp bộp. Cộp cộp. Bộp bọp cộp cộp.
Chúa ơi chưa từng thấy bao giờ trong đời.
Lão Pat hói trơ trọi mang dao cạo bọt ra cầm lấy.
Một tiếng gọi lúc đêm trăng: xa lắm, xa lắm.
Tôi thấy buồn làm sao. T. S. Cô đơn làm sao nỗi nở hoa.
Lắng nghe!
Tù và biển nhọn hoắt và quanh co. Anh có chiếc? Đôi bên, dành cho nhau, tiếng nước vỗ và gầm thét lặng thinh.
Ngọc trai: khi nàng. Những bản rhapsody của Liszt. Xì-xì-xì.
Anh không thế à?
Không thế: không, không: tin tưởng: Lidlyd. Với chiếc vòi và chiếc xe.
Đen ngòm. Vang vọng từ vực sâu. Nào, Ben, nào.
Đợi trong lúc chờ mong. Hì hì. Đợi trong khi hì.
Nhưng hãy đợi!
Trầm mặc nơi lòng đất tối sâu thẳm. Quặng mỏ vùi sâu.
Nam-in-da-min. Hắn là mục sư:
Mất hết. Đổ rạp hết.
Nhỏ bé thay, những chiếc lá dương xỉ run rẩy của loài tóc thần.
Amen! Hắn nghiến răng giận dữ.
Xuôi. Ngược, xuôi. Một chiếc gậy chỉ huy mát lạnh nhô ra.
Bronzelydia bên Minagold.
Bên sắc đồng, bên sắc vàng, trong bóng râm xanh đại dương. Bloom. Lão Bloom.
Một gã gõ, một gã khua, với chiếc xe, với chiếc vòi.
Cầu nguyện cho hắn! Cầu nguyện đi, thiện nam tín nữ!
Những ngón tay bị thống phong lách cách khua động.
Big Benaben. Big Benben.
Đóa hồng mùa hạ Castile cuối cùng còn nở tôi cảm thấy cô đơn làm sao.
Puy! Gió nhỏ thổi vi vu.
Những trang nam nhi. Lid Ker Cow De và Doll. Ờ, ờ. Giống như các anh. Sẽ cạn ly tschink với tschunk.
Fff! Ô!
Sắc đồng ở cự ly gần đâu? Sắc vàng từ phương xa đâu? Tiếng móng ngựa đâu?
Rrrpr. Kraa. Kraandl.
Khi ấy mãi cho đến khi ấy. Bản bi ký eppripfftaph của tôi. Hãy được pfrwritt.
Xong.
Bắt đầu!
Sắc đồng cạnh sắc vàng, đầu cô Douce bên đầu cô Kennedy, qua ô cửa chớp ngang quán rượu Ormond nghe tiếng móng phó vương lướt qua, lanh lảnh thép.
—Đấy là ả đấy phỏng? cô Kennedy hỏi.
Cô Douce bảo phải, đang ngồi cùng gã bồ cũ, xám ngọc trai và xanh eau de Nil.
—Tương phản tuyệt diệu làm sao, cô Kennedy bảo.
Khi cô Douce đầy háo hức sốt sắng thốt lên:
—Nhìn gã đội mũ lụa chóp cao kìa.
—Ai cơ? Ở đâu? sắc vàng càng thêm sốt sắng hỏi.
—Trong cỗ xe thứ hai, đôi môi ướt át của cô Douce cất lời, cười dưới nắng.
Hắn đang nhìn đấy. Canh chừng để em xem nào.
Cô lao vút đi, rực rỡ sắc đồng, tới góc khuất nhất phía trong, áp chặt mặt vào tấm kính giữa hào quang hơi thở vội vàng.
Đôi môi ướt át của cô khúc khích:
—Hắn ngoái nhìn đến chết mất thôi.
Cô cười vang:
—Ôi trời khóc mất! Đàn ông đúng là lũ ngốc kinh hoàng phải không?
Với nỗi buồn bã.
Cô Kennedy ủ rũ bước đi từ vùng ánh sáng rực rỡ, giắt lọn tóc xõa ra sau tai. Vừa ủ rũ bước đi, chẳng còn vẻ sắc vàng nữa, cô xoắn vặn một lọn tóc. Buồn bã, cô giắt lọn tóc vàng vào sau vành tai cong cong trong bước đi thơ thẩn.
—Chỉ có chúng nó mới có những khoảnh khắc tuyệt vời, bấy giờ cô buồn rầu nói.
Một người đàn ông.
Bloowho đi ngang qua những ống sáo của Moulang mang trong ngực sự ngọt ngào của tội lỗi, ngang qua tiệm đồ cổ của Wine, mang trong ký ức những lời tội lỗi ngọt ngào, ngang qua tấm biển hiệu sờn xám tối tăm của Carroll, vì Raoul.
Gã phục vụ bước đến chỗ họ, chỗ những người ở quán rượu, chỗ các cô tiếp viên quán rượu. Bất chấp họ chẳng màng đến mình, hắn đập mạnh khay đựng chén đĩa lách cách lên quầy. Và
—Trà của các cô đây, hắn nói.
Cô Kennedy với vẻ lịch thiệp dịch chiếc khay trà xuống một cái thùng đựng nước khoáng lật ngửa, khuất tầm mắt, thấp xuống.
—Gì thế hả? gã phục vụ thô lỗ lớn tiếng hỏi.
—Tự mà tìm hiểu đi, cô Douce đáp trả, rời khỏi chỗ quan sát của mình.
—Tình nhân của cô đấy phỏng?
Một giọng đồng kiêu kỳ đáp lại:
—Tôi sẽ méc bà de Massey về anh nếu tôi còn nghe thấy bất kỳ lời hỗn láo xấc xược nào nữa từ anh đấy.
—Im-pơ-tơn-thơn thơn-thơn-thơn, cái mũi của gã phục vụ khịt khịt một cách thô lỗ, khi hắn lùi bước theo lời đe dọa của cô hệt như lúc hắn đã đến.
Bloom.
Trên đóa hoa đang cau mày, cô Douce nói:
—Cái thằng nhãi con đó mới phiền phức làm sao. Nếu nó không biết điều thì tao sẽ vặn tai nó dài cả thước.
Dịu dàng nữ tính trong sự tương phản tuyệt diệu.
—Đừng để tâm đến nó, cô Kennedy tiếp lời.
Cô rót trà vào tách, rồi lại rót trà từ tách ngược về ấm. Họ co mình dưới mái quầy, chờ đợi trên những chiếc đôn, những chiếc thùng lật ngược, chờ trà ngấm. Cả hai mân mê chiếc áo cánh bằng sa tanh đen, giá hai xu chín một thước, chờ trà ngấm, và hai xu bảy.
Phải, sắc đồng ở cự ly gần, cạnh sắc vàng từ phương xa, đã nghe tiếng thép ở cự ly gần, tiếng móng ngựa vang lên từ phương xa, và nghe tiếng móng thép vang tiếng móng tiếng thép vang.
—Trông tôi có bị cháy nắng lắm không?
Cô sắc đồng hé mở cổ áo.
—Không, cô Kennedy nói. Lát sau nó sẽ ngăm lại thôi. Cậu đã thử dùng hàn the với nước hoa anh đào chưa?
Cô Douce chồm nửa người lên để ngắm làn da mình qua chiếc gương quầy rượu có những chữ cái mạ vàng, nơi những chiếc ly uống rượu hock và claret lấp lánh và ở giữa chúng là một vỏ sò.
—Và mặc kệ đôi tay tôi, cô nói.
—Cậu hãy thử dùng với glycerin xem, cô Kennedy khuyên.
Nói lời tạm biệt với chiếc cổ và đôi tay của mình, cô Douce
—Những thứ đó chỉ làm nổi mẩn ngứa lên thôi, đáp lời, rồi ngồi xuống lại. Tôi đã hỏi lão cổ hủ ở tiệm Boyd xin dăm thứ bôi da.
Cô Kennedy, lúc này đang rót một tách trà đã ngấm đủ, nhăn mặt và khẩn khoản:
—Ôi, xin ơn trên đừng nhắc đến lão ấy trước mặt tôi nữa!
—Nhưng cứ chờ đến khi tôi kể cho nghe đã, cô Douce nài nỉ.
Cô Kennedy sau khi rót tách trà ngọt với sữa đã dùng những ngón tay nhỏ bịt kín cả hai tai.
—Không, đừng kể, cô kêu lên.
—Tôi không nghe đâu, cô kêu lên.
Nhưng còn Bloom?
Cô Douce càu nhàu bằng giọng điệu của một lão cổ hủ ngửi thuốc lá:
—Dùng cho cái gì cơ? lão hỏi thế.
Cô Kennedy rút ngón tay khỏi tai để nghe, để nói: nhưng lại thốt lên, lại khẩn khoản:
—Đừng để tôi nghĩ về lão ấy nữa kẻo tôi chết mất. Tên già gớm ghiếc! Đêm hôm đó ở Phòng Hòa nhạc Antient.
Cô nhấp ngụm trà với vẻ chán ghét, tách trà nóng, một ngụm, nhấp, tách trà ngọt.
—Lão ta thế này đây, cô Douce nói, nghiêng đầu sắc đồng ba phần tư, khẽ gí cánh mũi. Hufa! Hufa!
Tiếng cười ré lên chói tai phát ra từ cổ họng cô Kennedy. Cô Douce khịt mũi và hắt ra từ lổ mũi đang run rẩy vẻ im-pơ-tơn-thơn hệt như cái mõm đang sục sạo.
—Ôi! ré lên, cô Kennedy kêu. Cậu có bao giờ quên nổi cặp mắt lồi của lão ấy không?
Cô Douce hùa theo bằng tiếng cười trầm ấm của sắc đồng, la lớn:
—Cả con mắt kia của cậu nữa chứ!
Bloowhose — đôi mắt thẫm màu đọc tên Aaron Figatner. Sao mình cứ nghĩ là Figather nhỉ? Hái vả, chắc thế. Và cái tên Huguenot của Prosper Loré. Đi ngang qua những bức tượng trinh nữ được ban phước của Bassi, đôi mắt thẫm màu của Bloom lướt qua. Mặc áo xanh choàng, lót trắng bên dưới, hãy đến với tôi. Chúa mà họ tin là thế: hoặc nữ thần. Những người ngày hôm nay. Mình không thấy được. Gã đó đã nói. Một sinh viên. Đi theo con trai của Dedalus. Hắn có thể là Mulligan. Toàn những trinh nữ khả ái. Điều đó kéo lũ trai lăng nhăng ấy vào đây: sắc áo trắng của nàng.
Đôi mắt hắn lướt qua. Sự ngọt ngào của tội lỗi. Ngọt ngào thay sự ngọt ngào.
Của tội lỗi.
Trong tiếng cười khúc khích ngân vang, giọng nói của những thiếu nữ vàng-đồng hòa quyện vào nhau, Douce với Kennedy, cả con mắt kia của cậu nữa. Họ ngửa phắt những chiếc đầu trẻ trung ra sau, tiếng cười vàng-đồng rúc rích, để buông thả tràng cười, thét lên, con mắt kia của cậu nữa, những tín hiệu chuyền cho nhau, những nốt cao chót vót nhức nhối.
Hà hển, thở dài, thở dài, hà hển, kiệt sức, niềm vui thích của họ dịu dần.
Cô Kennedy lại ghé môi vào tách, nhấc lên, uống một ngụm rồi lại khúc khích cười. Cô Douce, cúi người trên khay trà, lại khẽ gí mũi và đảo đôi mắt ngốc nghếch phúng phính. Lại một tràng cười khẽ từ Kenny, đang cúi gập xuống, những lọn tóc vàng óng chĩa lên, cúi gập xuống, để lộ phần gáy thắt đáy lưng ong, phun cả ngụm trà ra khỏi miệng, sặc trong trà và tiếng cười, vừa ho vừa nghẹn ngào, kêu lên:
—Ôi đôi mắt mỡ màng! Cứ tưởng tượng phải lấy một người chồng như thế xem nào! cô kêu lên. Với chỏm râu của hắn chứ lị!
Douce bật ra tiếng thét lừng lừng, tiếng thét trọn vẹn của một người đàn bà sung mãn, đầy thích thú, vui sướng, phẫn nộ.
—Lấy cái gã mũi mỡ màng ấy á! cô thét lên.
Chói lọi, với tiếng cười trầm ấm, sau đó, sắc vàng tiếp nối sắc đồng, họ giục giã nhau tràng cười này nối tiếp tràng cười khác, ngân vang đổi nhịp, đồng-vàng, vàng-đồng, chói-trầm, qua bao tràng cười. Và rồi lại càng cười to hơn. Cái mũi mỡ màng tao biết. Kiệt sức, hụt hơi, họ tựa những chiếc đầu rũ rượi, được tết búi và chải chuốt mượt mà, lên gờ quầy. Mặt đỏ bừng (Ô!), thở hồng hộc, đầm đìa mồ hôi (Ô!), cả thảy đều hụt hơi.
Lấy Bloom, lấy gã mỡ-màng-bloom.
—Ôi các thánh trên trời! cô Douce thốt lên, thở dài phía trên đóa hồng đang nhảy múa. Ước gì mình đừng cười nhiều thế. Tôi thấy ướt sũng cả người rồi đây.
—Ôi, cô Douce! cô Kennedy phản đối. Cậu đúng là đồ kinh tởm!
Và mặt lại càng đỏ bừng hơn nữa (đồ kinh tởm!), rực rỡ sắc vàng hơn.
Ngang qua văn phòng của Cantwell, Greaseabloom thơ thẩn rảo bước, qua những bức tượng trinh nữ của Ceppi, lấp lánh lớp dầu bóng. Cha của Nannetti từng bươn chải rao bán dạo mấy thứ đó, nịnh nọt khắp các ngưỡng cửa hệt như ta. Tôn giáo mang lại tiền tài. Phải tìm hắn vì mục tiêu đoạn văn đó. Ăn trước đã. Mình muốn. Chưa đâu. Lúc bốn giờ, nàng đã bảo thế. Thời gian cứ mãi trôi. Kim đồng hồ chuyển động. Tiếp nào. Ăn ở đâu? Quán Clarence, Dolphin. Tiếp. Cho Raoul. Ăn. Nếu mình kiếm được năm gô-ni từ mấy mẩu quảng cáo đó. Chiếc váy lót lụa tím. Chưa đâu. Sự ngọt ngào của tội lỗi.
Khuôn mặt bớt đỏ dần, bớt dần, nhợt nhạt ánh vàng.
Ông Dedalus thong thả bước vào quán rượu của họ. Những mẩu vụn, nhặt mẩu vụn trên một chiếc móng tay cái ráp sì. Những mẩu vụn. Ông thong thả bước đi.
—Ôi, chào mừng sự trở lại của cô, cô Douce.
Ông nắm lấy tay cô. Kỳ nghỉ ở Rostrevor vui vẻ chứ?
—Tuyệt cú mèo, cô nói. Nhìn cái bãi tha ma phơi thây của tôi này. Nằm phơi mình ngoài bãi biển suốt cả ngày.
Sắc trắng tựa đồng.
—Thế thì hư đốn quá thể rồi, ông Dedalus bảo cô và ân cần siết lấy bàn tay cô. Đi cám dỗ những gã đàn ông khờ khạo tội nghiệp.
Cô Douce bận áo sa tanh rụt tay ra.
—Ôi đi đi cho khất! cô nói. Tôi thấy ông khờ khạo lắm cơ, tưởng thế nào.
Quả thật ông là vậy.
—Thì giờ tôi thế đấy, ông trầm ngâm. Hồi nằm nôi trông tôi ngô nghê đến mức họ đặt tên thánh cho tôi là Simon khờ.
—Chắc hồi bé ông đáng yêu lắm nhỉ, cô Douce đáp lời. Thế vị bác sĩ đã kê đơn gì cho hôm nay thế ạ?
—Thì đấy, ông trầm ngâm, tùy cô muốn phán sao cũng được. Tôi nghĩ tôi sẽ làm phiền cô cho xin chút nước lọc và nửa ly whisky.
Lục lạc.
—Với tất cả sự sẵn lòng, cô Douce đồng ý.
Với vẻ duyên dáng đầy sẵn lòng, cô quay người về phía chiếc gương mạ vàng có khắc chữ Cantwell and Cochrane’s. Với vẻ duyên dáng, cô vặn một lượng whisky vàng óng từ chiếc thùng pha lê của mình. Từ tà áo khoác, ông Dedalus lấy ra túi đựng thuốc và tẩu. Cô phục vụ với sự nhanh nhẹn. Ông thổi qua ống tẩu hai tiếng sáo khàn khàn.
—Chà chà, ông trầm ngâm, tôi vẫn luôn ao ước được ngắm dãy núi Mourne. Chắc không khí ở dưới đó phải rất trong lành, sảng khoái. Nhưng người ta bảo điều gì chờ đợi mãi rồi cũng tới. Phải. Phải.
Phải. Ông nhét những sợi tóc tơi xốp, tóc mai của cô, tóc nàng tiên cá, vào trong nõ tẩu. Những mẩu vụn. Vụn tóc. Trầm ngâm. Lặng câm.
Chẳng ai nói năng gì. Phải.
Cô Douce vui vẻ đánh bóng một chiếc ly, ngân nga:
—Ôi, Idolores, nữ hoàng của những vùng biển phía đông!
—Hôm nay có anh Lidwell ghé qua không?
Lenehan bước vào. Lenehan đảo mắt nhìn quanh. Ông Bloom đã tới cầu Essex. Phải, ông Bloom đã qua cầu Yessex. Tôi phải viết thư cho Martha. Mua giấy. Tiệm Daly. Cô nhân viên ở đó lịch sự. Bloom. Lão Bloom. Sắc hoa xanh phủ trên lúa mạch.
—Lúc ăn trưa anh ấy có ghé, cô Douce nói.
Lenehan bước lên trước.
—Anh Boylan có tìm tôi không?
Hắn hỏi. Cô đáp:
—Cô Kennedy ơi, lúc tôi ở trên gác thì anh Boylan có ghé không?
Cô hỏi. Giọng của cô Kennedy đáp lại, tay lăm lăm tách trà thứ hai, ánh mắt dán vào một trang sách:
—Không. Anh ấy không có ở đây.
Ánh mắt của cô Kennedy, chỉ nghe tiếng chứ không thấy hình, tiếp tục đọc. Lenehan quấn thân hình tròn ủng của mình quanh chiếc chuông đặt sandwich.
—Ép! Ai ở trong góc thế kia?
Chẳng có lấy một cái liếc nhìn nào từ cô Kennedy thết đãi hắn nhưng hắn vẫn bắt chuyện. Để ý đến những dấu ngắt câu của nàng. Chỉ đọc những chữ màu đen: chữ o tròn và chữ ess ngoằn ngoèo.
Tiếng lục lạc lọc cọc vui tai.
Cô thiếu nữ vàng đọc sách mà chẳng buồn liếc nhìn. Đừng để tâm. Nàng chẳng thèm để tâm trong lúc hắn đọc làu làu một ngụ ngôn xướng âm cho nàng nghe, cộc lốc buông lời:
—Ờ con cáo gặp con cò. Liền bảo con cò rằng: Anh hãy thọc cái mỏ xuống cổ họng tôi rồi kéo một cái xương ra xem nào?
Hắn lẩm bẩm trong vô vọng. Cô Douce quay đi chỗ khác uống trà.
Hắn thở dài sườn sượt:
—Than ôi! Ôi trời ơi!
Hắn chào ông Dedalus và nhận được một cái gật đầu.
—Xin gửi lời chào đến người con trai nổi tiếng của một người cha danh tiếng.
—Hắn là ai thế nhỉ? ông Dedalus hỏi.
Lenehan dang rộng đôi tay đầy vẻ niềm nở. Ai chứ?
—Hắn là ai cơ chứ? hắn hỏi. Sao ông lại hỏi thế? Stephen, nhà hiền triết trẻ tuổi ấy mà.
Cộc lốc.
Ông Dedalus, người cha danh tiếng, đặt chiếc tẩu khô đã nhồi thuốc sang một bên.
—Ra thế, ông nói. Thoạt đầu tôi không nhận ra nó. Tôi nghe nói nó toàn giao du với giới thượng lưu. Dạo này anh có gặp nó không?
Hắn có gặp.
—Chính ngày hôm nay tôi đã cùng nâng chén mật với cậu ta, Lenehan nói. Ở quán Mooney’s en ville và ở Mooney’s sur mer. Cậu ta đã nhận được thù lao cho công sức của ngòi bút rồi.
Hắn mỉm cười với đôi môi ngậm trà của cô sắc đồng, với đôi môi và đôi mắt đang lắng nghe:
—Tinh hoa của xứ Erin đều say sưa bám lấy từng lời cậu ta. Bậc uyên bác trứ danh Hugh MacHugh, nhà biên soạn kiêm biên tập viên lỗi lạc nhất Dublin và chàng thi sĩ miền tây hoang vu ẩm ướt được biết đến với cái tên du dương O’Madden Burke.
Sau một thoáng ngập ngừng, ông Dedalus nâng ly grog lên và
—Chắc là thú vị lắm đây, ông nói. Ra thế.
Ông thế. Ông uống. Với ánh mắt xa xăm nhìn dãy núi tang tóc. Đặt ly xuống.
Ông nhìn về phía cửa phòng khách.
—Tôi thấy các cô đã dịch chuyển cây đàn piano rồi đấy chứ.
—Hôm nay thợ lên dây đàn đã ghé qua, cô Douce đáp, chỉnh đàn cho buổi hòa nhạc hút thuốc và tôi chưa từng nghe thấy ai đàn tinh tế đến thế.
—Thế á?
—Chứ sao nữa, thưa cô Kennedy? Đúng chất cổ điển đấy, anh biết đấy. Mà lại còn mù lòa nữa chứ, tội nghiệp anh chàng. Chắc gì đã tới tuổi hai mươi.
—Thế á? ông Dedalus nói.
Ông uống rồi lững thững bước đi.
—Trông gương mặt ấy đáng thương làm sao, cô Douce xót xa.
Trời tru đất diệt cái đồ đĩ bẹn.
Tiếng chuông gọi món của thực khách kêu lanh lảnh đầy thương cảm. Đến cửa phòng quán rượu và phòng ăn là lão Pat hói, lão Pat lãng tai, lão Pat, người bồi bàn quán Ormond. Bia lager cho thực khách. Cô phục vụ bia lager mà chẳng hề nhanh nhọn.
Với vẻ kiên nhẫn, Lenehan chờ đợi Boylan với sự thiếu kiên nhẫn, chờ đợi gã blazes boy khua lục lạc lọc cọc.
Nâng chiếc nắp lên, hắn (ai cơ?) dòm vào bên trong cỗ quan tài (quan tài ư?) ngắm những sợi dây đàn chéo ba (piano!). Hắn ấn (chính là gã khi nãy đã ân cần nắm tay cô), đạp pedal nhẹ nhàng, bộ ba phím đàn để quan sát lớp nỉ dày dần lên, để nghe tiếng búa gõ đệm nỉ vang lên trong buồng máy.
Hai tờ giấy da bò màu kem, một tờ dự trữ, hai phong bì, hồi tôi còn làm ở chỗ Wisdom Hely, lão Bloom khôn ngoan ở tiệm Daly đã mua hoa Henry. Anh không hạnh phúc ở nhà mình hay sao? Đóa hoa để an ủi tôi và chiếc ghim cắt lo. Có ý nghĩa gì đó, ngôn ngữ của loài hoa. Có phải là hoa cúc trắng không? Sự ngây thơ đấy. Cô gái đặng cầu được gặp sau lễ mi-sa. Cảm ơn anh nhiều lắm nha. Bloom khôn ngoan liếc nhìn tấm áp phích bên cửa, hình nàng tiên cá đung đưa hút thuốc giữa những con sóng đẹp. Hút thuốc hỡi các nàng tiên cá, làn khói mát rượi tuyệt vời nhất. Mái tóc buông xõa: u hoài vì tình. Vì một người đàn ông nào đó. Vì Raoul. Hắn liếc nhìn và thấy ở đằng xa trên cầu Essex một chiếc mũ vui tươi đang chồm trên chiếc xe ngựa dạo. Đúng rồi. Lại thế nữa. Lần thứ ba. Thật trùng hợp.
Lọc cọc trên đôi bánh cao su êm ái, chiếc xe dạo từ cầu tiến về bến Ormond. Bám theo. Liều một phen. Đi nhanh lên. Lúc bốn giờ. Sắp tới rồi. Ra ngoài thôi.
—Hai xu, thưa ngài, cô nhân viên bạo dạn lên tiếng.
—À... tôi quên mất... Xin lỗi...
—Và bốn xu.
Đúng bốn giờ nàng. Đầy duyên dáng, nàng mỉm cười với Bloohimwhom. Bloo mỉm cười quay đi. Buổi chiều. Tưởng mình là hòn cuội duy nhất trên bãi biển chắc? Ai nàng cũng thế cả.
Dành cho đàn ông.
Trong sự thinh lặng mơ màng, cô sắc vàng cúi đầu đọc trang sách.
Từ phòng khách vọng lại tiếng gọi, ngân dài lịm dần. Đó là chiếc âm thoa của người thợ lên dây đàn bỏ quên mà giờ hắn đang gõ vào. Lại một tiếng gọi nữa. Mà giờ hắn đang cầm thăng bằng để nó ngân vang. Bạn nghe thấy chứ? Nó ngân vang, trong trẻo, trong trẻo hơn, nhẹ nhàng và dịu êm hơn, những nhánh kìm rung động. Tiếng gọi lịm dần lâu hơn.
Pat trả tiền cho chai nước ngọt nổ bục nút của thực khách: và trên chiếc ly, khay trà và chai nước ngọt trước khi rời đi, lão hói và lãng tai, thì thầm với cô Douce.
—Những vì sao sáng phai mờ...
Một khúc ca không lời cất lên từ bên trong, ngân nga:
—... bình minh đang hửng sáng.
Mười hai nốt chim ríu rít tấu lên khúc đáp lời ba nốt cao trong trẻo dưới những đôi tay nhạy cảm. Phím đàn rực rỡ, lấp lánh liên hồi, đậm chất harpsichord, cất tiếng gọi một giọng ca cất lên khúc ca ban mai đẫm sương, của tuổi trẻ, của phút giây chia ly tình ái, của cuộc đời, của buổi ban mai tình yêu.
—Những giọt sương mai hóa ngọc...
Đôi môi Lenehan vắt vẻo qua quầy huýt sáo một tiếng dụ dỗ nhỏ.
—Nhưng hãy nhìn về phía này, hắn nói, đóa hồng xứ Castile.
Chiếc xe dạo lướt qua lề đường rồi dừng lại.
Nàng đứng lên và khép lại trang sách, đóa hồng xứ Castile: ưu tư, cô quạnh, đóa hồng mơ màng.
—Nàng ngã hay bị xô đẩy vậy? hắn hỏi nàng.
Nàng đáp với vẻ dửng dưng:
—Đừng hỏi han gì thì sẽ chẳng nghe lời dối trá nào.
Hệt như tiểu thư đài các.
Đôi giày da màu da bò bảnh chọe của Blazes Boylan kêu kèn kẹt trên sàn quán rượu khi hắn sải bước. Phải, sắc vàng ở cự ly gần cạnh sắc đồng từ phương xa. Lenehan nghe thấy, nhận ra và chào hắn:
—Kìa người anh hùng khải hoàn đến rồi.
Giữa chiếc xe và cửa sổ, bước đi thận trọng, Bloom đi tới, người anh hùng chưa từng chiến bại. Hắn có thể thấy mình. Chiếc ghế hắn vừa ngồi: ấm áp. Gã héc-tuyn da đen thận trọng bước về phía chiếc cặp đựng hồ sơ của Richie Goulding, nhấc cao lên, chào hỏi.
—Và tôi từ nàng...
—Tôi nghe nói anh đang lẩn quẩn quanh đây, Blazes Boylan nói.
Hắn chạm vành chiếc mũ cót-ki nghiêng nghiêng của mình vào cô Kennedy xinh đẹp. Cô mỉm cười với hắn. Nhưng cô em sắc đồng còn cười tươi hơn thế, làm duyên với mái tóc đậm màu hơn, bầu ngực và đóa hồng cài áo.
Boylan bảnh chọe gọi đồ uống.
—Món tủ của anh là gì? Ly bia đắng nhé? Cho một ly bia đắng, và một ly gin anh đào cho tôi. Đã có điện tín chưa?
Chưa đâu. Đúng bốn giờ nàng. Ai bảo bốn giờ nhỉ?
Đôi tai đỏ au và cái gò má phúng phính của Cowley xuất hiện ở cửa văn phòng cảnh sát trưởng.
Tránh ra. Goulding là một cơ hội. Lão đang làm gì ở quán Ormond thế nhỉ? Xe đang đợi. Chờ đã.
Xin chào. Đi đâu đấy? Đi ăn gì à? Tôi cũng vừa mới. Ở trong này. Gì cơ, quán Ormond á? Món ngon giá tốt nhất ở Dublin. Thế á? Phòng ăn. Ngồi im ở đấy. Nhìn, mà không để bị nhìn. Tôi nghĩ tôi sẽ nhập hội với các anh. Đi thôi. Richie dẫn đầu. Bloom theo sau chiếc cặp. Bữa tối xứng tầm vương giả.
Cô Douce vươn người thật cao để với lấy bình rượu, duỗi căng cánh tay bọc sa tanh, bộ ngực như muốn bục cả áo, với lên cao quá.
—Ôi! Ôi! Lenehan nấc lên, thở hồng hộc theo từng cái với người. Ôi!
Nhưng nàng dễ dàng chộp lấy món mồi rồi kéo thõng xuống đầy đắc thắng.
—Sao cậu mãi không cao lên thế? Blazes Boylan hỏi.
Cô sắc đồng, tay múc thứ nước sền sệt ngọt lịm từ chiếc bình vát cạnh cho đôi môi hắn, ngắm nhìn dòng chảy (đóa hoa cài áo hắn: ai tặng thế nhỉ?), và cất giọng ngọt ngào si-rô:
—Hàng ngon đóng gói tiểu thư.
Ý nàng là thế. Nàng khéo léo rót thứ rượu gin anh đào sánh đặc.
—Chúc may mắn nhé, Blazes nói.
Hắn ném một đồng tiền lớn xuống. Tiếng xu kêu leng keng.
—Khoan đã, Lenehan nói, để tôi...
—Chúc may mắn, hắn chúc, nâng ly bia sủi bọt.
—Con Sceptre sẽ thắng áp đảo cho mà xem, hắn nói.
—Tôi cũng vừa đánh cược một ít, Boylan nói vừa nháy mắt vừa uống. Không phải tiền của tôi đâu nhé. Tiền của một người bạn tôi thích ý mà.
Lenehan vẫn uống và nhe răng cười nhìn ly bia đang nghiêng của mình cùng đôi môi cô Douce đang suýt ngân nga, không khép lại, khúc ca đại dương mà đôi môi nàng vừa tấu lên. Idolores. Những vùng biển phía đông.
Đồng hồ rè rè quay. Cô Kennedy đi qua chỗ họ (đóa hoa, tự hỏi ai tặng nhỉ), tay cầm khay trà. Đồng hồ gõ nhịp.
Cô Douce cầm lấy đồng tiền của Boylan, dứt khoát đập mạnh vào máy tính tiền. Nó kêu vang kẻng. Đồng hồ gõ nhịp. Giai nhân Ai Cập trêu chọc, phân loại tiền trong ngăn kéo rồi ngân nga và trao tiền thừa. Nhìn về phía tây đi. Một tiếng cắc. Dành cho tôi.
—Mấy giờ rồi nhỉ? Blazes Boylan hỏi. Bốn giờ à?
Đúng bốn giờ.
Lenehan, đôi mắt nhỏ thèm thuồng nhìn tiếng ngân nga và bầu ngực đang ngân nga của nàng, giật giật tay áo Blazes Boylan.
—Nghe giờ giấc cái coi, hắn nói.
Chiếc cặp của Goulding, Collis, Ward dẫn Bloom đi qua những chiếc bàn kết hoa lúa mạch. Hắn vô định chọn đại một bàn gần cửa với dáng vẻ bồn chồn, có lão Pat hói phục vụ. Ngồi gần vào. Lúc bốn giờ. Hắn quên mất rồi à? Hay là trò bịp. Không đến à: để khơi khẩu vị. Mình không làm nổi đâu. Đợi, đợi nào. Pat, bồi bàn, đang chờ.
Cặp mắt xanh biếc sắc đồng lấp lánh nhìn chiếc nơ và đôi mắt xanh ngắt của Blazure.
—Nói tiếp đi, Lenehan giục. Chẳng có ai đâu. Hắn có nghe thấy đâu.
—... liền hướng đến đôi môi Flora.
Cao vút, một nốt cao vút ngân lên trong quãng ba trong trẻo.
Cô Douce sắc đồng tâm sự với đóa hoa đang chìm xuống rồi lại trôi lên của mình, tìm kiếm đóa hoa và ánh mắt của Blazes Boylan.
—Làm ơn, làm ơn đi mà.
Nàng nài nỉ qua những giai điệu thổ lộ đang vang vọng trở lại.
—Ta nào đâu đành lòng rời xa nàng...
—Lát nữa đi, cô Douce e thẹn hứa.
—Không, ngay bây giờ cơ, Lenehan giục giã. Sonnez la cloche! Ôi làm ơn đi! Chẳng có ai đâu.
Nàng liếc nhìn. Nhanh chóng. Cô Kenn đứng ngoài tầm tai nghe. Chợt cúi người. Hai gương mặt đang bừng sáng dõi theo cái cúi người của nàng.
Những hợp âm run rẩy lạc điệu khỏi khúc nhạc, rồi lại tìm thấy, nốt nhạc lạc lõng, lạc rồi lại tìm thấy, ngập ngừng.
—Tiếp đi! Làm đi! Sonnez!
Cúi người, nàng vén hờ một góc váy lên trên đầu gối. Cố tình chậm trễ. Nàng vẫn trêu chọc họ, cúi người, lửng lơ, với đôi mắt đầy ý đồ.
—Sonnez!
Chát. Nàng buông thõng sợi dây nịt co giãn vừa bị kéo căng để nó quật một cái chát đầy ấm áp vào đùi mình, nơi đùi non bọc tất đàn bà kêu bốp một tiếng giòn giã.
—La cloche! Lenehan vui sướng hét lên. Được chủ nhân huấn luyện kỹ lưỡng đây. Chẳng có tí mù cưa nào sất.
Nàng mỉm cười vẻ kiêu kỳ (khóc mất! đàn ông đúng là lũ ngốc?), nhưng khi lướt đi về phía ánh sáng, nàng hiền dịu mỉm cười với Boylan.
—Anh đúng là hiện thân của sự thô tục, vừa lướt đi nàng vừa nói.
Boylan nhìn trân trân, nhìn trân trân. Ngửa cái chén nhỏ lên đôi môi dày, hắn nốc cạn chén rượu nhỏ, mút lấy những giọt si-rô hoa violet béo ngậy cuối cùng. Đôi mắt bị thôi miên của hắn dõi theo, dõi theo cái đầu đang lướt đi của nàng dọc theo quầy bar qua những tấm gương, vòm mạ vàng đựng nước gừng, những chiếc ly uống rượu hock và claret lấp lánh, một chiếc vỏ sò nhọn hoắt, nơi hình ảnh nàng hòa quyện, phản chiếu, sắc đồng bên sắc đồng rực rỡ hơn dưới nắng.
Phải, sắc đồng ở cự ly gần.
—... Người yêu hỡi, giã biệt!
—Tôi chuồn đây, Boylan nói vẻ mất kiên nhẫn.
Hắn lẹ làng trượt chiếc chén đi, vơ lấy tiền thưa.
—Đợi một tí nào, Lenehan nài nỉ, uống ực một hơi. Tôi muốn kể anh nghe chuyện này. Tom Rochford...
—Biết điều thì cút đi cho quỷ tha ma bắt, Blazes Boylan vừa nói vừa đi.
Lenehan nuốt nước bọt để cất bước.
—Cứng họng hay sao thế hả? hắn nói. Đợi đã. Tôi đi cùng.
Hắn bước theo đôi giày đang kêu kèn kẹt vội vã nhưng nhanh nhẹn đứng khựng lại bên ngưỡng cửa, chào hỏi những bóng người, một kẻ to béo đi cùng một người mảnh khảnh.
—Chào anh Dollard nhé?
—Hả? Chào nhé? Chào nhé? Giọng bass mơ hồ của Ben Dollard đáp lời, quay đi một thoáng khỏi nỗi sầu muộn của cha xứ Cowley. Hắn sẽ chẳng gây rắc rối gì cho anh đâu, Bob. Alf Bergan sẽ nói chuyện với gã cao kều đó. Lần này chúng ta sẽ nhét cọng rơm lúa mạch vào tai cái tên Giu-đa I-xca-ri-ốt đó cho bõ tức.
Vừa thở dài ông Dedalus vừa bước qua phòng khách, dùng ngón tay xoa dịu mí mắt.
—Hô hô, có chứ, Ben Dollard vui vẻ ngân nga. Nào Simon. Trổ tài một bài xem nào. Chúng ta vừa nghe tiếng piano đấy.
Lão Pat hói, người bồi bàn lãng tai, đợi gọi đồ uống. Rượu Power cho Richie. Còn Bloom? Để xem nào. Đừng bắt anh ấy đi bộ hai lần. Chứng chai chân của anh ấy. Bốn giờ rồi. Màu đen này ấm thật đấy. Tất nhiên làm căng thẳng thần kinh một chút. Khúc xạ (phải thế không nhỉ?) nhiệt lượng. Để xem nào. Rượu táo. Phải, một chai rượu táo.
—Gì thế? ông Dedalus nói. Tôi chỉ đang đệm đàn chơi thôi mà, anh bạn.
—Đi nào, đi nào, Ben Dollard gọi. Tan biến đi muộn phiền. Nào, Bob.
Lão Dollard lê bước với thân hình phì nhiêu sồ sề, dẫn đầu họ (giữ cái gã có cái: giữ hắn ngay bây giờ) bước vào phòng khách. Lão phịch thân mình Dollard xuống chiếc đôn. Đôi bàn tay bị thống phong của lão phịch xuống những phím đàn. Phịch một cái, rồi khựng lại đột ngột.
Lão Pat hói ở ngưỡng cửa chạm mặt cô nhân viên sắc vàng không tay trà đang quay trở lại. Vẻ lãng tai, lão muốn rượu Power và rượu táo. Sắc đồng bên cửa sổ dõi theo, sắc đồng từ phương xa.
Tiếng lục lạc lọc cọc vang lên.
Bloom nghe thấy tiếng tút tút, một âm thanh nhỏ nhoi. Hắn đi rồi. Bloom khẽ thở dài một tiếng thở nhẹ nhàng trên những đóa hoa màu xanh lam lặng thinh. Lục lạc lọc cọc. Hắn đi rồi. Lục lạc. Lắng nghe.
—Tình yêu và Chiến tranh, Ben, ông Dedalus nói. Cầu Chúa phù hộ những ngày xưa cũ.
Đôi mắt dũng mãnh của cô Douce, chẳng màng ai ngó ngàng, quay đi khỏi ô cửa chớp ngang, bị ánh nắng thiêu đốt. Đi mất rồi. Đầy tư lự (ai mà biết được?), bị thiêu đốt (ánh sáng chói lóa), cô kéo tấm rèm sập xuống bằng sợi dây trượt. Cô kéo xuống vẻ tư lự (sao hắn lại đi nhanh thế lúc tôi?) quanh sắc đồng của mình, trên quầy bar nơi lão hói đứng cạnh cô em sắc vàng, sự tương phản kém duyên, sự tương phản kém duyên không chút duyên dáng, chiều sâu bóng râm xanh đại dương chậm rãi, mát mẻ, mờ ảo, xanh eau de Nil.
—Tội nghiệp lão Goodwin là tay chơi piano tối hôm đó đấy, cha Cowley nhắc họ nhớ lại. Đã có một chút bất đồng ý kiến giữa lão và cây đại dương cầm Collard.
Đã có đấy.
—Một cuộc hội thảo theo cách riêng của lão ta, ông Dedalus nói. Quỷ sứ mới cản được lão. Lão là một gã già cáu kỉnh đang ở giai đoạn say xỉn đầu đời.
—Chúa ơi, anh còn nhớ không? gã Ben Dollard to béo nói, quay người khỏi bàn phím vừa bị đày đọa. Và thề có chúa là tôi chẳng có lấy một bộ đồ cưới nào cả.
Cả ba cùng cười lớn. Lão chẳng có đồ cưới. Cả bộ ba cùng cười. Chẳng có bộ đồ cưới nào.
—Người bạn Bloom của chúng ta tối đó đã xoay xở rất cừ, ông Dedalus nói. Nhận tiện tẩu của tôi đâu rồi nhỉ?
Ông thẫn thờ quay lại quầy bar tìm chiếc tẩu đánh mất nhịp. Lão Pat bồi bàn mang đồ uống của hai thực khách đến cho Richie và Poldy. Và cha Cowley lại cười vang.
—Tôi nghĩ chính tôi đã cứu vãn tình thế đấy, Ben.
—Anh làm được mà, Ben Dollard quả quyết. Tôi vẫn nhớ chiếc quần chật ních đó đấy. Đúng là một ý tưởng thiên tài, Bob.
Cha Cowley đỏ bừng đến tận đôi tai tím ngắt. Lão đã cứu tình thê. Chiếc quần chật. Ý tưởng thiên tài.
—Tôi thừa biết hắn ta đang túng quẫn, lão nói. Vợ hắn phải chơi piano ở quán cà phê vào các ngày thứ Bảy với thù lao bèo bọt và ai là kẻ đã rỉ tai tôi rằng mụ ta đang làm cái nghề kia nhỉ? Anh có nhớ không? Chúng tôi đã phải lùng sục khắp con phố Holles để tìm cho ra cho đến khi gã ở tiệm Keogh cho chúng tôi số nhà. Nhớ chứ?
Ben nhớ lại, gương mặt rộng lớn đầy vẻ ngạc nhiên.
—Có Chúa mới biết, mụ ta có mấy chiếc áo choàng opera sang trọng và đủ thứ đồ trên đó.
Ông Dedalus thẩn thờ quay lại, tay cầm tẩu.
—Phong cách Quảng trường Merrion. Váy dạ hội chứ lị, thề có Chúa, cả váy cung đình nữa. Mụ ta cũng chẳng thèm nhận tiền nong gì sất. Gì cơ? Cả đống mũ mão chóp nhọn, áo khoác ngắn và quần ống phồng của Chúa trời cơ đấy. Gì cơ?
—Ừ, ừ, ông Dedalus gật đầu. Bà Marion Bloom đã vứt bỏ quần áo đủ mọi thể loại.
Chiếc xe dạo lọc cọc dọc theo bến cảng. Blazes nằm dài trên những chiếc lốp căng phồng.
Gan và thịt xông khói. Bánh nướng nhân thịt bò và thận. Đúng thế, ngài. Được rồi, Pat.
Bà Marion. Gặp hắn lượm ống nước. Mùi khét. Của Paul de Kock. Tên hắn hay nhỉ.
—Mụ này tên là gì ấy nhỉ? Một ả đàn bà phúng phính. Marion...
—Tweedy.
—Phải. Ả ta còn sống chứ?
—Và vẫn đang sống nhăn răng.
—Ả ta là con gái của...
—Con gái của trung đoàn.
—Phải, thề có Chúa. Tôi vẫn nhớ lão quản trống già ấy.
Ông Dedalus quẹt diêm, xèo xèo, châm lửa, nhả làn khói thơm phức lớp này qua lớp khác.
—Người Ireland à? Tin tôi đi, tôi chẳng rõ. Có phải thế không, Simon?
Nhả khói từng đợt đặc quánh, một làn khói, nồng đượm, thơm phức, xèo xèo.
—Cơ mút mép là... Gì cơ?... Hơi rỉ sét chút... Ồ, đúng thế... Nàng Molly Ireland của tôi ơi.
Ông phả ra một luồng khói đậm đặc tựa lông vũ cay xè.
—Từ mỏm đá Gibraltar... suốt dọc đường dài.
Họ ủ rũ trong tận cùng bóng râm đại dương, sắc vàng bên vòi bia, sắc đồng cạnh chai rượu mùi maraschino, cả hai đều trầm ngâm. Mina Kennedy, số 4 sân Lismore, Drumcondra cùng Idolores, một nữ hoàng, Dolores, lặng thinh.
Pat phục vụ, mở nắp các món ăn. Leopold cắt từng lát gan. Như đã nói trước đó, anh thưởng thức với vẻ ngon lành những nội tạng bên trong, mề béo ngậy, trứng cá tuyết chiên trong khi Richie Goulding, Collis, Ward ăn bánh nướng nhân thịt và thận, ăn thịt rồi đến thận, từng miếng bánh nướng nhỏ Bloom ăn, họ cùng ăn.
Bloom cùng Goulding, kết hôn trong lặng thinh, cùng thưởng thức. Bữa tối xứng tầm vương giả.
Ngang qua lối đi Bachelor’s, Blazes Boylan rộn rã rồ ga, gã độc thân, dưới ánh nắng giữa cơn oi bức, mông ngựa bóng loáng phi nước đại, với cái quất roi, trên những chiếc lốp căng phồng: nằm dài, ngồi ấm chỗ, nỗi nôn nóng của Boylan, đầy bạo liệt nồng nhiệt. Tù và. Anh có chiếc? Tù và. Anh có chiếc? Ồ ồ tù và.
Vượt lên trên giọng họ, tiếng kèn bassoon của Dollard mở màn cuộc tấn công, vang dội lấn át những hợp âm oanh tạc:
—Khi tình yêu ngập tràn tâm hồn nhiệt huyết của ta...
Tiếng ngân của Ben-tâm-hồn-benjamin vang dội đến những ô kính mái nhà run rẩy vì yêu thương.
—Chiến tranh! Chiến tranh! cha Cowley kêu lên. Anh đúng là một chiến binh.
—Thì tôi là thế mà, chiến binh Ben cười lớn. Tôi đang nghĩ đến chủ nhà của anh đấy. Tình yêu hay tiền tài.
Lão khựng lại. Lão lắc lư bộ râu xồm xoàm, gương mặt to lớn trên thân hình cồng kềnh.
—Trời ạ, với cái giọng tợn thế này thì anh làm vỡ màng nhĩ mụ ta mất thôi, anh bạn, ông Dedalus nói qua làn khói thơm.
Trong tiếng cười râu ria ngập tràn, Dollard rung chuyển trên bàn phím. Lão thừa sức làm thế.
—Chưa kể đến một chiếc màng nào khác nữa chứ lị, cha Cowley bổ sung. Đánh nhịp đôi đi, Ben. Amoroso ma non troppo. Cho tôi tham gia với nào.
Cô Kennedy phục vụ hai vị khách nam những vại bia đen mát lạnh. Cô ném ra một nhận xét. Quả thực, vị khách đầu tiên nói, thời tiết rất đẹp. Họ uống bia đen mát lạnh. Cô có biết phó vương sẽ đi đâu không? Và nghe tiếng móng thép vang lên lanh lảnh. Không, cô không rõ. Nhưng việc đó sẽ có trên báo. Ôi, cô ấy không phải bận tâm đâu. Không phiền gì cả. Cô phất phất tờ báo Independent mở rộng của mình, tìm kiếm, ngài phó vương, mái tóc chải búi chuyển động chậm chạp, ngài phó vươn. Phiền phức quá, vị khách đầu tiên nói. Ôi, có gì đâu nào. Cách ngài ấy nhìn kìa. Ngài phó vương. Sắc vàng bên sắc đồng nghe tiếng sắt thép.
—............ tâm hồn nhiệt huyết của ta
Ta nào quan tâm đến ngày mai.
Trong nước sốt thịt gan, Bloom dầm nát khoai tây. Tình yêu và Chiến tranh có ai đó đang hát. Bài ca trứ danh của Ben Dollard. Đêm lão chạy hộc tốc đến chỗ chúng tôi để mượn bộ đồ Âu phục cho buổi hòa nhạc đó. Chiếc quần chật căng như mặt trống. Lũ heo biết hát. Molly cười ngất khi lão bước ra. Ngả người ngửa cổ ra sau giường, la hét, giãy đụa. Trưng bày toàn bộ đồ đạc của lão ra ngoài. Ôi các thánh trên trời, tôi ướt sũng cả người rồi! Ôi, đám phụ nữ hàng ghế đầu! Ôi, chưa bao giờ tôi cười nhiều đến thế! Về cơ bản thì đó là thứ tạo nên giọng nam trung trầm của lão. Chẳng hạn như thái giám. Tự hỏi ai đang đàn ấy nhỉ. Phím đàn mượt mà. Chắc là Cowley rồi. Có khiếu âm nhạc. Đánh nốt nào trúng nốt đó. Hơi thở có mùi hôi, tội nghiệp lão. Ngừng lại.
Cô Douce, đầy quyến rũ, Lydia Douce, cúi đầu chào viên luật sư lịch thiệp, George Lidwell, người đàn ông lịch lãm đang bước vào. Chào buổi chiều. Cô trao bàn tay ẩm ướt (bàn tay tiểu thư) vào cái bắt tay chắc nịch của hắn. Buổi chiều. Phải, cô đã trở lại. Lại quay về cái điệp khúc cũ kỹ nhàm chán.
—Bạn bè của anh đang ở trong đấy, anh Lidwell.
George Lidwell, đầy lịch thiệp, ân cần nắm lấy bàn tay lydia.
Bloom ăn gan như đã nói ở trên. Ít ra ở đây còn sạch sẽ. Gã ở quán Burton thì nhớp nhúa toàn sụn. Chẳng có ai ở đây cả: chỉ có tôi và Goulding. Bàn ăn sạch sẽ, hoa tươi, khăn ăn xếp hình chóp. Pat đi tới đi lui. Lão Pat hói. Chẳng có việc gì làm. Món ngon giá tốt nhất Dublin.
Lại tiếng đàn piano. Chắc chắn là Cowley rồi. Cách lão ngồi vào đàn, hệt như một thể thống nhất, sự thấu hiểu lẫn nhau. Mấy gã tẻ nhạt cạo đàn vĩ cầm, mắt dán vào đầu vĩ, cưa cây cello, làm bạn liên tưởng đến cơn đau nhức răng. Tiếng ngáy dài và cao của nàng. Đêm chúng ta ở trong lô ghế. Kèn trombone thổi phì phò dưới đó như cá voi sát thủ, giữa các màn diễn, gã đánh kèn đồng khác đang tháo ốc, đổ nước bọt. Cả đôi chân của người nhạc trưởng, chiếc quần thụng, nhún nhảy nhún nhảy. Ẩn chúng đi là đúng lắm.
Nhảy nhổm lọc cọc rộn rã.
Chỉ có tiếng đàn hạc. Đáng yêu làm sao. Ánh sáng vàng rực rỡ. Thiếu nữ chạm vào nó. Đuôi thuyền của một mỹ nhân. Nước sốt khá ngon xứng tầm với. Con tàu vàng. Erin. Tiếng đàn hạc thuở nào. Đôi bàn tay mát lạnh. Đồi Howth, những khóm đỗ quyên. Chúng ta là những cây đàn hạc của chúng đấy. Tôi. Hắn. Già. Trẻ.
—À, tôi chịu thôi, anh bạn, ông Dedalus nói, đầy ngượng ngùng, rụt rè.
Dứt khoát.
—Làm đi, mặc kệ anh chứ! Ben Dollard gầm gừ. Hát toẹt ra từng đoạn xem nào.
—M’appari, Simon, cha Cowley nói.
Lão sải bước ra sân khấu vài nhịp, trang nghiêm, cao lớn trong nỗi u sầu, đôi tay dài buông thõng. Yết hầu lão khàn đục cất tiếng khàn khàn dịu êm. Lão khẽ hát hướng về bức tranh phong cảnh biển phủ đầy bụi bặm ở đó: Lời Từ Biệt Cuối Cùng. Một mũi đất, một con tàu, cánh buồm lướt trên sóng cả. Tạm biệt. Một thiếu nữ xinh đẹp, chiếc khăn voan lướt bay trong gió trên mỏm đất, gió vờn quanh nàng.
Cowley cất giọng hát:
—M’appari tutt’amor:
Il mio sguardo l’incontr...
Nàng vẫy gọi, chẳng nghe thấy tiếng Cowley, tấm khăn voan của nàng, hướng về một người sắp ra đi, người thương, hướng về ngọn gió, tình yêu, cánh buồm đang lướt nhanh, hãy trở về.
—Hát tiếp đi, Simon.
—À, chà, những ngày khiêu vũ của tôi tàn rồi, Ben... Thôi được...
Ông Dedalus đặt tẩu xuống bên cạnh chiếc âm thoa và, khi đang ngồi, chạm vào những phím đàn ngoan ngoãn.
—Không, Simon, cha Cowley quay lại. Chơi đúng bản gốc đi. Một dấu giáng.
Những phím đàn, ngoan ngoãn, vang cao hơn, kể lể, ngập ngừng, thổ lộ, bối rối.
Cha Cowley sải bước ra phía trước sân khấu.
—Nào Simon, tôi sẽ đệm đàn cho anh, hắn nói. Đứng dậy đi.
Đi qua kẹo đá dứa của Graham Lemon, qua chú voi của Elvery, xe lộc cọc xóc nảy.
Thịt bò, thận, gan, khoai tây nghiền, bên bàn ăn xứng tầm vương giả, hai vị vương giả Bloom và Goulding đang ngồi. Những vị vương gia đang dùng bữa nâng ly uống mừng, rượu Power và rượu táo.
Khúc aria nam cao hay nhất từng được viết, Richie nói: vở Sonnambula. Hắn từng nghe Joe Maas hát bài đó một đêm nọ. Chà, M’Guckin hát mới tuyệt làm sao! Phải. Theo cách riêng của anh ta. Phong cách ca sĩ nhà thờ. Maas mới là đỉnh cao. Chàng trai hát thánh ca. Một nam cao trữ tình chính hiệu nếu bạn thích thế. Sẽ không bao giờ quên được. Không bao giờ.
Với vẻ dịu dàng, Bloom nhìn qua đĩa thịt xông khói không có gan, ngắm nhìn những nét mặt đang căng cứng vì gắng sức. Lão bị đau lưng. Ánh mắt sáng ngời của Bright. Mục tiếp theo trong chương trình. Trả tiền cho người thổi sáo. Thuốc viên, bánh mì tán nhuyễn, đáng giá một gô-ni một hộp. Cầm cự được lúc nào hay lúc ấy. Lão cũng hát: Down among the dead men (Xuống dưới cõi người chết). Thật phù hợp. Bánh nướng nhân thận. Đồ ngọt dành cho. Chẳng làm nên cơm cháo gì. Món ngon nhất ở. Đúng chất của lão. Rượu Power. Kén chọn đồ uống. Có vết nứt trên ly, nước Vartry tươi. Đi ăn cắp diêm từ quầy để tiết kiệm. Thế rồi ném cả một đồng souverain qua cửa sổ cho những khoản vặt vãnh. Và khi người ta cần thì chẳng có lấy một xu dính túi. Xỉn khướt từ chối trả tiền vé xe. Những kiểu người kỳ lạ.
Richie sẽ không bao giờ quên đêm đó. Chừng nào còn sống: không bao giờ. Trên tầng cao của nhà hát Royal cũ cùng bé Peake. Và khi nốt nhạc đầu tiên cất lên.
Lời nói nghẹn lại trên môi Richie.
Lại sắp tuôn ra một cú lừa to tát đây. Rhapsody về cái quái gì không biết. Lão tin vào những lời dối trá của chính mình. Thật đấy chứ. Đúng là một kẻ nói dối cừ khôi. Nhưng đòi hỏi trí nhớ phải tốt cơ.
—Đó là bài hát nào thế? Leopold Bloom hỏi.
—Giờ thì mất sạch rồi.
Richie chúm môi lại. Một nốt nhạc khởi đầu trầm ấm ngọt ngào tựa tiếng oan hồn rên rỉ: mất sạch. Một con chim hoét. Một con chim hét. Hơi thở của hắn thơm mùi chim chóc, hàm răng đẹp mà hắn rất đỗi tự hào, trổi khúc sáo với nỗi sầu muộn ai oán. Đã mất rồi. Âm thanh vang vọng. Hai nốt hòa quyện làm một ở đó. Chim sẻ đen tôi nghe thấy trong thung lũng táo gai. Cầm lấy giai điệu của tôi, hắn xoắn xuýt và biến tấu chúng. Mọi thứ dường như quá mới mẻ đến mức tiếng gọi tan biến trong hư không. Tiếng vọng. Âm vang ngọt ngào làm sao. Điều đó được thực hiện thế nào nhỉ? Giờ thì mất sạch rồi. Lão huýt sáo đầy tang tóc. Sụp đổ, đầu hàng, mất sạch.
Bloom cúi đôi tai leopol, lật mép khăn ăn bên dưới bình hoa xuống. Trật tự. Phải, mình nhớ rồi. Giai điệu tuyệt vời. Nàng bước đến bên hắn trong giấc mơ. Sự ngây thơ dưới ánh trăng. Dũng cảm. Nào biết được sự hiểm nguy. Vẫn kìm nén nàng lại. Gọi tên. Chạm vào nước. Lục lạc rộn rã. Quá muộn rồi. Nàng khát khao được đi. Đó là lý do vì sao. Phụ nữ. Dễ gì ngăn được sóng biển. Phải: mọi thứ mất sạch rồi.
—Một giai điệu tuyệt đẹp, Bloom — kẻ lạc lõng Leopold nói. Tôi biết rất rõ.
Chưa bao giờ trong đời Richie Goulding lại.
Hắn cũng biết rõ ấy chứ. Hoặc lão cảm nhận được thế. Lại cứ lải nhải về con gái mình. Đứa con khôn ngoan biết rõ bố mình, Dedalus nói.
Tôi á?
Bloom liếc ngang qua đĩa thịt không gan. Gương mặt của kẻ mất sạch. Richie ham chơi thuở nào. Những lời nói đùa giờ đã cũ rích. Lắc lư đôi tai. Chiếc vòng khăn ăn kẹp ở mắt. Giờ thì sai con trai đi gửi những lá thư xin tiền. Thưa ngài Walter lé mắt vâng tôi có thưa. Sẽ chẳng phiền đâu chỉ vì tôi đang chờ ít tiền. Lời xin lỗi.
Lại tiếng piano. Nghe hay hơn lần trước mình nghe thấy. Chắc là được lên dây rồi. Lại ngưng.
Dollard và Cowley vẫn đang giục giã vị ca sĩ hãy cất tiếng hát.
—Hát đi, Simon.
—Đi nào, Simon.
—Thưa toàn thể quý vị, tôi vô cùng biết ơn những lời mời gọi ân cần của quý vị.
—Hát đi, Simon.
—Tôi chẳng có tiền nong gì đâu nhưng nếu quý vị chịu khó lắng nghe, tôi sẽ cố gắng hát cho quý vị nghe về một trái tim trĩu nặng.
Bên chiếc chuông để sandwich trong bóng râm che khuất, Lydia, với sắc đồng và đóa hoa hồng, vẻ duyên dáng của một quý cô, vừa trao vừa giữ lại: hệt như Mina trong làn nước màu xanh lục nhạt mát rượi hướng về hai vại bia cùng mái tóc búi ánh vàng của nàng.
Những hợp âm dạo đầu khép lại. Một hợp âm, ngân dài, đầy mong đợi, kéo bổng một giọng ca.
—Khi lần đầu ta thấy bóng hình thân thương ấy...
Richie quay đầu lại.
—Giọng của Si Dedalus kìa, hắn nói.
Đầu óc bừng tỉnh, má ửng đỏ, họ lắng nghe cảm giác dòng chảy thân thương ấy mơn man trên da thịt, chân tay, trái tim con người, tâm hồn, sống lưng. Bloom ra hiệu cho Pat, lão Pat bồi bàn lãng tai, hé mở cửa phòng quán rượu. Cửa phòng quán rượu. Thế đấy. Thế là được rồi. Pat, bồi bàn, đứng đợi, chờ để lắng nghe, vì lão hơi lãng tai đứng cạnh cánh cửa.
—Nỗi sầu muộn dường như rời bỏ tôi.
Xuyên qua bầu không gian tĩnh mịch, một giọng ca cất lên với họ, trầm đục, chẳng phải tiếng mưa, chẳng phải tiếng lá xào xạc, chẳng giống bất kỳ âm thanh dây đàn hay ống sáo hay nhạc cụ đần độn nào chạm vào đôi tai tĩnh lặng của họ bằng những lời ca, chạm vào trái tim tĩnh lặng của từng ký ức đời người. Thật tuyệt, thật tuyệt khi lắng nghe: nỗi sầu muộn trong mỗi họ dường như đều rời bỏ cả đôi bên khi lần đầu họ lắng nghe. Khi lần đầu họ nhìn thấy, Richie Poldy đang u uất, ân huệ của cái đẹp, nghe được từ một người chẳng mảy may trông đợi, từ tiếng yêu đầu tiên dịu dàng đầy ân huệ và thường hằng.
Tình yêu đang cất tiếng hát: khúc ca ngọt ngào thuở nào của tình yêu. Bloom từ từ tháo dải băng chun bọc gói quà của mình. Khúc ca ngọt ngào thuở nào của tình-sonnez la-tình yêu. Bloom quấn một vòng sợi chỉ quanh bốn ngón tay, kéo căng, thả lỏng, rồi quấn nó quanh ngón tay gấp khúc bận rộn của mình, quấn thành bốn vòng, theo quãng tám, trói chặt chúng lại.
—Tràn ngập hy vọng và muôn vàn hoan hỉ...
Bọn nam cao vớ được phụ nữ là cả đàn. Làm tăng thêm dòng chảy của chúng. Ném hoa vào chân hắn. Khi nào chúng ta gặp nhau? Đầu óc tôi đơn giản là. Ngập tràn hoan hỉ. Hắn chẳng thể hát nổi với mấy chiếc mũ chóp cao. Đầu óc bạn đơn giản là xoay mòng mòng. Xức nước hoa vì hắn. Vợ anh dùng nước hoa gì thế? Tôi muốn biết. Tít. Dừng lại. Gõ cửa. Cái liếc gương cuối cùng trước khi nàng ra mở cửa. Tiền sảnh. Ở đó á? Anh khỏe chứ? Tôi khỏe. Ở đó á? Gì cơ? Hay là? Lọ kẹo ngậm thơm miệng, kẹo hôn hít, trong túi xách của nàng. Phải không? Đôi tay dò dẫm tìm kiếm sự ê chề trù phú.
Than ôi, giọng ca vút cao, thở dài, biến đổi: vang dội, tròn trịa, rực rỡ, kiêu hãnh.
—Nhưng than ôi, đó chỉ là giấc mộng hão huyền...
Hắn vẫn sở hữu chất giọng lừng lẫy thật đấy. Giọng xứ Cork cũng dịu dàng hơn trong thổ âm của họ. Tên ngốc! Đã có thể kiếm được khối tiền. Hát sai lời. Vắt kiệt sức vợ: giờ thì cất tiếng hát. Nhưng khó mà nói trước được. Chỉ có hai người họ với nhau thôi. Nếu hắn không ngã quỵ. Phải kìm hãm con ngựa lại trên đại lộ. Cả đôi tay và đôi chân hắn cũng đang cất tiếng hát. Rượu chè. Thần kinh căng như dây đàn. Muốn hát thì phải tiết chế. Súp Jenny Lind: nước dùng, xô thơm, trứng sống, nửa pint kem. Để tạo nên sự béo ngậy mơ màng.
Sự dịu dàng trào dâng: chậm rãi, dâng trào, căng tràn nhịp đập. Phải thế chứ. Hà, trao đi! Nhận lấy! Nhịp đập, một nhịp đập, một sự rung động kiêu hãnh sừng sững.
Lời ca ư? Âm nhạc ư? Không: đó là những gì ẩn giấu bên trong.
Bloom uốn lượn, tháo rời, thắt nút, cởi nút.
Bloom. Dòng chảy ấm áp mứt-mứt liếm-sạch sự kín đáo tuôn trào thành dòng âm nhạc tuôn ra, trong khao khát, tăm tối liếm dòng chảy xâm chiếm. Chạm nhẹ nàng, đá nhẹ nàng, gõ nhẹ nàng, tát nhẹ nàng. Tup. Lỗ chân lông giãn nở giãn nở. Tup. Niềm vui cảm giác sự ấm áp. Tup. Rót qua những ô cửa xả nước tuôn trào những dòng lũ. Lũ lụt, tuôn trào, dòng chảy, niềm vui tuôn trào, nhịp đập tup. Giờ đây! Ngôn ngữ của tình yêu.
—... tia hy vọng đang...
Rực rỡ. Lydia vì Lidwell thốt lên tiếng kêu chít chít nhỏ đến mức chẳng thể nghe thấy vì nàng quá đài các nên nàng muse đã thốt ra một tia hopk.
Đích thị là Martha rồi. Trùng hợp thật. Đang định viết thư. Bài hát của Lionel. Cái tên hay làm sao. Không viết nổi. Xin nhận món quà nhỏ của tôi. Chạm đến những sợi dây đàn lòng nàng lẫn sợi dây hầu bao nữa chứ. Nàng là một. Tôi gọi em là cậu bé hư. Vẫn cái tên ấy: Martha. Lạ lùng thật! Ngay ngày hôm nay.
Giọng ca của Lionel cất lên trở lại, yếu ớt hơn nhưng không mỏi mệt. Nó lại cất lên cho Richie Poldy Lydia Lidwell đồng thời hát cho Pat đang há hốc miệng lắng nghe chờ đợi. Cách hắn lần đầu nhìn thấy bóng hình thân thương ấy, cách nỗi sầu muộn dường như tan biến, cách ánh nhìn, hình dáng, lời ca mê hoặc Gould Lidwell, chinh phục trái tim Pat Bloom.
Ước gì mình được nhìn thấy khuôn mặt hắn nhỉ. Giải thích rõ hơn. Sao người thợ cạo ở tiệm Drago’s lúc nào cũng nhìn vào mặt tôi khi tôi nói chuyện với khuôn mặt hắn trong gương. Dù ở đây xa hơn nhưng nghe rõ hơn ở quán bar.
—Từng ánh nhìn duyên dáng...
Đêm đầu tiên khi tôi nhìn thấy nàng ở nhà Mat Dillon ở Terenure. Váy ren vàng, đen nàng mặc. Trò chơi giành ghế âm nhạc. Hai chúng ta là những kẻ cuối cùng. Định mệnh. Bám theo nàng. Định mệnh. Vòng tròn chậm rãi. Vòng tròn nhanh. Hai chúng ta. Mọi người đều nhìn. Dừng lại. Nàng ngồi phịch xuống. Mọi người bị loại đều nhìn. Đôi môi mỉm cười. Đầu gối vàng.
—Mê hoặc ánh mắt tôi...
Hát. Nàng vừa hát vừa chờ đợi. Tôi lật trang nhạc cho nàng. Giọng ca ngập tràn hương thơm của thứ nước hoa gì mà những cây tử đinh hương của em. Bầu ngực tôi thấy, cả hai đều đặn, chiếc cổ đang hót vang. Lần đầu tôi thấy. Nàng cảm ơn tôi. Sao nàng lại cảm ơn tôi nhỉ? Định mệnh. Đôi mắt đậm chất Tây Ban Nha. Dưới tán cây lê một mình ở hiên nhà giờ phút này tại Madrid cổ kính một bên chìm trong bóng râm Dolores shedolores. Nhìn tôi. Đầy quyến rũ. À, đầy quyến rũ.
—Martha! Ôi, Martha!
Buông bỏ mọi nét u sầu, Lionel cất tiếng kêu trong nỗi đau đớn, trong tiếng thét của niềm đam mê chế ngự tình yêu để quay trở lại cùng những hợp âm hòa âm ngày càng sâu sắc và dâng trào. Trong tiếng kêu của sự cô đơn mang tên lionel để nàng được biết, để martha phải cảm nhận. Bởi vì chỉ có nàng là người hắn đợi chờ. Ở đâu? Ở đây ở kia thử ở đây ở đâu cũng thử. Nơi nào đó.
—Lại đây, hỡi người lạc lối!
Lại đây, hỡi người thân yêu!
Cô độc. Một tình yêu. Một niềm hy vọng. Một niềm an ủi ta. Martha, giọng ngực, hãy trở về!
—Lại đây!
Nó vút bay, một cánh chim, nó giữ vững sải cánh, một tiếng kêu trong trẻo tột cùng, vút cao quả cầu bạc nó nhảy vọt thanh thản, vút nhanh, duy trì bền bỉ, để đến, đừng kéo dài quá lâu hơi thở dài hơi thở trường thọ, vút bay cao, cao chói lọi, rực lửa, vương miện, vút cao giữa hào quang biểu tượng, vút cao, của bầu ngực thanh tao, vút cao, giữa sự lan tỏa mênh mông cao cả khắp mọi nơi mọi chốn bay vút xung quanh tất cả, sự vô tận vô cùng...
—Đến với tôi!
Siopold!
Tan biến.
Đến. Hát hay lắm. Mọi người cùng vỗ tay. Nàng nên thế. Đến. Đến với tôi, đến với hắn, đến với nàng, cả anh nữa, tôi, chúng ta.
—Bravo! Bộp bộp. Giỏi lắm, Simon. Bốp bộp bộp. Encore! Bốp bọp bộp bộp. Tiếng vang như chuông. Bravo, Simon! Bộp bộp bộp. Encore, enclap, nói, kêu, tất cả cùng vỗ tay, Ben Dollard, Lydia Douce, George Lidwell, Pat, Mina Kennedy, hai vị khách với hai vại bia, Cowley, vị khách đầu tiên với vại bia và cô Douce sắc đồng cùng cô Mina sắc vàng.
Đôi giày da bảnh chọe của Blazes Boylan kêu kèn kẹt trên sàn quán rượu, như đã nói từ trước. Lục lạc đi ngang qua tượng đài ngài John Gray, Horatio Nelson một tay, cha cố Theobald Mathew, xe dạo, như đã nói lúc nãy. Phi nước đại, trong cái nóng, ngồi đục ngầu cái nóng. Tiếng chuông. Sonnez la. Chuông. Sonnez la. Con ngựa bước chậm dần lên dốc qua quảng trường Rotunda, Rutland. Quá chậm đối với Boylan, Blazes Boylan, sự nôn nóng của Boylan, xốc nảy con ngựa.
Dư âm những hợp âm của Cowley khép lại, lịm dần trong không gian thêm phần phong phú.
Và Richie Goulding uống rượu Power của hắn còn Leopold Bloom uống rượu táo, Lidwell uống Guinness, vị khách thứ hai bảo họ sẽ thưởng thức thêm hai vại bia nữa nếu cô không phiền. Cô Kennedy mỉm cười, phục vụ không mấy nhiệt tình, đôi môi san hô, hướng về vị khách thứ nhất, rồi vị thứ hai. Cô không phiền.
—Bảy ngày trong tù, Ben Dollard nói, ăn bánh mì với nước lã. Khi ấy anh sẽ hát, Simon, hệt như chim hoét trong vườn.
Lionel Simon, ca sĩ, cười lớn. Cha Bob Cowley đệm đàn. Mina Kennedy phục vụ. Vị khách thứ hai trả tiền. Tom Kernan bước vào với dáng điệu kiêu kỳ. Lydia, được ngưỡng mộ, được ngưỡng mộ. Nhưng Bloom cất tiếng hát câm lặng.
Ngưỡng mộ.
Richie, đầy ngưỡng mộ, bàn luận về giọng ca tuyệt trần của người đàn ông đó. Hắn nhớ lại một đêm cách đây rất lâu. Không bao giờ quên đêm đó. Si hát bài Sức mạnh và danh tiếng: ở nhà Ned Lambert. Chúa ơi chưa bao giờ trong đời lão nghe thấy một nốt nhạc nào như thế chưa bao giờ nghe thấy thế hỡi kẻ phản bội chi bằng chúng ta chia tay đi trong trẻo làm sao Chúa ơi chưa bao giờ nghe thấy kể từ khi tình yêu không còn tồn tại một giọng ca lanh lảnh không còn tồn tại hãy hỏi Lambert hắn cũng có thể kể cho anh nghe đấy.
Goulding, gương mặt tái nhợt đang cố nén sự hầm hậm, kể với ông Bloom, gương mặt của màn đêm, rằng Si ở nhà Ned Lambert, nhà của Dedalus, đã hát bài Sức mạnh và danh tiếng.
Hắn, ông Bloom, lắng nghe trong lúc hắn, Richie Goulding, kể cho hắn, ông Bloom, nghe về đêm mà hắn, Richie, nghe thấy hắn, Si Dedalus, hát bài Sức mạnh và danh tiếng ở nhà hắn, Ned Lambert.
Anh em cột chèo: họ hàng. Chúng ta chẳng bao giờ nói chuyện khi đi ngang qua nhau. Có vết rạn nứt trong chiếc đàn luýt thì phải. Đối xử với hắn bằng sự khinh miệt. Thấy chưa. Hắn lại càng ngưỡng mộ lão hơn. Đêm Si hát. Giọng nói con người, hai sợi dây tơ nhỏ xíu, tuyệt diệu, vượt trên tất cả những thứ khác.
Giọng ca ấy là một khúc ca ai oán. Giờ đã bình tĩnh hơn. Bạn sẽ cảm nhận được tiếng vọng trong sự tĩnh lặng sau đó. Sự rung động. Giờ là bầu không khí lặng thinh.
Bloom tháo gỡ đôi bàn tay đan chéo của mình và dùng những ngón tay mềm nhũn gảy nhẹ sợi ruột mèo mảnh mai. Anh kéo và gảy. Nó vo ve, nó kêu tưng tưng. Trong lúc Goulding bàn về kỹ thuật phát âm của Barraclough, trong lúc Tom Kernan, hoài niệm về một kiểu sắp xếp mang tính hồi tưởng đang nói chuyện với cha Cowley đang lắng nghe, người vừa chơi một khúc nhạc tùy hứng vừa gật đầu theo nhịp đàn. Trong lúc đại gia Ben Dollard đang nói chuyện với Simon Dedalus đang châm thuốc, người vừa gật đầu theo điếu thuốc đang hút vừa nhả khói.
Hỡi người lạc lối. Toàn những bài hát chung chủ đề đó. Bloom càng kéo căng sợi dây của mình hơn nữa. Tươi cười nhỉ. Để mọi người quấn quýt lấy nhau: mồi chử họ. Rồi xé toạc ra. Cái chết. Nổ tung. Gõ vào đầu. Cút xéo khỏi cái xứ đó đi. Đời người. Dignam. Ứa gan, cái đuôi con chuột kia đang ngọ nguậy! Năm xu tôi đã cho. Xác phím thiên đàng. Tiếng chim éc kêu éc éc: bụng phình to như con chó con bị trúng độc. Đi đời nhà ma. Họ cất tiếng hát. Bị lãng quên. Cả tôi nữa. Và một ngày nào đó mụ ta cùng với. Bỏ mặc mụ ta: chán ngấy. Rồi đau khổ. Sụt sùi. Cặp mắt to tròn đậm chất Tây Ban Nha nhìn trân trân vào hư vô. Mái tóc lượn sóng dày nặng xù xì không chải:’d.
Tuy nhiên vui quá hóa chán. Hắn càng kéo căng hơn, căng hơn nữa. Anh không hạnh phúc trong tổ ấm của mình sao? Tưng tưng. Nó đứt phựt.
Lục lạc rộn rã trên phố Dorset.
Cô Douce rút cánh tay bọc sa tanh lại, đầy vẻ trách móc nhưng cũng rất đỗi hài lòng.
—Đừng có sàm sỡ quá mức thế chứ, cô nói, cho đến khi chúng ta quen nhau hơn đã.
George Lidwell nói với cô bằng cả tấm chân tình: nhưng cô không tin.
Vị khách đầu tiên nói với Mina rằng đúng là như thế. Cô hỏi hắn có phải thế thật không. Và vại bia thứ hai cũng khẳng định với cô điều đó. Rằng chuyện đó là thật.
Cô Douce, cô Lydia, không tin: cô Kennedy, Mina, không tin: George Lidwell, không: cô Dou không: vị khách thứ nhất, vị khách thứ nhất: gã khách cầm vại bia: tin chứ, không, không: không tin đâu, cô Kenn: Lidlydiawell: vại bia.
Tốt hơn nên viết ra đây. Những cây bút lông ngỗng ở bưu điện bị nhai và vặn xoắn.
Lão Pat hói nhận tín hiệu liền tiến lại gần. Một cây bút và mực. Lão đi. Một tập giấy thấm. Lão đi. Một tập giấy thấm mực. Lão đã nghe, lão Pat lãng tai.
—Phải, ông Bloom nói, vừa đùa nghịch với sợi dây đàn mèo đang cuộn tròn. Quả thực là thế. Chỉ cần dăm dòng là đủ. Món quà của tôi. Tất cả mảng âm nhạc hoa mỹ Ý đó đều thế. Ai là người viết nhỉ? Biết cái tên đó còn rõ hơn ấy chứ. Lấy tờ giấy viết thư, phong bì ra: đầy vẻ dửng dưng. Nó mới đặc trưng làm sao.
—Đoạn nhạc hay nhất trong cả vở opera, Goulding nói.
—Đúng thế, Bloom nói.
Toàn những con số cả. Suy cho cùng thì tất cả âm nhạc đều là toán học. Hai nhân hai chia cho một nửa bằng hai lần một. Sự rung động: đó chính là những hợp âm. Một cộng hai cộng six bằng seven. Muốn làm gì với những con số tung hứng cũng được cái này bằng cái kia. Sự đối xứng dưới bức tường nghĩa trang. Hắn chẳng thấy sự tang tóc của tôi. Nhẫn tâm: tất cả chỉ vì cái dạ dày của lão. Toán học âm nhạc. Và bạn cứ nghĩ mình đang lắng nghe những âm thanh thanh tao. Nhưng giả sử bạn nói thế này: Martha, bảy nhân chín trừ x là ba mươi lăm nghìn. Nghe tẻ ngắt ngay. Ấy là nhờ vào âm thanh đấy chứ.
Chẳng hạn như bản nhạc hắn đang chơi lúc này. Tấu ngẫu hứng. Muốn ra sao thì ra, cho đến khi bạn nghe thấy lời ca. Phải lắng nghe thật chăm chú. Khó đấy. Bắt đầu thì xuôi tai: rồi nghe mấy hợp âm có vẻ lạc điệu: thấy hơi lạc lõng một chút. Ra vào bao tải, nhảy qua thùng phở, chui qua hàng rào kẽm gai, cuộc đua vượt chướng ngại vật. Thời gian tạo nên giai điệu. Tùy thuộc vào tâm trạng lúc đó của bạn. Dù sao thì nghe vẫn thấy hay. Trừ mấy bài luyện ngón lên xuống, mấy đứa con gái đang học đàn. Hai đứa tập chung một nhà hàng xóm bên cạnh. Lẽ ra phải phát minh ra đàn piano giả cho mấy vụ đó mới phải. Bản Blumenlied tôi mua cho nàng. Cái tên. Chơi chậm rãi, một cô bé, đêm tôi về nhà, cô bé đó. Cửa chuồng ngựa gần phố Cecilia. Milly chẳng có chút khiếu thẩm mỹ nào. Thật kỳ lạ vì cả hai chúng tôi, ý tôi là.
Lão Pat lãng tai mang đến tập giấy thấm mực phẳng lì. Pat đặt tập giấy phẳng lì cùng mực và bút. Pat cầm đĩa, bát, dao, nĩa. Pat đi.
—Đó là ngôn ngữ duy nhất, ông Dedalus nói với Ben. Hồi còn là một cậu bé ở Ringabella, Crosshaven, Ringabella, nó từng nghe họ hát những khúc barcarole. Cảng Queenstown đầy những con tàu Ý. Đi dạo đấy anh bạn Ben ạ, dưới ánh trăng với những chiếc mũ động đất đó. Hòa quyện giọng ca vào nhau. Chúa ơi, thứ âm nhạc gì đâu, Ben. Nghe từ hồi còn niên thiếu. Bản ca khúc ánh trăng bên vịnh Cross Ringabella.
Chiếc tẩu hôi hám được cất đi, hắn dùng bàn tay che chắn đôi môi đang cất lên tiếng gọi lúc đêm trăng, trong trẻo từ cự ly gần, tiếng gọi từ phương xa, đáp lời.
Dọc theo lề tờ báo Freeman của mình, Bloom — con mắt kia của cậu — đang rảo mắt tìm kiếm xem mình thấy cái này ở đâu nhỉ. Callan, Coleman, Dignam Patrick. Hây hố! Hây hố! Fawcett. À há! Đúng lúc mình đang tìm...
Mong là hắn không nhìn thấy, ranh mãnh như chuột nhắt. Hắn căng tờ Freeman ra. Giờ thì không thấy gì nữa. Nhớ viết chữ e kiểu Hy Lạp. Bloom nhúng bút, Bloo lẩm bẩm: thân gửi. Henry viết thư: thân gửi Mady. Đã nhận được thư và hoa của em. Quái quỷ mình nhét nó vào đâu rồi nhỉ? Đâu đó trong túi áo. Hoàn toàn bất khả thi. Gạch chân chữ bất khả thi. Viết thư hôm nay.
Phát chán vì chuyện này. Bloom chán ngán gõ nhịp nhẹ nhàng bằng những ngón tay Tôi-đang-suy-nghĩ lên tập giấy thấm mà Pat vừa mang tới.
Tiếp nào. Hiểu ý tôi chứ. Không, sửa lại chữ e đó đi. Nhận món quà nhỏ mọn của tôi đính kèm. Đừng bắt cô ấy trả lời. Khoan đã. Năm Dig. Hai ở khoảng này. Đồng xu cho lũ mòng biển. Elijah đến rồi. Bảy tiệm Davy Byrne’s. Tám ở khoảng nào nhỉ. Nói là nửa vương miện đi. Món quà mọn của tôi: phiếu bưu điện hai xu rưỡi. Viết cho tôi một bức thư dài nhé. Em có khinh miệt không? Lục lạc, anh có chiếc không? Phấn khích làm sao. Sao anh lại gọi em là đồ hư đốn? Cả anh nữa à? Ồ, Mairy làm đứt dây cái. Tạm biệt hôm nay nhé. Phải, phải, sẽ kể cho em nghe. Muốn thế chứ. Để duy trì chuyện này. Gọi anh bằng cái tên khác đi. Thế giới khác mụ ta đã viết. Sự kiên nhẫn của tôi đã cạn kiệt. Để duy trì chuyện này. Em phải tin. Tin đi. Vại bia. Đó. Là. Sự thật.
Mình đang viết cái trò điên rồ gì thế này? Đàn ông có vợ nào lại làm thế. Hôn nhân đẩy đưa họ làm thế, với vợ của họ. Bởi vì tôi đang ở xa. Giả sử. Nhưng bằng cách nào chứ? Nàng buộc phải thế. Giữ gìn tuổi thanh xuân. Nếu nàng phát hiện ra. Chiếc thẻ trong chiếc áo cao cấp ha. Không, không kể hết mọi thứ. Nỗi đau vô nghĩa. Nếu họ không thấy. Phụ nữ. Gậy ông đập lưng ông.
Một chiếc xe ngựa thuê, số ba trăm hai mươi tư, tài xế Barton James ở số một đại lộ Harmony, Donnybrook, chở theo một vị khách, một nam thanh niên, ăn mặc sành điệu trong bộ com-lê vải sẹc xanh chàm do George Robert Mesias, thợ may kiêm thợ cắt ở số năm bến Eden may đo, và đội chiếc mũ rơm vô cùng lịch sự, mua ở tiệm John Plasto số một phố Great Brunswick, hãng nón. Hả? Đây chính là chiếc xe lọc cọc xóc nảy. Đi qua cửa hàng thịt heo của Dlugacz, những ống kẽm sáng bóng của Agendath, một con ngựa cái mông cong lẳng lơ phi kiệu.
—Đang trả lời mẩu quảng cáo à? ánh mắt sắc sảo của Richie hỏi Bloom.
—Phải, ông Bloom nói. Nhân viên thị trường. Chắc chẳng ăn thua gì đâu.
Bloom lẩm bẩm: giới thiệu tốt nhất. Nhưng Henry viết: nó sẽ làm tôi phấn khích đấy. Em biết bằng cách nào mà. Vội vã. Henry. Chữ e kiểu Hy Lạp. Tốt hơn nên viết thêm tái bút. Hắn đang chơi bản gì thế nhỉ? Ứng tấu. Bản Intermezzo. Tái bút. Tiếng rum tum tum. Em sẽ chơi khăm anh chứ? Em phạt anh chứ? Chiếc váy ngoằn ngoèo văng vẳng, vụt một cái qua. Nói cho anh biết anh muốn. Biết. Ồ. Tất nhiên nếu không thì tôi đã chẳng hỏi. La la la ree. Khúc nhạc nhỏ dần buồn bã ở cung thứ. Sao cung thứ lại buồn nhỉ? Ký hiệu H. Chúng thích cái đuôi buồn bã ở cuối. Tái tái bút. La la la ree. Hôm nay tôi cảm thấy buồn làm sao. La ree. Cô đơn làm sao. Dee.
Hắn nhanh chóng thấm mực trên tập giấy của Pat. Phong bì. Địa chỉ. Cứ chép lại từ trên báo. Lẩm bẩm: Công ty TNHH Callan, Coleman và Cục. Henry viết:
Cô Martha Clifford
c/o P. O.
Đường Dolphin’s Barn
Dublin.
Thấm đè lên chỗ khác để lão không đọc được. Thế là xong. Đúng thế. Ý tưởng tuyệt phẩm trúng thưởng. Đọc mấy chuyện trinh thám trên giấy thấm. Thù lao một gô-ni mỗi cột. Matcham thường nghĩ về mụ phù thủy đang cười. Tội nghiệp bà Purefoy. U. P: lên trên.
Câu chuyện về nỗi buồn đó mang tính thơ ca quá nhỉ. Âm nhạc làm được điều đó. Âm nhạc có những ma lực riêng. Shakespeare đã nói thế. Những câu danh ngôn dùng cho mọi ngày trong năm. Tồn tại hay không tồn tại. Sự khôn ngoan trong lúc bạn chờ đợi.
Trong khu vườn hoa hồng Gerard ở phố Fetter hắn đang rảo bước, mái tóc ngả màu hung xám. Cuộc đời chỉ có một. Một thân xác. Làm đi. Nhưng hãy làm.
Dù sao cũng xong rồi. Phiếu bưu điện, tem. Bưu điện ở phía dưới kia. Đi bộ thôi. Đủ rồi. Đã hứa gặp bọn họ ở quán Barney Kiernan’s. Không thích công việc đó tí nào. Ngôi nhà tang tóc. Đi bộ. Pat! Lão chẳng nghe thấy gì cả. Đúng là một con bọ lãng tai.
Xe ở gần đó rồi. Nói chuyện. Nói chuyện. Pat! Lão chẳng. Đang xếp lại mấy cái khăn ăn. Lão phải bao quát một khoảng diện tích rộng lớn trong ngày đấy chứ. Phía sau vẽ thêm cái mặt nữa thì thành ra hai mặt rồi còn gì. Ước gì chúng hát nhiều hơn. Để mình quên đi quẳng gánh lo đi.
Lão Pat hói lãng tai xếp khăn ăn hình chóp. Pat là bồi bàn nặng tai. Pat là bồi bàn đứng đợi trong lúc bạn chờ đợi. Hì hì hì hì. Lão đợi trong lúc bạn chờ. Hì hì. Lão là bồi bàn mà. Hì hì hì hì. Lão đợi trong lúc bạn chờ. Trong lúc bạn chờ nếu bạn đợi lão sẽ đợi trong lúc bạn chờ. Hì hì hì hì. Hô. Đợi trong lúc bạn chờ.
Douce kìa. Douce Lydia. Sắc đồng và hoa hồng.
Nàng đã có một khoảng thời gian tuyệt vời, tuyệt vời ông mặt trời. Và nhìn chiếc vỏ sò xinh xắn nàng mang theo kìa.
Nàng nhẹ nhàng mang chiếc tù và biển nhọn hoắt quanh co đến tận cuối quầy bar để cho anh ta, George Lidwell, viên luật sư, được lắng nghe.
—Nghe này! nàng giục hắn.
Dưới những lời nói nóng bỏng hơi gin của Tom Kernan, người đệm đàn dệt nên khúc nhạc chậm rãi. Sự thật rành rành. Cách Walter Bapty mất giọng. Thưa ngài, người chồng đã túm cổ hắn ta. Đồ khốn, hắn nói, Mày sẽ chẳng thèm hát những khúc tình ca nào nữa đâu. Quả đúng thế đấy, thưa ngài Tom. Bob Cowley dệt nhạc. Bọn nam cao kiếm được phụ. Cowley ngả người ra sau.
À, giờ thì hắn nghe thấy rồi, nàng áp nó vào tai hắn. Nghe kìa! Hắn nghe thấy. Thật tuyệt diệu. Nàng áp nó vào tai chính mình. Và xuyên qua ánh sáng được lọc qua sắc vàng nhợt nhạt tương phản lướt qua. Để lắng nghe.
Cốc.
Bloom qua cửa quán nhìn thấy chiếc vỏ sò được áp vào tai họ. Hắn nghe mờ ảo hơn những gì họ nghe, mỗi người vì chính mình rồi đến đôi bên dành cho nhau, nghe tiếng sóng vỗ rào rạt, một tiếng gầm thét lặng thinh.
Sắc đồng bên sắc vàng mỏi mệt, cự ly gần, cự ly xa, họ lắng nghe.
Tai nàng cũng là một chiếc vỏ sò, vành tai hé mở ở đó. Đã đến bờ biển. Những cô gái miền biển đáng yêu. Làn da cháy nắng bỏng rát. Lẽ ra nên bôi kem lạnh trước cho da ngả màu nâu. Bánh mì bơ nướng. Ôi và cả cái dung dịch thoa da đó không được quên đâu. Cơn sốt ở gần miệng nàng. Đầu óc bạn đơn giản là. Mái tóc tết lại: vỏ sò đính rong biển. Sao họ lại che tai bằng mái tóc rong biển làm gì nhỉ? Còn người Thổ Nhĩ Kỳ che miệng, tại sao chứ? Đôi mắt nàng nhìn qua tấm khăn trải. Mạng che mặt. Tìm lối vào. Một hang động. Miễn phận sự miễn vào.
Họ tưởng mình đang nghe tiếng sóng biển. Tiếng hát. Tiếng gầm thét. Ấy là tiếng máu đấy. Thỉnh thoảng ù cả tai. Thôi thì, biển cả là đây. Những hòn đảo huyết cầu.
Thật kỳ diệu. Rõ mồn một. Lại nữa. George Lidwell áp tai nghe tiếng rầm rì của nó, rồi nhẹ nhàng đặt xuống.
—Sóng gió ngoài khơi đang thì thầm điều gì thế nhỉ? hắn hỏi nàng, mỉm cười.
Lydia quyến rũ, mang nụ cười đại dương chẳng thèm đáp lời mỉm cười với Lidwell.
Cốc.
Gần tiệm Larry O’Rourke, gần Larry, chàng Larry dũng mãnh, Boylan lắc lư rồi quay người.
Từ chiếc vỏ sò bị bỏ quên, cô Mina lướt về phía những vại bia đang chờ. Không, nàng đâu có cô đơn đến thế, cái đầu của cô Douce tinh quái ra hiệu cho anh Lidwell biết. Những buổi dạo bước dưới ánh trăng bên bờ biển. Không, không đi một mình. Đi với ai? Nàng cao thượng đáp lời: với một người bạn nam giới.
Những ngón tay lấp lánh của Bob Cowley trên phím cao lại tấu lên. Chủ nhà có quyền ưu tiên trước. Một chút thời gian. Long John. Big Ben. Nàng nhẹ nhàng tấu lên nhịp điệu lanh lảnh sáng sủa dành cho các quý cô đang rảo bước, đầy tinh quái và mỉm cười, dành cho các chàng trai của họ, những người bạn nam giới.
Một: một, một, một, một, một: hai, một, ba, bốn.
Biển, gió, lá cây, sấm sét, dòng nước, tiếng bò rống, chợ gia súc, gà trống, gà mái không gáy, rắn xì-xì-xì. Âm nhạc ở khắp mọi nơi. Cửa nhà Ruttledge: tiếng kẹt cửa. Không, đó chỉ là tiếng động. Khúc minuet trong vở Don Giovanni lão đang chơi bây giờ. Những bộ trang phục cung đình đủ mọi thể loại trong các sảnh cung điện đang khiêu vũ. Nỗi khốn khổ. Những người nông dân bên ngoài. Những gương mặt xanh xao đói khát đang ăn lá cây chà nhám. Thật tuyệt làm sao. Nhìn kìa: nhìn, nhìn, nhìn, nhìn, nhìn: các người hãy nhìn chúng tôi đây.
Tôi có thể cảm nhận được niềm hân hoan đó. Chưa từng viết ra được điều ấy. Tại sao chứ? Niềm vui của tôi là niềm vui khác. Nhưng cả hai đều là niềm vui. Phải, chắc chắn đó phải là niềm vui. Bản thân sự thật âm nhạc cho thấy bạn đang tồn tại. Từng nghĩ mụ ta đang chán chường cho đến khi mụ bắt đầu cất giọng ngân nga. Lúc đó mới biết.
Vali của M’Coy. Vợ tôi và vợ anh. Con mèo kêu chít chít. Hệt như xé lụa. Cái lưỡi khi mụ ta nói hệt như cái lập lòe của cái bệ bễ. Chúng không thể điều khiển được quãng giọng của đàn ông. Giọng của chúng cũng có khoảng trống nữa. Lấp đầy tôi đi. Tôi ấm áp, tăm tối, cởi mở. Molly trong bài quis est homo: Mercadante. Áp tai vào tường để lắng nghe. Cần một người phụ nữ biết lo toan chu đáo.
Đi bộ lộc cộc ngừng hẳn. Đôi giày bảnh chọe màu da bò của dandy Boylan tất xanh biếc họa tiết vòng tròn bước nhẹ xuống mặt đất.
Ôi, nhìn chúng ta kìa! Nhạc thính phòng. Có thể chơi chữ một chút về điều đó. Đó là một thứ âm nhạc tôi vẫn thường nghĩ khi mụ. Âm học chính là thế. Lanh lảnh. Thùng rỗng kêu to. Bởi vì âm học, sự cộng hưởng thay đổi tùy theo trọng lượng của nước tương đương với quy luật rơi của nước. Hệt như mấy bản rhapsody của Liszt, phong cách Hungary, đôi mắt digan. Những hạt ngọc trai. Những giọt nước. Mưa. Diddleiddle addleaddle ooddleooddle. Xì-xì-xì. Giờ đây. Có lẽ lúc này. Trước đó.
Một gã gõ cửa, một gã khua tay với tiếng gõ, có phải hắn gõ gã Paul de Kock với tiếng gõ kiêu hãnh lớn lao kèm theo tiếng vòi carracarracarra. Gõ gõ.
Cốc.
—Qui sdegno, Ben, cha Cowley nói.
—Không, Ben, Tom Kernan xen vào. Bài Kẻ Nổi Loạn Croppy. Khúc dân ca bản địa của chúng ta.
—Ừ làm đi, Ben, ông Dedalus nói. Những trang nam nhi trung can nghĩa đảm.
—Làm đi, làm đi, họ đồng thanh nài nỉ.
Tôi đi đây. Nào Pat, quay lại đi. Lại đây. Lão đến, lão đến, lão không ở lại. Đến với tôi. Bao nhiêu?
—Giọng gì đây? Sáu dấu thăng à?
—Cung Fa thăng trưởng, Ben Dollard nói.
Đôi bàn tay xòe rộng của Bob Cowley túm lấy những hợp âm trầm đục tối tăm.
Phải đi thôi hoàng tử Bloom bảo hoàng tử Richie. Không, Richie nói. Có chứ, phải đi. Kiếm được ít tiền đâu đó. Lão chuẩn bị đi quậy tưng bừng vì đau lưng đây. Bao nhiêu? Lão nghe-thấy lời nói. Một xu chín. Tặng tiền boa cho bản thân một xu. Đây. Cho lão tiền boa hai xu. Lãng tai, nghễnh ngãng. Nhưng có lẽ lão có vợ con đang chờ, đang chờ Patty về nhà. Hì hì hì hì. Lão bồi bàn lãng tai chờ trong lúc đợi.
Nhưng hãy đợi. Nhưng hãy lắng nghe. Những hợp âm tối tăm. Lugugugubrious. Trầm đục. Trong hang động nơi lòng đất tối sâu thẳm. Quặng mỏ vùi sâu. Âm thanh khối cục.
Giọng ca của thời đại tăm tối, của sự cạn tình, sự mệt mỏi của trái đất cất lên lời cất nhắc trang nghiêm và đau đớn, cất lên từ phương xa, từ những ngọn núi già cỗi, gọi mời những nam nhi trung can nghĩa đảm. Vị mục sư mà lão tìm kiếm. Hắn muốn nói chuyện với ngài một lời.
Cốc.
Giọng của Ben Dollard. Nam trung trầm. Cố gắng hết sức để cất lời. Tiếng kêu của đầm lầy vắng bóng đàn ông vắng bóng trăng vắng bóng đàn bà vắng bóng. Một sự tụt dốc khác. Lão từng kinh doanh cửa hàng vật tư tàu thủy lớn lắm đấy. Hãy nhớ xem: những sợi thừng tẩm nhựa thông, đèn lồng tàu thủy. Phá sản mất mười nghìn bảng. Giờ ở nhà tế thế Iveagh. Phòng ngủ ngăn vách số này số nọ. Số một Bass đã làm thế cho lão.
Vị mục sư đang ở nhà. Kẻ đầy tớ giả mạo chào đón hắn. Bước vào đi. Cha thánh đây. Kẻ đầy tớ phản bội cúi đầu chào. Những khúc uốn lượn của hợp âm.
Hủy hoại họ. Tàn phá cuộc đời họ. Rồi xây cho họ mấy cái phòng ngăn vách để kết thúc những ngày cuối đời ở đó. Ru hời. Ru hời. Chết đi, con chó ơi. Chó con, chết đi.
Lời cảnh báo, lời cảnh báo trang nghiêm, kể cho họ nghe thiếu niên nọ đã bước vào một căn phòng đơn độc, kể cho họ nghe những bước chân hắn bước vào đó trang nghiêm làm sao, kể cho họ nghe căn phòng u ám, vị linh mục mặc lễ phục đang ngồi để nghe xưng tội.
Đứa con ngoan. Giờ hơi lú lẫn rồi. Nghĩ mình sẽ trúng giải trong báo Answers, trò ghép hình thơ ca của các nhà thơ. Chúng tôi gửi tặng ngài tờ năm bảng giòn tan. Con chim đang ngồi ấp trứng trong tổ. Lão tưởng đó là bài thơ Lay of the last minstrel. Xem kìa ô trống ti động vật nào đây? Ti gạch ngang ar nhà thám hiểm dũng cảm nhất. Giọng lão vẫn còn hay chán. Chưa thành thái giám với đầy đủ đồ đạc đâu nhé.
Lắng nghe. Bloom lắng nghe. Richie Goulding lắng nghe. Và bên cửa lão Pat lãng tai, lão Pat hói, lão Pat tiền boa, đang lắng nghe.
Những hợp âm harpsichord chậm dần.
Giọng ca của sự sám hối và nỗi buồn cất lên chậm rãi, tô điểm, run rẩy. Bộ râu đầy tội lỗi của Ben thú nhận. in nomine Domini, nhân danh Chúa, lão quỳ xuống. Lão đập tay lên ngực, thú nhận: lỗi tại tôi mọi đàng.
Lại tiếng Latin. Thứ đó giữ chân họ chặt như keo dính chim. Linh mục mang Mình Thánh Chúa cho đám phụ nữ đó. Gã ở nhà xác, quan tài hay coffey, corpusnomine. Tự hỏi con chuột đó giờ trốn ở xó nào rồi. Tiếng cào.
Cốc.
Họ lắng nghe. Vại bia và cô Kennedy. George Lidwell, mí mắt biểu cảm, bộ ngực sa tanh đẫy đà. Kernan. Si.
Giọng thở dài của nỗi buồn cất lên khúc ca. Tội lỗi của hắn. Kể từ lễ Phục sinh hắn đã nguyền rủa ba lần. Đồ đĩ bẹn. Và có lần vào giờ mi-sa hắn đã trốn đi chơi. Có lần đi ngang qua nghĩa trang hắn đã không cầu nguyện cho linh hồn mẹ mình. Một cậu bé. Một thiếu niên Croppy.
Sắc đồng, đang lắng nghe, bên vòi bia phóng tầm mắt ra xa. Đầy tâm trạng. Chẳng thèm biết là mình đang nhìn. Molly cực siêu trong khoản phát hiện ra ai đang nhìn ngó.
Sắc đồng phóng tầm mắt nhìn xéo sang một bên. Giao lộ kìa. Đó có phải góc mặt đẹp nhất của nàng không? Họ lúc nào cũng biết. Gõ cửa. Lần sửa soạn cuối cùng.
Gõ carracarra.
Họ nghĩ gì khi nghe nhạc? Cách bắt rắn chuông. Đêm Michael Gunn cho chúng ta chiếc lô ghế. Lên dây đàn. Vua Ba Tư thích điều đó nhất. Làm lão nhớ đến quê nhà ngọt ngào. Lão còn hỉ mũi vào rèm cửa nữa chứ. Có lẽ đó là phong tục nước lão. Âm nhạc cũng thế đấy. Không tệ như nghe tiếng của nó. Tiếng sáo thổi. Kèn đồng la hét như lừa qua ống quần. Đàn bass đôi bất lực, những vết rách bên sườn. Nhóm gỗ rống lên như bò. Bán đại dương cầm mở to hàm cá sấu âm nhạc có cái hàm. Nhóm gỗ giống tên của Goodwin.
Nàng trông thật xinh đẹp. Chiếc váy màu nghệ tây nàng mặc khoét cổ sâu, trưng bày toàn bộ vốn liếng. Hơi thở của nàng lúc nào cũng thoảng mùi đinh hương trong rạp hát khi nàng cúi người đặt câu hỏi. Đã kể cho nàng nghe Spinoza nói gì trong cuốn sách đó của bố quá cố. Bị thôi miên, lắng nghe. Đôi mắt y hệt thế. Nàng cúi người. Gã ở ban công sát sân khấu nhìn chằm chằm vào nàng qua ống nhòm opera với tất cả khả năng có thể. Vẻ đẹp của âm nhạc bạn phải nghe hai lần. Tự nhiên đàn bà nửa cái nhìn. Chúa tạo ra miền quê còn con người tạo ra giai điệu. Gặp hắn lượm ống nước. Triết học. Ồ hòn đá!
Mất hết. Đổ rạp hết. Tại trận vây hãm Ross cha hắn, tại Gorey tất cả anh em hắn đã gã. Tới Wexford, chúng ta là những chàng trai Wexford, hắn sẽ thế. Người cuối cùng mang tên họ và dòng tộc của mình.
Tôi cũng thế. Kẻ cuối cùng của dòng tộc. Milly sinh viên trẻ. Chà, có lẽ là lỗi của mình. Không có con trai. Rudy. Quá muộn rồi. Hoặc nếu chưa thì sao? Nếu chưa? Nếu vẫn còn?
Hắn chẳng mang lòng thù hận.
Thù hận. Tình yêu. Đó chỉ là những cái tên. Rudy. Chẳng mấy chốc mà mình già đi.
Giọng Ben cất lên vang dội. Giọng ca tuyệt vời Richie Goulding nói, gương mặt tái nhợt đang cố nén sự hầm hậm, nói với Bloom về việc chẳng mấy chốc sẽ già đi. Nhưng hồi trẻ thì sao?
Ireland giờ đã xuất hiện. Tổ quốc tôi trên cả nhà vua. Nàng đang lắng nghe. Ai dám nhắc đến năm linh bốn? Đã đến lúc phải chuồn thôi. Nhìn đủ rồi.
—Xin Chúa hãy thương xót con, cha xứ, Dollard the croppy khóc lóc. Xin ban phước cho con và để con đi.
Cốc.
Bloom nhìn theo, chẳng nhận được phước lành nào để mà đi. Chồm dậy để tàn sát: với mức lương mười tám shilling một tuần. Lũ người móc tiền ra trả. Cảnh giác giữ mình vẫn hơn. Mấy cô gái đó, mấy cô nàng xinh đẹp kia. Bên những con sóng biển buồn đau. Chuyện tình của nữ vũ công hát múa phụ họa. Những bức thư được đọc lên trong vụ kiện đòi bồi thường vì bội ước. Từ cục cưng Mumpsypum đáng yêu của Chickabiddy. Tiếng cười vang trong tòa án. Henry. Tôi chưa bao giờ ký tên cả. Cái tên đáng yêu cậu.
Âm nhạc trầm xuống, cả giai điệu lẫn lời ca. Rồi vội vã giục giã. Tên linh mục giả dạng binh lính tuột tấm áo choàng. Một đại úy dân quân. Họ thuộc lòng tất cả những thứ đó. Sự kích thích mà họ ngứa ngáy mong chờ. Đại úy dân quân.
Cốc. Cốc.
Đầy kích thích nàng lắng nghe, cúi người đồng cảm để lắng nghe.
Gương mặt đờ đẫn. Trinh nữ nên nói thế: hoặc chỉ dùng tay chạm vào. Viết thứ gì đó lên đó: trang giấy. Nếu không thì số phận họ sẽ ra sao? Tàn lụi, tuyệt vọng. Giữ cho họ sự trẻ trung. Thậm chí tự ngưỡng mộ bản thân. Thấy chưa. Chơi đùa trên cơ thể nàng. Hơi thở môi. Thân thể người đàn bà trắng ngần, một ống sáo sống động. Thổi nhẹ nhàng. To. Ba cái lỗ, toàn đàn bà cả. Nữ thần mà tôi chẳng thấy. Họ thèm muốn nó. Đừng lịch sự quá mức. Đó là lý do tại sao hắn chinh phục được họ. Vàng trong túi, đồng thau trên mặt. Nói gì đi chứ. Làm cho nàng nghe thấy. Bằng ánh mắt trao nhau. Những bản tình ca không lời. Molly, cái thằng bé kéo đàn phong cầm quay tay đó. Nàng thừa hiểu ý nó là con khỉ bị bệnh. Hoặc bởi vì trông quá giống người Tây Ban Nha. Hiểu được loài động vật theo cách đó đấy. Vua Solomon từng thế. Món quà của tự nhiên.
Nói bằng tiếng bụng. Đôi môi tôi khép lại. Suy nghĩ trong dạ dày tôi. Gì cơ?
Anh? Muốn? Em? Phải? Không?
Với cơn giận dữ khàn giọng thô lỗ, tên dân quân nguyền rủa, phồng rộp như con đĩ bẹn bị đột quỵ. Hay lắm cậu nhóc, mày sắp được lên đường rồi đấy. Ngươi chỉ còn đúng một tiếng để sống, đây là phút cuối đời của mày.
Cốc. Cốc.
Cảm giác kích thích lúc này. Nỗi xót xa họ cảm nhận. Rơi một giọt nước mắt vì những kẻ tuẫn đạo muốn thế, khao khát được chết, được chết. Vì vạn vật đang lụi tàn, vì muôn loài sinh sôi. Tội nghiệp bà Purefoy. Mong là mả êm cửa ấm. Bởi vì dạ con của họ.
Chất dịch tử cung của người đàn bà tròng mắt nhìn trân trân dưới hàng rào lông mi, điềm tĩnh, lắng nghe. Thấy được vẻ đẹp thực sự của đôi mắt khi nàng chẳng cất lời. Trên dòng sông kia. Theo từng con sóng nhấp nhô chậm rãi của bầu ngực mượt mà (bầu ngực nhấp nhô của nàng) đóa hồng đỏ từ từ dâng lên rồi chìm xuống đóa hồng đỏ. Nhịp đập trái tim: hơi thở của nàng: hơi thở chính là sự sống. Và tất cả những chiếc lá dương xỉ nhỏ xíu của loài tóc thần đều run rẩy.
Nhưng kìa. Những vì sao sáng phai mờ. Ôi hoa hồng! Xứ Castile. Buổi ban mai. Hả. Lidwell. Dành cho hắn chứ không phải cho. Mê muội. Mình thích thế ư? Dù sao cũng nhìn thấy nàng từ đây. Nắp chai văng tứ tung, bọt bia bắn tung tóe, cả đống vỏ chai rỗng.
Trên gờ quầy bia nhô ra nhẵn nhụi Lydia đặt tay lên, nhẹ nhàng, phúng phính, cứ mặc kệ đôi tay tôi. Mọi thứ chìm đắm trong niềm thương cảm dành cho chàng croppy. Xuôi, ngược: ngược, xuôi: lướt qua núm vặn bóng bẩy (nàng thừa biết ánh mắt hắn, ánh mắt tôi, ánh mắt nàng) ngón cái và ngón trỏ của nàng lướt qua đầy thương cảm: lướt qua, nghỉ ngơi và, khẽ chạm vào, rồi trượt thật êm ái, chậm rãi xuống, một chiếc gậy chỉ huy tráng men trắng mát lạnh rắn chắc nhô ra xuyên qua vòng tròn đang trượt của chúng.
Với chiếc vòi cùng chiếc xe.
Cốc. Cốc. Cốc.
Ta nắm giữ ngôi nhà này. Amen. Hắn nghiến răng giận dữ. Lũ phản bội phải lên giá treo cổ.
Những hợp âm đồng thuận. Thật là một điều vô cùng bi thảm. Nhưng đành chịu.
Chuồn trước khi kết thúc thôi. Cảm ơn, tuyệt cú mèo. Mũ tôi đâu nhỉ. Đi ngang qua nàng. Có thể để lại tờ Freeman đó. Thư mình có đây. Giả sử mả mụ ta là? Không. Đi bộ, đi bộ, đi bộ. Hệt như Cashel Boylo Connoro Coylo Tisdall Maurice Tisntdall Farrell.
Chà, tôi phải đi thôi. Anh đi đấy à? Yrfmstbyes. Blmstup. Vượt qua đồng lúa mạch xanh ngắt. Ô. Bloom đứng dậy. Cảm giác chiếc quần lót dính bết ở phía sau. Chắc là đổ mồ hôi rồi: âm nhạc. Nhớ bôi cái dung dịch đó đấy. Thôi, chào nhé. Hạng cao cấp. Thẻ bên trong. Phải.
Đi ngang qua lão Pat lãng tai đang căng tai đứng ở ngưỡng cửa, Bloom bước đi.
Tại doanh trại Geneva người thanh niên ấy đã ngã xuống. Tại Passage thi hài hắn được an táng. Sầu muộn! Ồ, hắn đau đớn làm sao! Giọng người xướng kinh tang tóc cất lên lời cầu nguyện đầy sầu bi.
Bên đóa hoa hồng, bên bầu ngực mượt mà, bên bàn tay ve vuốt, bên đống đồ sộ, bên những vỏ chai rỗng, những nắp chai văng tứ tung, cất lời chào khi đi ngang, lướt qua những đôi mắt và mái tóc thần, sắc đồng và sắc vàng nhạt trong bóng râm đại dương sâu thẳm, Bloom bước đi, Bloom dịu êm, tôi cảm thấy cô đơn làm sao Bloom.
Cốc. Cốc. Cốc.
Cầu nguyện cho hắn, giọng bass của Dollard cất lời cầu nguyện. Hỡi những ai đang lắng nghe trong bình yên. Hãy thốt lên một lời cầu nguyện, rơi một giọt nước mắt, hỡi những người anh em, hỡi các thiện nam tín nữ. Hắn chính là chàng croppy boy.
Khiến lũ phục vụ tò mò náo động croppy bootsboy Bloom ở tiền sảnh quán Ormond nghe thấy những tiếng gầm gừ và gầm rú đầy hoan hô, tiếng vỗ lưng bồm bộp, tiếng bước chân giậm thình thịch của họ, những đôi giày chứ không phải đôi giày của cậu phục vụ. Dàn đồng ca chung chuồn đi nốc một trận để rửa trôi nỗi buồn. May quá mình đã né kịp.
—Nào Ben, Simon Dedalus kêu lên. Thề có Chúa, anh vẫn phong độ như ngày nào.
—Còn phong độ hơn ấy chứ, Tomgin Kernan nói. Phần trình diễn bài ballad đó sắc bén nhất, thề có linh hồn và danh dự của tôi là thế.
—Lablache, cha Cowley nói.
Ben Dollard kềnh càng nhún nhảy nhịp điệu cachucha về phía quầy bar, được ca ngợi hết lời và đỏ rực hồng hào, trên đôi bàn chân nặng nề, đôi ngón tay bị thống phong khua lách cách như múa castanet giữa không gian.
Big Benaben Dollard. Big Benben. Big Benben.
Rrr.
Và mọi người đều vô cùng xúc động, Simon cất giọng trầm trồ lòng trắc ẩn từ chiếc mũi to như tù và tàu thủy, tất cả cười vang đưa lão ra ngoài, Ben Dollard, với tâm trạng vô cùng phấn khởi.
—Trông anh hồng hào quá đấy chứ, George Lidwell nói.
Cô Douce sắp xếp lại đóa hoa hồng để chờ đợi.
—Ben machree, ông Dedalus nói, vỗ bồm bộp vào chiếc lưng phì nhiêu của Ben. Khỏe như vạc chỉ tội lão cất giấu quá nhiều mô mỡ trên người thôi.
Rrrrrrrsss.
—Mỡ của tử thần đấy, Simon, Ben Dollard gầm gừ.
Chỉ còn một mình Richie ngồi lạc lõng vết rạn nứt trong chiếc đàn luýt: Goulding, Collis, Ward. Lão đợi chờ trong vô vọng. Cả lão Pat chưa được trả tiền nữa.
Cốc. Cốc. Cốc. Cốc.
Cô Mina Kennedy kề sát đôi môi vào tai của vị khách vại bia số một.
—Anh Dollard đấy, họ thì thầm nhỏ nhẹ.
—Dollard, vại bia thì thầm.
Vại một tin rằng: cô Kenn lúc cô ấy: rằng đó là gã doll: nàng doll: vại bia.
Hắn thì thầm rằng hắn biết cái tên đó. Cụ thể là cái tên này quen thuộc với hắn. Tức là. Nghĩa là hắn đã từng nghe cái tên. Dollard phải không nhỉ? Dollard, đúng rồi.
Phải, đôi môi nàng lớn tiếng hơn chút nữa, anh Dollard. Anh ấy hát bài hát đó hay làm sao, Mina thì thầm. Anh Dollard. Và bài Đóa hoa hồng mùa hạ cuối cùng là một bài hát tuyệt hay. Mina yêu bài hát đó. Vại bia yêu bài hát mà Mina.
Đó là đóa hồng mùa hạ cuối cùng dollard bỏ lại bloom cảm thấy gió quấn quanh bên trong.
Thứ nước ngọt có ga đó thật rắm rối: lại còn gây táo bón nữa chứ. Đợi đã. Bưu điện gần nhà Reuben J’s giá một xu tám xu. Thoát khỏi nó đi. Đi đường vòng qua phố Greek. Ước gì mình đừng hứa gặp mặt. Thoải mái hơn ngoài không khí. Âm nhạc. Làm căng thẳng thần kinh cậu. Vòi bia. Bàn tay ru nôi thống trị. Đồi Howth. Bàn tay thống trị thế giới.
Xa. Xa. Xa. Xa.
Cốc. Cốc. Cốc. Cốc.
Dọc theo bến cảng Lionelleopold tiến bước, Henry hư hỏng với lá thư gửi Mady, với những món đồ ngọt ngào của tội lỗi với những món đồ lót diêm dúa cho Raoul với gặp hắn lượm ống nước Poldy tiếp tục bước đi.
Cốc đi mù tạt gõ lộc cộc dọc theo lề đường gõ nhịp, cốc nối tiếp cốc.
Cowley, lão tự làm mình mê mẩn bởi nó: một dạng say xỉn. Tốt hơn nên nhượng bộ chỉ một nửa cách thức của một người đàn ông với một thiếu nữ. Chẳng hạn như đám người cuồng tín. Toàn bộ đôi tai. Không bỏ sót lấy một nốt móc kép. Mắt nhắm tịt. Đầu gật gù theo nhịp. Điên khùng. Cậu không dám nhúc nhích. Nghiêm cấm suy nghĩ ngặt nghèo. Lúc nào cũng mở miệng nói chuyện công việc. Chuyện tào lao nhảm nhí về mấy nốt nhạc.
Tất cả chỉ là một dạng cố gắng trò chuyện. Thật khó chịu khi nó dừng lại bởi vì bạn chẳng bao giờ biết chính xác. Chiếc đàn organ ở phố Gardiner. Lão Glynn năm chục quid một năm. Kỳ quái ở trạm gác trên cao đó, một mình, với những cần gạt, ổ khóa và chìa khóa. Ngồi lỳ cả ngày bên cây đàn organ. Lải nhải hàng giờ liền, tự nói chuyện một mình hoặc với gã bồi bàn đang đạp ống bễ. Gầm gừ giận dữ, rồi thét lên nguyền rủa (muốn nhét bông gòn hay thứ gì đó vào mũi lão không đừng cô ấy kêu lên), rồi bỗng nhiên nhẹ nhàng dịu êm thổi một luồng gió nhỏ ti ti ti.
Puy! Một ngọn gió nhỏ ti ti thổi vù vù. Trong tiếng tì ti nhỏ xíu của Bloom.
—Hắn thế cơ à? ông Dedalus nói, quay lại với chiếc tẩu vừa lấy. Sáng nay tôi vừa gặp hắn ở chỗ đứa bé tội nghiệp Paddy Dignam...
—Ừ, Chúa thương xót linh hồn cậu ấy.
—Nhân tiện ở trong đó có một cái âm thoa trên cái...
Cốc. Cốc. Cốc. Cốc.
—Vợ anh ấy có chất giọng hay đấy chứ. Hoặc từng có thế. Phải không? Lidwell hỏi.
—Ồ, chắc đó là người lên dây đàn rồi, Lydia nói với Simonlionel người đầu tiên tôi thấy, quên mất tiêu lúc hắn ở đây.
Hắn bị mù cô ta kể với George Lidwell người thứ hai tôi thấy. Và đàn hay làm sao, nghe đúng là một bữa tiệc âm nhạc. Tương phản tuyệt diệu: bronzelid, minagold.
—Hét lên nào! Ben Dollard hô lớn, vừa rót rượu. Hát to lên!
—Được đấy! cha Cowley kêu lên.
Rrrrrr.
Tôi cảm thấy tôi muốn...
Cốc. Cốc. Cốc. Cốc. Cốc
—Rất được, ông Dedalus nói, trân trân nhìn con cá mòi cụt đầu.
Nằm trên chiếc khay bọc bánh mì dưới chiếc chuông để sandwich là một chiếc cá mòi cuối cùng, cô độc nhất mùa hạ. Bloom cô độc.
—Rất được, hắn trân trân nhìn. Tông trầm, tùy bạn chọn.
Cốc. Cốc. Cốc. Cốc. Cốc. Cốc. Cốc. Cốc.
Bloom đi ngang qua tiệm Barry. Ước gì mình làm được thế. Chờ đã. Gã chuyên gia kỳ diệu đó nếu mình có. Hai mươi tư vị luật sư ở ngay trong một ngôi nhà đó. Đếm thử xem. Kiện tụng. Yêu thương lẫn nhau. Cả đống giấy da. Hãng Pick and Pocket nắm giữ giấy ủy quyền. Goulding, Collis, Ward.
Nhưng ví dụ như gã đánh trống lớn ấy. Nghề nghiệp của hắn: ban nhạc của Mickey Rooney. Tự hỏi lần đầu tiên hắn nảy ra ý định đó thế nào. Ngồi ở nhà sau món má heo với bắp cải ngậm nó trong chiếc ghế bành. Tập dượt phần chơi trống của mình. Pom. Pompedy. Vui vẻ cho vợ. Da lừa. Đánh tơi bời chúng suốt cả cuộc đời, rồi đập trống sau khi chết. Pom. Đập mạnh. Dường như đó là cái gọi là mạng che mặt yashmak hay ý tôi là kismet. Định mệnh.
Cốc. Cốc. Một thiếu niên, mù lòa, tay cầm gậy dò đường đang gõ lộc cộc lộc cộc đi qua cửa sổ tiệm Daly nơi mái tóc nàng tiên cá xõa tung (nhưng hắn đâu có thấy) phả ra từng luồng hương thơm của nàng tiên cá (kẻ mù nào thấy được), nàng tiên cá, làn hương mát rượi tuyệt vời nhất.
Nhạc cụ. Một ngọn cỏ, chiếc vỏ sò trong đôi bàn tay, rồi thổi. Thậm chí dùng lược và giấy lụa bạn cũng có thể tấu lên một giai điệu. Molly mặc chiếc áo lót trong phố Lombard tây, xõa tóc. Tôi đoán mỗi ngành nghề đều có kiểu riêng của mình, bạn thấy thế không? Thợ săn mang tù và. Haw. Anh có chiếc không? Chuông. Sonnez la. Người chăn cừu thổi sáo. Pwee nhỏ ti ti. Cảnh sát thổi còi. Khóa và chìa khóa! Người quét dọn! Bốn giờ mọi thứ bình an! Ngủ đi! Mọi thứ mất sạch rồi. Trống ư? Pompedy. Tôi biết rồi. Người rao tin, thừa phát lại. Long John. Đánh thức người chết. Pom. Dignam. Tội nghiệp nominedomine bé nhỏ. Pom. Đó chính là âm nhạc. Ý tôi là tất cả mấy thứ pom pom pom đó rất đúng với cái gọi là da capo. Dù sao bạn vẫn có thể nghe thấy. Khi chúng ta hành quân, chúng ta hành quân dọc theo, hành quân dọc theo. Pom.
Tôi thực sự phải. Fff. Giờ mà tôi làm thế trong một bữa tiệc nhỉ. Chỉ là vấn đề tập quán vua Ba Tư. Thở một lời cầu nguyện, rơi một giọt nước mắt. Dù sao thì hắn cũng phải là một kẻ hơi ngốc mới không nhận ra đó là chiếc mũ dân quân. Quấn kín mít. Tự hỏi gã ở ngôi mộ mặc áo mác-anh nâu đó là ai. Ồ, mụ đĩ trên con hẻm!
Một ả đĩ xộc xệch đội chiếc mũ rơm thủy thủ đen lệch lạc lờ đờ bước đi giữa ban ngày dọc theo bến cảng tiến về phía ông Bloom. Khi lần đầu tiên hắn thấy bóng hình thân thương ấy ư? Phải, chính là ả ta. Tôi cảm thấy cô đơn làm sao. Đêm mưa trên con hẻm. Tù và. Ai có chiếc? Hê hô hi hâu. Lệch tủ rồi đây. Ả ta là cái gì nhỉ? Mong là ả ta. Xịt! Có hy vọng gì cái khoản giặt giũ của mày không. Quen Molly. Bắt tôi phải chưng diện. Quý bà mập mạp hay đi cùng cậu trong bộ đồ nâu ấy. Trật nhịp rồi đấy ông bạn. Cuộc hẹn chúng ta đặt ra khi biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ, à thì hầu như không bao giờ. Quá đắt đỏ quá gần nhà ngọt ngào. Ả ta thấy mình chứ nhỉ? Trông thảm hại làm sao giữa ban ngày. Khuôn mặt giống hệt đồ nhúng. Mẹ kiếp ả ta. Ồ, thôi nào, mụ ta cũng phải sống như những người khác chứ. Nhìn vào trong này xem.
Trong ô cửa tiệm đồ cổ của Lionel Marks, ngài Leopold Bloom nghiêm túc ngắm nhìn ngài Henry Lionel Leopold kiêu hãnh những chân nến sờn mẻ chiếc đàn melodeon rỉ dịch rục rũ những chiếc túi bọng giòi. Hàng hời: sáu xu. Có thể học chơi được đấy. Rẻ. Mặc kệ ả ta đi. Tất nhiên cái gì cũng đắt đỏ nếu bạn chẳng có nhu cầu. Đó mới là nhân viên kinh doanh giỏi. Bắt bạn mua món hắn muốn bán. Gã bán cho tôi chiếc dao cạo Thụy Điển mà tôi từng dùng để cạo râu. Lại còn đòi tính tiền công mài sắc cho tôi nữa chứ. Mụ ta đang đi ngang qua kìa. Sáu xu.
Chắc là do rượu táo hoặc có lẽ là do rượu vang burgundy.
Gần sắc đồng ở cự ly gần gần sắc vàng từ phương xa họ chạm những chiếc ly lanh lảnh vào nhau, rực rỡ đôi mắt và đầy dũng khí, trước đóa hoa hồng mùa hạ cuối cùng đầy quyến rũ của Lydia sắc đồng, đóa hoa hồng xứ Castile. Đầu tiên là Lid, De, Cow, Ker, Doll, người thứ năm: Lidwell, Si Dedalus, Bob Cowley, Kernan và đại gia Ben Dollard.
Cốc. Một thiếu niên bước vào căn phòng Ormond cô độc.
Bloom ngắm nhìn bức tranh khắc họa người anh hùng trong ô cửa tiệm của Lionel Marks. Những lời trăn trối của Robert Emmet. Bảy lời trăn trối cuối cùng. Của Meyerbeer ấy mà.
—Những trang nam nhi chân chính giống như các anh.
—Ờ, ờ, Ben.
—Sẽ cùng chúng tôi cạn ly.
Họ nâng ly.
Tschink. Tschunk.
Cốc. Một thiếu niên mù lòa đứng ở ngưỡng cửa. Hắn chẳng thấy sắc đồng. Hắn chẳng thấy sắc vàng. Chẳng thấy Ben hay Bob hay Tom hay Si hay George hay những vại bia hay Richie hay Pat. Hì hì hì hì. Hắn chẳng thấy gì cả.
Seabloom, greaseabloom ngắm nhìn những lời trăn trối. Dịu dàng. Khi tổ quốc tôi chiếm vị trí giữa.
Prrprr.
Chắc là do rượu vang.
Fff! Ô. Rrpr.
Các quốc gia trên trái đất. Chẳng có ai ở phía sau. Mụ ta đi qua rồi. Lúc đó và mãi cho đến lúc ấy. Xe điện kran kran kran. Cơ hội tốt. Sắp tới rồi. Krandlkrankran. Tôi chắc chắn đó là rượu vang burgundy rồi. Phải. Một, hai. Hãy để tấm bia ký của tôi là. Kraaaaaa. Được viết. Tôi đã.
Pprrpffrrppffff.
Xong.