Ba Ngày Ở Nhà Mẹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Khi lấy lại thẻ tín dụng từ máy bán hàng tự động tại nhà ga Lyon và nhận một vé khứ hồi đi Grenoble, một thành phố mà ông hầu như không biết rõ lắm, François Graffenberg không hề đoán được mình sẽ gặp chuyện gì ở đó. Đối với ông, Grenoble không gợi lên một kỷ niệm sâu sắc nào cả. Đó chỉ là thành phố quê hương của Stendhal, nhưng nhà văn đã bỏ ra đi từ rất sớm, từ lúc mới có mười sáu, và đến tuổi năm mươi ông vẫn còn viết: “Tôi rất ghét Grenoble.” Làm sao ông François ngờ được rằng hai tháng sau, vào cuối mùa hè, ông sẽ trở thành khách quen ở Nhà trọ Napoléon, quán Lão Béo – món khoai tây nấu với sữa, trứng và pho mát ở đó thì ngon không chê vào đâu được! – quán Berlioz và vài hiệu ăn Ý? Làm sao ông ngờ được rằng mình sẽ biết tất cả những hiệu sách ở Grenoble và phần lớn các nhà bán đồ cổ trong khu phố cũ, rằng ông sẽ tặng cho một thiếu phụ đáng tuổi con mình không chỉ có hoa và vòng cổ mà còn cả áo nịt và tất lưới mua tại Boutique Frisson và Atout charme nữa? Rằng ông sẽ đưa cô bé tới Lapin vert, một cửa hàng bán đồ dục giới mà khi rời khỏi đó, họ sẽ mang theo một lô viên geisha[1] và dương vật giả? Rằng ông sẽ gặp cha cô bé, một tiến sĩ khoa học, kỹ sư về tập hợp các phương pháp thí nghiệm và nghiên cứu nguyên tử, một người còn trẻ hơn ông vài tuổi?

Tối hôm ấy, tại Trung tâm Quốc gia nghệ thuật hiện đại Grenoble, số 155 đường Berriat – tên người chủ ngôi nhà, nơi chàng trai Stendhal khiêu vũ suốt đêm trong hội carnaval chăng? – ông sẽ đến dự buổi giới thiệu phòng triển lãm ảnh chụp của ông bạn lâu năm Lütfi Ozkök, một người Hy Lạp ở Istanbul, một ông già nhỏ bé, cường tráng hiếu khách và cởi mở, có học thức, đến bây giờ vẫn chưa hiểu mình được sinh ra vào cuối triều đại vị vua Thổ Nhĩ Kỳ cuối cùng hay thời kỳ đầu của nước Cộng hòa mà Mustafa Kemal làm tổng thống. Lần nào nói tếu rằng mình sắp đến tuổi “gần tám mươi”, ông Lütfi Ozkök cũng bật cười khanh khách. Ông đã cưới Anne-Marie, một người Thụy Điển mà ông gặp năm 1949 tại vườn Luxembourg. Hồi đó, cả hai đều đến Paris để theo học một khóa về văn minh Pháp ở trường đại học Sorbonne. Sau đó, ông đã sang Thụy Điển sống với vợ. Ông sáng tác thơ, đồng thời dịch tác phẩm của các thi nhân Thụy Điển sang tiếng Thổ, nhưng nhà xuất bản nào ở Istanbul cũng một mực yêu cầu chân dung tác giả cho nên ông phải tự mình mày mò học cách chụp hình, và thế là ông trở thành nhiếp ảnh gia. Ông chỉ nhận chụp cho các nhà văn thôi. Khi tạp chí Life muốn xin chân dung mới nhất của Samuel Beckett, người vừa được giải Nobel, Beckett đã trả lời họ như sau: “Có một người Thổ Nhĩ Kỳ ở Stockholm đấy, ông ta đã có sẵn những bức ảnh chụp tôi rất nét.” Ông François đã đưa những giai thoại ấy vào lời tựa mà ông viết cho cuốn danh mục triển lãm.

Ông đã định về ngay hôm sau buổi dạ hội, nhưng vẫn cứ nhét độ chục cuốn sách vào chiếc túi du lịch được thiết kể cho người ham thích trò chơi trượt ván có bánh xe thì hợp hơn. Ông còn mang theo cả một cặp bìa đựng những trang đầu cuốn tiểu thuyết sắp tới để tranh thủ chữa vào ban đêm, trong phòng khách sạn.

Ông chỉ nhớ mang máng, thành phố Grenoble là nơi mà ông đã nghỉ lại một đêm cùng với bà Daphné trong một khách sạn đối diện nhà ga, khoảng mươi năm trước. Kế hoạch của họ là buổi sáng hôm sau đáp xe lửa đi thăm mẹ ông François sống trong ngôi nhà ở Haute Provence. Hai người mới tới Grenoble, sau khi đã chung sống suốt tháng Bảy trong một căn hộ ở Lausanne mà người ta cho mượn. Một buổi sáng, họ lại lên tàu hỏa đi Blonay, Yverdon hoặc Morges, họ rủ nhau đi ngắm hết cảnh này đến cảnh khác, và cuối ngày, trên đường về, nếu còn đủ sức, họ lại đi bộ một đoạn dọc theo hồ Léman. Những ngày cảm thấy mệt mỏi, họ đáp tàu thủy hơi nước ở bến Lausanna-Ouchy đi Vevey hoặc Montreux. Sau bữa trưa, họ đọc sách và chuyện trò cho đến chiều dưới bóng mát cây dù, trên sân thượng một khách sạn nhìn ra hồ Léman hoặc bơi thuyền trên hồ Neuchâtel, Yverdon ở Estavayer-lac rồi lại quay về nơi xuất phát. Buổi tối, trước khi về căn hộ, họ mua một chai rượu vang trắng hảo hạng của Thụy Sĩ. Mỗi người uống một cốc, rồi họ làm tình, và sau đó thì làm nốt chai rượu.

14 giờ 24 phút, tàu hỏa đi Grenoble mới chuyển bánh, nhưng ông muốn đến sớm một chút để được hưởng cái thú ngồi trước một tách cà-phê expresso đúp, ngả người thoải mái trên một chiếc ghế bành bọc da cũ kỹ mà ông vẫn thích từ nhiều năm nay tại quán Train Bleu, một trong những nơi vẫn giữ được khung cảnh sang trọng nhất ở Paris, ngay cả khi diện tích dành cho quầy rượu đã bị thu hẹp. Nhưng ông không sao tìm lại được cái bàn thấp gần khung kính cao rộng mênh mông cuối dãy, nếu đi vào qua cửa xoay thì là bên trái, phía trong cùng quán, “bàn của ông” hồi xa xưa, khi ông bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên và thường đến Big Ben Bar (trong nhà ga thì đó là một cách đặt tên kỳ cục, và vừa nghe người ta đã nghĩ ngay đến Địa Trung Hải) để ghi chép lặt vặt và đọc báo nước ngoài vào lúc sớm tinh sương, trước khi về ngủ, trong khi từng đoàn tàu rời Florence và Venise tối hôm trước đang lần lượt vào ga. Ba mươi năm trước, ông đã ghi vào sổ tay câu này: “Không những chỉ các đoàn tàu đêm mà cả các nữ hành khách nhan sắc mỹ miều, những cô nàng mặt mũi sáng ngời, được một đêm mệt mỏi và say đắm vì tình trong toa nằm giữa Venezia-Santa-Lucia và Paris-Ga Lyon làm cho đẹp rạng rỡ hẳn lên.”

Ông sắp sáu mươi rồi, và từ lâu đã thôi không buồn ghi chép về những người đàn bà gặp gỡ tình cờ trong các quán rượu nữa. Trong bao nhiêu năm ròng. Ông đã viết kín không biết bao nhiêu sổ tay để tả tóc tai, khuôn mặt, váy áo khoét ngực sâu nông, cử chỉ duyên dáng, lấy cớ là để sử dụng cho việc viết lách sau này, nhưng lần nào đọc lại, ông cũng chỉ thấy thất vọng ê chề. Chưa xem lại những điều ghi chép ấy thì ông còn tin tưởng là chúng có ích, nhưng cứ mỗi khi ông muốn tìm ở đó một chút cảm hứng là lập tức lại có cảm giác như bị dội một gáo nước lạnh. Chúng không bao giờ làm sống lại cảm giác rung động đã từng dạt dào trong lòng ông và đối tượng khơi gợi lên cảm giác rung động ấy thì lại càng không làm được: một người đàn bà còn sống trên đời mà ông tưởng lầm trong chốc lát ngắn ngủi là mình đã kéo ra khỏi cảnh bị lãng quên. Vả lại, phần ghi chép cuối cùng của ông chỉ liên quan đến những gì xảy ra ở bệnh viện, những vụ tự tử, những đám tang. Cái mà ông thiếu chỉ là lòng can đảm đưa những ghi chép ấy vào tác phẩm.

Ông đã từng mời rất nhiều đàn bà tới quán Train Bleu. Như Louise chẳng hạn, đáng lẽ phải ăn tối thì cô ta lại rủ ông vào một trong những khách sạn quanh khu vực nhà ga và còn giục rối rít: “Khách sạn nào cũng được, khách sạn đầu tiên chúng ta gặp ấy!” Cô ta biết tính ông lắm: cô mà để ông lựa chọn thì ông sẽ ngập ngừng đắn đo suốt một tiếng đồng hồ ngoài đường, không sao quyết định được nên vào khách sạn nào. Ông mê cô ta từ lâu, thế mà mãi mới dám ngỏ lời: “Bao giờ thì em chịu làm người tình của tôi?” Hai người đã qua đêm đầu tiên tại khách sạn Washington Opéra ở phố Richelieu, không xa nhà cô ta lắm. Trong lúc mới được ông vuốt ve đến phần mông, Louise đã tranh thủ gọi điện cho cô gái trông trẻ thuê để hỏi xem hai cậu bé đã ngủ chưa, đồ chúng có khô không. Sớm tinh mơ hôm sau – cô ta phải về trước khi các con thức dậy - vừa mặc váy, cô ta vừa nói: “Có lẽ đêm qua là một dấu dãn nhịp rồi.” Một đêm dãn nhịp! Cứ nói thẳng ra là dấu chấm hết cho xong. Nhưng “dấu dãn nhịp” cũng có thể hiểu là “thành công rực rỡ”, một ý nghĩa mà ông François cho là có giá trị hơn nhiều. Hai người chỉ ngủ với nhau độ chục lần, và lúc này ngồi trước tách cà-phê expresso đúp đang nguội dần, ông cảm thấy lạ là sao mình lại nhớ rõ cái thân hình đàn bà ấy đến thế, thân hình mà mình được nhìn ngắm rất ít nhưng có lẽ mê mẩn rất nhiều.

Ông còn đủ thời gian gọi một cốc rượu trước khi tàu chạy không? Từ khi người ta phát hiện tỷ lệ men chuyển hóa a-min trong máu của ông cao một cách bất thường, ông không dám động đến một giọt whisky nào nữa. Bác sĩ lấy làm lạ: “Ông dùng chất gây nghiện phải không? Ông chưa bao giờ dùng ống tiêm đã qua sử dụng đấy chứ?” Chất gây nghiện thì ông François chỉ dùng có thuốc an thần thôi. Valium liều cao hoặc méprobamate cộng chlorpromazine và cộng gì nữa thì chỉ có trời mới biết được thôi, nhưng cách đây đã lâu rồi. Ông đáp: “Thưa bác sĩ, chất ma túy mà tôi thích thú nhất chỉ có tác phẩm Thiên đường giả tạo thôi!” Ông có khả năng phân biệt các loại whiskey vùng Kentucky thơm mùi va-ni và vùng Tennessee được lọc qua than củi gỗ thích, nhưng chịu không biết gì về sự khác nhau giữa cây gai dầu và marijuana, giữa moóc-phin và he-rô-in. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ông đã cai hẳn rượu, thay vào đó ông uống rất nhiều sinh tố rau và trà, không biết bao nhiêu lít mà kể. Ông sụt đi được vài cân, nhưng bù lại ông đã trở thành một tay rất sành về các loại trà xanh Trung Hoa, các loại trà búp và lá trà cuộn hoặc xoắn. Trà Đông Đỉnh Ô Long và Trân Châu là hai loại ông ưa thích nhất. Để động viên cha, hai cô con gái ông, Chloé và Sieglinde, đã mua tặng ông hai ấm trà đỏ tía và một bộ ống điếu cổ bằng sứ màu trắng phơn phớt xanh da trời rất đẹp.

Nhưng một cuộc xét nghiệm mới vừa cho thấy tỷ lệ men chuyển hóa a-min đã giảm xuống bình thường, ông François đã vội cất biến bộ ấm chén quý giá ấy đi, đồng thời từ bỏ luôn cả trà xanh và trở lại với thói quen dùng rượu vang, vừa uống vừa dẫn một câu nói của John Huston lúc cuối đời: “Tôi chỉ tiếc một điều, đáng lẽ nên uống rượu vang thì tôi lại đi uống whisky.” Một câu thật hợp ý ông François.

“John Huston mà đã nói thế thì…”, Daphné giễu cợt.

Ông François ngồi lún sâu trong chiếc ghế bành bọc da sờn cũ, và khi anh hầu bàn bưng đồ uống mà ông gọi đến, một cốc Laphroaig 10 năm tuổi, ông liền uống cạn một hơi để tưởng nhớ đến John Huston, đạo diễn Fat City, một phim được thu bằng cát-xét mà ông rất hay xem lại. Ông còn nghĩ đến Susan Tyrrell, vai Oma cô đóng trong Fat City rất tuyệt. Vị mạch nha nguyên chất trong rượu thế nào ấy, ông không thích chút nào cả. Bây giờ mà gọi một cốc rượu vang thì quá muộn rồi, giờ khởi hành sắp tới và ông chưa kiểm tra xem tuyến đường sắt TGV đi Grenoble có đỗ ở tầng dưới ngay trước hiệu ăn không, hay ông lại phải đi xuyên qua nhà ga và chạy vào cầu hành lang trang trí toàn tranh tường nhưng đã bị các ô cửa bán vé và quán hàng làm xấu đi rất nhiều. Ông không thể lỡ chuyến này được. Ba giờ nữa mới có chuyến tiếp, và Lütfi đã hẹn ra ga đón ông. Ông tưởng như đang nghe thấy giọng nói của Lütfi: “Ông bạn François của tôi đây rồi! Ey, dostum! Cuối cùng thì ông cũng đã đến! Ne var ne yok?[2]. Ông ta có ra ga cùng với người tổ chức cuộc triển lãm, cô Juliette Chavioz, không nhỉ? Nghe qua điện thoại thì thấy giọng cô ta khá êm tai.

Ông vừa ngồi yên chỗ trong toa của mình, một toa hầu như không có người, thì người ta thông báo đóng cửa vào sân ga. Được đi như thế này, ông cảm thấy rất sung sướng, từ nhiều tháng nay ông đã không rời khỏi Paris, đêm nào ông cũng phải vò võ một mình trước bàn làm việc, phần lớn thời gian bị mối hoài nghi và những cơn ức chế hành hạ khổ sở, không nói chuyện với ai cả. Làm bạn với ông chỉ có tiếng người trong máy ghi âm. Đêm nào cũng chỉ có nhạc sĩ nhạc jazz Nat Kinh Cole và các tu sĩ thiền tông ở ngôi chùa Nhật Bản Myoshin-ji! Cả nhà thông thái Jasraj[3], ca sĩ Oum Kalsoum, nàng Isolde và nhạc kịch la Tosca nữa. Cả Portia Nelson, Irene Kral, Felicia Sanders, Julie Wilson, Jeri Southern nữa, toàn nữ ca sĩ mà ông biết trong Đêm sâu kín, một cuốn sách nói về các hộp đêm ở New York mà tác giả đề “tặng cha mẹ tôi, hai người chưa bao giờ đặt chân đến một hộp đêm nào”. Khi đã chán tiếng người, ông lại nghe piano.

❀ ❀ ❀

[1] Viên Geisha : Viên hình ô-van để đàn bà sử dụng, trong có hòn bi thép, khi cho vào trong người thì tạo được độ rung, gây khoái cảm mãnh liệt

[2] Ey, dostum ! Ne var ne yok? (tiếng Thổ) : A, ông bạn! Ông bạn năm phương ngàn kế của tôi thế nào rồi?

[3] Jasrai (1930-…) Người hát và gảy đàn trong những bài cổ truyển của Ấn Độ, vị đạo sĩ Bà-la-môn lão thành nhất ở hội môn đồ Mewati Gharana, là nhân vật truyền thuyết còn sống, niềm tự hào của đất nước.

À MẸ Nguyên tác: Trois jours chez ma mere ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của François Weyergans

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.