Trước khi các chuyến xe điện dưới chân cột tưởng niệm Nelson giảm tốc độ, chuyển đường ray, đảo cần cọ, rồi khởi hành đi Blackrock, Kingstown và Dalkey, Clonskea, Rathgar và Terenure, Palmerston Park và vùng Thượng Rathmines, Sandymount Green, Rathmines, Ringsend và Tháp Sandymount, Harold’s Cross, người nhân viên điều độ khàn giọng của Công ty Xe điện Liên hợp Dublin liền cất giọng hô to:
— Rathgar và Terenure!
— Mau lên, Sandymount Green!
Sang hai bên trái phải, tiếng kẻng vang lên đồng điệu khi một chiếc xe điện hai tầng và một chiếc xe điện một tầng cùng rời bến, chuyển sang đường ray hướng xuống và lướt đi song song.
— Khởi hành, Palmerston Park!
Dưới hiên bưu điện trung tâm, những thợ đánh giày vừa cất tiếng mời gọi vừa miệt mài chải bóng. Đậu trong phố North Prince’s, những chiếc xe thư màu đỏ thắm của Hoàng gia, trên thân in nổi hai chữ cái viết tắt hoàng gia E. R., đang tiếp nhận những bao thư, bưu thiếp, thiếp thư, bưu kiện — cả loại bảo đảm lẫn trả trước — được ném lên rào rào để chuyển đi phân phát trong nội hạt, các tỉnh, tại Anh quốc và ra nước ngoài.
Những phu xe ngựa đi bốt dày cộp lăn những thùng gỗ từ kho hàng Prince’s ra với tiếng động đục ngầu, nặng nề, rồi khuân chúng lên chiếc xe chở hàng của nhà máy bia. Trên chiếc xe chở hàng ấy, những chiếc thùng gỗ do các phu xe đi bốt dày lăn ra từ kho Prince’s lại được chất lên với tiếng thịch trầm đục.
— Của anh đây, Red Murray nói. Alexander Keyes.
— Cắt nó ra giùm tôi nhé, anh Bloom nói, rồi tôi sẽ mang qua tòa soạn tờ Telegraph.
Cánh cửa phòng làm việc của Ruttledge lại cộp lên một tiếng. Davy Stephens, nhỏ thó trong chiếc áo choàng rộng thùng thình, chiếc mũ phớt nhỏ đội chênh vênh trên mái tóc xoăn tít, bước ra với một cuộn giấy kẹp dưới nách, trông chẳng khác nào một sứ giả của nhà vua.
Chiếc kéo dài của Red Murray cắt mẩu quảng cáo ra khỏi tờ báo bằng bốn nhát gọn gàng. Kéo và hồ dán.
— Tôi sẽ qua xưởng in luôn, anh Bloom nói, tay cầm mảnh giấy vuông vừa cắt.
— Tất nhiên, nếu anh ta muốn có một bài vắn, Red Murray vừa nói với vẻ nghiêm túc, tai giắt một cây bút, chúng ta có thể viết cho anh ta một bài.
— Được thôi, anh Bloom gật đầu đáp. Tôi sẽ nhấn mạnh điểm đó.
Chúng ta.
Red Murray chạm chiếc kéo vào cánh tay anh Bloom rồi thì thầm:
— Brayden.
Anh Bloom quay lại và thấy người gác cổng mặc đồng phục đang giơ chiếc mũ có viền chữ lên chào khi một nhân vật bệ vệ bước vào giữa những tấm bảng dán tin của tờ Weekly Freeman và National Press cùng tờ Freeman’s Journal and National Press. Những thùng bia Guinness lại phát ra tiếng thịch trầm đục. Nhân vật ấy bệ vệ bước lên cầu thang, tay chống ô, với một khuôn mặt nghiêm nghị được viền quanh bởi bộ râu. Cái lưng bọc vải dạ dày dặn lần lượt bước qua từng bậc thang: tấm lưng. Toàn bộ trí óc của lão ta đều dồn cả xuống gáy, Simon Dedalus vẫn thường nói thế. Những ngấn thịt dày cộp đằng sau. Những nếp mỡ ở cổ, mỡ, cổ, mỡ, cổ.
— Anh không nghĩ gương mặt ông ta rất giống Chúa Cứu Thế sao? Red Murray thì thầm.
Cánh cửa phòng làm việc của Ruttledge khẽ kêu: e: kẹt. Người ta luôn thiết kế cửa phòng này đối diện cửa phòng kia để lùa gió. Lối vào. Lối ra.
Chúa Cứu Thế: khuôn mặt bầu dục viền râu: đang trò chuyện trong chạng vạng. Mary, Martha. Được tay gác ô dẫn dắt bước ra ánh đèn sân khấu: danh ca Mario.
— Hoặc giống Mario, anh Bloom nói.
— Đúng vậy, Red Murray đồng tình. Nhưng người ta vẫn đồn Mario chính là hiện thân sống của Chúa Cứu Thế.
Jesusmario với đôi má hồng phấn, áo chẽn và đôi chân gầy guộc. Tay đặt lên ngực. Trong vở Martha.
Hỡi người lạc lối, hãy mau về đây,
Hỡi người thân ái, hãy mau về đây!
— Sáng nay Đức giám mục đã gọi điện xuống tận hai lần, Red Murray nghiêm giọng nói.
Họ nhìn theo đôi đầu gối, cẳng chân và đôi giày khuất dạng. Chiếc cổ.
Một cậu bé đưa điện tín nhanh nhẹn bước vào, ném một phong bì lên quầy rồi vội vã quay đi với một tiếng gọi:
— Freeman!
Anh Bloom chậm rãi lên tiếng:
— Chà, ngài ấy cũng là một trong những vị cứu thế của chúng ta đấy chứ.
Một nụ cười hiền lành hiện trên môi khi anh nhấc tấm ván nhỏ ở quầy lên, bước qua cánh cửa hông để đi dọc theo hành lang và cầu thang tối ấm áp, bước trên những tấm ván sàn giờ đây đang vang lên tiếng động rầm rầm. Nhưng liệu ngài ấy có cứu vãn được lượng phát hành không nhỉ? Thịch thịch. Thịch thịch.
Anh đẩy cánh cửa kính lượn sóng để bước vào, chân bước qua những mảnh giấy gói hàng vương vãi. Đi giữa lối đi hẹp vây quanh bởi những cỗ máy đang kêu đinh tai nhức óc, anh tiến về phía phòng đọc của Nannetti.
Hynes cũng ở đây: chắc là để đưa tin về đám tang. Thịch thịch. Thịch. Sáng nay, lễ tang của cố ông Patrick Dignam. Máy móc. Chúng có thể nghiền nát một con người thành tro bụi nếu lỡ để vướng vào. Thống trị thế giới ngày nay. Hệ thống máy móc của chúng cũng đang hoạt động miệt mài. Giống như những thứ này đây, đã vượt khỏi tầm kiểm soát: đang sục sôi. Đang guồng quay, đang xé nát. Và con chuột xám già nua kia đang cố cào cấu để chui vào.
Anh Bloom dừng lại sau tấm thân gầy gò của người đốc công, ngước nhìn với vẻ ngưỡng mộ chiếc đỉnh đầu sáng bóng.
Thật lạ là ông ta chưa bao giờ nhìn thấy đất nước thực sự của mình. Ireland đất nước tôi. Nghị sĩ khu College Green. Lão ta cứ ra rả ca ngợi cái điệp khúc người lao động ấy đến tận cùng. Chính những mục quảng cáo và các chuyên mục phụ mới là thứ giúp tờ báo tuần bán được chạy, chứ không phải mấy tin tức cũ rích trên công báo chính quyền. Nữ hoàng Anne đã chết. Được xuất bản theo thẩm quyền vào năm một nghìn không trăm... Điền trang tọa lạc tại thị trấn Rosenallis, tổng Tinnahinch. Gửi tất cả những ai quan tâm, bảng kê khai theo đạo luật cho thấy số lượng la và lừa cái xuất khẩu từ Ballina. Mục ghi chép thiên nhiên. Tranh biếm họa. Câu chuyện Pat và Bull hàng tuần của Phil Blake. Trang viết dành cho nhi đồng của Bác Toby. Những thắc mắc của anh chàng nhà quê. Kính gửi ông chủ bút, đâu là cách chữa trị tốt chứng đầy hơi? Tôi thích phần đó đấy. Dạy người khác cũng là cách học hỏi nhiều điều. Chuyên mục cá nhân. M. A. P. Toàn là hình ảnh. Những cô nàng tắm biển xinh xắn trên bãi cát vàng. Khí cầu lớn nhất thế giới. Đám cưới kép của hai cặp chị em được tổ chức. Hai chú rể cười ha hả nhìn nhau. Cả Cuprani nữa, tay thợ in. Còn đậm chất Ireland hơn cả người bản xứ.
Những cỗ máy đang gõ nhịp ba phần tư. Thịch, thịch, thịch. Giờ mà ông ta bị liệt ở đây và chẳng ai biết cách tắt chúng đi thì chúng cứ thế nện mãi không ngừng, in đi in lại một nội dung hết tiến lại lùi. Trò hề nhảm nhí cho cả cái đám đông này. Cần phải giữ một cái đầu lạnh.
— Nào, hãy đưa nó vào ấn bản buổi chiều đi, thưa nghị viên, Hynes nói.
Chẳng mấy chốc nữa người ta sẽ gọi ông ta là ngài thị trưởng cho mà xem. Nghe nói lão John đang hậu thuẫn ông ta đấy.
Người đốc công không trả lời, tay nhanh chóng nguệch ngoạc chữ "press" lên góc tờ giấy rồi ra hiệu cho một thợ sắp chữ. Ông lặng lẽ đưa tờ giấy qua ô cửa kính bám đầy bụi.
— Được rồi: cảm ơn anh, Hynes nói rồi bước đi.
Anh Bloom đứng chắn ngang đường anh ta.
— Nếu anh muốn lĩnh tiền thì thủ quỹ sắp đi ăn trưa rồi đấy, anh nói, tay hất ngón cái ra phía sau.
— Anh rút rồi chứ? Hynes hỏi.
— Ừ, anh Bloom đáp. Đi nhanh lên thì thể nào cũng kịp.
— Cảm ơn anh bạn, Hynes nói. Tôi cũng phải sang moi tiền lão ấy mới được.
Anh ta hớt hải rảo bước về phía tòa soạn Freeman’s Journal.
Ba xu tôi cho hắn mượn ở quán Meagher. Ba tuần rồi. Lời nhắc thứ ba.
Anh Bloom đặt mẩu giấy cắt lên bàn làm việc của ông Nannetti.
— Xin lỗi ngài nghị viên, anh nói. Mẩu quảng cáo này đây, anh thấy đấy. Keyes, ngài còn nhớ chứ?
Ông Nannetti ngắm nghía mẩu giấy một lát rồi gật đầu.
— Ông ấy muốn đăng vào tháng Bảy, anh Bloom nói.
Người đốc công dịch cây bút chì về phía mẩu giấy.
— Nhưng khoan đã, anh Bloom nói. Ông ấy muốn sửa lại nội dung. Keyes đấy, ngài thấy không. Ông ấy muốn có hai chiếc chìa khóa ở phía trên.
Chúng làm cái quái gì mà ồn ào thế không biết. Lão ta chẳng mảy may nghe thấy gì cả. Nannan. Thần kinh thép. Có lẽ lão hiểu được những gì tôi...
Người đốc công quay người lại lắng nghe với vẻ kiên nhẫn, một tay chống nạnh, tay kia bắt đầu chậm rãi gãi vùng nách chiếc áo khoác vải alpaca.
— Giống thế này này, anh Bloom nói, giơ hai ngón trỏ bắt chéo vào nhau ở phía trên.
Hãy để lão ta nắm bắt ý này trước đã.
Anh Bloom liếc mắt nhìn lên từ dấu chữ thập mình vừa vẽ, bắt gặp khuôn mặt vàng vọt của người đốc công — hình như lão ta đang bị chớm vàng da — và phía xa là những cuộn giấy khổng lồ đang chạy đều đặn vào máy. Tiếng máy kêu lạch cạch. Lạch cạch. Hàng dặm giấy được thả ra. Rồi người ta dùng nó vào việc gì sau đó nhỉ? Ồ, dùng để gói thịt, bói bưu kiện: đủ mọi công dụng, một nghìn lẻ một thứ việc.
Khéo léo lồng những lời mình muốn nói vào khoảng lặng giữa những tiếng cỗ máy va đập, anh nhanh chóng vẽ phác lên mặt bàn gỗ trầy xước.
— Như thế này này, thấy chưa. Hai chiếc chìa khóa bắt chéo ở đây. Một vòng tròn. Rồi đến tên ở đây. Alexander Keyes, thương gia kinh doanh trà, rượu vang và rượu mạnh. Cứ thế.
Tốt hơn hết là đừng dạy người ta làm công việc của chính họ.
— Chính ngài cũng biết rõ nghị viên ạ, đúng là những gì ông ấy muốn. Rồi vòng quanh phía trên bằng kiểu chữ đậm: nhà của những chiếc chìa khóa. Ngài thấy sao? Ngài có nghĩ đó là một ý hay không?
Người đốc công dịch tay đang gãi xuống phần xương sườn phía dưới và lặng lẽ gãi ở đó.
— Ý tưởng ở đây, anh Bloom nói, chính là "nghị viện Manx". Ngụ ý về quyền tự trị nội địa. Khách du lịch từ đảo Man ấy mà, ngài biết đấy. Sẽ rất thu hút ánh nhìn. Ngài có làm được như vậy không?
Có lẽ mình có thể hỏi lão cách phát âm từ voglio đó. Nhưng nhỡ lão không biết thì lại thành ra khó xử cho lão. Thôi, tốt nhất là không nên.
— Chúng tôi làm được việc đó, người đốc công nói. Anh có bản thiết kế chưa?
— Tôi có thể lấy nó, anh Bloom nói. Nó từng đăng trên một tờ báo ở Kilkenny. Ông ấy cũng có một cơ ngơi ở trỏng. Tôi sẽ chạy ra đó hỏi ngay. À, ngài có thể làm thế này, kèm theo một bài vắn nhỏ để thu hút sự chú ý. Ngài biết mấy kiểu quen thuộc mà. Tiệm rượu cao cấp đầy đủ giấy phép. Nhu cầu bấy lâu nay hằng mong ước. Cứ thế.
Người đốc công trầm ngâm chốc lát.
— Chúng tôi làm được, ông nói. Hãy bảo ông ta gia hạn hợp đồng ba tháng đi.
Một thợ sắp chữ mang đến cho ông một bản in thử dạng bảng dài nhăn nhún. Ông bắt đầu lặng lẽ kiểm tra. Anh Bloom đứng bên cạnh, lắng nghe những tiếng đậpình thịch của các trục khuỷu, ngắm nhìn những thợ sắp chữ đang lặng lẽ làm việc bên các khay chữ.
Phải chắc chắn về chính tả của ông ta mới được. Căn bệnh sợ sai bản in. Martin Cunningham sáng nay quên đố câu đố chữ của lão ta rồi. Thật thú vị khi ngắm nhìn một gã thợ dạo bị rối trí — unpar one al leled embarra hai chữ r phải không nhỉ? hay là hai chữ s — khi đang săm soi bằng đôi mắt hình chữ y độ đối xứng của một quả lê bị gọt vỏ nằm dưới bức tường nghĩa trang. Ngớ ngẩn thật đấy, phải không nào? Chữ nghĩa trang tất nhiên được thêm vào là vì vần với chữ đối xứng rồi.
Lẽ ra lúc lão ta đội chiếc mũ phớt lên đầu, tôi phải nói thế này mới đúng. Cảm ơn ông. Lẽ ra tôi nên nói gì đó về một cái mũ cũ hay đại loại thế. Không. Mình có thể nói thế này. Trông bây giờ lại tốt như mới ấy nhỉ. Xem nét mặt lão lúc đó xem.
Xoẹt. Tầng dưới cùng của cỗ máy đầu tiên đẩy khay giấy tiến lên kèm theo tiếng xoẹt, xuất xưởng mẻ báo được gấp đôi đầu tiên. Xoẹt. Cứ như có linh tính con người cách nó phát ra tiếng xoẹt để gây sự chú ý vậy. Nó đang cố hết sức để cất thành lời. Cả cánh cửa kia cũng vậy, cứ kêu cọt kẹt như đang nài nỉ được khép lại. Vạn vật đều lên tiếng theo cách riêng của mình. Xoẹt.
Người đốc công đột ngột trả lại bản in thử, cất giọng nói:
— Khoan đã. Lá thư của đức tổng giám mục đâu rồi? Nó phải được đăng lại trên tờ Telegraph. Thằng ôn tên gì ấy nhỉ?
Ông đảo mắt nhìn quanh những cỗ máy đang gầm rú điếc tai chẳng thèm đáp lời.
— Thưa ngài, có Monks đây ạ? một tiếng vọng lên từ khu vực đúc khuôn.
— Ừ. Monks đâu rồi?
— Monks!
Anh Bloom cầm lấy mẩu giấy cắt của mình. Đã đến lúc chuồn rồi.
— Vậy tôi sẽ đi lấy bản thiết kế nhé, ngài Nannetti, anh nói, và tôi biết ngài sẽ xếp nó vào một vị trí thật trang trọng.
— Monks!
— Dạ, thưa ngài.
Gia hạn ba tháng. Trước tiên phải trút bớt gánh nặng trong lòng đã. Cứ thử xem sao. Nhấn mạnh vào tháng Tám: ý hay đấy: tháng diễn ra hội chợ ngựa. Ballsbridge. Khách du lịch kéo đến xem hội chợ.
Anh tiếp tục bước qua phòng in, đi lướt qua một lão già lưng còng, đeo kính, mặc tạp dề. Lão Monks, người phụ trách ca ngày. Chắc hẳn trong đời lão đã phải qua tay biết bao nhiêu là thứ: cáo phó, quảng cáo quán rượu, diễn văn, các vụ kiện ly hôn, người chết đuối được vớt lên. Giờ thì sức cùng lực kiệt rồi đây. Một lão đàn ông nghiêm nghị, đứng đắn, chắc cũng dành dụm được chút ít trong quỹ tiết kiệm. Vợ là một tay nấu nướng và giặt giũ cừ khôi. Cô con gái làm việc bên cỗ máy ở phòng khách. Một đứa con gái giản dị, chẳng có chút rườm rà vớ vẩn nào.
Anh dừng bước một lát để ngắm một thợ sắp chữ đang thoăn thoắt xếp lại chữ in. Hắn đọc ngược từng chữ một. Thao tác thật nhanh nhẹn. Chắc hẳn phải luyện tập nhiều lắm mới làm được như vậy. mangiD kcirtaP. Tội nghiệp tía với cuốn sách hagadah, vừa dùng ngón tay chỉ vừa đọc ngược cho con nghe. Pessach. Năm tới ở Jerusalem. Trời đất ơi! Cả một câu chuyện dài dằng dặc về việc Ngài đã đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập và dẫn vào nhà nô lệ alleluia. Shema Israel Adonai Elohenu. Không, đó là bài khác. Rồi mười hai người anh em, những người con của Jacob. Rồi đến con cừu, con mèo, con chó, cây gậy, dòng nước và người đồ tể. Rồi thiên thần sự chết tiêu diệt kẻ đồ tể, hắn lại giết con bò, còn con chó thì cắn chết con mèo. Nghe có vẻ ngớ ngẩn làm sao cho đến khi bạn ngẫm kỹ lại. Nó có nghĩa là công lý nhưng lại là chuyện ai nấy đều ăn thịt lẫn nhau. Cuộc đời suy cho cùng cũng chỉ thế mà thôi. Hắn làm việc ấy nhanh thật đấy. Trăm hay không bằng tay quen. Cứ như thể hắn đang nhìn bằng các đầu ngón tay vậy.
Anh Bloom rời khỏi những tiếng máy móc đinh tai nhức óc, đi qua phòng triển lãm để ra tới chiếu nghỉ cầu thang. Giờ mình có nên đi xe điện tuốt tới đó rồi lại lỡ mất ông ta không nhỉ? Tốt nhất là gọi điện trước cho xong. Số mấy nhỉ? Đúng rồi. Giống số nhà Citron. Hai mươi tám. Hai mươi tám kép bốn.
Anh đi xuống cầu thang của tòa nhà. Quái quỷ nào lại dùng diêm bôi bẩn chi chít lên mấy bức tường thế này nhỉ? Trông như thể chúng làm thế vì cá cược vậy. Ở mấy xưởng in này lúc nào cũng có mùi mỡ ngấy nồng nặc. Hồi tôi ở xưởng Thom sát bên cạnh cũng có mùi keo dán âm ấm như thế.
Anh lấy khăn tay ra chấm mũi. Mùi chanh Citron ư? À, là thỏi xà phòng tôi để ở đó. Lại rơi mất ra khỏi cái túi này rồi. Cất lại chiếc khăn tay, anh móc thỏi xà phòng ra rồi nhét tuốt vào túi quần sau, cẩn thận cài khuy lại.
Vợ anh hay dùng loại nước hoa nào nhỉ? Hay mình cứ về nhà nhỉ: xe điện: có món gì đó mình quên mất. Chỉ để xem thôi: trước lúc: thay đồ. Không. Ở đây. Không.
Một tiếng cười ré lên bất ngờ vang vọng từ phòng làm việc của tờ Evening Telegraph. Biết ai với ai rồi đấy. Có chuyện gì thế nhỉ? Ghé vào một phút gọi điện xem sao. Hóa ra là Ned Lambert.
Anh khẽ khàng bước vào.
— Hồn ma xuất hiện rồi đấy, giáo sư MacHugh khẽ lẩm bẩm, miệng ngậm chiếc bánh quy hướng về phía khung cửa sổ bám đầy bụi.
Ông Dedalus, từ chỗ lò sưởi trống hoác đang trân trân nhìn vào gương mặt đầy vẻ trêu chọc của Ned Lambert, cất giọng chua chát hỏi:
— Chúa tôi đau đớn thật, không thấy nó làm anh lộn mề lên được sao?
Ned Lambert, đang ngồi trên bàn, tiếp tục đọc:
— Hoặc một lần nữa, hãy để ý những khúc quanh co của một dòng suối nhỏ róc rách chảy trên hành trình của mình, dẫu phải đấu tranh với những chướng ngại vật bằng đá, để hướng về làn nước cuồn cuộn thuộc vương quốc xanh thẳm của thần Neptune, giữa những bờ cỏ mượt mà, được ve vuốt bởi những làn gió nhẹ nhàng nhất, được rọi sáng bởi ánh mặt trời rực rỡ hoặc dưới những bóng râm phủ lên bầu ngực trầm tư của nó bởi tán lá vòm cao của những người khổng lồ trong rừng sâu. Anh thấy thế nào, Simon? cậu ta hỏi qua vành tờ báo của mình. Thế nào, có ra dáng văn cao siêu không?
— Đổi sang món rượu khác rồi đấy, ông Dedalus nói.
Ned Lambert cười vang, đập tờ báo lên đùi và nhắc lại:
— Bầu ngực trầm tư và tán lá vòm cao. Ồ các cậu ơi! Ồ các cậu ơi!
— Và Xenophon đã ngắm nhìn Marathon, ông Dedalus nói, ánh mắt lại hướng về phía lò sưởi và khung cửa sổ, và Marathon đã ngắm nhìn biển khơi.
— Thôi đủ rồi đấy, giáo sư MacHugh từ bên cửa sổ kêu lên. Tôi không muốn nghe thêm mấy thứ nhảm nhí đó nữa.
Ông cắn nốt phần rìa chiếc bánh quy nước mà mình đang nhậm nhịch, và vì đang đói, ông sẵn sàng gặm tiếp chiếc bánh quy ở tay bên kia.
Mấy thứ văn chương hoa mỹ rỗng tuếch. Toàn bong bóng phồng rỗi. Xem kìa, Ned Lambert đang nghỉ làm một ngày đấy. Một đám tang xảy ra quả thực làm xáo trộn cả ngày sống của một con người. Người ta bảo lão ta có thế lực lắm. Lão Chatterton già, phó chưởng án, chính là ông bác hoặc ông cố của lão ta. Nghe nói ngồi gần chín mươi tuổi rồi. Bài điếu văn cho cái chết của lão có lẽ đã được soạn sẵn từ lâu lắm rồi ấy chứ. Sống chỉ để chọc tức chúng nó thôi. Khéo lão ta lại đi trước ấy chứ. Này Johnny, nhường chỗ cho ông bác của cậu đi chứ. Ngài đại nhân Hedges Eyre Chatterton. Chắc là lão vẫn thỉnh thoảng viết cho hắn vài tấm séc run rẩy vào những dịp đáo hạn. Đúng là một món tiền trời cho khi lão ta quắp chân ra đi. Alleluia.
— Thêm một cơn co thắt nữa đi, Ned Lambert nói.
— Cái gì thế? anh Bloom hỏi.
— Một đoạn văn mới được phát hiện của Cicero, giáo sư MacHugh cất giọng với vẻ khoa trương. Đất nước tươi đẹp của chúng ta.
— Đất nước của ai cơ? anh Bloom hỏi một cách đơn giản.
— Một câu hỏi vô cùng đúng trọng tâm, vị giáo sư nói giữa lúc đang nhai bánh. Lại nhấn mạnh vào chữ "của ai" mới chí lý chứ.
— Đất của Dan Dawson chứ còn của ai, ông Dedalus nói.
— Có phải bài diễn văn tối qua của ông ta không? anh Bloom hỏi.
Ned Lambert gật đầu.
— Nhưng hãy nghe đoạn này này, cậu ta nói.
Núm cửa đập thẳng vào thắt lưng anh Bloom khi cánh cửa bị đẩy bật ra.
— Xin lỗi nhé, J. J. O’Molloy vừa nói vừa bước vào.
Anh Bloom nhanh nhẹn tránh sang một bên.
— Xin lỗi anh, anh nói.
— Chào Jack.
— Vào đi. Vào đi.
— Chào anh.
— Khỏe chứ, Dedalus?
— Vẫn khỏe. Còn anh thì sao?
J. J. O’Molloy lắc đầu.
Hắn từng là gã thông minh nhất ở đoàn luật sư sơ thẩm. Sa sút rồi, tội nghiệp thật. Vết ửng đỏ phừng phừng đó báo hiệu dấu chấm hết cho một đời người. Mọi thứ thật bấp bênh với hắn. Không biết lại có chuyện gì xảy ra đây. Lo lắng vì tiền bạc.
— Hoặc một lần nữa, nếu chúng ta chịu trèo lên những đỉnh núi xếp lớp...
— Trông anh dạo này phong độ phết nhỉ.
— Có gặp được chủ bút không? J. J. O’Molloy hỏi, mắt hướng về phía cánh cửa bên trong.
— Có chứ, gặp bét nhè ấy chứ, giáo sư MacHugh nói. Vừa được thấy mặt lại vừa được nghe tiếng đây này. Hắn đang ở trong phòng riêng cùng với Lenehan.
J. J. O’Molloy thong thả bước đến chiếc bàn nghiêng và bắt đầu lật giở những trang giấy hồng của tập tài liệu.
Sự nghiệp đang lụi tàn. Một kẻ lỡ hẹn với thành công. Mất hết tinh thần. Cờ bạc. Nợ nần danh dự. Gieo gió gặt bão. Từng nhận được rất nhiều khoản thù lao béo bở từ hãng D. and T. Fitzgerald. Bộ tóc giả của họ để lộ rõ chất xám. Trí tuệ vắt vẻo trên tay áo giống như bức tượng ở Glasnevin. Nghe nói hắn cũng viết lách dăm ba bài cho tờ Express cùng với Gabriel Conroy. Đúng là một gã uyên bác. Myles Crawford khởi nghiệp từ tờ Independent. Thật buồn cười cái cách mà mấy tay nhà báo ấy xoay chiều chóng mặt khi ngửi thấy mùi cơ hội mới. Đúng là bọn gió chiều nào theo chiều ấy. Trở mặt nhanh hơn lật bánh tráng. Chẳng biết đường nào mà lần. Câu chuyện nào cũng hay cho đến khi bạn nghe được câu chuyện tiếp theo. Chúng lao vào cấu xé nhau không thương tiếc trên mặt báo rồi mọi chuyện lại đâu vào đấy. Ngay giây sau đã lại tay bắt mặt mừng thân thiết như hội.
— Ồ, vì Chúa hãy nghe đoạn này đi, Ned Lambert này nỉ. Hoặc một lần nữa, nếu chúng ta chịu trèo lên những đỉnh núi xếp lớp...
— Đồ khoa trương rỗng tuếch! vị giáo sư bực bội cắt ngang. Đủ lắm rồi cái thứ gió thổi phồng này!
— Những đỉnh núi, Ned Lambert đọc tiếp, sừng sững vươn cao tận mây xanh, để gột rửa tâm hồn chúng ta, như thể...
— Gột rửa đôi môi hắn ấy, ông Dedalus nói. Chúa thánh thiêng đời đời! Gì cơ? Hắn có đang uống thuốc gì để chữa cái thói đó không đấy?
— Như thể, giữa bức tranh toàn cảnh vô song của xứ sở Ireland, không gì sánh bằng — mặc cho những nguyên mẫu được ca tụng hết lời ở các vùng đất danh tiếng khác — về vẻ đẹp tuyệt mỹ của những lùm cây rậm rạp, những đồng bằng nhấp nhô và những đồng cỏ xanh mướt ngập tràn sắc xuân, chìm đắm trong ánh hào quang trong suốt siêu việt của buổi chạng vạng huyền bí dịu dàng nơi xứ Ireland chúng ta...
— Ánh trăng nữa chứ, giáo sư MacHugh nói. Lão ta quên béng mất Hamlet rồi kìa.
— Bao trùm tầm nhìn xa ngút ngàn và hãy đợi cho đến khi quả cầu rực rỡ của mặt trăng bừng sáng để tỏa ra ánh hào quang bạc ngời...
— Ồ! ông Dedalus kêu lên, thốt ra một tiếng rên rỉ tuyệt vọng. Mấy thứ phân cặn và hành tây! Thôi đủ rồi, Ned. Cuộc đời ngắn ngủi lắm.
Ông cởi chiếc mũ lụa ra, bực bội thổi phì phì bộ ria mép rậm rạp, rồi dùng những ngón tay vuốt ngược mái tóc như lược chải lông cừu.
Ned Lambert ném phắt tờ báo sang một bên, cười khúc khích đầy thích thú. Ngay lập tức, một tràng cười khàn đợ khẩu vang lên trên khuôn mặt chưa cạo râu và đeo kính đen của giáo sư MacHugh.
— Lão Daw bột nhão! lão ta hét lên.
Cứ chê bai nó trên mặt giấy lạnh lùng thế thôi chứ mấy thứ đó bán chạy như tôm tươi ấy chứ. Lão ta cũng từng làm nghề thợ làm bánh mà, phải không nhỉ? Thảo nào người ta gọi lão là Daw bột nhão. Dù sao thì lão ta cũng vơ vét được khối tài sản kha khá rồi. Cô con gái đã đính hôn với cái gã làm việc ở sở thuế nội địa có ô tô riêng đấy thôi. Kiếm được mối béo bở thật. Tiệc tùng linh đình. Rộng mở đón khách. Ăn chơi xả láng. Wetherup lúc nào cũng nói thế. Phải nắm thóp được cái dạ dày của bọn chúng.
Cánh cửa bên trong bị đẩy ra một cách thô bạo và một khuôn mặt có cái mũi đỏ như mỏ vạt, chỏm đầu lơ thơ tóc như chiếc mào gà thò cả vào. Đôi mắt xanh sắc lạnh đảo quanh và cất giọng gay gắt hỏi:
— Có chuyện gì thế?
— Kìa, vị thế gia giả mạo bằng xương bằng thịt xuất hiện rồi kìa! giáo sư MacHugh lớn tiếng tung hô.
— Cút xéo đi, đồ nhà giáo già khốn kiếp! chủ bút đáp lại bằng một câu chào thân ái.
— Nào Ned, ông Dedalus nói, vừa đội mũ lên. Sau vụ này tôi phải đi làm một ly mới được.
— Rượu chè gì tầm này! chủ bút quát lên. Không phục vụ đồ uống trước giờ lễ lạt gì sất.
— Nói chuẩn không cần chỉnh, ông Dedalus vừa nói vừa bước ra ngoài. Đi thôi Ned.
Ned Lambert lỉnh khỏi bàn làm việc. Đôi mắt xanh của chủ bút đảo về phía khuôn mặt anh Bloom đang thoáng hiện nụ cười.
— Myles, anh có muốn nhập bọn với chúng tôi không? Ned Lambert hỏi.
— Dân quân Bắc Cork! chủ bút hét lên, sải bước tới lò sưởi. Chúng ta đã thắng thế mọi lúc! Dân quân Bắc Cork và các sĩ quan Tây Ban Nha!
— Ở đâu cơ, Myles? Ned Lambert ngước nhìn mũi giày của mình với vẻ trầm ngâm hỏi.
— Ở Ohio chứ đâu! chủ bút quát lớn.
— Chuẩn cơm mẹ nấu rồi, thề có chúa, Ned Lambert phụ họa.
Khi bước ra ngoài, hắn thì thầm với J. J. O’Molloy:
— Lại chớm chứng giật kinh phong rồi đây. Đáng thương thật.
— Ohio! chủ bút cất giọng cao vút từ khuôn mặt đỏ gay đang ngẩng cao. Ohio của tôi đây!
— Đúng là một nhịp ba hoàn hảo! vị giáo sư thốt lên. Dài, ngắn rồi lại dài.
Ông lấy từ trong túi áo ghi lê ra một cuộn chỉ nha khoa, bẻ lấy một đoạn rồi búng thật lực vào giữa những chiếc răng hô chưa chải đang vang lên lanh lách.
— Binh bang, bang bang.
Nhận thấy đường đi đã quang đãng, anh Bloom liền hướng thẳng về phía cánh cửa bên trong.
— Xin phiền anh một lát nhé, anh Crawford, anh nói. Tôi chỉ muốn gọi điện thoại về vụ quảng cáo thôi.
Anh bước vào.
— Thế còn bài xã luận chiều nay thì sao? giáo sư MacHugh vừa hỏi vừa tiến lại phía chủ bút, đặt một bàn tay vững chãi lên vai hắn.
— Mọi chuyện sẽ đâu vào đấy cả thôi, Myles Crawford điềm tĩnh đáp. Đừng có mà lo bò trắng răng. Chào Jack. Mọi thứ ổn cả.
— Chào Myles, J. J. O’Molloy vừa nói vừa để những trang giấy trên tay rớt lả tả xuống tập tài liệu. Liệu vụ lừa đảo ở Canada có được đưa ra xét xử vào ngày hôm nay không?
Điện thoại bên trong reo vang.
— Hai mươi tám... Không, hai mươi... Kép bốn... Vâng... Vâng.
Lenehan bước ra từ văn phòng bên trong tay cầm những bản tin đua ngựa bản mỏng.
— Ai muốn mua tin chắc ăn cho giải Cúp Vàng không nào? hắn hỏi. Ngựa Sceptre do O. Madden nài đấy.
Hắn ném phắt mấy tờ giấy lên bàn.
Tiếng réo hò của đám bán báo chân đất ngoài sảnh vọng lại gần và cánh cửa đột ngột bị đẩy toang ra.
— Im lặng nào, Lenehan nói. Tôi nghe thấy tiếng chân bước rồi đấy.
Giáo sư MacHugh sải bước qua phòng, túm lấy cổ áo tên nhóc đang co rúm lại trong khi lũ trẻ khác đang tháo chạy tán loạn khỏi sảnh và lao rầm rầm xuống bậc thang. Những tờ giấy mỏng rung lên phần phật trong luồng gió lùa, bay lơ lửng giữa không trung với những nét mực xanh nguệch ngoạc rồi rơi xuống đất ngay dưới gầm bàn.
— Không phải con đâu ạ. Tại thằng to con kia xô con cơ ạ.
— Tống cổ nó ra ngoài rồi đóng cửa lại đi, chủ bút nói. Ngoài đó gió bão đang thổi tung lên kìa.
Lenehan bắt đầu lồm cồm cúi xuống nhặt mấy tờ giấy dưới sàn, vừa nhặt vừa lẩm bẩm kêu hừ hừ.
— Tụi cháu đợi số báo đặc biệt về đua ngựa mà thưa chú, cậu bé bán báo thanh minh. Chính thằng Pat Farrell đã xô cháu ạ.
Cậu ta chỉ tay về phía hai khuôn mặt đang nhòm ngó quanh khung cửa.
— Nó đấy ạ, thưa chú.
— Biến khỏi đây mau, giáo sư MacHugh cộc cằn quát lớn.
Ông xô cậu bé ra ngoài rồi sập mạnh cửa lại.
J. J. O’Molloy lật giở những tập tài liệu nghe rột roạt, vừa dò tìm vừa lẩm bẩm đọc:
— Đọc tiếp trang sáu, cột bốn.
— Vâng, tờ Evening Telegraph đây ạ, anh Bloom gọi điện từ phòng bên trong. Sếp có... Vâng, Telegraph... Đi đâu cơ? À ha! Phòng đấu giá nào?... À ha! Tôi hiểu rồi... Được rồi. Tôi sẽ tìm gặp ông ấy.
Chuông điện thoại lại reo lên khi anh cúp máy. Anh vội vã bước ra và va phải Lenehan đang lồm cồm đứng dậy cùng tờ giấy thứ hai.
— Xin lỗi nhé thưa ngài, Lenehan vừa nói vừa níu lấy anh ta giây lát và nhăn mặt.
— Lỗi của tôi, anh Bloom nói, mặc cho hắn bấu víu. Cậu có bị thương không đấy? Tôi đang vội lắm.
— Trúng đầu gối rồi, Lenehan nói.
Hắn làm bộ mặt hề rồi rên rỉ, tay xoa xoa đầu gối:
— Hậu quả của tuổi tác đấy.
— Tiếc quá nhỉ, anh Bloom nói.
Anh tiến ra cửa, hé mở rồi khựng lại. J. J. O’Molloy đập mạnh những trang giấy dày. Tiếng hai giọng trẻ con lanh lảnh kèm theo tiếng kèn ác-mô-ni-ca vang vọng ở căn sảnh trống trải từ chỗ đám bán báo đang ngồi xổm trên bậc cửa:
Chúng ta là những chàng trai Wexford
Đã chiến đấu bằng cả trái tim và đôi tay.
— Tôi đang tạt qua Bachelor’s Walk đây, anh Bloom nói, về vụ mẩu quảng cáo của Keyes. Phải giải quyết cho xong xuôi. Người ta bảo hắn đang ở quanh vùng Dillon’s đó.
Anh ngập ngừng đưa mắt nhìn nét mặt họ trong giây lát. Chủ bút, người đang dựa lưng vào bệ lò sưởi, tay chống cằm, bỗng vung mạnh một cánh tay ra.
— Biến đi! hắn quát. Cả thế giới đang chờ trước mắt kìa.
— Về ngay đây, anh Bloom vừa nói vừa vội vã bước ra.
J. J. O’Molloy cầm lấy mấy tờ giấy từ tay Lenehan rồi đọc chăm chú, khẽ thổi cho chúng tách ra mà không bình luận gì thêm.
— Hắn sẽ lấy được mẩu quảng cáo đó cho xem, vị giáo sư nói, nheo mắt nhìn qua cặp kính gọng đen dọc theo tấm rèm che ngang cửa sổ. Kìa, nhìn lũ nhóc con đang bám theo hắn kìa.
— Đâu xem nào? Lenehan kêu lên, chạy bổ ra cửa sổ.
Cả hai cùng tủm tỉm cười qua tấm rèm che nhìn theo đoàn lũ nhóc bán báo đang nhấp nhô chạy theo sau anh Bloom, chiếc nơ trắng ở đuôi vẫy vùng trong gió trông hệt như một con diều chế giễu.
— Nhìn cái thằng ranh con chạy sau hắn kìa, hô hào náo loạn chưa kìa, Lenehan nói, xem cậu đá kìa. Ồ, buồn cười chết mất thôi! Bắt chước cái dáng đi với đôi chân bẹt kìa. Cỡ giày số chín nhỏ xíu. Lén lút như ăn trộm ấy nhỉ.
Hắn bắt đầu nhún nhảy điệu mazurka đầy vẻ châm biếm lướt qua sàn nhà dọc theo lò sưởi tiến về phía J. J. O’Molloy — người đang trao mấy tờ giấy vào đôi tay đang chờ sẵn.
— Gì thế hả? Myles Crawford giật mình hỏi. Hai người kia đi đâu mất rồi?
— Ai cơ? vị giáo sư quay người lại hỏi. Bọn chúng qua quán Oval làm vài ly rồi. Paddy Hooper đang ở đó với Jack Hall. Mới tới hồi tối qua.
— Đi thôi nào, Myles Crawford nói. Mũ của tôi đâu rồi?
Hắn xách người bước vào căn phòng bên trong, vén vạt áo khoác sau lưng, tay khua khoắng mớ chìa khóa bỏ trong túi quần. Tiếng chìa khóa kêu lanh canh trong không trung và va vào cạnh gỗ khi hắn khóa ngăn bàn làm việc lại.
— Lão ta ngà ngà say rồi đấy, giáo sư MacHugh hạ thấp giọng nói.
— Có vẻ thế, J. J. O’Molloy vừa nói vừa lẩm bẩm trầm ngâm rút hộp thuốc lá ra, nhưng bề ngoài chưa chắc đã là sự thật đâu. Ai có diêm đấy?
Hắn mời giáo sư một điếu thuốc rồi tự châm cho mình một điếu. Lenehan nhanh nhẹn bật quẹt châm lửa cho hai người lần lượt hút. J. J. O’Molloy lại mở hộp thuốc mời tiếp.
— Cảm ơn nhiều nhé, Lenehan nói, tự nhiên rút một điếu.
Chủ bút bước ra từ căn phòng phía trong, chiếc mũ cót mép lệch hẳn sang một bên trán. Hắn cất giọng ngâm nga, tay chỉ thẳng vào giáo sư MacHugh với vẻ nghiêm nghị:
Chính danh vọng và quyền uy đã cám dỗ ngươi,
Chính đế chế đã làm say đắm trái tim ngươi.
Vị giáo sư nhe răng cười, đôi môi mỏng mím chặt lại.
— Hả? Đồ đế chế La Mã khốn kiếp? Myles Crawford nói.
Hắn rút một điếu thuốc từ chiếc hộp đang mở. Lenehan nhanh nhẹn và duyên dáng châm lửa cho hắn, rồi nói:
— Xin hãy giữ trật tự để nghe câu đố mới tinh của tôi nào!
— Đế chế La Mã à, J. J. O’Molloy nhẹ nhàng lên tiếng. Nghe có vẻ cao sang hơn là Anh quốc hay vùng Brixton ấy chứ. Nghe cái từ đó cứ gợi ta liên tưởng đến sự rắc rối tột cùng.
Myles Crawford phả một hơi khói dày đặc lên tận trần nhà.
— Chuẩn luôn, hắn nói. Chúng ta chính là những kẻ chịu trận đấy. Cậu với tôi chẳng khác nào mỡ treo miệng mèo. Chẳng có nổi một phần trăm cơ hội sống sót đâu.
— Khoan đã nào, giáo sư MacHugh vừa nói vừa giơ hai ngón tay điềm đạm lên. Chúng ta không được để bị đánh lạc hướng bởi những từ ngữ, bởi âm thanh của câu chữ. Khi nghĩ đến Rome, ta nghĩ đến sự đế vương, hống hách và độc đoán.
Ông dang rộng hai tay mang đậm phong cách ngâm tụng từ đôi tay áo sờn rách, đoạn dừng lại:
— Nền văn minh của bọn chúng là gì cơ chứ? Phải thừa nhận là rất vĩ đại: nhưng vô cùng đồi bại. Cloacae: hệ thống cống rãnh. Người Do Thái nơi hoang mạc và trên đỉnh núi cao đã từng phán rằng: Thật phải lẽ biết bao khi được ở nơi đây. Hãy cùng nhau dựng lên một Tòa thờ kính Đức Giê-hô-va. Còn người La Mã, cũng giống như gã người Anh nối gót theo sau, đặt chân đến bất kỳ bờ biển mới nào (riêng bờ biển chúng ta thì chưa bao giờ đặt chân tới) chỉ mang theo cái nỗi ám ảnh về hố xí mà thôi. Hắn đứng ngắm nghía trong bộ áo toga của mình và cất lời: Thật phải lẽ biết bao khi được ở nơi đây. Hãy cùng nhau xây dựng một cái nhà vệ sinh đi.
— Và quả thực bọn chúng đã làm thế, Lenehan tiếp lời. Tổ tiên thời hồng hoang của chúng ta, như ta đã đọc trong chương đầu tiên của sách Guinness, rất có cảm tình với những dòng suối chảy đấy chứ.
— Bọn họ mới đúng là những quý ông đích thực của tự nhiên, J. J. O’Molloy lẩm bẩm. Nhưng chúng ta cũng có luật pháp La Mã cơ mà.
— Và Pontius Pilate chính là nhà tiên tri của bộ luật đó, giáo sư MacHugh đáp lời.
— Anh có biết câu chuyện về chánh án Palles không? J. J. O’Molloy hỏi. Ấy là tại bữa tối của trường đại học hoàng gia. Mọi chuyện đang diễn ra vô cùng suôn sẻ...
— Hãy nghe câu đố của tôi trước đã, Lenehan xen vào. Đã sẵn sàng chưa nào?
Ông O’Madden Burke, cao gầy trong bộ đồ vải tuê-đét màu xám đầy đặn, bước vào từ ngoài sảnh. Stephen Dedalus theo sau, cởi mũ khi bước vào.
— Xin mời vào, hỡi các bạn nhỏ! Lenehan réo lên.
— Tôi đang hộ tống một kẻ thỉnh cầu đấy, ông O’Madden Burke cất giọng du dương. Tuổi trẻ dưới sự dẫn dắt của Kinh nghiệm đang đến thăm Sự nổi tiếng.
— Chào anh nhé, chủ bút vừa nói vừa chìa tay ra. Vào đi. Sếp của cậu vừa mới đi xong kìa.
Lenehan lớn tiếng tuyên bố với mọi người:
— Im lặng nào! Vở ô-pê-ra nào trông giống như một tuyến đường sắt? Hãy suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm và trả lời xem nào.
Stephen trao những trang giấy đánh máy, chỉ vào phần tiêu đề và chữ ký.
— Ai thế? chủ bút hỏi.
Một góc giấy đã bị xé rách.
— Thưa ngài Garrett Deasy, Stephen đáp.
— Lão già cứng đầu đó á, chủ bút nói. Ai xé nó thế này? Lão ta bị đau bụng à?
Trên đôi cánh gió lồng lộng bay
Từ cơn bão và phương nam giận dữ
Hắn đến kìa, con ma cà rồng tái xanh,
Áp sát đôi môi vào môi ta.
— Chào Stephen, vị giáo sư vừa nói vừa tiến lại gần nhìn qua vai họ. Lở mồm long móng à? Cậu đã chuyển sang làm...?
Nhà thơ kết thân với loài bò.
— Cháu chào ngài, Stephen đỏ mặt đáp lời. Bức thư này không phải của cháu. Chính ngài Garrett Deasy đã nhờ cháu...
— Ồ, tôi biết rõ lão ta mà, Myles Crawford nói, và tôi cũng biết cả vợ lão ta nữa. Mụ đàn bà ghê gớm cay nghiệt nhất mà Chúa từng tạo ra. Thề có Chúa, mụ ta mới chính là kẻ mắc bệnh lở mồm long móng chính hiệu chứ chẳng chơi! Đêm mà mụ ta hất cả bát súp vào mặt người hầu bàn ở quán Star and Garter ấy. Ồ ho!
Chính người phụ nữ đã mang tội lỗi đến cho thế gian này. Vì Helen, người vợ bỏ trốn của Menelaus, dân Hy Lạp đã chiến đấu suốt mười năm trời. O’Rourke, hoàng tử xứ Breffni.
— Lão ta góa vợ rồi à? Stephen hỏi.
— Ừ, một dạng góa vợ nửa mùa, Myles Crawford nói, mắt vẫn đảo theo đoạn văn bản đánh máy. Ngựa của hoàng đế. Triều đại Habsburg. Một người Ireland đã cứu mạng hoàng đế trên tường thành Vienna đấy. Đừng có mà quên nhé! Maximilian Karl O’Donnell, bá tước xứ Tirconnell ở Ireland. Đã cử người thừa kế sang để phong nhà vua làm thống soái quân đội Áo rồi đấy. Sắp có chuyện lớn xảy ra ở đó cho mà xem. Những cánh nhạn di cư. Ồ chắc chắn là thế rồi. Đừng có mà quên điều đó đấy!
— Vấn đề then chốt là liệu lão ta có quên điều đó không cơ chứ, J. J. O’Molloy điềm tĩnh nói, tay lật qua lật lại chiếc chặn giấy hình móng ngựa. Cứu rỗi các bậc vương tôn công tử chẳng bao giờ là một công việc được người ta biết ơn đâu.
Giáo sư MacHugh quay phắt lại nhìn hắn.
— Thế còn nếu không thì sao? ông hỏi.
— Tôi sẽ kể cho các anh nghe chuyện này xảy ra thế nào nhé, Myles Crawford bắt đầu. Ấy là chuyện về một người Hungary vào một ngày nọ...
— Chúng ta từ trước đến nay vẫn luôn trung thành với những nghĩa cử thất bại, vị giáo sư nói. Thành công đối với chúng ta chính là sự cáo chung của trí tuệ và trí tưởng tượng. Chúng ta chưa từng trung thành với kẻ chiến thắng. Chúng ta chỉ phục tùng bọn chúng mà thôi. Tôi dạy cái thứ ngôn ngữ Latinh phô trương này. Tôi nói tiếng nói của một dân tộc mà đỉnh cao trí tuệ được đúc kết qua châm ngôn: thời gian là tiền bạc. Sự thống trị vật chất. Dominus! Chúa tể! Thế còn tinh thần nằm ở đâu? Chúa Jesus chăng? Chúa Salisbury chăng? Hắn đang ngồi trên chiếc ghế sô-pha ở một câu lạc bộ phía tây thủ đô ấy chứ. Nhưng tiếng Hy Lạp thì khác!
Một nụ cười rạng rỡ thắp sáng đôi mắt viền đen, làm dài thêm đôi môi mỏng của ông.
— Tiếng Hy Lạp! ông lặp lại lần nữa. Kyrios! Từ ngữ thật ngời sáng! Những nguyên âm mà người Semite và người Saxon hoàn toàn mù tịt. Kyrie! Ánh hào quang của trí tuệ. Lẽ ra tôi phải dạy tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ của tâm trí mới phải. Kyrie eleison! Những kẻ đóng tủ và thợ làm hố xí muôn đời sẽ không bao giờ làm chủ được tinh thần chúng ta. Chúng ta là những thần dân trung thành của hiệp sĩ đoàn Công giáo châu Âu đã chìm nghỉm tại Trafalgar và của đế chế tinh thần — chứ không phải một imperium — đã lụy tàn cùng hạm đội Athens ở Aegospotami. Phải, phải. Bọn chúng đã lụy tàn. Pyrrhus, bị một lời tiên tri đánh lừa, đã thực hiện nỗ lực cuối cùng để cứu vãn vận mệnh của Hy Lạp. Vẫn trung thành với một nghĩa cử thất bại.
Ông sải bước rời khỏi bọn họ để hướng về phía cửa sổ.
— Bọn họ đã xông ra trận tuyến, ông O’Madden Burke cất giọng trầm buồn, nhưng rồi họ vẫn luôn gục ngã.
— Huhu! Lenehan làm bộ sụt sùi phát ra tiếng nhỏ. Chỉ vì một viên gạch ném trúng vào nửa sau buổi diễn ban ngày. Tội nghiệp, tội nghiệp, tội nghiệp Pyrrhus thay!
Hắn đoạn thì thầm vào tai Stephen:
Có một bậc uyên bác MacHugh tên là Pundit
Đeo cặp kính đen sì chẳng thấy đường đi.
Bởi lão nhìn cái gì cũng thành hai nẻo
Thì hà cớ gì cứ phải đeo cho bận lòng theo?p
Tôi chẳng thấy có gì buồn cười ở mẩu chuyện Joe Miller cả. Còn cậu thì sao?
Đang để tang cho Sallust đấy, Mulligan bảo thế. Ai có người mẹ chết thảm thương cơ chứ.
Myles Crawford nhét nhồi nhét nhét mấy tờ giấy vào túi áo bên.
— Mọi chuyện sẽ ổn thỏa cả thôi, hắn nói. Phần còn lại tôi sẽ đọc sau. Sẽ ổn cả thôi mà.
Lenehan giơ hai tay lên ra vẻ phản đối.
— Thế còn câu đố của tôi thì sao? hắn nói. Vở ô-pê-ra nào giống như một tuyến đường sắt cơ chứ?
— Ô-pê-ra à? Khuôn mặt hình nhân sư của ông O’Madden Burke lại đố ngược lại.
Lenehan vui mừng công bố:
— Vở Bông hồng xứ Castille (The Rose of Castile). Hiểu ý chưa hả? Hàng thép cuộn đấy (Rows of cast steel). Tuyệt cú mèo chưa!
Hắn khẽ huých vào mạn sườn ông O’Madden Burke. Ông O’Madden Burke làm bộ ngả người duyên dáng vào chiếc ô, giả vờ thở hồng hộc.
— Cứu tôi với! ông thở dài. Tôi thấy bủn rủn chân tay quá rồi đây.
Lenehan nhón gót chân lên, nhanh tay dùng mấy tờ giấy mỏng quạt lấy quạt để vào mặt mình.
Vị giáo sư, trên đường đi ngược lại qua mấy tập tài liệu, liền khua tay quẹt qua mấy chiếc cà vạt lỏng lẻo của Stephen và ông O’Madden Burke.
— Paris, quá khứ và hiện tại đấy, ông nói. Trông hai cậu chẳng khác nào mấy tên công xã thủ đô cả.
— Giống mấy gã vừa cho nổ tung ngục Bastile ấy nhỉ, J. J. O’Molloy mỉm cười châm biếm. Hay chính hai cậu là người đã ám sát toàn quyền Phần Lan vậy? Trông hai cậu chẳng khác nào vừa mới lập nên chiến công oanh liệt ấy nhỉ. Tên tổng đốc Bobrikoff.
— Bọn cháu mới chỉ nghĩ đến điều đó thôi mà, Stephen nói.
— Tụ hội toàn những nhân tài kiệt xuất, Myles Crawford nói. Luật pháp, văn học cổ điển...
— Cả cá cược đua ngựa nữa chứ, Lenehan thêm vào.
— Văn học, cả báo chí nữa chứ.
— Giá mà có Bloom ở đây nhỉ, vị giáo sư nói. Nghệ thuật quảng cáo thanh tao.
— Cả phu nhân Bloom nữa chứ, ông O’Madden Burke nói thêm. Nữ thần âm nhạc. Thần tượng số một của Dublin.
Lenehan húng hắng ho lớn.
— Khụ khụ! hắn khẽ khàng lên tiếng. Ôi, thèm làm sao một ngụm không khí trong lành! Tôi bị nhiễm lạnh ngoài công viên rồi. Cổng công viên lúc ấy lại mở toang ra cơ chứ.
Chủ bút đặt một bàn tay đầy lo lắng lên vai Stephen.
— Tôi muốn cậu viết cho tôi một bài, hắn nói. Một bài viết có sức nặng thực sự ấy. Cậu làm được mà. Tôi nhìn thấy điều đó trên khuôn mặt cậu. Trong từ vựng của tuổi trẻ...
Nhìn thấy trên khuôn mặt cậu. Nhìn thấy trong ánh mắt cậu. Đứa lười biếng ham chơi trốn việc.
— Bệnh lở mồm long móng cái gì chứ! chủ bút tuôn ra một tràng chỉ trích đầy khinh miệt. Đại hội người theo chủ nghĩa dân tộc vĩ đại ở Borris-in-Ossory. Toàn nhảm nhí! Chỉ giỏi bịp bợm dắt mũi công chúng! Hãy viết cho họ một bài thật có trọng lượng vào. Lôi tuốt cả bọn chúng vào đó cho tao, mặc thây cái linh hồn nhà chúng nó đi. Cha, Con và Chúa Thánh Thần cùng cả Jakes M’Carthy nữa.
— Chúng tôi đều có thể cung cấp chất xám cho anh mà, ông O’Madden Burke nói.
Stephen ngước mắt nhìn thẳng vào cái nhìn bướng bỉnh vô cảm ấy.
— Hắn đang muốn bắt cậu vào quân đoàn báo chí đấy, J. J. O’Molloy nói.
— Cậu làm được mà, Myles Crawford lặp lại, nắm chặt tay nhấn mạnh. Chờ một phút xem nào. Chúng ta sẽ làm cho châu Âu phải tê liệt giống như Ignatius Gallaher từng nói khi hắn còn đang lang thang chật vật, làm trọng tài bi-a ở quán Clarence. Gallaher, đúng là một tay nhà báo cừ khôi cho cậu thấy đấy. Một ngòi bút thực thụ. Cậu có biết hắn tạo dựng tên tuổi bằng cách nào không? Tôi sẽ kể cho mà nghe. Đó là bài báo phóng sự thông minh nhất từng được biết đến. Ấy là vào năm tám mươi mốt, ngày mùng sáu tháng Năm, thời của bọn sát thủ vô hình, vụ ám sát ở công viên Phoenix, chắc là trước khi cậu ra đời ấy nhỉ. Tôi sẽ cho cậu thấy tận mắt.
Hắn gạt họ ra để tiến thẳng đến mấy tập tài liệu.
— Nhìn đây này, hắn vừa quay người vừa nói. Tờ New York World đã đánh điện khẩn yêu cầu một bài phóng sự độc quyền. Cậu còn nhớ thời gian đó chứ?
Giáo sư MacHugh gật đầu.
— Bờ-rào New York World, chủ bút vừa phấn khích đẩy lùi chiếc mũ cót mép vừa nói. Nơi diễn ra vụ việc ấy. Tim Kelly, ý tôi là Kavanagh. Joe Brady cùng đám đồng bọn. Nơi mà gã Skin-the-Goat lái chiếc xe ngựa ấy. Toàn bộ lộ trình luôn, thấy chưa?
— Skin-the-Goat, ông O’Madden Burke nói. Fitzharris. Nghe nói lão ta đang quản lý cái quán trọ dành cho đánh xe ngựa ở dưới chân cầu Butt ấy. Holohan kể với tôi thế. Cậu có biết Holohan không?
— Gã chân thấp chân cao ấy hả? Myles Crawford nói.
— Cả tội nghiệp Gumley cũng đang ở dưới đó nữa, hắn kể với tôi thế, đang làm công việc canh gác đống đá cho hội đồng thành phố. Làm bảo vệ ca đêm.
Stephen ngạc nhiên quay người lại.
— Gumley ư? cậu nói. Thật thế á? Một người bạn của tía em cơ à?
— Đừng có bận tâm đến Gumley nữa, Myles Crawford bực tức quát lên. Cứ để Gumley canh đống đá đi, coi chừng chúng chạy mất đấy. Nhìn đây này. Ignatius Gallaher đã làm gì nào? Tôi sẽ kể cho nghe. Nguồn cảm hứng thiên tài đấy. Hắn đánh điện khẩn ngay lập tức. Cậu có số báo Weekly Freeman ngày 17 tháng Ba không? Có chứ. Cậu có nó chưa?
Hắn lật phăng những trang tài liệu và dán chặt ngón tay vào một điểm.
— Lấy trang bốn ra, chẳng hạn như quảng cáo cà phê Bransome. Cậu có chưa? Có rồi nhé.
Điện thoại reo vang.
— Để tôi nghe máy cho, vị giáo sư vừa nói vừa bước đi.
— B là cổng công viên. Được rồi.
Ngón tay hắn thoăn thoắt trỏ qua trỏ lại từng điểm một đầy phấn khích.
— T là dinh phó vương. C là nơi xảy ra vụ án mạng. K là cổng Knockmaroon.
Phần thịt nhão ở cổ hắn rung lên bần bật như mào gà trống. Chiếc cổ áo sơ-mi cộc cịch chĩa ngược lên và hắn thô bạo nhét thốc nó trở lại vào trong chiếc áo ghi-lê.
— Alo? Tòa soạn Evening Telegraph đây... Alo?... Ai đầu dây đấy?... Vâng... Vâng... Vâng.
— Từ F đến P là lộ trình gã Skin-the-Goat lái xe để tạo bằng chứng ngoại phạm: Inchicore, Roundtown, Windy Arbour, Palmerston Park, Ranelagh. F.A.B.P. Cậu đã rõ chưa? X là quán rượu của Davy ở phố Upper Leeson.
Vị giáo sư tiến lại gần cửa phòng bên trong.
— Bloom đang gọi điện thoại kìa, ông nói.
— Bảo hắn xuống âm phủ luôn đi cho khuất mắt, chủ bút nhanh nhẩu đáp. X là quán rượu của Davy, hiểu chưa hả?
— Thông minh thật đấy, Lenehan xuýt xoa. Quá đỉnh.
— Dọn sẵn mâm bạc cho chúng nó xơi luôn chứ còn gì nữa, Myles Crawford nói, toàn bộ câu chuyện đẫm máu đó đấy.
Cơn ác mộng mà cậu sẽ chẳng bao giờ tỉnh giấc nổi.
— Tôi đã tận mắt chứng kiến đấy, chủ bút kiêu hãnh nói. Tôi có mặt ở đó mà. Dick Adams, gã người Cork tốt tính nhất mà Chúa từng ban phước cho cõi đời này, cùng với chính tôi đây.
Lenehan cúi đầu chào một khoảng không vô định, lớn tiếng ngâm nga:
— Thưa bà, tôi là Adam. Và tôi từng là kẻ uy dũng trước khi thấy đảo Elba.
— Lịch sử đấy! Myles Crawford hét lên. Mụ già phố Prince’s mới là người có mặt ở đó đầu tiên đấy nhé. Đã có biết bao nhiêu giọt nước mắt và tiếng nghiến răng ken két vì vụ đó đấy. Bắt nguồn từ một mẩu quảng cáo. Gregor Grey đã phác thảo thiết kế cho nó. Nhờ thế mà lão ta mới phất lên được đấy. Rồi Paddy Hooper làm việc cho Tay Pay — tay này sau đó đã lôi kéo hắn về tờ Star. Giờ thì hắn đã luồn lách được vào chỗ Blumenfeld rồi đấy. Thế mới gọi là làm báo chứ. Mới đích thực là tài năng chứ. Pyatt! Hắn chính là bố thiên hạ của bọn chúng ấy chứ!
— Ông tổ của dòng báo chí giật gân, Lenehan phụ họa, đồng thời là anh em cột sức với Chris Callinan.
— Alo?... Cậu còn đó không?... Vâng, hắn vẫn ở đây. Cậu cứ tự nhiên ghé qua đi.
— Bây giờ kiếm đâu ra một tay nhà báo đỉnh như thế nữa cơ chứ, hử? chủ bút kêu lên.
Hắn hất phăng mấy trang giấy xuống bàn.
— Đỉnh của chóp luôn, Lenehan nói với ông O’Madden Burke.
— Quá ư là sắc sảo, ông O’Madden Burke nhận xét.
Giáo sư MacHugh bước ra từ văn phòng bên trong.
— Đang bàn về bọn sát thủ vô hình phải không, ông nói, các cậu có hay tin mấy kẻ bán hàng rong vừa bị đưa ra trước tòa án thành phố không...
— Ồ có chứ, J. J. O’Molloy hào hứng tiếp lời. Phu nhân Dudley đang đi bộ qua công viên để ngắm nhìn mấy cái cây bị bật gốc do trận cuồng phong năm ngoái và định bụng mua một bức tranh phong cảnh Dublin về làm kỷ niệm. Ai ngờ hóa ra đó lại là một tấm bưu thiếp kỷ niệm hình Joe Brady, hay Số Một, hay là Skin-the-Goat. Lại ngay trước cửa dinh phó vương mới chết chứ, các cậu tưởng tượng xem!
— Bọn chúng chỉ giỏi viết mấy chuyện vặt vãnh ruồi bu thôi, Myles Crawford phẩy tay. Xỉ! Báo chí với luật sư! Giờ thì các cậu còn tìm đâu ra một gã hành nghề luật sư nào ra ra trò như thế nữa, như Whiteside, như Isaac Butt, như O’Hagan có biệt tài "lưỡi bạc" cơ chứ? Hả? Chẳng qua toàn mấy thứ vớ vẩn nhảm nhí. Xỉ! Chỉ đáng xách dép thôi.
Cạnh khóe môi hắn vẫn tiếp tục co giật không thành tiếng với những nụ cười khinh miệt.
Liệu có ai lại muốn trao nụ hôn cho cái miệng đó không nhỉ? Sao cậu lại biết cơ chứ? Thế sao lúc ấy cậu lại viết ra làm gì?
Miệng, nam. Chẳng lẽ hướng nam lại có cái miệng nào sao? Hay phương nam chính là một cái miệng? Chắc chắn phải có chứ. Nam (South), bĩu môi (pout), ra ngoài (out), hét lên (shout), khô hạn (drouth). Vần điệu: hai gã đàn ông ăn mặc giống hệt nhau, trông y chang nhau, từng đôi một.
........................ bình yên của ngươi
.................. thứ mà ngươi thích ngâm nga
Cho đến khi ngọn gió, như thường lệ, lặng thinh.
Hắn nhìn thấy bọn họ từng nhóm ba người, những cô gái đang tiến lại gần, trong trang phục màu xanh lá, màu hồng phớt, màu nâu đỏ, đan cài vào nhau, per l’aer perso, trong sắc màu hoa cà, sắc tím, quella pacifica oriafiamma, sắc vàng của lá cờ rực rỡ, di rimirar fè più ardenti. Nhưng còn tôi, những lão già tội lỗi, bước đi nặng nề, lầm lũi dưới bóng đêm: miệng nam: mồ mả tử cung.
— Tự lo thân mình đi chứ, ông O’Madden Burke nói.
J. J. O’Molloy nở nụ cười nhợt nhạt, bước lên nhận lấy lời thách thức.
— Này Myles thân mến, hắn nói, vứt điếu thuốc sang một bên, anh đang hiểu sai ý tôi rồi đấy. Theo như tình hình hiện tại, tôi không hề bào chữa cho giới luật sư với tư cách là một nghề nghiệp, nhưng có vẻ như đôi chân xứ Cork của anh đang chạy đi đâu mất tiêu rồi đấy. Sao không nhắc luôn cả Henry Grattan, Flood, Demosthenes và Edmund Burke vào đây luôn đi? Ignatius Gallaher thì ai mà chẳng biết, rồi cả gã sếp ở Chapelizod của hắn ta — Harmsworth chuyên làm báo giá rẻ, chưa kể đến người anh em họ hàng bên Mỹ của hắn chuyên xuất bản mấy tờ báo lá cải ở khu Bowery, rồi tờ Budget của Paddy Kelly, tờ Pue’s Occurrences và người bạn luôn cảnh giác của chúng ta tờ The Skibbereen Eagle nữa chứ. Lôi một bậc thầy hùng biện tranh tụng như Whiteside vào đây làm quái gì cơ chứ? Mỗi tờ báo đều có thời gian hoàng kim của riêng nó thôi.
— Cả Grattan và Flood đều từng viết bài cho chính tờ báo này đấy, chủ bút quát thẳng vào mặt hắn. Lực lượng tình nguyện Ireland đấy. Giờ thì các cậu trôi dạt về đâu rồi hả? Được thành lập từ năm 1763. Tiến sĩ Lucas. Giờ trong tay các cậu còn ai tầm cỡ như John Philpot Curran nữa cơ chứ? Xỉ!
— Thôi nào, J. J. O’Molloy nói, ví dụ như ngài biện lý Bushe chẳng hạn.
— Bushe á? chủ bút thốt lên. Ờ thì, đúng vậy: Bushe đấy. Trong dòng máu của lão ta cũng có chút ít khiếu chất đó. Ý tôi là Kendal Bushe hoặc Seymour Bushe.
— Lão ta đã ngồi vào chiếc ghế thẩm phán từ lâu lắm rồi, vị giáo sư nói, nếu như không vì... Thôi bỏ qua đi.
J. J. O’Molloy quay sang Stephen, chậm rãi và điềm đạm cất lời:
— Có lẽ một trong những đoạn văn xuôi chải chuốt nhất mà tôi từng được nghe trong đời chính là những lời phát biểu thốt ra từ cửa miệng của Seymour Bushe. Đó là trong vụ án huynh đệ tương tàn, vụ án mạng nhà Childs. Bushe chính là luật sư bào chữa cho bị cáo.
Và rót vào đôi vành tai của ta.
Nhân tiện, làm thế nào mà hắn phát hiện ra chuyện đó nhỉ? Hắn chết trong lúc ngủ cơ mà. Hay là câu chuyện khác, kẻ quái dị mang hai tấm lưng?
— Vụ gì thế? vị giáo sư hỏi.
— Hắn đã bàn về luật chứng cứ, J. J. O’Molloy nói, về công lý La Mã đối lập với bộ luật Mosaic trước đó, bộ luật đền bù tương đương lex talionis. Và hắn đã dẫn chứng bức tượng Moses của Michelangelo ở Vatican.
— Ồ.
— Vài lời được chắt lọc kỹ càng thôi, Lenehan mở đầu. Im lặng nào!
Khoảng lặng bao trùm. J. J. O’Molloy lấy hộp thuốc lá ra.
Khoảng lặng giả tạo. Một thứ gì đó hoàn toàn bình thường.
Kẻ đưa tin trầm ngâm lấy hộp diêm ra và châm điếu xì-gà.
Khi ngẫm nghĩ lại khoảng thời gian kỳ lạ đó, tôi vẫn thường nghĩ rằng chính hành động nhỏ bé ấy, tự nó chẳng có gì là to tát cả, chính cái quẹt diêm đó, mới là thứ định đoạt toàn bộ chặng đường tương lai trong cuộc đời của cả hai chúng tôi.
J. J. O’Molloy tiếp lời, trau chuốt từng câu chữ:
— Hắn đã nói về nó thế này: bức tượng bằng đá trong khúc âm thanh băng giá, có sừng và đáng sợ của hình hài con người thần thánh, biểu tượng vĩnh hằng của sự thông thái và lời tiên tri — thứ mà nếu bất cứ tác phẩm nào được tạo ra từ trí tưởng tượng hay đôi bàn tay nhà điêu khắc bằng cẩm thạch mang sức mạnh biến đổi tâm hồn xứng đáng được trường tồn, thì nó thực sự xứng đáng được trường tồn.
Bàn tay mảnh khảnh của hắn vẫy nhẹ theo âm vang và nhịp điệu hạ xuống của câu chữ.
— Hay tuyệt! Myles Crawford thốt lên ngay lập tức.
— Đậm chất thần thánh phù trợ, ông O’Madden Burke bình luận.
— Cậu thấy thích chứ? J. J. O’Molloy hỏi Stephen.
Stephen, người đang bị cuốn hút trước vẻ đẹp ngôn từ và cử chỉ ấy, đỏ bừng mặt. Cậu rút một điếu thuốc từ trong hộp. J. J. O’Molloy liền mời hộp thuốc cho Myles Crawford. Lenehan lại châm thuốc cho họ y như trước rồi nhận lấy phần thưởng của mình, miệng không quên tâng bốc:
— Cảm ơn chúc phúc nhiều nhiều nhé.
— Giáo sư Magennis vừa trò chuyện với tôi về cậu đấy, J. J. O’Molloy nói với Stephen. Cậu thực sự nghĩ thế nào về đám người huyền bí học đó, mấy nhà thơ theo chủ nghĩa mờ ảo ngọc mắt mèo ấy: A. E. — bậc thầy huyền bí? Mụ Blavatsky là kẻ khởi xướng ra chuyện đó. Mụ ta đúng là một mụ già ranh ma thú vị. A. E. vừa mới ba hoa với một tên phóng viên người Mỹ rằng cậu đã tìm đến lão ta vào lúc canh khuya chỉ để hỏi về các tầng ý thức. Magennis cho rằng chắc cậu đang trêu chọc lão A. E. đấy thôi. Lão Magennis là người có đạo đức vô cùng cao thượng đấy.
Lại đang bàn về mình kìa. Hắn đã nói gì cơ chứ? Hắn nói gì nhỉ? Hắn đã nói những gì về mình thế? Thôi đừng có hỏi nữa.
— Thôi cảm ơn, giáo sư MacHugh nói, xua tay từ chối hộp thuốc. Đợi một chút đã. Hãy để tôi nói điều này. Màn hùng biện xuất sắc nhất mà tôi từng được nghe chính là bài diễn văn do John F Taylor đọc tại hội lịch sử của trường đại học. Ngài chánh án Fitzgibbon — đương kim chánh án tòa phúc thẩm — lúc bấy giờ đã phát biểu, và chủ đề được đưa ra thảo luận là một bài tiểu luận (khá mới mẻ vào thời điểm đó) chủ trương khôi phục tiếng Ireland.
Ông quay sang phía Myles Crawford và nói:
— Cậu biết Gerald Fitzgibbon mà. Vậy thì cậu có thể hình dung ra phong cách diễn thuyết của lão ta rồi đấy.
— Nghe đồn lão ta đang ngồi chung, J. J. O’Molloy nói, trong ủy ban điền trang của trường đại học Trinity cùng với Tim Healy.
— Lão ta đang cặp kè với một em búp bê ngọt nước diện váy trẻ con ấy mà, Myles Crawford nói. Nói tiếp đi xem nào. Sao nữa?
— Phải biết rằng đó là bài diễn văn của một nhà hùng biện lão luyện, đầy vẻ kiêu kỳ lịch thiệp và tuôn trào bằng thứ ngôn ngữ được chắt lọc — tôi không dám dùng từ trút những chén phẫn nộ, mà là trút sự khinh miệt của kẻ kiêu ngạo — nhắm vào phong trào mới. Đó từng là một phong trào mới mẻ vào thời điểm ấy. Chúng ta lúc bấy giờ còn yếu kém, nên chẳng có chút giá trị nào.
Ông khép đôi môi mỏng và dài lại trong chốc lát, nhưng rồi vì quá hào hứng muốn nói tiếp, ông giơ một bàn tay xòe rộng lên cặp kính và dùng ngón cái cùng ngón đeo nhẫn run rẩy khẽ chạm vào gọng kính đen để điều chỉnh lại tiêu cự.
Với giọng điệu đều đều hằng ngày, ông hướng về phía J. J. O’Molloy:
— Cậu phải biết rằng Taylor đã đến đó từ trên giường bệnh. Tôi không tin là lão đã chuẩn bị trước bài diễn văn đó đâu, bởi vì trong phòng họp lúc bấy giờ thậm chí còn chẳng có lấy một nhân viên tốc ký nào cả. Khuôn mặt gầy gò sậm màu của lão lởm chởm bộ râu xồm xoàm. Lão quấn chiếc khăn lụa trắng lỏng lẻo quanh cổ và trông tổng thể chẳng khác nào (dù thực ra không phải vậy) một kẻ sắp sửa gần đất xa trời.
Ánh mắt ông ngay lập tức dịch chuyển, nhưng thật chậm rãi, từ mặt của J. J. O’Molloy sang khuôn mặt Stephen rồi cúi gằm xuống đất như đang kiếm tìm điều gì. Chiếc cổ áo vải lanh sờn cũ lộ ra phía sau cái đầu cúi gậm, vấy bẩn bởi mái tóc đang héo tàn. Vẫn tiếp tục kiếm tìm, ông nói:
— Khi bài phát biểu của Fitzgibbon vừa dứt, John F Taylor liền đứng dậy đáp lời. Ngắn gọn thôi, trong giới hạn trí nhớ của tôi, những lời của lão chính là thế này.
Ông ngẩng cao đầu một cách dứt khoát. Đôi mắt ông lại bừng sáng trở lại. Những con sò không hồn bơi lội chập chờn qua đôi tròng kính dày cộp để tìm lối thoát.
Ông bắt đầu:
— Thưa chủ tịch, thưa các quý bà và các quý ông: Tôi vô cùng ngưỡng mộ khi lắng nghe những lời phát biểu hướng về giới trẻ Ireland cách đây chốc lát của người bạn uyên bác của tôi. Dường như tôi vừa được đưa đến một xứ sở xa xôi nào đó cách xa đất nước này, đến một thời đại cách biệt với thời đại hiện tại, rằng tôi đang đứng giữa lòng Ai Cập cổ đại và đang lắng nghe lời lẽ của vị tư tế tối cao nào đó của xứ sở ấy đang ngỏ lời với cậu thanh niên Moses.
Những thính giả đang cầm sẵn điếu thuốc trên tay để lắng nghe, làn khói thuốc từ từ bay lên thành những thân cây mảnh mai nở hoa theo nhịp điệu bài diễn văn của ông. Và để những làn khói uốn lượn của chúng ta. Những ngôn từ cao quý sắp vang lên rồi kìa. Hãy chú ý xem. Cậu có muốn tự mình thử sức với nó không nào?
— Và dường như tôi đang lắng nghe tiếng nói của vị đại tư tế Ai Cập ấy cất lên với giọng điệu kiêu kỳ và tự phụ hệt như thế. Tôi đã lắng nghe từng lời của lão ta và ý nghĩa của chúng đã được hé lộ cho tôi.
Hé lộ cho tôi thấy rằng những thứ vốn dĩ vẫn còn hư hỏng thì thật tốt đẹp, chúng chẳng thể là thứ tuyệt hảo tối cao, cũng chẳng thể tốt đẹp gì nếu không bị vấy bẩn. À, khỉ thật! Đó là câu của thánh Augustine mà.
— Tại sao người Do Thái các người lại không chịu chấp nhận nền văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của chúng ta? Các người chỉ là một bộ lạc du mục chăn gia súc: còn chúng ta là một dân tộc hùng cường. Các người chẳng có thành thị hay của cải nào: còn các thành phố của chúng ta là những tổ ong nhộn nhịp con người và những chiến thuyền của chúng ta, từ thuyền ba hàng chèo đến bốn hàng chèo, chở đầy ắp đủ mọi thứ hàng hóa đang rẽ sóng khắp các đại dương trên thế giới này. Các người vừa mới bước ra từ thời kỳ nguyên thủy sơ khai: còn chúng ta đã có một nền văn học, một giai cấp tư tế, một lịch sử lâu đời và một thể chế chính trị.
Sông Nile.
Đứa trẻ, người đàn ông, bức tượng.
Bên bờ sông Nile những người mẹ bế con đang quỳ gối, chiếc nôi bằng sậy: một người đàn ông dẻo dai trong chiến trận: sừng đá, râu đá, trái tim bằng đá.
— Các người cầu nguyện cho một vị thần địa phương mờ mịt nào đó: còn những đền thờ của chúng ta, uy nghi và huyền bí, chính là chốn ngự trị của Isis và Osiris, của Horus và Ammon Ra. Số phận của các người là sự nô lệ, sợ hãi và hèn m hạ: còn của chúng ta là sấm sét và biển cả. Israel thì yếu đuối và con cái chẳng có là bao: còn Ai Cập là một đại quân với những thứ vũ khí vô cùng khủng khiếp. Các người bị gọi là những kẻ lang thang lao động ngày: còn thế giới phải run rẩy trước tên tuổi của chúng ta.
Một tiếng nấc nghẹn ngào vì đói khát bỗng bóp nghẹt giọng ông. Ông liền cất cao giọng lấn át nó đầy mạnh mẽ:
— Nhưng thưa các quý bà và các quý ông, nếu cậu thanh niên Moses ngày ấy mà lắng nghe và chấp nhận cái góc nhìn về cuộc đời như thế, nếu cậu ta cúi đầu, khuất phục ý chí và buông xuôi tinh thần trước lời cảnh cáo ngạo mạn ấy thì cậu ta đã chẳng thể đưa dân tộc được chọn ra khỏi ngôi nhà nô lệ, cũng chẳng thể đi theo cột mây dẫn đường ban ngày. Cậu ta cũng chẳng bao giờ được đàm đạo cùng Đấng Tối Cao giữa những tia chớp trên đỉnh núi Sinai hay bước xuống với ánh hào quang truyền cảm hứng ngời sáng trên khuôn mặt và trên tay nâng những phiến đá của luật pháp được khắc bằng thứ ngôn ngữ của kẻ ngoài vòng pháp luật.
Ông dứt lời và đưa mắt nhìn họ, tận hưởng khoảnh khắc tĩnh lặng bao trùm.
J. J. O’Molloy không giấu vẻ tiếc nuối lên tiếng:
— Thế mà cuối cùng ông ta vẫn chết mà chẳng kịp đặt chân lên mảnh đất hứa.
— Một—cái—chết—đột—ngột—vào—khoảnh—khắc—tuy—bị—căn—bệnh—lai-rai—hành—hạ—mà—trước—đó—từng—khạc—nhổ—nhiều—lần, Lenehan nói thêm vào. Kèm theo một tương lai huy hoàng đang nằm lại phía sau.
Đám chân đất lại rầm rập chạy ào dọc hành lang và nện bước chân lên cầu thang.
— Thế mới gọi là hùng biện chứ, vị giáo sư nói mà chẳng vấp phải sự phản đối nào.
Cuốn theo chiều gió. Những đoàn người ở Mullaghmast và đồi Tara của các vị vua. Hàng dặm thính phòng tai mắt. Lời lẽ của vị bộc phát, bị tru tréo và tung tóe về bốn phương trời. Một đám đông được che chở trong tiếng nói của lão. Âm thanh chết chóc. Hồ sơ Akasha ghi lại vạn vật từ ngàn xưa ở bất cứ chốn nào từng tồn tại. Hãy yêu mến và tán dương lão đi: đừng lôi tôi vào nữa.
Tôi có tiền mà.
— Thưa các quý ông, Stephen nói. Đề xuất tiếp theo trong chương trình nghị sự, tôi xin mạn phép đề nghị hội nghị chúng ta tạm nghỉ được chứ?
— Cậu làm tôi nghẹt thở luôn đấy. Đây chắc không phải là một lời xã giao kiểu Pháp đấy chứ? ông O’Madden Burke hỏi. Tôi nghĩ đã đến lúc vò rượu, theo nghĩa bóng mà nói, đang rất được chào đón tại quán trọ cổ kính kia rồi đấy.
— Đề nghị đó được thông qua và chính thức chuẩn y. Ai đồng ý xin giơ tay nói có, Lenehan dõng dạc tuyên bố. Ai phản đối xin nói không. Tôi tuyên bố nghị quyết đã được thông qua. Thế cụ thể là quán nhậu nào đây nhỉ?... Phiếu quyết định của tôi là: quán Mooney’s!
Hắn dẫn đầu đoàn người, vừa đi vừa nhắc nhở:
— Chúng ta sẽ kiên quyết từ chối dung nạp các loại nước có độ cồn cao, đúng không nào? Đúng thế, chúng ta sẽ không uống đâu. Tuyệt đối không bao giờ.
Ông O’Madden Burke, lẽo đẽo bám sát phía sau, tung ra một cú vung ô mang hơi hướng đồng minh:
— Xông lên đi, Macduff!
— Hổ phụ sinh hổ tử! chủ bút lớn tiếng, vỗ mạnh lên vai Stephen. Đi nào. Mấy cái chìa khóa quỷ quái đó đâu rồi nhỉ?
Hắn lục lọi trong túi quần, lôi ra những tờ bản in thử bị vo nhàu nát.
— Bệnh lở mồm long móng. Tôi biết rồi. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Sẽ được đăng vào. Chúng đâu rồi nhỉ? Ổn cả rồi.
Hắn nhét vội mấy tờ giấy trở lại rồi bước vào phòng trong.
J. J. O’Molloy, định bước theo hắn vào trong, liền khẽ nói với Stephen:
— Tôi hy vọng cậu sẽ sống để nhìn thấy nó được xuất bản. Myles, chờ một lát.
Hắn bước vào phòng trong, khép cửa lại phía sau.
— Đi thôi Stephen, vị giáo sư nói. Hay thật đấy, phải không nào? Mang đậm tầm nhìn tiên tri. Fuit Ilium! Thành Troia lộng gió bị san bằng. Những vương quốc trên thế gian này. Những bá chủ Địa Trung Hải giờ đây chỉ là một lũ tá điền khốn khổ.
Cậu bán báo đầu tiên chạy rầm rầm xuống cầu thang sát gót chân họ rồi lao vút ra đường, miệng hét lớn:
— Báo đặc biệt đua ngựa đây!
Dublin. Mình còn phải học hỏi nhiều, rất nhiều điều.
Họ rẽ trái dọc theo phố Abbey.
— Cháu cũng có một tầm nhìn đấy chứ, Stephen nói.
— Vậy sao? vị giáo sư vừa nói vừa nhún nhảy bước đều nhịp. Crawford sẽ theo sau thôi.
Lại một cậu bán báo khác phóng vút qua họ, vừa chạy vừa hét inh ỏi:
— Báo đặc biệt đua ngựa đây!
Những kẻ du mục Dublin.
— Hai trinh nữ Dublin, Stephen nói, lớn tuổi và vô cùng sùng đạo, đã sống tròn năm mươi và năm mươi ba năm ở ngõ Fumbally’s lane.
— Ở đâu cơ? vị giáo sư hỏi.
— Gần khu Blackpitts, Stephen nói.
Đêm ẩm ướt nồng nặc mùi bột mì đói khát. Áp sát tường. Gương mặt bóng nhẫy mỡ cừu dưới lớp khăn choàng vải thô. Trái tim cuồng nhiệt. Hồ sơ Akasha. Nhanh lên nào, cưng ơi!
Đi tiếp nào. Dám làm đi. Hãy để sự sống trỗi dậy.
— Họ muốn ngắm nhìn toàn cảnh Dublin từ đỉnh cột tưởng niệm Nelson. Họ đã dành dụm được ba xu mười xu trong một chiếc ống heo bằng thiếc sơn đỏ. Họ đổ tung những đồng ba xu và sáu xu ra, rồi dùng lưỡi dao lam khéo léo nạy từng đồng xu lẻ ra ngoài. Hai shilling ba xu tiền bạc cẳng và một shilling bảy xu tiền lẻ. Họ đội mũ nón, diện những bộ quần áo đẹp nhất và mang theo ô phòng khi trời chuyển mưa.
— Đúng là những trinh nữ khôn ngoan, giáo sư MacHugh lẩm bẩm.
— Họ mua một shilling bốn xu tiền thịt bọc gelatin và bốn lát bánh mì ổ tại quán ăn thành phố phía bắc ở phố Marlborough từ cô Kate Collins — chủ quán... Họ mua hai mươi tư quả mận chín mọng từ một cô bé dưới chân cột Nelson để giải khát sau khi ăn thịt. Họ đưa hai đồng ba xu cho người gác cửa xoay và bắt đầu lạch bạch bước chầm chậm lên chiếc cầu thang xoắn ốc, vừa thở hồng hộc vừa động viên nhau, sợ hãi bóng tối, thở dốc, người nọ hỏi người kia cậu có mang theo thịt không, miệng không quên cảm tạ Chúa và Đức Mẹ Đồng Trinh, dọa sẽ quay xuống dưới, tò mò nhìn qua những khe hở đón gió. Tạ ơn Chúa. Họ chẳng thể ngờ nó lại cao đến thế.
Tên của họ là Anne Kearns và Florence MacCabe. Anne Kearns bị đau lưng nên hay xoa nước thánh Lourdes — thứ được tặng bởi một quý bà xin được từ một linh hồn dòng Passionist. Còn Florence MacCabe thì dùng một chiếc chân giò lợn luộc cùng một chai bia đen double X cho bữa tối thứ Bảy hằng tuần.
— Phép đối lập thật tuyệt vời, vị giáo sư vừa gật đầu hai lần vừa nói. Những trinh nữ đồng trinh. Tôi hình dung ra họ rồi đấy. Quái lạ, cái gã bạn chúng ta đi đâu mà lâu thế nhỉ?
Ông quay người lại.
Một lũ nhóc bán báo đang hớt hải lao rầm rầm xuống bậc thang, tản ra tứ phía, miệng hét lớn, những tờ báo trắng phấp phới trong gió. Ngay sát phía sau bọn chúng, Myles Crawford xuất hiện trên bậc cửa, chiếc mũ vành rộng ôm trọn khuôn mặt đỏ bừng, vừa đi vừa trò chuyện với J. J. O’Molloy.
— Đi nào các cậu, vị giáo sư vừa vẫy tay vừa gọi lớn.
Ông lại cất bước đi sánh vai cùng Stephen.
— Đúng thế, ông nói. Tôi hình dung ra họ rồi.
Anh Bloom, thở hồng hộc, bị cuốn vào giữa đám nhóc bán báo hỗn loạn gần tòa soạn tờ Irish Catholic và Dublin Penny Journal, liền gọi với theo:
— Anh Crawford! Chờ một lát!
— Báo Telegraph đây! Báo đặc biệt đua ngựa đây!
— Gì nữa đây? Myles Crawford vừa lùi lại một bước vừa hỏi.
Một cậu bán báo hét thẳng vào mặt anh Bloom:
— Thảm kịch kinh hoàng ở Rathmines! Một đứa trẻ bị cái ống bễ cắn dập mặt!
— Vụ quảng cáo này thôi, anh Bloom vừa thở hồng hộc vừa chen về phía bậc thang, tay rút mẩu giấy cắt trong túi ra. Tôi vừa mới nói chuyện với anh Keyes xong. Lão ta nói sẽ đồng ý gia hạn hợp đồng thêm hai tháng. Sau đó sẽ tính tiếp. Nhưng lão ta cũng muốn có một bài vắn trên tờ Telegraph số ra tối thứ Bảy màu hồng để thu hút chú ý cơ. Và lão muốn sao chép lại bài báo từ tờ Kilkenny People nếu vẫn còn kịp — tôi vừa bảo với ngài nghị viên Nannetti thế. Tôi có thể tra cứu nó ở thư viện quốc gia. "Nhà của những chiếc chìa khóa", anh thấy sao? Tên lão là Keyes. Đây là một cách chơi chữ thôi. Nhưng lão ấy đã gần như hứa chắc chắn sẽ gia hạn hợp đồng rồi. Chỉ là lão muốn được lăng-xê chút đỉnh thôi mà. Tôi nên nói gì với lão đây, anh Crawford?
— Cậu cứ bảo lão ta hãy hôn vào đít tôi nhé, Myles Crawford vừa văng rộng cánh tay nhấn mạnh vừa nói. Cứ nói thẳng thừng như thế từ cửa miệng tôi ra đấy.
Hơi căng thẳng rồi đây. Phải cẩn thận với mấy trận cuồng phong thôi. Chuẩn bị đi uống nước thôi nào. Tay trong tay kìa. Chiếc mũ du thuyền của Lenehan lại đang đi ăn mày kìa. Lại mấy lời nịnh hót quen thuộc. Không biết cậu thanh niên Dedalus có phải là kẻ chủ mưu không nhỉ. Hôm nay diện đôi giày trông được phết đấy. Lần trước gặp thấy hở cả gót chân cơ mà. Chắc lại đi lang thang vào chốn bùn lầy ở đâu rồi đây. Đúng là một tên bất cẩn. Hắn làm gì ở vùng Irishtown thế nhỉ?
— Chà, anh Bloom vừa nói vừa đảo mắt nhìn lại, nếu tôi lấy được bản thiết kế thì chắc cũng đáng để viết một bài vắn ngắn chứ nhỉ. Tôi nghĩ lão ta sẽ chịu đăng quảng cáo thôi. Tôi sẽ nói với lão ấy...
— Hắn có thể hôn lên cái đít hoàng gia Ireland của tôi, Myles Crawford lớn tiếng quát vọng qua vai. Bất cứ lúc nào hắn thích, cứ bảo thế với hắn.
Trong lúc anh Bloom còn đang đứng đắn đo suy nghĩ và toan nở nụ cười thì hắn đã sải những bước dài bỏ đi.
— Hết vốn rồi Jack ạ, hắn vừa nói vừa đưa tay chạm cằm. Tôi ngập đến cổ rồi đây. Bản thân tôi cũng đã từng nếm mùi cay đắng rồi. Mới tuần trước thôi tôi còn đang phải đi tìm người bảo lãnh cho tờ séc đây này. Thông cảm nhé Jack. Cứ coi như lòng thành đã thay cho hành động đi. Nếu kiếm được chút tiền nong nào thì tôi sẵn sàng dốc cả tâm can ngay chứ bộ.
J. J. O’Molloy xị mặt xuống, lủi thủi bước đi trong im lặng. Họ bắt kịp nhóm người kia và sóng bước cùng nhau.
— Khi bọn chúng đã ăn xong phần thịt bọc gelatin và bánh mì, dùng chính tờ giấy gói bánh mì để lau sạch hai mươi ngón tay, bọn chúng liền tiến lại gần sát hơn về phía lan công.
— Có chuyện này cho anh hay đây, vị giáo sư giải thích với Myles Crawford. Hai mụ già người Dublin đang đứng trên đỉnh cột tưởng niệm Nelson.
— Chuyện lạ đấy nhỉ, Myles Crawford nói. Thế mới có cái để viết bài chứ. Định đi xem lễ hội Waxies’ Dargle phả không? Hai mụ già ranh mãnh thật đấy chứ lị?
— Nhưng bọn chúng lại sợ cái cột tưởng niệm bị sập, Stephen nói tiếp. Bọn chúng nhìn xuống những mái nhà và tranh cãi xem nhà thờ nào nằm ở đâu: mái vòm xanh của Rathmines, nhà thờ Adam và Eve, nhà thờ thánh Laurence O’Toole. Nhưng nhìn cao quá lại đâm ra hoa mắt chóng mặt nên bọn chúng bèn vén váy lên...
— Khoan đã nào, Myles Crawford cản lại. Đừng có lạm dụng giấy phép thơ phú quá chứ. Chúng ta đang ở trong giáo phận đấy nhé.
— Và ngồi phịch xuống những chiếc váy sọc dưa của mình, ngước mắt ngắm nghía bức tượng của gã kẻ cắp một tay.
— Kẻ cắp một tay! vị giáo sư kêu lên. Thú vị đấy chứ. Tôi hiểu ý cậu rồi. Tôi hiểu cậu định nói gì rồi.
— Làm thế khiến cổ bọn chúng bị mỏi nhừ, Stephen nói, và bọn chúng mệt rũ người chẳng buồn ngước lên hay cúi xuống hay cất lời nửa câu. Bọn chúng đặt túi mận vào giữa hai người rồi lần lượt ăn từng quả một, dùng khăn tay lau thứ nước mận chảy ròng ròng ra từ khóe miệng và thong thả nhổ hạt mận qua khe lan can.
Cậu cất lên một tiếng cười vang đầy vẻ trẻ trung để kết lại câu chuyện. Lenehan và ông O’Madden Burke nghe thấy thế liền quay người lại, ra hiệu rồi dẫn đầu đoàn người hướng về phía quán Mooney’s.
— Hết rồi đấy phỏng? Myles Crawford nói. Miễn là chúng không làm gì tồi tệ hơn thế.
— Cậu làm tôi nhớ đến Antisthenes, vị giáo sư nói, một đệ tử của nhà ngụy biện Gorgias. Người ta đồn rằng chẳng ai phân biệt nổi lão tỏ ra cay độc với người khác hay với chính mình hơn nữa. Lão ta là con của một nhà quý tộc và một nữ nô lệ. Lão từng viết một cuốn sách tước bỏ danh hiệu nhan sắc của nàng Helen thành Argos để trao lại cho nàng Penelope tội nghiệp.
Nàng Penelope tội nghiệp. Penelope Rich.
Họ chuẩn bị băng qua đường O’Connell.
Tại các điểm khác nhau dọc theo tám tuyến đường ray, những chiếc xe điện với cần cọ bất động đang đứng ì ra trên đường, chuẩn bị hướng về hoặc vừa đi từ Rathmines, Rathfarnham, Blackrock, Kingstown và Dalkey, Sandymount Green, Ringsend và Tháp Sandymount, Donnybrook, Palmerston Park và Thượng Rathmines, tất cả đều nằm im lìm, chết trân trong tình trạng đoản mạch. Những cỗ xe ngựa thuê, xe taxi, xe chở hàng, xe thư tín, xe ngựa mui kín riêng tư, những chiếc xe chở nước khoáng có ga với lồng đầy vỏ chai kêu lách cách đang rầm rập lăn bánh nhanh chóng do sức kéo của ngựa.
— Nhưng cậu gọi đó là gì cơ chứ? Myles Crawford hỏi. Bọn chúng lấy mận ở đâu ra thế?
— Cứ gọi là, chờ chút đã, vị giáo sư nói, há to đôi môi mỏng để suy ngẫm. Cứ gọi là, để tôi xem nào. Cứ gọi là: deus nobis hæc otia fecit.
— Không ạ, Stephen nói. Cháu gọi nó là Tầm nhìn Pisgah về xứ Palestine hoặc Ngụ ngôn về những quả mận.
— Tôi hiểu rồi, vị giáo sư nói.
Ông cười vang sảng khoái.
— Tôi hiểu rồi, ông lại nhắc lại với vẻ hào hứng mới mẻ. Moses và miền đất hứa. Chúng ta vừa gợi ý cho cậu ta ý tưởng đó đấy, ông nói thêm với J. J. O’Molloy.
J. J. O’Molloy liếc mắt nhìn bức tượng với vẻ mệt mỏi rồi im lặng không nói gì.
— Tôi hiểu rồi, vị giáo sư nói.
Ông dừng chân trên hòn đảo vỉa hè của ngài John Gray, ngước mắt ngắm nghía bức tượng Nelson xuyên qua tấm lưới nụ cười méo mó của mình.
— Gã kẻ cắp một tay, ông cười nhạt nói. Nghe thú vị phết đấy chứ lị, phải thừa nhận là thế.
— Làm mấy mụ già kia cũng phải phì cười ấy chứ, Myles Crawford nói, nếu như sự thật hiển nhiên của Chúa trời được phơi bày.