Phương thức hiển nhiên của cõi hữu hình: dẫu chẳng hơn gì, ít nhất cũng là thế, được suy ngẫm qua đôi mắt tôi. Dấu ấn của muôn loài mà tôi có mặt ở đây để đọc, sinh vật biển và rong rêu trôi dạt, con nước triều đang dâng gần, chiếc ủng han gỉ kia. Xanh như đờm, bạc như lam, rỉ sét: những dấu hiệu có màu. Giới hạn của tấm màng trong suốt. Nhưng hắn thêm rằng: trong các thể xác. Thế là hắn nhận thức được các thể xác ấy trước khi nhận thức được màu sắc của chúng. Bằng cách nào? Chắc là đập cái đầu lâu của mình vào chúng rồi. Cứ từ từ. Hắn vừa hói vừa là một triệu phú, maestro di color che sanno. Giới hạn của màng trong suốt ở bên trong. Tại sao lại ở bên trong? Màng trong suốt, màng không trong suốt. Nếu bạn có thể đâm năm ngón tay xuyên qua nó, đó là cái cổng; nếu không, là cái cửa. Nhắm mắt lại và nhìn xem.
Stephen nhắm mắt lại để nghe tiếng đôi ủng của mình nghiền nát lớp rong rêu và vỏ sò kêu lạo xạo. Dẫu sao thì bạn vẫn đang bước đi xuyên qua nó. Tôi đang đi đây, từng bước dài một. Một khoảng thời gian rất ngắn xuyên qua những khoảng không gian rất ngắn. Năm, sáu: cái gọi là nacheinander. Chính xác: và đó chính là phương thức hiển nhiên của cõi thính giác. Mở mắt ra nào. Không. Chúa ơi! Giả như tôi ngã khỏi một vách đá nhô hẳn ra trên chân đế của nó, ngã xuyên qua cõi nebeneinander một cách không thể tránh khỏi! Tôi đang tiến triển khá suôn sẻ trong bóng tối. Thanh gươm bằng gỗ tần bì của tôi dắt bên hông. Gõ thử một nhịp xem nào: họ vẫn làm thế đấy. Đôi bàn chân tôi trong đôi ủng của hắn nằm ở tận cùng hai cẳng chân hắn, nebeneinander. Nghe có vẻ đặc chắc: được tạo ra bởi cái vồ của Los Demiurgos. Có phải tôi đang bước vào cõi vĩnh hằng dọc theo bờ biển Sandymount?
Lạo xạo, răng rắc, cọt kẹt, cọt kẹt. Tiền của biển khơi hoang dã. Thầy giáo Deasy thuộc làu tất thảy bọn chúng.
Bộ không định đến Sandymount đấy chứ,
Madeline con ngựa cái ơi?
Nhịp điệu bắt đầu rồi đấy, thấy chưa. Tôi nghe thấy rồi. Một thể bốn nhịp khuyết chân gồm các nhịp i-bích đang diễu hành. Không, là một nhịp phi nước đại: tả con ngựa cái đi.
Bây giờ hãy mở mắt ra nào. Tôi sẽ mở đây. Chờ một lát. Mọi thứ đã biến mất từ lúc nào rồi ư? Giá mà tôi mở mắt ra và mãi mãi chìm vào cõi màng trong suốt đen kịt. Đủ rồi! Tôi sẽ xem mình có thấy được gì không.
Nhìn kìa. Vẫn luôn ở đó dẫu không có bạn: và sẽ mãi mãi như thế, đời đời kiếp kiếp.
Họ thận trọng bước xuống những bậc thềm từ hiên nhà của Leahy, Frauenzimmer: rồi lê bước õng ẹo xuống bờ biển thoai thoải, đôi bàn chân bẹt chìm dần trong lớp cát bồi sũng nước. Giống như tôi, giống như Algy, đang bước xuống với người mẹ vĩ đại của chúng ta. Người thứ nhất lúc lỉu vung vẩy chiếc túi mụ đỡ đẻ, chiếc ô của người kia chọc chọc xuống bãi cát. Từ khu Liberties, ra ngoài chơi cả ngày. Bà Florence MacCabe, góa phụ của cố ông Patk MacCabe quá cố, người vô cùng thương tiếc, ở phố Bride Street. Một người trong hội chị em của bà đã lôi tôi ra khỏi buồng dạ con trong tiếng khóchét để đến với cõi đời này. Sự tạo hóa từ hư vô. Bà ta có gì trong túi? Một đứa trẻ sinh non với chiếc dây rốn ngoằn ngoèo, được bọc kín trong lớp len đỏ rực. Dây rốn của tất cả mọi người đều liên kết ngược lại, cuộn cáp bện bằng sợi của mọi xác thịt. Đó là lý do tại sao những tu sĩ huyền bí. Các ngươi sẽ muốn làm thần chăng? Hãy nhìn vào rốn của mình đi. Xin chào. Kinch đây. Hãy nối máy cho tôi tới Edenville đi.
Aleph, alpha: số không, số không, một.
Người vợ và người trợ giúp của Adam Kadmon: Heva, nàng Eve trần truồng. Nàng chẳng có rốn. Hãy ngắm nhìn đi. Chiếc rốn không tì vết, phình to ngồn ngộn, như một tấm khiên bằng da thuộc căng cứng, không, giống những hạt ngô chất đống trắng ngần, hướng về phương đông và bất tử, sừng sững từ đời này sang đời khác. Tử cung của tội lỗi.
Tôi cũng từng nằm trong tử cung của bóng tối tội lỗi, được tạo ra chứ không phải được sinh ra. Bởi họ, người đàn ông có giọng nói và đôi mắt của tôi, cùng một người phụ nữ ma quái với hơi thở phảng phất mùi tro tàn. Họ ôm lấy nhau rồi tách rời, làm theo ý muốn của kẻ môi giới. Từ trước muôn đời Ngài đã định đoạt tôi và giờ đây không thể xóa bỏ tôi đi được nữa, mãi mãi là thế. Một định luật vĩnh cửu bao trùm lấy Ngài. Phải chăng đó chính là bản thể thần thánh nơi Chúa Cha và Chúa Con đồng bản thể? Kẻ khốn khổ tội nghiệp Arius đang ở đâu để tranh luận điều đó nhỉ? Suốt cả đời hắn chiến đấu chống lại khái niệm contransmagnificandjewbangtantiality. Tên kỳ sỉ dị giáo mang số phận bất hạnh! Hắn chút hơi thở cuối cùng trong một cái nhà vệ sinh kiểu Hy Lạp: cái chết êm ái. Với chiếc mũ tế có đính hạt và chiếc gậy mục tử, ngự trên ngai tòa, kẻ góa vợ của một giáo khu góa bụa, với chiếc khăn quàng vai dựng đứng, với phần thân sau dính bết.
Những cơn gió đùa giỡn xung quanh hắn, những cơn gió buốt giá và hừng hực. Chúng đang kéo đến kìa, những con sóng. Những con tuấn mã của biển cả với bờm trắng, đang chồm lên nhai ngấu nghiến, được cương bằng cơn gió sáng ngời, những con chiến mã của Mananaan.
Tôi không được quên lá thư gửi cho tòa soạn báo. Còn sau đó thì sao? Quán The Ship, mười hai giờ rưỡi. Nhân tiện, hãy tiêu xài vừa phải với số tiền đó đi, hỡi cậu đồ ngốc ngoan ngoãn. Vâng, tôi phải thế chứ.
Bước chân hắn chùng lại. Đến đây rồi. Mình có tính đến nhà dì Sara hay không nhỉ? Giọng nói của người cha đồng bản thể với tôi. Dạo này anh có thấy tung tích gì về người anh nghệ sĩ Stephen của anh không hả? Không á? Chắc chắn là nó không ở dưới sân thượng Strasburg với bà dì Sally đấy chứ? Chẳng lẽ nó không bay cao hơn mức đó được chút nào sao, hử? Và và và và nói cho chúng tôi nghe xem, Stephen, chú Si dạo này thế nào rồi? Ồ, lạy Chúa cay đắng, những thứ mà ta đã vớ phải khi kết hôn! Mấy đứa trẻ trên gác xép. Tên gã bán hàng say xỉn và người em trai chơi kèn cornet của hắn. Những người lái gondola đáng kính làm sao chứ! Và gã Walter mắt lác gọi cha mình bằng "thưa ngài", không hơn không kém! Thưa ngài. Vâng, thưa ngài. Không, thưa ngài. Chúa đã khóc: và cũng chẳng có gì lạ, lạy Chúa tôi!
Tôi giật cái chuông kêu cót két ở căn nhà gỗ đóng cửa chớp của họ: và đứng chờ. Họ tưởng tôi là kẻ đòi nợ thuê, lén nhìn ra từ một góc khuất thuận lợi.
—Là Stephen đây ạ, thưa bác.
—Cho nó vào đi. Cho Stephen vào.
Một chiếcthen cửa được kéo ra và Walter chào đón tôi.
—Chúng tôi cứ tưởng là ai khác cơ đấy.
Trên chiếc giường rộng, bác Richie, được lót gối và đắp chăn cẩn thận, đang duỗi cẳng tay lực lưỡng qua ụ đầu gối của mình. Ngực nhẵn nhụi. Ông đã rửa sạch phần thân trên.
—Chào buổi sáng, cháu trai.
Ông đặt tấm ván kê đùi sang một bên, nơi ông phác thảo các bản kê chi phí để nộp lên cho thầy Goff và thầy Shapland Tandy, đệ trình các văn bản đồng thuận, các tờ khai tìm kiếm thông thường và trát đòi hầu tòa Duces Tecum. Khung tranh gỗ sồi đầm lầy treo trên cái đầu hói của ông: bức Requiescat của Wilde. Tiếng huýt sáo lạc điệu của ông gọi Walter quay trở lại.
—Vâng, thưa bác?
—Lấy bia đen cho bác và Stephen đi, bảo mạ mày ấy. Bà ấy đâu rồi?
—Đang tắm cho Crissie ạ, thưa bác.
Cục cưng ngủ chung giường của bố. Khối tình yêu.
—Không, bác Richie ạ...
—Hãy gọi ta là Richie. Mặc kệ cái thứ nước khoáng lithium của cậu đi. Nó làm tụt huyết áp đấy. Rượu whisky đâu!
—Bác Richie, thực sự là cháu...
—Ngồi xuống, nếu không, thề có luật pháp của Harry, tao sẽ đấm cho mày ngã quỳ đấy.
Walter đảo mắt tìm kiếm một chiếc ghế trong vô vọng.
—Cậu ấy có cái gì để ngồi đâu ạ, thưa bác.
—Nó chẳng có chỗ nào để đặt mông xuống cả, đồ ngu này. Mang chiếc ghế kiểu Chippendale của chúng ta vào đây. Cậu có muốn nhắm chút gì không? Ở đây không có cái kiểu làm giá điệu đà chết tiệt nào đâu nhé. Một miếng thịt xông khói rán với một con cá trích thì sao? Chắc chứ? Thế thì càng tốt. Nhà chúng ta chẳng có gì ngoài thuốc trị đau lưng cả.
All’erta!
Ông ngân nga vài nhịp trong khúc aria di sortita của Ferrando. Đoạn hay nhất, Stephen ạ, trong toàn bộ vở opera. Hãy nghe này.
Tiếng huýt sáo du dương của ông lại cất lên, được nhấn nhá tinh tế, hòa cùng những luồng gió thoảng, đôi bàn tay nắm chặt đấm thình thịch lên đôi đầu gối được lót đệm của ông.
Cơn gió này ngọt ngào hơn.
Những ngôi nhà hoang phế, của tôi, của hắn và của tất cả mọi người. Mày từng khoe với mấy kẻ bề trên ở trường Clongowes rằng mày có một ông bác làm thẩm phán và một ông bác làm tướng quân đội cơ mà. Hãy bước ra khỏi những thứ đó đi, Stephen. Vẻ đẹp không nằm ở đó. Cũng chẳng nằm trong vùng vịnh tù đọng của thư viện Marsh, nơi mày đọc những lời tiên tri đang phai mờ của Joachim Abbas. Cho ai chứ? Đám đông vô tích sự hàng trăm kẻ quanh khu nhà thờ. Một kẻ căm ghét đồng loại đã chạy trốn khỏi bọn họ vào khu rừng điên loạn, bộ bờm sủi bọt dưới ánh trăng, đôi tròng mắt sáng rực như những vì sao. Loài Houyhnhnm, với lỗ mũi như ngựa. Những khuôn mặt ngựa bầu bục, Temple, Buck Mulligan, Foxy Campbell, Lanternjaws. Abbas cha, vị viện phụ hung ác, tội lỗi nào đã châm lửa đốt cháy bộ não bọn chúng thế? Paff! Descende, calve, ut ne nimium decalveris. Một vòng hoa tóc xám trên cái đầu bị nguyền rủa của hắn, hãy nhìn hắn kìa, đang leo tuột xuống bệ chân (descende!), tay lăm lăm cầm chiếc hộp đựng thánh tích, với đôi mắt sắc như rắn lục. Cút xuống đi, cái đầu trọc lóc! Một dàn hợp xướng dội lại những lời đe dọa và tiếng vang, tụ tập quanh các sừng của bệ thờ, tiếng Latinh khịt mũi của bọn linh mục trọc phú di chuyển kềnh càng trong bộ áo trắng dài, cạo đầu trơn trụi, được xức dầu và hoạn hóa, béo múp míp với lớp mỡ từ quả thận của lúa mì.
Và có lẽ ngay thời điểm đó, một vị linh mục ở góc đường đang nâng cao tấm bánh thánh. Keng keng! Và cách đó hai con phố, một kẻ khác đang cất nó vào chiếc hộp đựng bánh thánh. Keng keng! Và trong nhà nguyện Đức Mẹ, một kẻ khác đang một mình rước lễ. Keng keng! Xuống, lên, tới trước, lùi sau. Dan Occam đã từng nghĩ đến điều đó, vị tiến sĩ bất khả chiến bại. Một buổi sáng mùa đông mờ sương ở Anh, con quỷ lùn hạ thể đã nhột nhột trong bộ não của hắn. Mang theo lễ vật hạ xuống và quỳ lụp sụp, hắn nghe tiếng chiếc chuông thứ hai ở gian ngang hòa nhịp cùng chiếc chuông đầu tiên (hắn đang nâng lễ vật lên) và khi đứng dậy, nghe thấy (giờ thì tôi đang nâng lên) tiếng chuông của cả hai (hắn đang quỳ) ngân vang hòa quyện vào nhau.
Cậu em họ Stephen, cậu sẽ chẳng bao giờ làm thánh được đâu. Hòn đảo của các vị thánh. Mày từng ngoan đạo lắm cơ mà, phải không? Mày đã cầu xin Đức Mẹ Đồng Trinh để mình không có cái mũi đỏ lè. Mày đã cầu xin quỷ dữ ở đại lộ Serpentine để mụ góa phụ lùn tịt ở đằng trước tốc váy cao hơn nữa khỏi con đường sũng nước. Ồ vâng, chắc chắn rồi! Bán linh hồn mày đi vì điều đó đi, làm thế đi, những mảnh vải nhuộm phâu phẩu ghim quanh một ả đàn bà da đỏ. Kể thêm cho tôi nghe đi, kể nữa đi! Một mình trên nóc xe điện Howth gào thét vào cơn mưa: Phụ nữ khỏa thân! Phụ nữ khỏa thân! Thế nào hả?
Thế nào là thế nào? Chứ chúng được phát minh ra để làm gì nữa?
Mỗi đêm đọc hai trang của bảy cuốn sách cơ à? Ta đã từng trẻ trung. Mày từng cúi chào chính mình trong gương, bước lên nhận những tràng pháo tay đầy thành khẩn, làm bộ mặt thật nghiêm túc. Hoan hô tên khốn nạn ngu ngốc! Hoan hò! Chẳng ai thấy cả: đừng kể với ai nhé. Những cuốn sách mà mày định viết với tựa đề chỉ là các chữ cái. Cậu đã đọc cuốn F của hắn chưa? Ồ rồi, nhưng tôi thích cuốn Q hơn. Đúng thế, nhưng cuốn W mới tuyệt làm sao. Ồ đúng rồi, chữ W. Hãy nhớ lại những hiển linh của mày được viết trên những chiếc lá hình bầu dục màu xanh thẫm, sâu thẳm vô cùng, những bản sao sẽ được gửi đến tất cả các thư viện lớn trên thế giới nếu mày chết, kể cả thư viện Alexandria? Sẽ có ai đó đọc chúng ở tận vài ngàn năm sau, một mahamanvantara. Giống như Pico della Mirandola vậy. Ừ, giống cá voi lắm đấy. Khi người ta đọc những trang sách kỳ lạ này của một người đã khuất từ lâu, người ta cảm thấy mình hòa làm một với kẻ từng...
Lớp cát hạt sần sùi đã trôi đi từ dưới chân hắn. Đôi ủng của hắn lại dẫm lên lớp rong rêu ẩm ướt kêu lạo xạo, những chiếc vỏ sò dao, những viên sỏi kêu cọt kẹt, đập vào vô số những viên sỏi, gỗ bị con sâu đục thân tàu ăn rỗng, Hạm đội Armada đã mất tích. Những bãi cát sình lầy không lành mạnh đang chờ chực hút lấy đôi bàn chân đang bước của hắn, phả lên mùi hôi thối của cống rãnh, một ổ rong biển âm ỉ cháy trong thứ ánh sáng ma trơi dưới đống tro tàn của nhân loại. Hắn đi nép dọc theo chúng, bước đi đầy cảnh giác. Một cái chai đựng bia đen đứng chỏng chơ, ngập đến lưng chừng trong lớp cát nhão nhoét như bột nhào. Một tên lính canh: hòn đảo của cơn khát kinh hoàng. Những vòng sắt gãy trên bờ biển; sát đất là một mê cung những tấm lưới đen ranh mãnh; xa hơn một chút là những cánh cửa hậu nguệch ngoạc chữ bằng phấn và trên bãi cát cao hơn là một sợi dây phơi với hai chiếc áo sơ mi bị đóng đinh như thể chịu hình phạt đóng đinh câu rút. Ringsend: những chiếc lều chóp nhọn của những người lái tàu da nâu và các thuyền trưởng lão luyện. Những cái vỏ người.
Hắn khựng lại. Mình đã đi quá lối rẽ vào nhà dì Sara rồi. Chẳng lẽ mình không định đến đó sao? Hình như là không. Chẳng có ai quanh đây cả. Hắn quay đầu về hướng đông bắc và băng qua lớp cát cứng hơn về phía trạm Pigeonhouse.
—Ai đã đẩy anh vào cái xó xỉnh tồi tệ này thế?
—Chính là con chim bồ câu, Joseph ạ.
Patrice, về thăm nhà theo phép, đang húp sữa ấm cùng tôi ở quán bar MacMahon. Con trai của kẻ lưu vong, Kevin Egan ở Paris. Cha tôi là một con chim, hắn húp thứ sữa nóng ngọt ngào bằng chiếc lưỡi hồng non tơ, khuôn mặt bụ bẫm như chú thỏ con. Húp, chú thỏ nhỏ. Hắn hy vọng sẽ trúng giải độc đắc gros lots. Về bản chất của phụ nữ, hắn đã đọc trong sách của Michelet. Nhưng hắn phải gửi cho tôi cuốn La Vie de Jésus của M. Léo Taxil. Hắn đã cho bạn hắn mượn mất rồi.
—Nó buồn cười lắm đấy, anh biết không. Còn tôi, tôi là người theo chủ nghĩa xã hội. Tôi không tin có Chúa. Anh đừng nói điều này với bố tôi nhé.
—Bố cậu ấy tin chứ?
—Bố tôi á, có chứ.
Hết chuyện. Hắn tiếp tục húp.
Cái mũ kiểu khu phố Latin của tôi. Chúa ơi, chúng ta dứt khoát phải ăn mặc đúng kiểu nhân vật chứ. Tôi muốn có một đôi găng tay màu tím tía. Cậu từng là sinh viên cơ mà? Học ngành gì ở cái xó xỉnh quái quỷ nào thế? Paysayenn. P.C.N. ấy mà, cậu biết đấy: lý, hóa và tự nhiên. À há. Ăn món phổi hầm giá rẻ, những nồi thịt húp Ai Cập, bị huých cùi chỏ bởi những tên đánh xe ngựa đang ợ hơi. Chỉ cần nói bằng một giọng tự nhiên nhất: hồi tôi còn ở Paris; khu Boul’ Mich’, tôi thường hay. Đúng thế, thường mang theo những tấm vé bấm lỗ để chứng minh ngoại phạm nếu bọn chúng bắt bạn vì tội giết người ở đâu đó. Công lý. Vào đêm mười bảy tháng Hai năm 1904, phạm nhân đã được nhìn thấy bởi hai nhân chứng. Kẻ khác làm điều đó: cái tôi khác. Mũ, cà vạt, áo khoác, mũi. Hắn ta chính là tôi. Xem ra cậu đã có những giây phút rất vui vẻ nhỉ.
Kiêu hãnh bước đi. Mày đang cố bước đi giống ai thế? Quên đi: một kẻ bị tước đoạt mọi thứ. Với tấm lệnh chuyển tiền của mẹ, tám shilling, cánh cửa bưu điện sập mạnh vào mặt mày bởi tên nhân viên phục vụ. Cơn đói, cơn đau răng. Lại thêm hai phút nữa. Nhìn đồng hồ. Phải lấy cho được. Đóng cửa rồi. Con chó làm thuê! Bắn cho nó nát bét ra bằng một phát súng săn, những mảnh thịt người bắn tung tóe lên những bức tường toàn cúc áo đồng. Những mảnh vỡ kêu khrrrrklak đúng vị trí rồi cạch lại một cái. Không bị thương chứ? Ồ, không sao đâu. Bắt tay cái nào. Thấy ý tôi chưa, thấy chưa? Ồ, không sao đâu. Lắc tay cái nào. Ồ, tất cả chỉ là không sao cả.
Mày từng định làm nên những điều kỳ diệu cơ mà, phải không? Làm nhà truyền giáo đến châu Âu sau thánh Columbanus rực lửa. Fiacre và Scotus trên những chiếc ghế đẩu lỏng lẻo của họ trên thiên đường làm đổ tung những vại bia, cười vang bằng giọng Latinh sang sảng: Euge! Euge! Giả vờ nói thứ tiếng Anh bập bẹ khi mày lê lết chiếc vali, cước ba xu tiền khuân vác, băng qua cái cầu tàu nhầy nhụa bùn ở Newhaven. Comment? Chiến lợi phẩm phong phú thật đấy mày mang về; Le Tutu, năm số báo rách rưới của tờ Pantalon Blanc et Culotte Rouge; một bức điện tín màu xanh của Pháp, món đồ tò mò để trưng bày:
—Mẹ đang lâm tử về nhà ngay bố.
Bà dì nghĩ rằng mày đã giết mẹ mày. Đó là lý do tại sao bà ấy không chịu.
Thế thì đây xin nâng ly chúc sức khỏe dì của Mulligan
Và tôi sẽ cho anh biết lý do tại sao.
Bà ấy luôn giữ mọi thứ đàng hoàng trong
Gia tộc nhà Hannigan.
Đôi chân hắn đột ngột sải bước theo nhịp điệu kiêu hãnh trên những luống cát, dọc theo những tảng đá lớn của bức tường phía nam. Hắn kiêu hãnh nhìn chằm chằm vào chúng, những đống đá xếp chồng lên nhau như hộp sọ của loài voi ma mút. Ánh sáng vàng rực trên biển, trên cát, trên những tảng đá lớn. Mặt trời ở đó, những tán cây mảnh dẻ, những ngôi nhà màu vàng chanh.
Paris thức dậy trong giá lạnh, ánh nắng gay gắt hắt lên những con đường màu vàng chanh của nàng. Phần ruột ẩm của những ổ bánh mì dẹt, cây ngải cứu xanh màu ếch nhái, mùi hương ban mai của nàng, ve vãn bầu không khí. Belluomo thức dậy từ chiếc giường của vợ kẻ tình nhân của vợ mình, người nội trợ quấn khăn đang bận rộn, tay cầm chiếc đĩa nhỏ đựng axit axetic. Trong quán Rodot, Yvonne và Madeleine làm mới lại vẻ đẹp vừa xộc xệch của mình, nghiền nát bằng hàm răng vàng những chiếc bánh sừng bò, miệng ngả màu vàng vì lớp mủ của món bánh flan kiểu Breton. Khuôn mặt của những người đàn ông Paris lướt qua, những kẻ làm vừa lòng và được làm vừa lòng, những tên conquistador chải chuốt.
Buổi trưa chìm trong giấc ngủ. Kevin Egan vo những điếu thuốc súng bằng những ngón tay dính đầy mực in, nhấm nháp ly rượu tiên xanh còn Patrice nhấm nháp ly rượu trắng. Xung quanh chúng ta, những kẻ tham ăn đang húp xì xụp những hạt đậu tẩm gia vị trôi tuột xuống cổ họng. Cho một nửa sêt-ti-e! Một luồng hơi nước cà phê phụt ra từ cái bình đun bằng đồng đánh bóng. Ả phục vụ tôi theo cái gật đầu của hắn. Hắn là người Ireland. Người Hà Lan à? Không, phô mai. Hai người Ireland chúng tôi, nước Ireland đấy, anh biết chứ, à oui! Ả tưởng mày muốn gọi một phần phô mai kiểu Hà Lan. Món dùng sau bữa ăn, anh có biết từ đó không? Postprandial. Hồi ở Barcelona tôi từng quen một tên, một tên kỳ quặc, hay gọi đó là bữa ăn nhẹ postprandial của hắn. Thôi nào: slainte! Xung quanh những chiếc bàn đá là sự hỗn độn của những hơi thở nồng mùi rượu và những cái cổ họng đang càu nhàu. Hơi thở của hắn tỏa ra trên những chiếc đĩa dính đầy nước sốt của chúng ta, chiếc nanh của mụ tiên xanh đâm thọc giữa đôi môi hắn. Về nước Ireland, về bộ tộc Dalcassians, về những niềm hy vọng, những âm mưu, về Arthur Griffith lúc này, về A.E., nhà hiền triết, người mục tử nhân lành của muôn dân. Để trói buộc tôi làm kẻ cày chung một gác với hắn, biến những tội ác của chúng ta thành chí hướng chung. Mày đúng là con của bố mày. Ta nhận ra cái giọng đó. Chiếc áo sơ mi thô bằng vải bông chéo của hắn, thêu hoa đỏ thẫm, đang rung rẩy những chiếc tua rua Tây Ban Nha theo mỗi nhịp bí mật của hắn. M. Drumont, nhà báo nổi tiếng, Drumont, cậu có biết hắn gọi nữ hoàng Victoria là gì không? Mụ già khọm răng vàng. Vieille ogresse với những chiếc răng vàng khè. Maud Gonne, người phụ nữ xinh đẹp, La Patrie, M. Millevoye, Félix Faure, cậu có biết ông ta chết thế nào không? Những kẻ hoác dâm. Ả phục vụ người Bắc Âu, người làm vặt mọi việc, kẻ chuyên cọ rửa thân thể đàn ông khỏa thân trong bồn tắm ở Uppsala. Moi faire, ả ta nói, Tous les messieurs. Không phải vị Monsieur này, tôi nói. Một tập tục vô cùng dâm đãng. Tắm rửa là chuyện riêng tư nhất. Tôi sẽ không đời nào cho phép anh trai mình, ngay cả anh ruột của mình, chuyện dâm đãng nhất. Đôi mắt xanh ơi, tao thấy mày rồi. Chiếc nanh sắc nhọn ơi, tao đang cảm nhận đây. Lũ người dâm đãng.
Ngọn bấc màu xanh cháy bùng chết chóc giữa đôi bàn tay và cháy rực rõ. Những sợi thuốc lá vụn bắt lửa: ngọn lửa và làn khói cay xè thắp sáng góc của chúng ta. Gò má thô kệch dưới chiếc mũ lưỡi trai kiểu thiếu niên mới lớn. Cách mà tên đầu sỏ trốn thoát, phiên bản chính xác. Cải trang thành một cô dâu trẻ, anh bạn ạ, đội lúp, hoa cam, lái xe ra con đường đi Malahide. Thật đấy, tin tôi đi. Về những nhà lãnh đạo đã mất, những kẻ bị phản bội, những cuộc trốn chạy ngoạn mục. Những sự cải trang, chộp lấy rồi biến mất, không có ở đây.
Kẻ tình nhân bị hắt hủi. Hồi đó tôi là một gã trai trẻ cường tráng, tôi nói cho anh biết. Có ngày tôi sẽ cho anh xem ảnh của tôi. Thật đấy, tin tôi đi. Kẻ tình nhân, vì tình yêu dành cho nàng, hắn đã rình mò cùng đại tá Richard Burke, tộc trưởng của dòng họ, dưới những bức tường của Clerkenwell và, khi cúi rạp người xuống, chứng kiến ngọn lửa phục thù hất văng họ lên giữa màn sương mù. Kính vỡ và gạch đá đổ sụp. Ở Paris hoa lệ, hắn ẩn náu, Egan của Paris, chẳng ai tìm kiếm ngoại trừ tôi. Thực hiện những chặng đường trong ngày của hắn, xưởng in tồi tàn, ba quán rượu của hắn, cái hang ổ ở Montmartre nơi hắn ngủ qua những đêm ngắn ngủi, phố rue de la Goutte-d’Or, được khảm đầy những gương mặt bám đầy ruồi nhặng của những người đã khuất. Không tình yêu, không đất đai, không vợ con. Nàng ta hoàn toàn thoải mái dễ chịu mà không cần gã chồng bị hủi của mình, mụ vợ ở phố rue Gît-le-Cœur, với một con chim hoàng yến và hai gã khách trọ nam. Má đỏ hây hây, váy vằn vện như ngựa vằn, tinh nghịch như một ả thiếu niên. Bị hắt hủi mà vẫn không hề nản lòng. Hãy nói với Pat rằng anh đã gặp tôi nhé, được chứ? Đã có lúc tôi muốn xin cho tội nghiệp thằng Pat một công việc. Con trai tôi, người lính của nước Pháp. Tôi đã dạy nó hát bài Mấy chàng trai xứ Kilkenny là những tay anh chị gầm thét dữ dội. Biết bài hát cổ đó chứ? Tôi đã dạy Patrice bài đó đấy. Kilkenny già nua: thánh Canice, lâu đài của Strongbow bên bờ sông Nore. Nó đi thế này này. Ô, ô. Hắn nắm lấy tay tôi, Napper Tandy.
Ô, ô những chàng trai xứ
Kilkenny...
Bàn tay yếu ớt đang héo mòn đặt lên tay tôi. Bọn họ đã quên Kevin Egan, nhưng hắn thì không quên họ. Nhớ về người, hỡi Sion.
Hắn đã tiến lại gần mép nước biển hơn và lớp cát ướt đập vào đôi ủng của hắn. Luồng không khí mới chào đón hắn, gảy những khúc nhạc trong những sợi dây thần kinh hoang dại, cơn gió mang hơi thở hoang dã của những hạt giống ánh sáng. Đến đây, mình đâu có đi bộ ra tàu hải đăng Kish đúng không nhỉ? Hắn đột ngột đứng khựng lại, đôi chân bắt đầu chìm chậm rãi xuống lớp bùn nhão. Quay lại thôi.
Quay người lại, hắn đảo mắt nhìn bờ biển về phía nam, đôi chân lại từ từ chìm xuống những cái hố mới. Căn phòng mái vòm lạnh lẽo của ngọn tháp đang chờ đợi. Qua những ô cửa sổ nhỏ, những luồng ánh sáng vẫn đang di chuyển, chậm rãi trôi theo từng nhịp chân lún xuống của tôi, bò dần về phía chập tối trên mặt sàn có hình mặt số đồng hồ. Chòm hoàng hôn xanh, màn đêm buông xuống, đêm xanh thẳm. Trong bóng tối của mái vòm, họ đang chờ đợi, những chiếc ghế bị đẩy ra sau, chiếc vali hình tháp obelisk của tôi, xung quanh một bàn ăn với những chiếc đĩa bỏ hoang. Ai sẽ dọn dẹp nó đây? Hắn có chìa khóa mà. Tôi sẽ không ngủ ở đó khi đêm nay tới. Cánh cửa đóng kín của một ngọn tháp im lìm, chôn vùi những xác thịt mù lòa của chúng, gã chúa đất kiêm con chó săn của hắn. Gọi: không có tiếng trả lời. Hắn nhấc chân lên khỏi vũng hút và quay trở lại theo con đê đá lớn. Lấy tất cả, giữ tất cả. Linh hồn tôi bước đi cùng tôi, hình hài của mọi hình hài. Cứ thế, trong những khoảnh khắc giữa đêm trăng, tôi sải bước trên con đường phía trên những mỏm đá, trong bộ trang phục lụa đen điểm bạc, lắng nghe dòng nướcmồi chửng đầy cám dỗ của Elsinore.
Dòng nước lũ đang bám theo tôi. Tôi có thể đứng đây nhìn nó chảy qua. Vậy thì hãy quay lại bằng con đường Poolbeg để ra tới bờ cát ngoài kia đi. Hắn trèo qua đám cỏ lác và rong biển đầy rêu nhớp nháp rồi ngồi xuống một mỏm đá, gác chiếc gậy tần bì vào một kẽ nứt.
Xác một con chó trương phình nằm ngả ngớn trên đám rong bóng nước. Trước mặt hắn là mạn thuyền đã chìm ngập trong cát. Một cỗ xe ngựa sa lầy mà Louis Veuillot từng gọi văn xuôi của Gautier. Những bãi cát nặng trĩu này chính là ngôn ngữ mà thủy triều và gió đã bồi đắp ở đây. Và cả những đống đá của những người thợ xây đã khuất, một hang ổ của loài chuột chũi chồn. Hãy giấu vàng ở đó xem nào. Thử đi. Cậu có một ít đấy. Cát và đá. Nặng trĩu âm vang quá khứ. Đồ chơi của lão chúa tể Xấu Xí. Cẩn thận kẻo ăn nguyên một cú giáng vào tai đấy. Ta chính là tên khổng lồ khỉ gió lăn lóc tất cả những hòn đá khốn kiếp đó, lấy xương làm bước chân. Phê phao phùm. Ta ngửi thấy mùi máu của một tên Ireland.
Một điểm nhỏ, con chó sống, xuất hiện trong tầm mắt đang chạy cắt ngang qua bãi cát. Chúa ơi, nó định tấn công mình đấy à? Hãy tôn trọng sự tự do của nó. Mày sẽ không làm chủ người khác hay làm nô lệ của họ. Ta có gậy đây. Cứ bình tĩnh ngồi yên. Xém hơn một chút, từ phía triều cường đang dâng có bọt sóng trắng, những bóng người xuất hiện, hai người. Hai bà thợ giặt. Họ đã giấu kín nó an toàn giữa đám lau sậy. Trốn tìm nào. Tao thấy chúng mày rồi. Không, là con chó. Nó đang chạy ngược lại về phía họ. Ai cơ chứ?
Những con thuyền chiến của người Lochlann từng dạt vào bãi biển này, để săn mồi, những chiếc mũi thuyền mỏm máu lướt thấp trên mặt nước sủi bọt như chì nóng chảy. Những tên cúp biển Viking, những chiếc vòng cổ bằng rìu chiến lấp lánh trên ngực khi Malachi đeo chiếc vòng vàng. Một đàn cá voi da rùa bị mắc cạn giữa buổi trưa nắng gắt, phun nước, lê lết trong vùng nước nông. Thế rồi từ cái thành phố lồng sắt đang chết đói, một lũ người lùn mặc áo da thuộc, đồng loại của tôi, tay cầm dao lột da, chạy ào tới, trèo lên, chém xối xả vào phần thịt cá voi béo ngậy màu xanh. Nạn đói, dịch bệnh và những cuộc tàn sát. Máu của chúng đang chảy trong tôi, những ham muốn của chúng là những con sóng của tôi. Tôi từng di chuyển giữa bọn họ trên dòng sông Liffey đóng băng, để tôi, một đứa trẻ bị tráo đổi, đứng giữa những ngọn lửa nhựa thông đang xèo xèo bốc cháy. Tôi chẳng nói với ai: và chẳng ai nói với tôi.
Tiếng sủa của con chó vang lên hướng về phía hắn, khựng lại, rồi chạy ngược trở lại. Con chó của kẻ thù tôi. Tôi chỉ đứng đó một cách tái mét, lặng thím, bị bao vây xung quanh. Terribilia meditans. Một chiếc áo doublet màu hoa anh thảo, tên hề của vận mệnh, mỉm cười trước nỗi sợ hãi của tôi. Phải chăng mày đang khao khát điều đó, tiếng vỗ tay tung hô của chúng? Những kẻ giả mạo: hãy sống cuộc đời của chúng đi. Người em trai của Bruce, Thomas Fitzgerald, hiệp sĩ áo lụa, Perkin Warbeck, kẻ mạo danh dòng họ York, trong chiếc quần lụa trắng ngà hoa hồng trắng, kỳ quan của một ngày, và Lambert Simnel, với một đám tùy tùng toàn những mụ hầu và kẻ cung cấp hậu cần, một tên lợn bồi được đội vương miện. Toàn con vua cháu chúa. Thiên đường của những kẻ giả mạo, xưa và nay. Hắn đã cứu người khỏi chết đuối mà mày lại run lẩy bẩy trước tiếng sủa của một con chó hoang ư. Nhưng những kẻ nịnh thần chế nhạo Guido ở Or san Michele vốn đang ở trong chính ngôi nhà của mình. Ngôi nhà của... Chúng ta không cần mấy cái thứ triết lý trung cổ tối nghĩa của cậu đâu. Cậu có dám làm điều hắn đã làm không? Sẽ có một chiếc thuyền ở gần đó, một chiếc phao cứu sinh. Dĩ nhiên rồi, được đặt ở đó cho cậu mà. Cậu có làm hay không? Người đàn ông chết đuối cách đây chín ngày ngoài khơi vách đá Maiden. Bọn họ đang đợi hắn ta kìa. Sự thật đi, nhổ ra xem nào. Tôi muốn thế chứ. Tôi sẽ thử. Tôi không phải là một người bơi giỏi. Nước lạnh và mềm. Khi tôi úp mặt xuống nước trong cái chậu ở Clongowes. Không nhìn thấy gì cả! Ai ở sau lưng tôi thế? Ra ngoài mau, mau lên! Cậu có thấy thủy triều đang dâng lên nhanh chóng ở mọi phía, nhanh chóng phủ kín những vùng cát trũng, có màu như ca cao vỏ sò không? Giá mà tôi có mảnh đất dưới chân mình. Tôi vẫn muốn cuộc đời hắn thuộc về hắn, cuộc đời tôi thuộc về tôi. Một kẻ đang chết đuối. Đôi mắt phàm trần của cái chết đang gào thét với tôi đầy kinh hãi. Tôi... Cùng hắn chìm xuống... Tôi không thể cứu nổi nàng. Nước: cái chết cay đắng: mất mát.
Một người phụ nữ và một người đàn ông. Tôi thấy váy của ả kìa. Chắc là được ghim gọn lên rồi.
Con chó của họ thung thăng quanh một bãi cát đang thu hẹp dần, chạy lúp xúp, ngửi ngóng khắp nơi. Đang tìm kiếm thứ gì đó đã mất từ kiếp trước. Đột nhiên nó lao vút đi như một con thỏ rừng phi nước đại, đôi tai vểnh ngược ra sau, đuổi theo cái bóng của một con mòng biển là sát mặt nước. Tiếng huýt sáo thét gào của người đàn ông đập vào đôi tai cụp xuống của nó. Nó quay đầu, lao giật lùi lại, chạy đến gần hơn, lúp xúp trên đôi cẳng chân thoăn thoắt. Trên một cánh đồng màu nâu sẫm, một con hươu đực đang phi bước kiêu hãnh, tự nhiên, chưa mọc sừng. Tại viền ren của con nước triều, nó khựng lại với đôi móng trước cứng đờ, đôi tai hướng ra phía biển. Cái mõm hếch lên sủa vào tiếng sóng vỡ, những đàn sư tử biển. Chúng uốn lượn trườn về phía chân nó, cuộn lại, duỗi ra vô số ngọn sóng, cứ đến con sóng thứ chín thì vỡ tung, bắn tung tóe, từ xa, từ xa hơn nữa, hết lớp sóng này đến lớp sóng khác.
Những kẻ đi hái sò. Họ lội một đoạn ngắn xuống nước và cúi người nhúng túi của mình xuống, rồi nhấc chúng lên, lội ra ngoài. Con chó sủa vang chạy về phía họ, chồm lên cào cấu họ, rồi lại hạ người xuống bốn chân, tiếp tục chồm lên vẫy đuôi nịnh nọt ra điều tội nghiệp nhưng câm lặng. Không ai để ý, nó cứ lẽo đẽo đi theo khi họ tiến về phía vùng cát khô hơn, chiếc lưỡi dài đỏ lòm thè lè thở hồng hộc ra từ hàm răng. Thân hình đốm của nó lúp xúp đi trước họ rồi phi nước đại kiểu bê con. Cái xác chết nằm ngay trên đường đi của nó. Nó khựng lại, ngửi ngóng, đi vòng quanh cái xác như một người anh em, ghé mõm ngửi kỹ hơn, lượn quanh một vòng, hít hà lia lI như một con chó đang đánh hơi khắp bộ lông bết bát của con chó đã chết. Đầu chó, mũi chó, đôi mắt dán xuống đất, tiến đến một mục tiêu lớn lao duy nhất. Ái chà, thân xác con chó đáng thương! Nơi đây nằm lại thể xác của thân xác con chó đáng thương.
—Tatters! Biến khỏi đây mau, đồ chó hoang!
Tiếng thét khiến nó lủi thủi quay về bên chủ và một cú đá phũ phàng không mang ủng đã đá văng nó chạy trốn bình an qua một dải cát, co rúm người lại vì sợ hãi. Nó luồn cúi chạy vòng vác. Không thấy mình kìa. Nó thung thăng chạy dọc theo mép đê đá, la cà lười biếng, ngửi một hòn đá rồi co một chân sau lên tiểu tiện vào đó. Nó chạy lom khom lên trước và lại nhấc chân sau lên, tiểu vọt một bãi ngắn vào một hòn đá chưa từng ngửi qua. Những niềm vui giản dị của những kẻ nghèo hèn. Đôi chân sau của nó sau đó hất tung cát lên: rồi đôi chân trước khua khoắng và đào bới. Nó chôn thứ gì đó ở dưới đó, chắc là bà ngoại của nó. Nó hì hục bới tung cát lên, khua khoắng, đào bới rồi dừng lại để lắng nghe bầu không khí, lại cào cát lên với sự cuồng nộ của móng vuốt, rồi nhanh chóng dừng lại, như một con báo đốm, một con báo hoa mai, sinh ra trong tội lỗi ngoại tình, đang rỉa rói kẻ chết như loài kền kền.
Sau khi nó đánh thức tôi dậy tối qua, giấc mơ y hệt hay là gì nhỉ? Chờ đã. Hành lang mở. Phố của những ả lầu xanh. Hãy nhớ lại xem. Haroun al Raschid. Tôi sắp nhớ ra rồi đây. Người đàn ông đó đã dẫn đường cho tôi, đã nói chuyện. Tôi không hề sợ hãi. Trái dưa hấu mà ông ta cầm áp vào mặt tôi. Mỉm cười: mùi trái cây ngọt ngào như kem. Đó là quy tắc, ông ta nói. Vào đi. Thảm đỏ được trải sẵn. Cậu sẽ thấy ai là người ở đó.
Vác túi trên vai, họ lê bước mệt mỏi, những kẻ du mục người Ai Cập da ngăm đen. Đôi chân bầm tím thò ra từ ống quần xắn lên đập bộp vào lớp cát nhầy nhụa, chiếc khăn quàng cổ màu gạch mờ đục siết chặt lấy cái cổ chưa cạo râu của hắn. Ả đi theo sau với những bước chân của đàn bà: gã lưu manh và mụ vợ giang hồ của hắn. Chiến lợi phẩm đeo lủng lẳng sau lưng. Cát rời và vụn vỏ sò đóng vảy trên đôi chân trần của ả. Mái tóc xõa tung trên khuôn mặt hốc hác vì gió táp. Đi sau người chúa tể của mình, người vợ hiền trợ giúp, lủi thủi bước đi đến Romeville. Khi màn đêm che giấu những khiếm khuyết trên cơ thể ả, cất tiếng gọi dưới lớp khăn choàng màu nâu từ một mái vòm nơi lũ chó từng phóng uế. Gã nhân tình của ả đang đãi hai gã lính Dublin Hoàng gia ở quán O’Loughlin’s ở Blackpitts. Hôn ả đi, rên rỉ bằng thứ tiếng lóng của bọn cõi đời, ồ, mụ nhân tình quyến rũ của tao! Vẻ trắng trẻo của một nữ quỷ ẩn dưới lớp giẻ rách hôi hám. Ngõ Fumbally đêm đó: mùi da thuộc bốc lên nồng nặc.
Trắng thay đôi tay, đỏ thay cái miệng
Và thân hình em thật đáng yêu làm sao.
Hãy ngủ chung một giường với anh đêm nay nhé.
Trong bóng đêm, hãy ôm lấy nhau và hôn nhau đi.
Thứ khoái lạc u sầu này mà Aquinas gọi là cái bụng phệ, frate porcospino. Adam chưa sa ngã đã cưỡi lên chứ không phải giao phối. Cứ gọi đi cứ mặc kệ hắn: thân hình em thật đáng yêu làm sao. Ngôn ngữ chẳng tệ hơn hắn chút nào. Những lời của tu sĩ, những hạt chuỗi mân côi lầm rầm bên thắt lưng họ: những tiếng lóng của kẻ cướp, những cục vàng thỏi cứng cỏi lách cách trong túi quần họ.
Bây giờ thì đi ngang qua đây.
Một cái liếc mắt sang chiếc mũ kiểu Hamlet của tôi. Giả như bây giờ tôi đột ngột khỏa thân ở đây khi đang ngồi thế này thì sao? Tôi đâu có thế. Băng qua những bãi cát trên toàn thế giới, bị đuổi theo bởi thanh gươm lửa của mặt trời, hướng về phía tây, hành trình đến những vùng đất buổi chiều tà. Ả lê bước, lết thết, kéo lê, lê lết gánh nặng của mình. Một dòng triều đang dịch chuyển về phía tây, bị hút bởi mặt trăng, theo sau bước chân Ả. Thủy triều, với muôn vàn hải đảo, bên trong Ả, dòng máu không phải của tôi, oinopa ponton, một vùng biển tối màu rượu vang. Kìa tì nữ của mặt trăng. Trong giấc ngủ, dấu hiệu ẩm ướt gọi tên giờ của Ả, ra lệnh cho Ả đứng dậy. Giường tân hôn, giường sinh, giường chết, được thắp sáng bởi nến ma. Omnis caro ad te veniet. Hắn đang đến, ma cà rồng tái mét, với đôi mắt bão giông, đôi cánh buồm dơi nhuốm máu đại dương, áp môi vào nụ hôn trên môi nàng.
Nào. Ghim một cái đinh vào gã đó đi, được chứ? Cuốn sổ tay của tôi. Môi áp vào nụ hôn của nàng. Không. Phải có hai đứa chúng nó chứ. Dán chặt chúng vào. Môi áp vào nụ hôn của môi nàng.
Đôi môi hắn mím lại và bập bêm vào đôi môi vô sắc của bầu không khí: môi áp vào tử-cung nàng. Tử-cung, cái nấm mồ bao trùm vạn vật. Miệng hắn phát ra hơi thở đang tuôn trào, không thành tiếng: ooeeehah: tiếng gầm thét của những hành tinh thác lũ, hình cầu, đang bừng sáng, đang gầm rú baybaybaybaybay. Giấy. Mấy tờ tiền giấy, chết tiệt chúng nó đi. Lá thư của lão Deasy. Đây. Cảm ơn vì lòng hiếu khách, xé cái góc trắng đi. Quay lưng về phía mặt trời, hắn cúi rạp người xuống một chiếc bàn đá và hí hoáy viết những con chữ. Thế là hai lần tôi quên lấy các mẩu giấy ghi chú từ quầy thư viện rồi.
Cái bóng của hắn đổ dài trên những tảng đá khi hắn cúi người, kết thúc. Tại sao lại không kéo dài đến tận ngôi sao xa xôi nhất cơ chứ? Chúng ở đó một cách tối tăm đằng sau ánh sáng này, bóng tối đang tỏa sáng trong luồng rực rỡ, chòm sao Delta của Cassiopeia, những thế giới. Tôi ngồi đó với cây gậy thông thái bằng gỗ tần bì, trong đôi xăng-đan đi mượn, ban ngày ngồi bên bờ biển bầm tím, không ai nhìn thấy, trong đêm tím ngắt bước đi dưới triều đại của những vì sao kỳ lạ. Tôi vứt cái bóng đã ngả dài này ra xa mình, hình dáng con người không thể chối cãi, rồi lại gọi nó quay về. Bất tận, liệu nó có thuộc về tôi, hình hài của hình hài tôi? Ai đang dõi theo tôi ở đây? Ai bất cứ nơi nào sẽ đọc những dòng chữ viết này? Những dấu hiệu trên một cánh đồng trắng. Đâu đó cho một ai đó bằng giọng nói ngọt ngào nhất của cậu. Vị giám mục đáng kính ở Cloyne đã vén chiếc khăn che đền thờ ra khỏi chiếc mũ xúc đất của mình: chiếc khăn che không gian với những biểu tượng màu sắc được thêu trên bề mặt của nó. Giữ chặt lại. Có màu trên một mặt phẳng: vâng, đúng thế đấy. Mặt phẳng tôi nhìn thấy, rồi nghĩ đến khoảng cách, gần, xa, mặt phẳng tôi nhìn thấy, hướng đông, quay lại. À, nhìn kìa! Đột ngột ngả về phía sau, đóng băng trong chiếc kính lập thể. Tiếng lách cách giải quyết mọi chuyện. Cậu thấy những lời của tôi tối nghĩa ư. Bóng tối ngự trị trong linh hồn chúng ta, cậu có nghĩ vậy không? Ngọt ngào hơn. Linh hồn chúng ta, bị tổn thương vì tội lỗi, lại càng bám chặt lấy chúng ta hơn nữa, giống như một người phụ nữ ôm chặt lấy người tình của mình, càng lúc càng siết chặt hơn.
Nàng tin tưởng tôi, bàn tay dịu dàng, đôi mắt cong vòm hàng mi. Bây giờ thì quỷ tha ma bắt tôi đang đưa nàng đi đâu thế này, vượt qua cả bức màn che? Đi vào phương thức hiển nhiên của tính trực quan hiển nhiên. Nàng, nàng, nàng. Nàng nào chứ? Thiếu nữ ở khung cửa sổ tiệm Hodges Figgis vào thứ Hai đang ngó vào để tìm một trong những cuốn sách bảng chữ cái mà cậu định viết. Cái nhìn sắc bén mà cậu ném về phía nàng. Cổ tay luồn qua sợi dây tết của chiếc ô che nắng. Nàng sống ở công viên Leeson với một nỗi buồn và những món đồ lặt vặt, một nữ sĩ văn chương. Hãy nói điều đó với ai khác đi, Stevie: một lời tán tỉnh linh tinh. Cá là nàng ấy mặc mấy cái dây nịt tất mang lời nguyền của Chúa và đi tất vàng, được vá bằng len cục mịch. Thay vào đó hãy nói về bánh bao táo đi thì hơn. Trí khôn của cậu để đi đâu mất rồi?
Chạm vào tôi đi. Đôi mắt mềm mại. Bàn tay mềm mềm mềm mại. Tôi cô đơn ở đây quá. Ồ, hãy chạm vào tôi sớm đi, ngay bây giờ. Từ ngữ được mọi người biết đến đó là gì nhỉ? Tôi ở đây một mình thật yên tĩnh. Lại còn buồn nữa chứ. Chạm vào, chạm vào tôi đi.
Hắn ngả người ra sau hết cỡ trên những mỏm đá nhọn hoắt, nhét vội mẩu giấy vừa viết nguệch ngoạc và cây bút chì vào túi, chiếc mũ sụp xuống che khuất đôi mắt. Đó là dáng điệu của Kevin Egan mà tôi vừa làm theo, gật đầu thiu thiu ngủ, giấc ngủ ngày Sabat. Et vidit Deus. Et erant valde bona. Alo! Bonjour. Chào mừng như những đóa hoa tháng Năm. Dưới tán lá, hắn dõi theo mặt trời đang dịch chuyển về phương nam qua đôi hàng mi rung rập như tiếng chim công hót. Tôi đang bị cuốn vào khung cảnh bùng cháy này. Giờ của thần Pan, buổi trưa của muôn loài. Giữa những giàn dây leo uốn lượn đặc nhựa mủ, những quả rỉ sữa trắng, nơi trên mặt nước màu nâu vàng những chiếc lá trải rộng ra. Nỗi đau hãy còn ở xa.
Và không còn quay đầu bước đi hay trầm ngâm suy tư nữa.
Ánh nhìn của hắn đăm đăm dán vào đôi ủng mũi rộng, món đồ bỏ đi của một con hươu đực, nebeneinander. Hắn đếm những nếp gấp trên lớp da nhăn nhúm nơi bàn chân của kẻ khác từng cuộn tròn ấm áp. Bàn chân từng nện xuống mặt đất trong điệu nhảy tripudium, bàn chân mà tôi căm ghét. Nhưng cậu đã từng rất sung sướng khi xỏ chân vào chiếc giày của Esther Osvalt: cô gái tôi quen ở Paris. Tiên, quel petit pied! Người bạn chí cốt, một tâm hồn anh em: tình yêu của Wilde mà người ta không dám thốt lên tên gọi. Cánh tay của hắn: cánh tay của Cranly. Giờ đây hắn sẽ bỏ rơi tôi. Và lỗi lầm thuộc về ai? Cứ như tôi đang là. Như tôi đang là. Tất cả hoặc không là gì cả.
Trong những vòng dây thừng dài từ hồ Cock, dòng nước dâng đầy, bao phủ lấp lánh như vàng xanh những đầm phá cát, đang dâng lên, đang chảy xiết. Chiếc gậy tần bì của tôi sẽ trôi mất tiêu cho mà xem. Tôi sẽ chờ đợi. Không, chúng sẽ trôi qua, lướt qua, cọ xát vào những mỏm đá thấp, cuồn cuộn trôi đi. Tốt hơn là nên giải quyết xong việc này cho nhanh. Lắng nghe này: tiếng sóng bốn từ: seesoo, hrss, rsseeiss, ooos. Hơi thở cuồng nộ của dòng nước giữa những con rắn biển, những chú ngựa đang chồm lên, những tảng đá. Trong những hốc đá, nó ào ạt vỗ: bõm, ì oạp, tátmạn; bị giam hãm trong những cái thùng. Và rồi, kiệt sức, tiếng nói của nó tắt ngấm. Nó chảy róc rách, chảy lan tỏa rộng khắp, tạo thành vũng bọt trôi dạt, đóa hoa đang bung nở.
Dưới con nước triều đang dâng cuồn cuộn, hắn thấy đám rong biển oằn mình uốn éo nhấc bổng lên một cách mệt mỏi và đu đưa những cánh tay đầy miễn cưỡng, rít lên dưới lớp váy của chúng, đu đưa trong làn nước thì thầm và lật ngửa những chiếc lá bạc đầy e ấp. Ngày qua ngày: đêm qua đêm: được nhấc bổng lên, ngập chìm rồi thả rơi xuống. Chúa ơi, chúng thật mệt mỏi; và được thì thầm vào tai, chúng thở dài. Thánh Ambrose từng nghe thấy điều đó, tiếng thở dài của lá cây và sóng nước, đang chờ đợi, đang ngóng chờ thời điểm viên mãn của chúng, diebus ac noctibus iniurias patiens ingemiscit. Được gom lại chẳng để làm gì; rồi lại bị phóng thích trong vô vọng, trôi xuôi, lượn vòng quay lại: khung cửi của mặt trăng. Cũng mệt mỏi không kém trước mắt những kẻ tình nhân, những tên dâm phụ, một người phụ nữ khỏa thân tỏa sáng trong cung điện của nàng, nàng đang kéo theo một mẻ lưới nước.
Năm sáu thước nước ngoài kia. Cha mày nằm sâu đúng năm thước dưới đáy biển. Lúc một giờ, hắn nói thế. Được tìm thấy trong tình trạng chết đuối. Thủy triều lên cao ở cửa sông Dublin. Mang theo phía trước một đám trôi dạt lộn xộn gồm những mảnh vỡ vụn, những đàn cá hình rẻ quạt, những chiếc vỏ sò ngốc nghếc. Một cái xác trôi nổi trắng bệch vì muối biển nhô lên từ dòng xoáy ngầm, bập bềnh từng nhịp từng nhịp như một con cá heo dạt vào bờ. Hắn kia rồi. Câu lên mau. Kéo đi. Dù hắn có chìm sâu bên dưới sàn nước đi chăng nữa. Chúng ta tóm được hắn rồi. Bình tĩnh nào.
Cái túi chứa đầy khí xác chết sũng nước trong làn nước muối hôi thối. Một đàn cá tuế run rẩy, lớp mỡ của một miếng mồi nhắm xốp mềm, lao vút qua khe chiếc khóa quần đã cài khuy của hắn. Chúa biến thành người biến thành cá biến thành ngỗng hàu biến thành ngọn núi đệm lông vũ. Tôi đang sống mà hít thở những hơi thở của người chết, dẫm lên lớp bụi chết chóc, ngấu nghiến thứ nội tạng đẫm nước tiểu từ tất cả những kẻ đã khuất. Bị kéo cứng đờ qua mạn thuyền, hắn phả lên mùi hôi thối từ ngôi mộ xanh ngắt của mình, cái lỗ mũi lở loét hủi hám của hắn đang ngáy khò khò dưới ánh mặt trời.
Một sự biến đổi kỳ diệu của biển cả, đôi mắt nâu hóa xanh màu muối biển. Cái chết dưới biển, cái chết dị êm nhất trong số mọi cái chết mà con người biết đến. Lão Cha Đại Dương. Giải thưởng Paris: hãy cẩn thận với hàng giả. Cứ thử trải nghiệm một cách công bằng xem nào. Chúng ta đã có những giây phút vô cùng vui vẻ.
Nào. Ta khát quá. Trời đang kéo mây. Chẳng có đám mây đen nào ở bất cứ đâu đúng không nhỉ? Sông giông chớp giật. Hắn ngã xuống rực rỡ biết bao, tia chớp kiêu hãnh của trí tuệ, Lucifer, dico, qui nescit occasum. Không. Chiếc mũ đi biển và cây gậy của tôi cùng đôi dép xăng-đan của hắn. Ở đâu cơ chứ? Đến những vùng đất buổi chiều tà. Buổi chiều rồi sẽ tự tìm thấy chính nó.
Hắn cầm lấy chuôi cây gậy tần bì, khẽ đâm thọc nhẹ nhàng, vẫn đang lưỡng lự. Đúng vậy, buổi chiều rồi sẽ tự tìm thấy chính nó ở bên trong tôi, mà không cần có tôi. Mọi ngày rồi đều sẽ đi đến hồi kết. Nhân tiện lần tới là khi nào nhỉ, thứ Ba sẽ là ngày dài nhất trong năm. Trong số tất cả những năm mới vui tươi, mẹ ơi, bài rum tum tiddledy tum. Cậu thơ Lawn Tennyson, nhà thơ của quý giòng. Già. Dành cho mụ già khọm răng vàng. Và ngài Monsieur Drumont, nhà báo quý tộc. Già. Răng của tôi tệ lắm rồi. Tự hỏi tại sao nhỉ. Thử sờ xem. Chiếc đó cũng sắp long ra rồi kìa. Vỏ sò. Tự hỏi có nên đến gặp nha sĩ bằng số tiền đó không nhỉ? Chiếc đó. Cái này. Kinch không răng, siêu nhân. Tự hỏi tại sao lại thế nhỉ, hay là nó ngầm ám chỉ điều gì chăng?
Khăn tay của tôi. Hắn đã ném nó đi. Tôi nhớ rồi. Mình không nhặt nó lên sao?
Bàn tay hắn khua khoắng tìm kiếm trong các túi quần trong vô vọng. Không, mình không nhặt. Tốt hơn là nên mua cái mới.
Hắn đặt bãi nhầy mũi khô vừa ngoáy ra từ lỗ mũi lên một gờ đá, một cách cẩn thận. Còn lại thì ai muốn nhìn thế nào thì nhìn.
Phía sau. Có lẽ có ai đó đang ở đó.
Hắn quay đầu nhìn qua vai, rere regardant. Đang di chuyển trong không khí là những cột buồm cao vút của một con tàu ba cột buồm, cánh buồm được cuốn gọn lên các thanh ngang, đang quay về nhà, ngược dòng nước, di chuyển trong lặng lẽ, một con tàu lặng câm.