Ông Leopold Bloom rất khoái khẩu các món nội tạng động vật và gia cầm. Ông thích súp lòng hầm đặc sánh, mề gà bùi bùi, tim nhồi đút lò, lát gan rán phủ vụn bánh mì, và trứng cá thu rán. Nhất là món thận cừu nướng, mang lại cho vòm họng ông một dư vị thoang thoảng mùi nước tiểu phảng phất.
Trong đầu ông nghĩ về những quả thận khi ông đi lại nhẹ nhàng quanh nhà bếp, sắp xếp lại đồ ăn sáng cho bà trên chiếc khay lồi lõm. Ánh sáng và không khí lạnh lẽo ngập tràn trong bếp, nhưng bên ngoài là một buổi sáng mùa hè dịu ngọt khắp mọi nơi. Khiến ông thấy hơi đói bụng.
Những hòn than đang đỏ dần lên.
Thêm một lát bánh mì phết bơ: ba, bốn: đúng rồi. Bà không thích đĩa của mình đầy ắp. Đúng rồi. Ông quay đi khỏi chiếc khay, nhấc ấm nước khỏi vành bếp và đặt nghiêng sang một bên trên lò sưởi. Nó nằm đó, xỉn màu và lùn tịt, cái vòi chĩa ra ngoài. Sắp có trà uống rồi. Tốt. Miệng khô khốc. Con mèo đi kiễng chân vòng quanh chân bàn với cái đuôi dựng đứng.
—Mkgnao!
—Ồ, mày đây rồi, ông Bloom vừa nói vừa quay người khỏi lò sưởi.
Con mèo kêu meo meo đáp lời và lại kiễng chân đi vòng quanh chân bàn, miệng vẫn kêu meo meo. Cứ như cách nó đi trên bàn viết của tôi vậy. Prr. Gãi đầu cho ta nào. Prr.
Ông Bloom tò mò, âu yếm nhìn thân hình mềm mại màu đen ấy. Trông thật sạch sẽ: bộ lông mượt mà bóng bẩy, cái khuy trắng dưới gốc đuôi, đôi mắt xanh chớp chớp. Ông cúi người xuống chỗ nó, hai tay chống lên đầu gối.
—Sữa cho mèo con đây, ông nói.
—Mrkgnao! con mèo kêu lên.
Người ta gọi chúng là loài ngu ngốc. Chúng hiểu chúng ta nói gì hơn là chúng ta hiểu chúng. Nó hiểu tất cả những gì nó muốn. Lại còn thù dai nữa. Độc ác. Bản chất của nó là thế. Mấy con chuột tò mò chẳng bao giờ kêu chít chít. Trông có vẻ thích thú cơ chứ. Tự hỏi không biết mình trông thế nào trong mắt nó nhỉ? Cao bằng tòa tháp à? Không, nó nhảy qua người tôi được cơ mà.
—Sợ đám gà lắm đấy nhé, ông nói với giọng trêu chọc. Sợ mấy con chục-chục. Tao chưa từng thấy con mèo nào ngu ngốc như mèo con.
—Mrkrgnao! con mèo kêu lớn.
Nó chớp chớp đôi mắt nheo lại vì thèm thuồng say mê, kêu meo meo ê ẩm và kéo dài, hé lộ cho ông thấy hàm răng trắng như sữa. Ông dõi theo đôi khe mắt tối sầm lại vì lòng tham cho đến khi chúng biến thành hai viên đá xanh biếc. Rồi ông đi tới cái tủ đựng bát đĩa, lấy chiếc bình mà người giao sữa của hãng Hanlon vừa đong đầy cho ông, rót dòng sữa còn đang sủi tăm ấm nóng ra đĩa và từ từ đặt xuống sàn nhà.
—Gurrhr! nó kêu lên, chạy bổ đến húp lấy húp để.
Ông nhìn những sợi lông cứng cáp lấp lánh dưới ánh sáng yếu ớt khi nó nhúng ba lần và liếm láp nhẹ nhàng. Tự hỏi không biết có đúng là nếu cắt lông râu thì chúng không bắt được chuột nữa không nhỉ? Tại sao cơ chứ? Chắc là vì phần chóp lông phát sáng trong bóng tối chăng. Hoặc có lẽ đó là một dạng xúc giác trong đêm tối.
Ông lắng nghe tiếng nó liếm láp ngon lành. Giăm bông và trứng, không. Trứng chẳng ngon lành gì trong đợt hạn hán này. Cần nước sạch tinh khiết. Thứ Năm: cũng chẳng phải ngày hay ho gì cho món thận cừu ở quán Buckley. Rán với bơ, thêm chút hạt tiêu. Ra hàng Dlugacz mua thận lợn thì hơn. Trong lúc chờ nước sôi. Nó húp chậm lại, rồi liếm chiếc đĩa sạch bóng. Sao lưỡi của chúng lại ráp thế nhỉ? Để húp cho tốt hơn, toàn những lỗ xốp li ti. Chẳng còn gì cho nó ăn được sao? Ông đảo mắt nhìn quanh. Không.
Trên đôi giày kẽo kẹt nhè nhẹ, ông bước lên cầu thang tới sảnh chính, dừng lại trước cửa phòng ngủ. Có lẽ bà thích món gì đó ngon miệng. Buổi sáng bà thích bánh mì phết bơ mỏng. Mà thôi kệ: thỉnh thoảng mới có một lần.
Ông khẽ nói trong căn sảnh trống trải:
—Tôi sang hàng bên góc phố đây. Lát tôi về ngay.
Và khi nghe thấy chính giọng mình thốt lên điều đó, ông nói thêm:
—Em không muốn ăn gì cho bữa sáng à?
Một tiếng rên ngái ngủ đáp lại:
—Hừ.
Không. Bà chẳng muốn gì cả. Sau đó ông nghe thấy một tiếng thở dài nặng nhọc và ấm áp hơn, khi bà trở mình và những vòng khuyên bằng đồng lỏng lẻo trên khung giường va vào nhau kêu lanh keng. Thật sự phải sửa lại mấy thứ đó thôi. Tiếc thật. Mang tận từ Gibraltar sang đấy chứ. Quên sạch cả dăm ba từ tiếng Tây Ban Nha ít ỏi mà bà biết. Tự hỏi bố bà đã mua nó bao nhiêu tiền nhỉ. Kiểu cách cổ xưa. À vâng! dĩ nhiên rồi. Mua trong buổi đấu giá của ngài tổng đốc. Bị ép giá đến cùng. Lão Tweedy đúng là kẻ keo kiệt sắt đá trong chuyện buôn bán. Vâng, thưa ngài. Hồi ở Plevna đấy. Tôi đã tự tay phấn đấu từ lính trơn lên, thưa ngài, và tôi tự hào về điều đó. Dẫu sao lão ta cũng đủ khôn ngoan để tạo ra vụ đầu cơ tem bưu chính đó. Phải công nhận là có tầm nhìn xa.
Bàn tay ông nhấc chiếc mũ khỏi chiếc móc treo phía trên chiếc áo khoác dạ nặng nề có thêu chữ cái viết tắt của ông và chiếc áo mưa cũ mua ở tiệm đồ thất lạc. Tem bưu chính: những bức tranh dán dính. Dám cá là khối sĩ quan cũng đang dấn thân vào vụ này ấy chứ. Chắc chắn là thế rồi. Dòng chữ in mờ nhạt trên vành trong của chiếc mũ thầm thì nói với ông: Hàng cao cấp của Plasto. Ông liếc nhanh vào bên trong lớp đai da. Một mẩu giấy trắng. Hoàn toàn an toàn.
Ngay bậc cửa, ông thọc tay vào túi quần sau tìm chìa khóa cửa. Không có ở đó. Ở chiếc quần tôi vừa cởi ra rồi. Phải lấy thôi. Củ khoai tây thì mình có mang đây. Tủ quần áo kêu kẽo kẹt. Làm phiền bà ấy thì chẳng hay ho gì. Lúc nãy bà ấy vừa trở mình ngái ngủ xong. Ông khép cánh cửa chính lại thật khẽ, khẽ hơn nữa, cho đến khi phần mép cửa sập nhẹ qua thềm nhà, như một chiếc nắp mềm oặt. Trông có vẻ đã khóa. Dù sao thì cứ để thế cho đến lúc mình về.
Ông băng qua phần đường ngập nắng, tránh tấm ván che hầm rượu lỏng lẻo ở số nhà bảy mươi lăm. Mặt trời đang tiến gần đến ngọn tháp của nhà thờ George. Tôi đoán hôm nay trời sẽ ấm đây. Nhất là mặc bộ đồ màu đen này thì lại càng cảm thấy rõ hơn. Màu đen hấp thụ, phản chiếu (hay là khúc xạ nhỉ?), nhiệt lượng. Nhưng tôi chẳng thể mặc bộ đồ sáng màu đó được. Trông lại hóa ra đi dã ngoại à. Mi mắt ông cứ khép dần lại một cách êm đềm khi ông bước đi trong bầu không khí ấm áp hạnh phúc. Xe giao bánh mì của hãng Boland đang đi phát từng sấy bánh mì cho nhu cầu hàng ngày của chúng ta nhưng bà ấy lại thích những ổ bánh mì ngày hôm qua, loại vỏ giòn rụm thơm phức. Khiến bạn cảm thấy như trẻ lại. Đâu đó ở phương Đông: buổi sáng sớm: lên đường từ lúc bình minh. Đi du lịch đón đầu hướng mặt trời, đi trước nó một ngày đường. Cứ thế mãi thì về mặt kỹ thuật sẽ chẳng bao giờ già đi dù chỉ một ngày. Đi dạo dọc bãi cát, trên một vùng đất lạ, đến cổng thành, có người lính canh ở đó, cũng là một lão cự binh lâu năm, để bộ ria mép to sụ giống lão Tweedy, đang tì người lên một thứ giáo dài. Thử lang thang qua những con phố có mái hiên căng bạt xem sao. Những gương mặt đội khăn turban lướt qua. Những hang động tối tăm của các tiệm bán thảm, một người đàn ông vạm vỡ, Turko kẻ khủng bố, ngồi khoanh chân, đang hút một chiếc tẩu uốn lượn. Tiếng rao của những người bán hàng trên phố. Uống thứ nước ướp hương thì là, nước chè quả sorbet. Cứ thong thả dạo bước suốt cả ngày. Có thể sẽ gặp một vài tên cướp chăng. Thì cứ gặp thôi. Trời sắp chập tối. Bóng của những ngôi đền thờ Hồi giáo len lỏi giữa những hàng cột: vị giáo sĩ cùng cuộn kinh da. Một làn gió rung rinh qua những tán cây, đó là tín hiệu, cơn gió chiều buông xuống. Tôi tiếp tục bước đi. Bầu trời hoàng yến phai dần. Một người mẹ đang dõi theo tôi từ ngưỡng cửa nhà bà. Bà gọi lũ trẻ trở về trong thứ ngôn ngữ tăm tối của chúng. Tường cao: vẳng tiếng gảy đàn dây phía bên kia. Bầu trời đêm, ánh trăng, sắc tím, màu chiếc nợn mới của Molly. Tiếng đàn dây. Lắng nghe kìa. Một cô gái đang chơi loại nhạc cụ gì mà người ta hay gọi là: đàn tam thập lục. Tôi bước qua.
Có lẽ thực tế chẳng giống thế tẹo nào. Toàn loại sách báo bạn hay đọc: theo dấu chân mặt trời. Hình mặt trời tỏa nắng trên trang tựa. Ông mỉm cười, tự mãn nguyện. Điều mà Arthur Griffith từng nói về tấm bảng trang trí trên đầu trang báo Freeman: một vầng thái dương tự trị mọc lên ở hướng tây bắc từ con hẻm nhỏ phía sau Ngân hàng Ireland. Ông kéo dài nụ cười mãn nguyện của mình. Thâm thúy ra phết đấy chứ: vầng thái dương tự trị mọc lên ở hướng tây bắc.
Ông tiến đến tiệm của Larry O’Rourke. Từ ô cửa thông gió dưới tầng hầm tỏa lên mùi bia porter nồng nặc ngai ngái. Xuyên qua khung cửa mở rộng, quán bar phả ra từng luồng hương gừng, bụi trà, và vụn bánh quy. Dù sao đây cũng là một cơ sở làm ăn tốt: ngay sát điểm cuối của tuyến giao thông thành phố. Chẳng hạn như tiệm của M’Auley ở đằng kia kìa: vị trí tệ hại, chẳng ra gì. Dĩ nhiên là nếu người ta làm tuyến xe điện chạy dọc đường North Circular từ chợ gia cầm đến khu bến cảng thì giá trị nhà đất sẽ tăng vọt lên ngay lập tức.
Gã đầu trọc ngồi sau tấm rèm che nắng. Lão già ranh mãnh. Gạ gẫm lão quảng cáo thì công cốc. Dù sao thì lão tự lo việc kinh doanh của mình vẫn là tốt nhất. Kìa, đúng lão rồi, cái lão Larry bạo gan của tôi, đang đứng tì người vào thùng đựng đường trong chiếc áo sơ mi cộc tay, nhìn gã phụ quán đeo tạp dề đang dùng giẻ lau và xô nước để cọ rửa sàn nhà. Simon Dedalus nhại lại lão ta giống y đúc với đôi mắt nheo lại. Anh có biết tôi định nói với anh điều gì không? Gì thế hả anh O’Rourke? Anh có biết chuyện gì không? Mấy tên Nga ngố ấy phỏng có gì hơn bữa điểm tâm lúc tám giờ đối với người Nhật.
Ghé vào nói dăm ba câu: có lẽ là về đám tang. Tội nghiệp cho tội đồ Dignam quá, anh O’Rourke ạ.
Rẽ vào phố Dorset, ông tươi cười cất tiếng chào qua khung cửa:
—Chào buổi sáng, anh O’Rourke.
—Chào buổi sáng anh nhé.
—Thời tiết đẹp thật đấy, thưa anh.
—Đẹp lắm chứ lại.
Chúng kiếm đâu ra lắm tiền thế nhỉ? Mấy tên phụ quán tóc đỏ chân ướt chân ráo từ hạt Leitrim tới, chuyên đi tráng rửa mấy cái chai rỗng và phục vụ lão già dưới tầng hầm. Thế rồi, ôi chao, chúng bỗng phất lên thành những ông chủ Adam Findlater hay Dan Tallon to tát. Rồi thử nghĩ đến sự cạnh tranh khốc liệt xem nào. Nỗi khát khô cổ họng chung của cả thiên hạ. Một câu đố hay ho sẽ là làm sao đi ngang qua Dublin mà không bước qua quán rượu nào. Muốn tránh thì đố mà tránh được. Chắc là vơ vét từ đám say xỉn ấy mà. Đặt ba đồng thu về năm đồng. Có bõ bèn gì đâu, dăm ba xu lẻ, gom góp từng chút một. Chắc là từ những đơn hàng bán sỉ ấy mà. Lại còn làm dăm trò mánh mung với mấy tay nhân viên tiếp thị của thị trấn. Cậu cứ dàn xếp ổn thỏa với súp-lơ đi rồi anh em mình chia đôi mối lợi, hiểu chưa?
Tính ra thì số tiền thu về từ bia porter trong một tháng sẽ lên tới bao nhiêu nhỉ? Cứ cho là mười thùng hàng đi. Cho là lão được hưởng mười phần trăm đi. Ồ hơn thế ấy chứ. Mười phần trăm rưỡi. Ông bước qua trường Tiểu học Saint Joseph. Tiếng lũ nhóc kêu la oai oái. Cửa sổ mở toang. Không khí trong lành giúp ích cho trí nhớ. Hoặc là một điệu hò. A-bê-xê đê-fê-gê ke-lô-men ô-pê-cu-rê rít-tu-vê đúp-lơ-u. Bọn nhóc con đấy phỏng? Phải rồi. Inishturk. Inishark. Inishboffin. Đang học môn địa lý của chúng đấy. Của tôi cơ mà. Dãy Slieve Bloom.
Ông dừng chân trước cửa kính nhà Dlugacz, đăm đăm nhìn những chuỗi xúc xích, xúc xích lớn, xúc xích đen và trắng. Mười lăm nhân với. Những con số trắng bệch hiện lên trong đầu ông, chưa có lời giải đáp: cảm thấy không hài lòng, ông để chúng phai mờ dần. Những khoanh xúc xích bóng bẩy, nhồi đầy thịt băm nhuyễn, thu hút ánh nhìn của ông và ông hít một hơi thật sâu làn hơi ấm áp thoang thoảng mùi máu lợn nấu chín tẩm gia vị.
Một quả thận đang rỉ ra những giọt máu trên chiếc đĩa hoa văn liễu: chiếc cuối cùng. Ông đứng cạnh cô gái ở quầy hàng bên cạnh. Liệu cô ta có mua nó không, khi cô đang đọc các mặt hàng từ một mẩu giấy trên tay? Nẻ nứt: nước sô-đa giặt giũ. Và một cân rưỡi xúc xích hãng Denny. Ánh mắt ông dừng lại ở vòng hông vạm vỡ của cô ta. Tên là Woods thì phải. Tự hỏi không biết hắn làm nghề gì nhỉ. Vợ thì đã luống tuổi. Máu mới đây. Không cho phép có kẻ theo đuôi. Cặp tay lực lưỡng. Đang quất thảm trên dây phơi quần áo. Cô ta quất mạnh tay thật đấy, thưa ngài. Cái cách chiếc váy xéo vạt của cô ta lúc lắc theo mỗi nhát quất.
Gã hàng thịt lợn có đôi mắt láo liên dùng những ngón tay lấm láp vết bã trầu, hồng hào màu xúc xích, gói lại chỗ xúc xích hắn vừa cắt ra. Thịt thà chắc nịch đấy: trông giống như một con bò cái vỗ béo trong chuồng.
Ông cầm một trang giấy lên từ chồng giấy được cắt sẵn: trang trại mẫu ở Kinnereth bên bờ hồ Tiberias. Có thể trở thành khu điều dưỡng mùa đông lý tưởng. Moses Montefiore. Tôi cứ tưởng ông ấy là. Ngôi nhà nông trang, có tường bao quanh, hình ảnh đàn bò nhòa nhạt đang gặm cỏ. Ông đưa trang giấy ra xa để đọc: thú vị đấy: đọc kỹ hơn phần tiêu đề, bầy gia sinh đang gặm cỏ mờ ảo, tờ giấy sột soạt. Một con bê cái tơ lông trắng. Những buổi sáng ở chợ gia cầm, tiếng bò kêu rống trong chuồng, những con cừu bị đóng dấu, tiếng phân rơi lộp bộp, những tay chăn nuôi đi đôi búa đinh lê lết qua đống rác rưởi, vỗ tay bụp một cái vào phần mông đầy thịt, đúng là một con hảo hạng đấy chứ, tay cầm những chiếc roi da chưa bóc vỏ. Ông kiên nhẫn cầm nghiêng trang giấy, tập trung toàn bộ giác quan và ý chí, ánh mắt dịu dàng đầy suy tư của ông đang nghỉ ngơi. Chiếc váy xéo vạt lúc lắc, từng nhát, từng nhát, từng nhát một.
Gã hàng thịt lợn giật phăng hai tờ giấy từ chồng giấy, gói lại chỗ xúc xích thượng hạng cho cô ta và nặn ra một điệu bộ nhăn nhó đỏ mặt.
—Nào, thưa cô, hắn nói.
Cô ta chìa ra một đồng xu, cười bạo dạn, chìa cánh tay dày thịt của mình ra.
—Cảm ơn cô nhé. Và tiền thừa là một shilling ba xu. Của anh mua gì nào?
Ông Bloom nhanh chóng ra hiệu. Để đuổi kịp và đi theo sau cô ta nếu cô ta đi chậm, đi theo sau vòng mông uốn éo của cô ta. Thật thú vị khi được ngắm nhìn điều đó ngay đầu ngày mới. Mau lên nào, khỉ thật. Hãy tranh thủ lúc trời còn nắng mà phơi lúa. Cô ta đứng bên ngoài cửa hàng dưới ánh nắng mặt trời rồi thong thả tản bộ sang bên phải. Ông khẽ thở dài qua mũi: bọn họ chẳng bao giờ hiểu được cả. Đôi bàn tay nứt nẻ vì nước sô-đa. Cả móng chân cũng đóng vảy nữa. Những chiếc khăn quàng scapular nâu rách rưới, bảo vệ cô ta theo cả hai hướng. Nỗi cay đắng vì sự phớt lờ âm thầm bùng cháy thành một niềm vui yếu ớt trong lồng ngực ông. Dành cho kẻ khác: một tên cảnh sát đang nghỉ phép đang ôm ấp cô ta ở ngõ Eccles. Chúng thích loại có da có thịt cơ. Xúc xích thượng hạng. Ồ làm ơn đi ngài cảnh sát ơi, tôi bị lạc trong rừng rồi.
—Ba xu nhé.
Bàn tay ông đón lấy miếng tuyến ẩm ướt mềm mại và nhét nó vào chiếc túi áo khoác bên. Sau đó nó với lấy ba đồng xu từ túi quần và đặt chúng lên những chiếc gai cao su. Chúng nằm đó, được đọc nhanh chóng và nhanh chóng trượt đi, từng đồng một, vào trong ngăn kéo thu tiền.
—Cảm ơn ngài. Hẹn gặp lại dịp khác.
Một đốm lửa háo hức từ đôi mắt cáo đã cất lời cảm ơn ông. Ông liền dời ánh mắt đi ngay lập tức. Không: tốt hơn hết là không nên: để dịp khác vậy.
—Chào buổi sáng, ông nói, rồi bước đi.
—Chào buổi sáng, thưa ngài.
Chẳng có dấu hiệu gì. Đi mất rồi. Xá gì chuyện đó.
Ông thong thả bước trở lại dọc theo phố Dorset, vừa đi vừa đăm chiêu đọc sách. Agendath Netaim: công ty điền trang trồng trọt. Mua lại những dải đất cát hoang hóa từ chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ và trồng cây khuynh diệp. Rất tốt cho việc tạo bóng mát, củi đun và vật liệu xây dựng. Những vườn cam và những cánh đồng dưa hấu bạt ngàn ở phía bắc Jaffa. Bạn trả tám mươi mác và họ sẽ trồng cho bạn một đunam đất bằng cây ô-liu, cam, hạnh nhân hoặc chanh yên. Ô-liu rẻ hơn: cam thì cần hệ thống tưới tiêu nhân tạo. Hàng năm bạn sẽ nhận được một phần sản lượng thu hoạch. Tên của bạn được ghi vào sổ của liên hiệp với tư cách là chủ sở hữu trọn đời. Có thể trả trước mười phần trăm và phần còn lại trả góp hàng năm. Phố Bleibtreustrasse 34, Berlin, W. 15.
Chẳng có kết quả gì sất. Dẫu sao thì đằng sau nó vẫn ẩn chứa một ý tưởng.
Ông ngắm nhìn đàn gia súc, mờ ảo trong lớp hơi nóng bạc màu. Những rặng ô-liu phủ bột bạc. Những ngày dài yên ả: tỉa cành, quả chín. Ô-liu được đóng vào hũ phải không nhỉ? Tôi vẫn còn vài hũ lấy từ nhà Andrews. Molly nhổ tát bét ra. Giờ thì nó biết mùi vị của chúng ra sao rồi đấy. Cam bọc giấy lụa đóng trong các thùng gỗ. Cả chanh yên nữa. Tự hỏi không biết tội nghiệp anh chàng Citron còn ở phố Saint Kevin không nhỉ. Cả Mastiansky với chiếc đàn cithara cổ nữa. Những buổi tối thật dễ chịu làm sao khi đó. Molly ngồi trên chiếc ghế mây của Citron. Thật thích thú khi cầm nắm, những trái cây sáp mát lạnh, cầm trong lòng bàn tay, đưa lên mũi và ngửi mùi hương thơm ngát. Giống như thế đấy, hương thơm nồng nàn, ngọt ngào, hoang dại. Vẫn y nguyên như thế, năm này qua năm khác. Chúng cũng bán được giá cao lắm đấy, Moisel đã bảo tôi thế mà. Quảng trường Arbutus: phố Pleasants: những thời gian tươi đẹp ngày xưa. Nó phải hoàn hảo không một tì vết, ông ấy đã nói vậy. Đi một quãng đường xa xôi nhường ấy: Tây Ban Nha, Gibraltar, Địa Trung Hải, vùng Cận Đông. Những thùng hàng xếp thành hàng dài trên cầu cảng ở Jaffa, anh chàng kiểm hàng đánh dấu vào sổ, những tên phu khuân vác bận chiếc quần yếm dính bẩn đang bốc xếp chúng bằng chân trần. Kìa cái lão gì gì đó bước ra từ. Làm ăn thế đấy à? Không thèm nhìn kìa. Gã mà anh quen biết chỉ để chào hỏi qua loa dăm câu cho đỡ buồn chán. Tấm lưng của hắn trông giống hệt như lưng của vị thuyền trưởng người Na Uy đó. Tự hỏi không biết hôm nay mình có gặp lại hắn không nhỉ. Xe tưới đường. Để khích lệ trời mưa. Dưới đất cũng như trên trời.
Một đám mây bắt đầu bao phủ mặt trời từ từ, hoàn toàn. Xám xịt. Xa xôi.
Không, không phải thế đâu. Một vùng đất cằn cỗi, hoang mạc trơ trọi. Hồ núi lửa, biển chết: không cá, không rong rêu, chìm sâu trong lòng đất. Chẳng cơn gió nào có thể nhấc nổi những con sóng đó lên được, thứ nước sương mù độc hại, bằng kim loại xám. Người ta gọi đó là lưu huỳnh mưa xuống: các thành phố của đồng bằng: Sodom, Gomorrah, Edom. Toàn là những cái tên đã chết. Một vùng biển chết trên một vùng đất chết, xám xít và già nua. Giờ thì đã già rồi. Nó từng sinh ra dòng giống cổ xưa nhất, đầu tiên nhất. Một bà già còng lưng đi ngang qua quán của Cassidy, một tay nắm chặt cổ chai rượu nhỏ. Dân tộc cổ xưa nhất. Đã lang thang đi muôn nơi khắp thế gian, từ cảnh lưu đày này sang cảnh lưu đày khác, sinh sôi nảy nở, chết đi, chào đời ở khắp mọi nơi. Nó nằm lì ở đó đến bây giờ. Giờ thì nó chẳng thể sinh nở thêm được nữa. Đã chết: giống như của một bà già: cái âm hộ già nua nhăn nheo chìm sâu của thế giới này.
Sự hoang tàn.
Sự kinh hoàng xám xịt cào xé da thịt ông. Gấp tờ giấy đút vào túi, ông rẽ vào phố Eccles, vội vã rảo bước về nhà. Dòng dầu lạnh lẽo trôi tuột dọc các mạch máu, làm lạnh giá dòng huyết dịch của ông: tuổi già đang phủ lên ông một lớp áo muối sờn cũ. Thôi nào, dẫu sao thì giờ mình cũng đang ở đây rồi. Vâng, giờ tôi đang ở đây rồi. Miệng mồm buổi sáng toàn hình ảnh xui xẻo. Sáng nay dậy nhầm chân rồi đây. Phải tập lại mấy bài thể dục của Sandow thôi. Chống tay xuống sàn. Những ngôi nhà gạch nâu lốm đốm. Số nhà tám mươi vẫn chưa cho thuê được kìa. Tại sao lại thế nhỉ? Giá định mức mới chỉ có hai mươi tám đồng. Các văn phòng môi giới Towers, Battersby, North, MacArthur: cửa sổ phòng khách dán chi chít các tờ quảng cáo. Giống như những miếng băng dán trên con mắt đang bị đau. Để được ngửi mùi khói trà dịu nhẹ, làn hơi từ chảo, tiếng bơ xèo xèo. Được ở gần phần da thịt ấm nồng no đủ của bà ấy. Vâng, vâng.
Ánh nắng ấm áp thoăn thoắt chạy từ phía đường Berkeley tới, nhanh nhẹn, trong đôi xăng-đan thon mảnh, dọc theo lối đi bộ đang sáng dần lên. Chạy kìa, nàng đang chạy tới đón tôi, một cô gái có mái tóc vàng óng bay trong gió.
Hai lá thư và một tấm bưu thiếp nằm trên sàn sảnh. Ông cúi xuống nhặt chúng lên. Bà Marion Bloom. Trái tim đang đập nhanh của ông bỗng chậm lại ngay lập tức. Nét chữ phóng khoáng. Bà Marion.
—Poldy!
Bước vào phòng ngủ, ông hơi nheo mắt lại và bước qua màn hoàng hôn vàng ấm áp hướng về phía mái tóc bù xù của bà.
—Thư của ai thế anh?
Ông nhìn ngắm chúng. Mullingar. Milly.
—Một bức thư gửi cho anh từ Milly, ông cẩn thận đáp, và một tấm bưu thiếp gửi cho em. Cùng một bức thư gửi cho em nữa.
Ông đặt tấm bưu thiếp và bức thư của bà lên chiếc khăn trải giường bằng vải chéo gần khúc uốn của đôi đầu gối bà.
—Em có muốn kéo rèm lên không?
Vừa kéo rèm lên bằng những cái giật nhẹ nhàng đến nửa chừng, ánh mắt liếc ngược lại của ông bắt gặp cảnh bà đang nhìn lướt qua bức thư rồi nhét nó xuống dưới gối.
—Thế này được chưa em? ông vừa hỏi vừa quay người lại.
Bà đang đọc tấm bưu thiếp, người tì lên khuỷu tay.
—Con nhận được đồ rồi, bà nói.
Ông đứng đợi cho đến khi bà đặt tấm bưu thiếp sang một bên và từ từ cuộn tròn người lại với một tiếng thở dài thỏa mãn.
—Pha nhanh ấm trà đi anh, bà nói. Em khát khô cả cổ rồi đây.
—Ấm nước đang sôi rồi em, ông nói.
Nhưng ông vẫn chần chừ dọn dẹp chiếc ghế: chiếc váy lót sọc của bà, đống đồ dơ bẩn vứt bừa bãi: và gom tất cả trong một vòng tay đặt lên phía cuối giường.
Khi ông bước xuống cầu thang nhà bếp, bà gọi vọng lại:
—Poldy!
—Gì thế em?
—Tráng nước sôi ấm trà đi đấy.
Đang sôi sùng sục rồi còn gì: một cột hơi nước bốc lên từ vòi ấm. Ông tráng và súc sạch ấm trà rồi múc bốn thìa đầy trà cho vào, sau đó nghiêng ấm nước để nước chảy vào đầy bình. Sau khi đặt ấm cho ngấm trà, ông nhấc ấm nước ra, ấn mạnh chiếc chảo bẹp dí xuống đống than hồng và nhìn khối bơ trượt đi rồi tan chảy. Trong lúc ông đang bóc lớp giấy bọc quả thận, con mèo đói meo kêu meo meo áp sát vào người ông. Cho nó ăn nhiều thịt quá thì nó lại chẳng thèm bắt chuột. Người ta bảo chúng không ăn thịt lợn cơ mà. Đồ kiêng khem theo đạo Do Thái. Nào. Ông thả tờ giấy dính máu xuống cho nó và thả quả thận vào giữa phần sốt bơ đang xèo xèo. Hạt tiêu. Ông rắc nó qua những kẽ ngón tay theo hình vòng tròn từ chiếc tách đựng trứng mẻ vành.
Rồi ông xé mở bức thư của mình, lướt nhanh qua trang giấy. Lời cảm ơn: chiếc mũ beret mới: anh Coghlan: chuyến dã ngoại ở hồ Owel: cậu sinh viên trẻ: những cô gái miền biển của Blazes Boylan.
Trà đã ngấm. Ông tự rót đầy chiếc tách có ria mép của mình, một chiếc tách giả kiểu dáng Derby hoàng gia, miệng mỉm cười. Món quà sinh nhật ngớ ngẩn của con bé Milly. Hồi đó nó mới năm tuổi. Không, chờ chút: bốn tuổi. Tôi đã tặng nó chiếc vòng cổ bằng hổ phách mà sau đó nó đã làm đứt tung. Hồi mình hay bỏ những mẩu giấy nâu gấp lại vào hộp thư cho nó. Ông mỉm cười, tay rót nước.
Ôi, Milly Bloom, em là người yêu dấu của đời anh.
Em là chiếc gương soi của anh từ đêm đến sáng.
Anh thà có em mà chẳng dính một xu dính túi
Còn hơn lấy Katey Keogh cùng con lừa và mảnh vườn của ả.
Tội nghiệp lão giáo sư Goodwin. Một lão già thật đáng sợ. Dẫu sao lão vẫn là một lão khướu lịch sự. Cái kiểu chào cự tuyệt Molly khỏi bục giảng mang phong cách cổ xưa của lão. Cả chiếc gương nhỏ trong chiếc mũ lụa của lão nữa. Đêm hôm con bé Milly mang nó vào phòng khách. Ồ, bố ơi xem con tìm được cái gì trong mũ của giáo sư Goodwin này! Tất cả chúng tôi đều cười phá lên. Chuyện nam nữ đã chớm nở ngay từ dạo đó rồi. Đúng là một con nhóc xấc láo.
Ông dùng nĩa xiên vào quả thận rồi lật ngửa nó lại: sau đó đặt ấm trà lên khay. Phần lồi của ấm tròng trành khi ông nhấc nó lên. Đã đủ mọi thứ chưa nhỉ? Bánh mì phết bơ, bốn cục đường, thìa, kem của bà ấy. Rồi. Ông mang nó lên lầu, ngón cái mắc vào quai ấm trà.
Dùng đầu gối đẩy hé cánh cửa, ông mang chiếc khay vào phòng và đặt nó lên chiếc ghế cạnh đầu giường.
—Anh làm cái gì mà lâu thế hả! bà nói.
Bà làm cho những vòng đồng trên giường kêu lanh keng khi nhanh nhẹn chống người ngồi dậy, tì một khuỷu tay lên gối. Ông điềm tĩnh nhìn xuống vóc dáng đồ sộ của bà và giữa hai bầu ngực lớn mềm mại, đang rủ xuống bên trong chiếc áo ngủ giống như bầu vú của một con dê cái. Hơi ấm từ cơ thể nằm dài của bà bốc lên trong không gian, hòa quyện với hương thơm của ấm trà bà đang rót.
Một dải phong bì rách ló ra từ bên dưới chiếc gối lún phún. Đang định bước đi, ông dừng lại để chỉnh lại tấm khăn trải giường.
—Thư của ai thế em? ông hỏi.
Nét chữ phóng khoáng. Marion.
—À, của Boylan, bà nói. Anh ấy đang mang tờ chương trình đến.
—Em hát bài gì thế?
—Bài Là ci darem hát cùng J. C. Doyle, bà nói, và bài Love’s Old Sweet Song.
Đôi môi mọng nước của bà vừa uống trà vừa mỉm cười. Mùi hương trầm còn sót lại vào ngày hôm sau mới ngai ngái làm sao. Giống như thứ nước ngâm hoa héo úa.
—Em có muốn mở hé cửa sổ một chút không?
Bà nhét gấp một lát bánh mì vào miệng, vừa nhai vừa hỏi:
—Mấy giờ thì làm đám tang thế anh?
—Mười một giờ, anh nghĩ thế, ông đáp. Anh không xem báo.
Làm theo hướng dẫn từ ngón tay chỉ của bà, ông nhặt lên một chiếc ống quần lót dơ bẩn của bà trên giường. Không phải à? Thế thì, một chiếc nợn xám bị xoắn vòng quanh một chiếc tất: nhàu nhĩ, phần đế sáng bóng.
—Không phải: cuốn sách cơ.
Chiếc tất còn lại. Chiếc váy lót của bà.
—Chắc nó rơi xuống rồi, bà nói.
Ông sờ soạng tìm kiếm khắp nơi. Voglio e non vorrei. Tự hỏi không biết bà ấy phát âm từ đó có đúng không: voglio. Không có trên giường. Chắc là trượt xuống dưới rồi. Ông cúi xuống và nhấc tấm rèm che giường lên. Cuốn sách đã rơi xuống, nằm xoài ra bên cạnh phần phình to của chiếc bô có hoa văn màu cam.
—Đưa đây nào, bà nói. Em có kẹp dấu trang trong đó. Có một từ em muốn hỏi anh đây này.
Bà nuốt một ngụm trà từ chiếc tách không có quai và, sau khi nhanh nhẹn chùi mấy đầu ngón tay lên tấm chăn, bắt đầu dùng chiếc kẹp tóc dò tìm phần văn bản cho đến khi tìm được từ đó.
—Gặp hắn thế nào ư? ông hỏi.
—Đây này, bà nói. Từ này nghĩa là gì thế hả anh?
Ông cúi người xuống và đọc ở gần móng tay được giũa bóng của bà.
—Metempsychosis?
—Đúng rồi. Hắn là cái thá gì khi ở nhà hả anh?
—Metempsychosis, ông nhíu mày đáp. Đó là tiếng Hy Lạp: bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp. Nghĩa là sự luân hồi chuyển thế của các linh hồn.
—Ôi dào, nhảm nhí! bà nói. Giải thích bằng từ ngữ bình dân cho tôi nhờ.
Ông mỉm cười, liếc xéo đôi mắt đang chế giễu của bà. Vẫn là đôi mắt trẻ trung ấy. Đêm đầu tiên sau buổi chơi trò đố chữ. Dolphin’s Barn. Ông lật những trang sách lem luốc. Ruby: Niềm Kiêu Hãnh của Sân Đấu. Kìa. Hình minh họa. Gã người Ý hung tợn với chiếc roi ngựa. Chắc chắn là Ruby niềm kiêu hãnh của nằm trần trụi trên sàn nhà. Tấm vải trải giường được mượn lòng tốt. Tên quái vật Maffei dừng tay và văng tục ném nạn nhân của hắn ra xa. Ẩn chứa đằng sau tất cả là sự tàn nhẫn. Những con vật bị tiêm thuốc kích thích. Tiết mục nhào lộn trên không ở rạp Hengler. Phải quay mặt đi chỗ khác. Đám đông há hốc mồm. Làm gãy cổ mày thì bọn tao vỡ bụng cười. Cả gia đình chúng nó ấy chứ. Huấn luyện từ khi còn nhỏ để chúng thực hiện phép luân hồi chuyển thế. Rằng chúng ta vẫn sống sau khi chết. Các linh hồn của chúng ta. Rằng linh hồn của một người sau khi chết đi. Linh hồn của Dignam...
—Em đọc xong chưa? ông hỏi.
—Rồi, bà nói. Chẳng có gì đồi trụy trong đó cả. Có phải cô ta yêu gã đàn ông đầu tiên trong suốt thời gian đó không?
—Anh chưa đọc bao giờ. Em có muốn đọc cuốn khác không?
—Có chứ. Kiếm cuốn khác của Paul de Kock mà đọc. Tên hắn nghe hay phết.
Bà lại rót thêm trà vào tách, ngắm nhìn dòng nước chảy nghiêng ngả.
Phải đi gia hạn thẻ thư viện phố Capel ngay thôi kẻo họ lại viết thư cho Kearney, người bảo lãnh của mình cho xem. Sự đầu thai: từ đó mới đúng chứ.
—Một số người tin rằng, ông nói, chúng ta vẫn tiếp tục sống trong một thể xác khác sau khi chết, rằng chúng ta đã từng sống trước đó rồi. Họ gọi đó là sự đầu thai. Rằng tất cả chúng ta đều từng sống trên Trái Đất này từ hàng ngàn năm trước hoặc ở một hành tinh nào khác. Họ bảo rằng chúng ta đã quên mất rồi. Một vài người thì nói họ nhớ được tiền kiếp của mình.
Lớp kem sền sệt cuộn xoắn thành những hình trôn ốc lợn cợn trong tách trà của bà. Tốt hơn là nên nhắc lại cho bà ấy nhớ từ đó: metempsychosis. Lấy một ví dụ thì sẽ dễ hiểu hơn nhỉ. Một ví dụ á?
Bức tranh Tắm Nữ Thần treo trên đầu giường. Được tặng kèm với số báo đặc biệt ngày lễ Phục Sinh: Kiệt tác tuyệt mỹ mang màu sắc nghệ thuật. Uống trà trước khi cho sữa vào. Trông cũng hơi giống bà ấy lúc thả xõa mái tóc: thon thả hơn. Anh đã bỏ ra ba shilling sáu xu để mua cái khung đấy. Bà ấy bảo treo nó lên đầu giường thì trông sẽ đẹp lắm. Những nàng nữ thần khỏa thân: Hy Lạp: và chẳng hạn như tất cả những con người từng sống vào thời kỳ đó.
Ông lật giở lại các trang sách.
—Metempsychosis, ông nói, là từ mà người Hy Lạp cổ đại thường dùng. Họ từng tin rằng bạn có thể biến thành một loài động vật hoặc một cái cây chẳng hạn. Thứ mà họ gọi là các nữ thần chẳng hạn.
Chiếc thìa của bà ngừng khuấy đường. Bà đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, hít thở qua lỗ mũi đang phập phồng.
—Có mùi gì khét khét ấy, bà nói. Anh có bỏ quên cái gì trên bếp không đấy?
—Quả thận! ông bỗng kêu lên.
Ông vội nhét quăng cuốn sách vào túi áo trong và, đụng phải chiếc tủ hỏng bét, vội vã chạy ra chỗ có mùi khét, bước nhanh xuống cầu thang với đôi chân loạng choạng như cò hương. Làn khói cay xè bốc thốt lên thành một dòng giận dữ từ một bên chảo. Dùng ngạnh của chiếc nĩa xọc xuống dưới quả thận, ông gỡ nó ra và lật ngửa cái bụng nó lên. Chỉ bị cháy xém một chút thôi. Ông hất nó ra khỏi chảo lên đĩa và để phần nước sốt nâu ít ỏi chảy lèo tèo lên miếng thịt.
Giờ thì uống một tách trà thôi. Ông ngồi xuống, cắt và phết bơ lên một lát bánh mì. Ông lạng bỏ phần thịt bị cháy rồi vứt cho con mèo. Sau đó ông xiên một miếng đưa vào miệng, nhai một cách kỹ lưỡng phần thịt mềm dai ngon miệng. Chín tới độ. Một ngụm trà. Rồi ông cắt bánh mì thành từng khối hình con chì, nhúng một miếng vào nước sốt rồi đưa lên miệng nhai. Thế còn chuyện cậu sinh viên trẻ tuổi nào đó và buổi đi dã ngoại là thế nào nhỉ? Ông miết phẳng bức thư ở bên cạnh, vừa chậm rãi đọc vừa nhai, nhúng thêm một khối bánh mì vào nước sốt rồi đưa lên miệng.
Papli dấu yêu
Cảm ơn bố rất nhiều vì món quà sinh nhật tuyệt vời nhé. Con mặc hợp lắm ạ. Ai cũng bảo trông con xinh như hoa hậu khi đội chiếc mũ beret mới này. Con đã nhận được hộp kẹo mềm tuyệt đẹp của mẹ gửi và đang tranh thủ viết thư đây. Kẹo ngon lắm ạ. Công việc chụp ảnh của con bây giờ đang tiến triển rất suôn sẻ. Chú Coghlan đã chụp cho con và cô một bức ảnh. Sẽ gửi cho bố mẹ khi rửa ảnh xong nhé. Hôm qua chúng con buôn may bán đắt lắm. Ngày hội chợ nên khách khứa đông nghìn nghịt. Thứ Hai tới chúng con sẽ đi hồ Owel với vài người bạn để tổ chức buổi dã ngoại nhậu nhẹt. Gửi lời hỏi thăm yêu thương đến mẹ và tặng bố một nụ hôn thật kêu kèm theo lời cảm ơn nhé. Con nghe thấy tiếng họ đang đánh đàn piano ở dưới nhà kìa. Sẽ có một buổi hòa nhạc ở Greville Arms vào thứ Bảy tới đấy ạ. Có một cậu sinh viên trẻ thỉnh thoảng hay đến đây vào buổi tối tên là Bannon, họ hàng gì đó với tầng lớp thượng lưu và cậu ấy đang hát bài hát của Boylan (con suýt nữa thì viết là Blazes Boylan) về mấy cô gái miền biển đó. Nhắn với bố ấy là con bé Milly ngớ ngẩn gửi lời hỏi thăm trân trọng nhất ạ. Con phải dừng bút đây với tất cả tình yêu thương thắm thiết nhất
Con gái yêu của bố
Milly
T.S. Thông cảm vì chữ xấu nhé con đang vội lắm. Tạm biệt bố.
M.
Hôm qua vừa tròn mười lăm tuổi. Kỳ lạ thật, cũng đúng ngày rằm luôn. Sinh nhật đầu tiên con bé ở xa nhà. Sự chia ly. Nhớ lại buổi sáng mùa hè khi nó cất tiếng khóc chào đời, chạy đi gọi bà Thornton ở phố Denzille. Đúng là một mụ già vui tính. Chắc mụ đã đỡ đẻ cho khối đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời. Mụ biết ngay từ đầu là tội nghiệp bé Rudy sẽ không sống nổi. Thôi thì Chúa nhân từ mà anh. Mụ biết được ngay lập tức. Giờ này thì nó đã mười một tuổi rồi nếu nó còn sống.
Khuôn mặt thất thần của ông đăm đăm nhìn phần tái bút với vẻ đầy xót xa. Thông cảm vì chữ xấu. Vội vàng. Tiếng đàn piano dưới nhà. Đang dần tự lập thoát khỏi vỏ ốc. Trận cãi vã với nó ở quán cà phê XL vụ chiếc vòng tay. Nhất định không chịu ăn bánh hay mở miệng nói chuyện hay liếc nhìn gì cả. Con ranh con xấc xoá. Ông lại nhúng những khối bánh mì khác vào nước sốt và ăn hết miếng thận này đến miếng khác. Mười hai shilling rưỡi một tuần. Chẳng bõ bin gì mấy. Dẫu sao thì nó làm nghề khác còn tệ hơn ấy chứ. Sân khấu ca nhạc tạp kỹ. Cậu sinh viên trẻ. Ông uống một ngụm trà nguội hơn để trôi đi bữa ăn. Sau đó ông đọc lại bức thư đó một lần nữa: hai lần.
Thôi được rồi: nó biết cách tự lo cho bản thân mà. Nhưng nhỡ không thì sao? Không, chẳng có chuyện gì xảy ra đâu. Dẫu sao thì chuyện đó hoàn toàn có thể xảy ra. Dù thế nào thì cứ chờ cho đến khi nó xảy ra đã. Đúng là một con bé hoang dã. Đôi chân thon thả chạy tót lên cầu thang. Định mệnh. Giờ thì đang phổng phao rồi đây. Kiêu ngạo: lắm chứ.
Ông mỉm cười với nỗi niềm trìu mến đầy băn khoăn hướng về phía cửa sổ nhà bếp. Hôm bắt gặp nó ngoài phố đang tự véo má cho ửng hồng lên. Hơi bị thiếu máu chút xíu. Hồi nhỏ bú sữa mẹ lâu quá. Trên con tàu Erin’s King ngày hôm đó vòng qua đảo Kish. Con tàu sắt chết tiệt cứ tròng trành lên xuống. Chẳng hề sợ sệt tẹo nào. Chiếc khăn quàng cổ màu xanh nhạt bay phấp phới trong gió cùng mái tóc nó.
Toàn má lúm đồng tiền cùng những lọn tóc xoăn,
Khiến đầu óc anh cứ bấn loạn cả lên.
Những cô gái miền biển. Phong bì rách. Hai tay thọc sâu vào túi quần, bác đánh xe ngựa đi vắng cả ngày, miệng ngâm nga ca hát. Người quen của gia đình. Bấn loạn, cậu ta nói thế đấy. Cầu tàu giăng đèn kết hoa, buổi tối mùa hè, ban nhạc.
Những cô gái ấy, những cô gái ấy,
Những cô gái miền biển đáng yêu làm sao.
Cả Milly nữa chứ. Những nụ hôn tuổi trẻ: nụ hôn đầu đời. Giờ đã trôi về dĩ vãng xa xôi. Bà Marion. Đang đọc sách, nằm ngả người ra sau, đếm từng sợi tóc của mình, miệng mỉm cười, tết tóc.
Một cảm giác cồn cào dịu nhẹ, nỗi tiếc nuối, chạy dọc sống lưng ông, ngày càng lan rộng. Sẽ xảy ra thôi, đúng vậy. Ngăn chặn ư. Vô ích thôi: chẳng thể lay chuyển được gì. Đôi môi mọng nước ngọt ngào của người con gái. Rồi cũng sẽ xảy ra thôi. Ông cảm nhận được cảm giác cồn cào đang lan tỏa khắp cơ thể mình. Giờ có muốn tránh cũng vô ích. Đôi môi đã hôn, đang hôn, và sẽ hôn. Đôi môi phụ nữ mọng nước đầy dính dáp.
Được ở nơi con bé đang ở dưới kia thì tốt hơn: xa rời nơi này. Tìm việc gì đó cho khuây khỏa. Cons muốn nuôi một con chó để giết thời gian. Hay là làm một chuyến du lịch xuống dưới đó nhỉ. Ngày nghỉ ngân hàng tháng Tám, vé khứ hồi chỉ có hai shilling sáu xu. Dẫu sao thì còn tận sáu tuần nữa cơ. Hay là xin một chiếc thẻ nhà báo nhỉ. Hoặc thông qua M’Coy.
Con mèo, sau khi đã liếm láp sạch sẽ bộ lông của mình, quay trở lại chỗ tờ giấy dính đầy thịt, ngửi ngửi rồi lững thững đi về phía cửa. Nó ngoảnh lại nhìn ông, miệng kêu meo meo. Muốn ra ngoài đây mà. Cứ đứng chờ trước cửa thế nào lát nữa cửa cũng mở thôi. Cứ cho nó đợi chán đi. Lại đang bứt rứt khó chịu rồi đấy. Điện tích đấy. Trời sắp có dông rồi. Lúc nãy nó cứ liếm láp tai với cái lưng quay về phía lò sưởi cơ mà.
Ông cảm thấy nặng nề, bụng dạ đầy ứ: rồi cảm giác ruột gan bắt đầu dịu xuống. Ông đứng dậy, tháo cạp quần ra. Con mèo kêu meo meo với ông.
—Meo! ông kêu lên đáp lời. Đợi tao chuẩn bị xong đã chứ.
Nặng nề thật: ngày nóng nực sắp đến rồi. Lười chẳng muốn lê lết bước lên cầu thang để tới chiếu nghỉ chút nào.
Một tờ báo. Ông rất thích đọc sách báo lúc đi đại tiện. Hy vọng không có tên đần nào đến gõ cửa đúng lúc mình đang.
Trong ngăn kéo bàn, ông tìm thấy một số báo cũ của tờ Titbits. Ông kẹp nó dưới nách, đi về phía cửa và mở tung ra. Con mèo nhẹ nhàng phóng vọt lên trên. À, muốn lên lầu, cuộn tròn lại như một nhung cầu trên giường rồi đây.
Lắng tai nghe, ông nghe thấy tiếng bà:
—Nào, nào, mèo con. Lại đây nào.
Ông đi qua cửa sau ra khu vườn: đứng lại lắng nghe hướng về phía khu vườn nhà bên cạnh. Chẳng có âm thanh gì cả. Có lẽ đang phơi quần áo ngoài sân. Cô hầu gái đang ở trong vườn. Buổi sáng đẹp trời.
Ông cúi người xuống ngắm nhìn một luống bạc hà gầy guộc đang mọc dọc theo bức tường. Làm một cái chòi mùa hè ở đây xem sao. Đậu rũ. Dây thường xuân Virginia. Muốn bón phân cho toàn bộ khu đất này quá, đất đai cằn cỗi quá. Phết thêm một lớp lưu huỳnh gan vào. Đất đai kiểu gì mà chẳng có phân bón. Nước thải sinh hoạt. Đất phù sa, thứ này là cái gì thế nhỉ? Phân của đám gà nhà hàng xóm ấy: dùng để bón lót thì tuyệt cú mèo. Tuyệt vời nhất vẫn là phân gia súc, nhất là khi chúng được cho ăn mấy loại bánh dầu đó. Phân chuồng ủ mục. Thứ tốt nhất để làm sạch găng tay da cừu của phụ nữ đấy. Lấy bẩn trị sạch. Cả tro bếp nữa. Cải tạo lại toàn bộ khu vườn này xem nào. Trồng đậu ở góc kia kìa. Cả xà lách nữa. Thế là lúc nào cũng có rau xanh tươi ăn rồi. Dẫu sao thì làm vườn cũng có những điểm phiền phức của nó. Con ong hay con nhặng xanh này vào ngày lễ Thăng Thiên.
Ông tiếp tục bước đi. Nhân tiện chiếc mũ của mình đâu mất rồi nhỉ? Chắc là treo lại lên móc rồi. Hoặc đang treo lủng lẳng dưới sàn nhà. Buồn cười thật, sao mình lại không nhớ ra nhỉ. Cửa ra vào treo đầy đồ quá. Bốn chiếc ô, áo mưa của bà ấy. Nhặt những bức thư lên. Tiếng chuông cửa tiệm của Drago đang reo vang. Lạ thật, vừa lúc nãy mình lại nghĩ đến chuyện đó cơ chứ. Mái tóc chải keo bóng mượt xõa qua cổ áo hắn. Vừa mới rửa mặt và chải chuốt xong. Tự hỏi không biết sáng nay mình có kịp tắm táp gì không nhỉ. Phố Tara. Gã ngồi trong quầy vé ở đó đã trốn thoát được James Stephens rồi đấy, người ta bảo thế đấy. O’Brien.
Gã Dlugacz đó sở hữu chất giọng trầm ấm thật đấy. Agendath gì cơ chứ? Nào, thưa cô. Đúng là một kẻ nhiệt tình.
Ông dùng chân đá tung cánh cửa mục nát của cái nhà cầu. Phải cẩn thận kẻo làm bẩn chiếc quần này để lát còn đi dự đám tang chứ. Ông bước vào, cúi đầu dưới khung cửa thấp tè. Để hé cánh cửa, giữa mùi hôi thối của vôi vữa ẩm mốc và mạng nhện lâu ngày, ông cởi dây đai quần ra. Trước khi ngồi xuống, ông liếc qua khe hở nhìn lên những ô cửa sổ nhà hàng bên cạnh. Lão vua đang ngồi kiểm đếm tiền bạc trong phòng làm việc. Chẳng có ma nào cả.
Ngồi xổm trên cái bồn cầu, ông dở tung tờ báo ra, lật giật từng trang trên đôi đầu gối trần trụi của mình. Có gì mới mẻ và nhẹ nhàng không đây. Chẳng việc gì phải vội vàng cả. Cứ từ từ thưởng thức đã. Tiết mục đặc sắc của chúng ta: Đòn Quyết Định Của Matcham. Do ông Philip Beaufoy, Câu lạc bộ Khán giả Sân khấu, Luân Đôn chấp bút. Tác giả đã được trả nhuận bút theo mức một guinea cho mỗi cột báo. Ba cột rưỡi. Ba bảng ba. Ba bảng, mười ba shilling sáu xu.
Ông lặng lẽ đọc, tự kiềm chế bản thân, hết cột thứ nhất và, vừa miễn cưỡng vừa ham thích, bước sang cột thứ hai. Đến giữa chừng, sự kìm nén cuối cùng hoàn toàn tan biến, ông thả lỏng ruột gan một cách êm ái trong lúc đọc, đôi mắt vẫn kiên nhẫn đọc tiếp chứng táo bón nhẹ của ngày hôm qua đã biến đi đâu mất tăm. Hy vọng nó không quá to lại làm trĩ tái phát thì khốn. Không, vừa khéo rồi. Thế đấy. À! Táo bón. Uống một viên cascara sagrada là xong. Cuộc đời đôi khi cũng có thể như thế đấy. Nó chẳng làm ông xúc động hay lay động gì nhưng đó là một thứ gì đó nhanh gọn và tươm tất. Thời buổi này cái gì in lên báo cũng được. Mùa báo chí ế ẩm. Ông tiếp tục đọc, điềm tĩnh ngồi bên trên làn mùi hôi đang bốc lên từ chính cơ thể mình. Quả là gọn gàng tươm tất. Matcham thường suy nghĩ về đòn quyết định mà nhờ đó hắn đã chinh phục được mụ phù thủy cười người mà giờ đây. Bắt đầu và kết thúc đều mang tính đạo đức. Sánh bước bên nhau. Thật tinh ranh. Ông liếc nhìn lại những gì mình vừa đọc và, trong khi cảm nhận dòng nước tiểu tuôn ra êm ái, ông thầm ngưỡng mộ một cách thiện cảm với ngài Beaufoy, người đã viết ra nó và nhận được khoản tiền nhuận bút ba bảng, mười ba shilling sáu xu.
Có lẽ mình cũng viết được một bài phác thảo ấy chứ. Do ông và bà L. M. Bloom. Bày đặt ra một câu chuyện cho một câu tục ngữ nào đó xem sao. Câu nào nhỉ? Ngày trước mình hay có thói quen ghi lại những gì bà ấy nói khi đang mặc quần áo lên cổ tay áo. Ghét nhất là cảnh cùng nhau mặc quần áo. Bị dao cạo cứa vào tay khi cạo râu. Cắn chặt môi dưới, cài khuy áo khoác. Bấm giờ xem mất bao lâu. 9 giờ 15 phút. Roberts đã trả tiền cho cô chưa? 9 giờ 20 phút. Gretta Conroy mang theo cái gì thế nhỉ? 9 giờ 23 phút. Quái quỷ gì xui khiến mình mua chiếc lược này cơ chứ? 9 giờ 24 phút. Bụng phềnh ra sau đống bắp cải vừa ăn. Một hạt bụi bám trên chiếc giày da bóng của bà ấy.
Lấy từng đường viền giày chà xát thật nhanh lên phần bắp chân mang bít tất của bà. Sáng hôm sau đêm vũ hội chợ phiên khi ban nhạc của May chơi khúc nhạc khiêu vũ các giờ trong ngày của Ponchielli. Giải thích điều đó đi: giờ ban buổi sáng, buổi trưa, rồi buổi chiều sà xuống, rồi đến những giờ ban đêm. Đánh răng rửa mặt. Đó là đêm đầu tiên. Chiếc đầu của bà đang nhảy múa. Những chiếc nan quạt khua lách cách. Không biết lão Boylan có khá giả không nhỉ? Lão ta có tiền đấy. Tại sao ư? Ta nhận ra hơi thở của lão có mùi vị rất giàu có khi khiêu vũ. Lúc đó ngâm nga thì chẳng ích gì. Ám chỉ đến nó đi. Thứ âm thanh kỳ lạ của đêm hôm qua. Tấm gương chìm trong bóng tối. Bà nhanh nhẹn dùng chiếc gương cầm tay chà xát vào chiếc áo lót bằng len áp vào bầu ngực đang lúc lắc đầy đặn của mình. Đăm đăm nhìn vào đó. Những nếp nhăn trong đôi mắt. Thế nào mà mọi chuyện lại chẳng ra làm sao cả.
Những giờ ban chiều, những cô gái mặc đồ voan xám. Rồi những giờ ban đêm: màu đen với những con dao găm và mặt nạ che mắt. Ý tưởng mang tính thơ ca: màu hồng, rồi màu vàng, rồi màu xám, rồi màu đen. Dù sao thì nó cũng rất sát với thực tế cuộc sống. Ban ngày: rồi đến ban đêm.
Ông xé phăng một nửa câu chuyện đoạt giải và dùng nó để chùi rửa. Sau đó ông thắt lại cạp quần, cài khuy cài đai cho gọn gàng. Ông giật mạnh cánh cửa kêu kẽo kẹt lỏng lẻo của cái nhà cầu rồi bước ra từ chốn tối tăm hòa mình vào bầu không khí ngoài trời.
Dưới ánh sáng rực rỡ, cơ thể trở nên nhẹ nhõm và mát mẻ, ông cẩn thận quan sát chiếc quần đen của mình: phần gấu quần, phần đầu gối, phần khoeo chân. Mấy giờ thì đến đám tang nhỉ? Tốt hơn là nên tìm xem trên báo.
Một tiếng kẽo kẹt và một tiếng vo ve trầm đục vang lên trên không trung từ vị trí ở trên cao. Tiếng chuông nhà thờ George. Chúng đang điểm giờ: tiếng kim loại trầm đục vang vọng.
Ôi chao! Ôi chao!
Ôi chao! Ôi chao!
Ôi chao! Ôi chao!
Kém mười lăm phút nữa. Lại nữa kìa: tiếng âm bồi ngân vang lan tỏa trong không gian. Một nốt quãng ba.
Tội nghiệp Dignam quá!