Ba Ngày Ở Nhà Mẹ

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 4 -

❊ ❊ ❊

Cuối cùng Madeleine cũng phải lên tiếng nhắc nhở tôi: “Anh nên về thăm Mẹ thường xuyên hơn chứ. Mẹ không dám đòi hỏi gì anh đâu, nhưng nếu anh về một vài ngày thì Mẹ sẽ mừng lắm đấy. Hầu như anh chẳng gặp mặt Mẹ mấy khi thì phải. Mẹ chẳng còn sống được bao lâu nữa, và đến lúc anh về được thì không biết chừng lại muộn mất rồi cũng nên, ông anh thân mến ạ. Và lúc ấy, ngay cả gọi điện hỏi thăm, anh có muốn cũng không làm được nữa. Anh nghĩ mà xem. Mẹ đã gần đất xa trời rồi, chúng mình có đột ngột nhận được tin Mẹ mất cũng không có gì là bất ngờ cả. À mà này, lần cuối cùng anh về thăm Mẹ là bao giờ ấy nhỉ?”

Tai vẫn nghe Madeleine nói nhưng đầu óc tôi lại đang cố nhớ lại. Đã bao lâu rồi tôi không ôm hôn Mẹ? Madeleine tưởng là Mẹ không biết đòi hỏi tôi về thăm ư, cô ấy nhầm rồi. Ngược lại là đằng khác, mỗi lần hai mẹ con gọi điện thoại cho nhau, bà lại nói xa nói gần về việc này, và cuối cùng, bao giờ bà cũng cố vớt thêm một câu: “Tất nhiên, nếu không ảnh hưởng đến công việc của con thì được.” Một lần, tôi có gợi ý sẽ xuống thăm bà vài ngày thì bà lại từ chối: “Mẹ muốn chờ thêm một thời gian nữa, để khi nào con lưu lại được ít nhất cả một tuần hay nửa tháng thì hẵng xuống.” Sao bà không trả lời thẳng: “Mẹ muốn nhìn thấy mặt con chứ không phải nghe tiếng con qua điện thoại, mẹ chán nói chuyện điện thoại lắm rồi”? Lúc nào cũng có sẵn máy bay đi Marsellle, sẵn tàu hỏa đi Avignon thì việc con về thăm Mẹ có gì là khó khăn đâu nhưng Mẹ ơi, từ nhiều năm rồi con cứ tưởng rằng chỉ tuần sau là cuốn tiêu thuyết của con sẽ xong thôi, và trong khi người ta in, con sẽ có nhiều thời gian về chơi với Mẹ.

Nói thế thôi chứ thực ra tôi đã ỉm đi một điều, đó là từ nhiều năm rồi, cùng số năm như đã nói ở trên (tôi không muốn nhớ là bao nhiêu nữa), tôi chưa viết được gì ra trò đáng để người ta in cả. Hôm mà tôi nghĩ ra được tên cuốn tiểu thuyết, Ba ngày ở nhà mẹ, bà cũng mừng cho tôi. Có được tên sách rồi thì sẽ dễ dàng hơn nhiều, bà nghĩ đơn giản như vậy. Mẹ thân yêu của con ơi, mẹ lầm to rồi! Tên sách mà đặt quá sớm thường không giúp được gì cho nhà văn đâu. Nó sẽ từ từ áp đặt và chi phối tất cả cho mà xem. Tên sách phải được đặt sau cùng và phải do một người khác đặt. Còn với cuốn Ba ngày ở nhà mẹ, tôi chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Ba ngày là thời gian quá ngắn ngủi mà mẹ tôi sẽ dứt khoát không chịu, và bà mẹ, mẹ của nhân vật mà tôi sắp xây dựng, sẽ trở thành mẹ của tôi, tất cả những người tôi hỏi ý kiến về tên cuốn sách nhất định sẽ tưởng như vậy…

Mẹ tôi thì lại tỏ ra ngạc nhiên: “Thế mà con vẫn làm việc được ư? Con viết được nhiều chưa? Bao nhiêu trang rồi?” Bà góa một người làm nghề xuất bản có khác, tôi biết ngay là thế nào Mẹ cũng hỏi câu này mà! Bà không nói thì thôi, chứ đã nói câu nào là câu ấy chỉ có trúng trọng tâm thôi. Có thể bà mới lấy ông Franz và là mẹ của François, hai nhà văn. Bà đã giúp chồng quản lý một nhà xuất bản và chắc chắn là đã động viên ông hoàn thành những cuốn sách mà ông viết trước khi tự mình xuất bản.

Có một lần tôi đã về ở nhà mẹ hẳn một tháng liền, cách đây khoảng mười lăm năm, tôi còn nhớ đó là cuối tháng Giêng. Chả là tôi đã quyết định về bên bà để viết nốt một trong số những cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi thuê SNCF[1] chở về một thùng bìa đựng đầy sách vở và rất nhiều tư liệu. Tôi vào căn phòng lớn nằm sâu nhất trong nhà có hai cửa sổ mở ra sân trời, và ngay ngày hôm sau, tôi đã nhận thấy một điều là mình sẽ không viết được một dòng nào ở nơi này. Tôi đã vất vả vô ích - nào là chọn sách để mang theo, nào là sắp xếp lại giấy tờ xem mình cần những gì, nào là loan báo cho người quen biết tôi sắp đi vắng - nhưng rồi tôi vẫn quyết định ở lại. Ngôi nhà rất ấm áp, tôi nghĩ chắc mẹ tôi dùng số tiền bảo hiểm nhân thọ của cha tôi để cho lắp đặt hệ thống sưởi trung tâm chạy bằng dầu ma-zút. Còn lò sưởi điện thì chỉ được bật trong các phòng có người sử dụng thôi. Suốt mấy đêm ròng, tôi lò mò trong hầm, lục lọi khắp các xó xỉnh, kết quả là tôi tìm được một lô đèn dầu hỏa, đĩa nến, một bức tượng nhỏ bằng đồng: một con lợn lòi bị thương. Thấy thế, mẹ tôi hét lên: “Con lôi cái của nợ này lên làm gì. Ngày xưa, nó được bày trên mặt lò sưởi phòng ăn của ông bà ngoại con, mẹ đã phải gai mắt với nó cả một thời thơ ấu rồi. Con mà thích thì mẹ tặng con luôn.” Tôi đánh thật bóng để bức tượng làm bạn với tôi trong căn phòng trên gác, vừa để thay cái chặn giấy trong khá oách vừa để thay một tác phẩm in thạch bản Boyan mà đáng lẽ phải giữ lại thì tôi lại trót đem tặng mất, và mỗi khi nhìn cái đầu và nhất là ánh mắt uy nghiêm của con lợn lòi, tự dưng tôi lại hứng lên muốn bắt tay vào việc. Tay nghề của người thợ đúc bức tượng ấy quả là cao, và tôi hình dung nó dược bày trong tủ kính một viện bảo tàng nhỏ tại một tỉnh nào đáy mà trong ký ức tôi thấy nơi giống phòng ăn ở nhà ông bà ngoại tôi. Tôi còn lôi từ dưới hầm lên một hình người mà hồi nhỏ tôi đã tự làm bằng lò xo ghế bành nữa. Nở mày nở mặt như một ông chủ phòng tranh đang trưng bày những tác phẩm quý giá nhất của mình, cha tôi đem ra khoe với bạn bè chung với gia đình, những người trước khi đã chứng kiến tôi ra đời và nay thì chuyền tác phẩm của tôi hết từ tay ông này sang tay bà khác, hết ngắm gần đèn rồi lại nghía xa đèn, rồi cuối cùng đều nhất trí nhận xét rằng tôi rất có năng khiếu, các ông các bà thật vô duyên, cứ làm như tôi không biết mình có năng khiếu hay không ấy. “Con đem vứt cái của nợ cũ rích này đi đây”, tôi nói với Mẹ, nhưng bà lại muốn tôi mang trả xuống hầm: “Mỗi lần nghĩ đến nó và biết rằng nó vẫn còn ở dưới ấy là mẹ lại thấy vui vui!”

Tại một hiệu bán đồ văn phòng ở Phố Grande trên thị xã Manosque, tôi mua một vài cái quản bút, một bộ ngòi và một ít lọ mực màu gồm một thứ mực màu xanh lá cây nhạt đẹp tuyệt được hãng sản xuất Salis International ở Hollywood, bang Florida, đặt tên là “April Green”, Xanh tươi tháng Tư, một vài loại mực tàu không phai, lọ thì xanh cô-ban, lọ thì đỏ tươi pha da cam của Lefranc et Bourgeois và một lọ màu xanh da trời của hãng Pelikan, và cuối cùng là một loại mực pha để tập viết thư pháp, màu đất son xỉn do Rohrer và Klingner ở Leipzig sản xuất. Đến bây giờ tôi vẫn còn giữ được những lọ mực ấy, một vài lọ đã khô cong từ bao giờ. Tôi còn mua cả giấy viết thư và phong bì nữa. Phong bì lại đắt hơn giấy viết thư. Mỗi buổi sáng, trước khi đi ngủ, tôi lại dùng mực xanh lá cây nhạt của Mỹ để viết thư cho Mẹ, đôi khi tôi viết khá dài, sau đó tôi đặt dưới đất, trên gạch lát trước cửa phòng bà. Từ đó trở đi, mỗi sáng, không chờ tôi thức dậy và trước khi rời khỏi nhà, bà cũng để lại mấy dòng cho tôi, nhưng viết bằng bút bi. Lần về chơi này, tôi mới biết là bà giao du rất rộng. Không ngờ bà lại nổi tiếng như vậy, dân trong vùng, có thể nói là từ Gordes đến Château-Arnoux, không ai là không biết bà. Cuộc vui nào, người ta cũng mời bà đi dự, thậm chí họ còn tranh nhau mời, và có lần tôi còn nghe thấy trả lời trong điện thoại: “Tuần này thì không được đâu, mong các ông, các bà hiểu cho, con trai tôi về chơi…” Còn những lần ông Frédéric Trubert gọi thì bà lại đóng kín cửa phòng, và sau đó bà không bao giờ quên báo cho tôi biết: “Ông Frédéric nhờ mẹ chuyển lời hỏi thăm con đấy”, hoặc lời chào thân ái, hoặc lời bày tỏ tình cảm thân thiết nhất. Giữa khoảng thời gian tôi ở đó, bà lại bỏ đi chơi suốt mấy ngày nghỉ cuối tuần, bà và ông Frédéric hẹn gặp nhau ở Aix-en-Provence cho nên bà đáp xe buýt một mình đến đó (tôi tiễn bà xuống tận thị trấn Manosque). Và từ Aix-en-Provence, hai ông bà sẽ rủ nhau ra Côte-d’Azur. Tuy vậy, bà vẫn thu xếp thời gian gọi điện về hỏi xem mọi việc ở nhà có bình thường không, tôi có tìm được hoa quả bà để sẵn trong kho ở cuối bếp không.

Đêm đêm, tôi viết thư cho gia đình và bạn bè, và để cho mình đỡ day dứt, tôi đem so sánh những lá thư ấy với bài tập luyện làm mềm dẻo cơ bắp trên xà của các nghệ sĩ máu trước khi ra biểu diễn. Những lá thư ấy là bài tập giữ cho đầu óc tôi khỏi trì trệ để rồi một ngày nào đó tôi dễ dàng chuyển sang công việc chính mà bản hợp đồng gọi là “Cuốn tiểu thuyết tiếp theo của tác giả”. Ngày sinh nhật Woglinde đã tới, tôi viết cho nó một lá thư, một lá thư đọc nhất vô nhị viết bằng tất cả các thứ mực mà tôi có, đồng thời gửi cho nó một hộp hạnh nhân Aix và hai quyển ảnh, mỗi quyển ba cân, nhan đề là Toàn bộ động vật trên thế giới, trong đó có những tấm ảnh to chiếm cả trang, chụp toàn giống cá lạ mắt. Tôi tặng quyển ảnh này cho nó vì hồi trước, nó rất thích được tôi đưa đi ngắm bể cá ở viện bảo tàng Porte Dorée, nơi mà nói cứ bực bội với lũ cá sấu vì lúc nào chúng cũng nằm ì ra ngủ. Đáng lẽ tôi nên về Paris chúc mừng sinh nhật nó mới phải, nhưng tôi lại trót nói dối quá nhiều rồi, càng nói dối càng khó tháo gỡ: gia đình tôi vẫn cứ đinh ninh rằng đêm nào tôi cũng say sưa viết lách, nếu chưa biết được như một bậc đại tài thì ít nhất cũng như một bậc tiểu tài. Đi đâu gần nhất, vợ con tôi ra sức can ngăn, cũng dễ mất tập trung tư tưởng lắm.

Khổ một nỗi là tôi nghiện thuốc lá khá nặng và ho sù sụ suốt. Mẹ tôi sốt ruột quá bèn mời ông bác sĩ quen tới nhà. Ông này khá vui tính, đầu tiên ông ta nói đùa vài câu xã giao rồi mới khám cho tôi. Tôi nhận thấy, trong lúc khám, ông ta để hết tâm trí vào công việc, cũng như tôi lúc nghe nhạc của Webem. Khám xong, ông ta không để ý đến tôi nữa và quay sang nói chuyện với mẹ tôi, như thế tôi là đứa bé tám tuổi: “Thưa bà, nếu tôi ở địa vị bà, tôi sẽ khẩn trương đưa bệnh nhân đi chụp chiếu phổi.”

“François này, chúng ta đến muộn mất. Con mau gọi taxi đi.” Được rồi, Mẹ thân yêu chúng ta lên đường đi cai thuốc lá nào! Khổ thân mẹ tôi, bà cố làm ra vẻ không lo lắng gì, nhưng tôi nhận thấy lòng bà đang rối bời. Cứ hai người hút thuốc lá thì có một người chết. Cả cha tôi cũng nghiện, nhưng ông lại mất vì chứng đâu thắt ngực. Chúng tôi vừa tiến vào phòng chiếu chụp, một cô nhân viên đã giành lấy tờ phiếu của tôi, vẻ mặt trịnh trọng như thể đó là vé máy bay. Cô ta có hỏi tôi thích ngồi ghế bên ô cửa tròn hay ngay sát lối đi không? Chúng tôi được đưa vào phòng đợi, trong đó đã có bốn hay năm bệnh nhân, nét mặt người nào người nấy đều căng thẳng tột độ, căng thẳng tới mức chỉ cần thấy một đôi nam nữ hiền lành tử tế như mẹ tôi và tôi đi vào là đã giật mình. Phòng đợi gì mà trông thảm hại, một nửa số bóng đèn ha-lô-gien đã bị cháy mà chẳng có ai thay, sơn tường thì tróc từng mảng, thảm thì ố bẩn lỗ chỗ, nhưng tôi cũng cứ cố động viên mình là ở đây người ta chỉ chú ý đầu tư vào thiết bị kỹ thuật và trả lương hậu cho nhân viên có trình độ nghiệp vụ. Tôi có cảm tưởng như mình đang có mặt trong một bộ phim, giữa đám đông nhốn nháo những công dân bỏ đất nước ra đi vào lánh nạn trong sứ quán và ngóng chờ một cách vô vọng chiếc máy ba trực thăng cuối cùng đến để cứu họ thoát khỏi cuộc giết chóc mà bọn Khơ-me Đỏ đã báo trước. Phải ngồi đó đến năm phút, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, trái với trường hợp của tôi, tất cả những người có mặt đều được chiếu chụp và họ đang hồi hộp chỉ sợ điều xấu nhất sẽ rơi vào mình. Một cánh cửa vừa mở, một cái tên được xướng lên nghe hơi chối tai, mẹ tôi ghé vào tai tôi thì thào: “Đến lượt con đấy!” Tôi chợt nhớ đến mấy cuốn sách mà tôi đã đọc về thời kỳ kháng chiến chống phát-xít Đức. Một tên Gestapo mở cửa gọi anh ra hỏi cung. Các bạn cùng xà lim động viên anh: “Can đảm lên nhé!” Lúc này, tôi chính là con tin đã gắp phải lá thăm xấu mà người ta lôi ra khỏi xà lim để đem đi bắn. Tôi siết chặt tay Mẹ. Tôi cũng ghé vào tai bà nói nhỏ: “Lần này mà thoát được, con sẽ không bao giờ hút thuốc lá nữa.” Bà đáp: “Mẹ mà còn tin vào những lời hứa hão như vậy nữa thì chắc là mẹ phải lần tràng hạt đọc kinh mất! Ôi, giá mà mẹ đổi được hai lá phổi của mình cho con nhỉ…” Cả đời, bà chưa bao giờ hút thuốc nhưng lại phải sống với một người chồng nghiện nặng. Cha tôi hút cả trong phòng ngủ, còn tôi, Delphine đã yêu cầu tôi bỏ thói quen ấy từ lâu rồi. Mẹ ơi, con xin cảm ơn mẹ đã ở bên con vào giờ phút này, khi người ta sắp thông báo cho con biết rằng con không còn sống được bao lâu nữa. Từ trước tới nay, tôi chỉ mới bỏ thuốc lá có hai lần, lần thứ nhất là khi tôi bị một người đàn bà bỏ rơi (ba tháng liền không hút), lần thứ hai chỉ sau đó ít lầâu, khi tôi phải lòng một cô khác nhưng lại không được gặp cô ấy nhiều như tôi mong muốn (ba tuần liền không hút). Hết rồi, còn đâu thái độ săn đón tươi cười của cô nhân viên ở phòng tiếp nhận. Một cô y tá bảo tôi cởi áo, chính chiếc áo mua ở hiệu Sulka, giọng cô ta cũng trịch thượng như các nhân viên bán hàng ở hiệu Sulka, vì vừa liếc một cái, họ đã biết ngay rằng tôi không nằm trong số những người thân cận vây quanh ngài chủ tịch Hội đồng Tối cao của Liên bang các Tiểu vương quốc A-rập thống nhất.

Tối hôm trước, tôi đã thôi không dám hút một điếu nào nữa, hy vọng một cách ngớ ngẩn rằng mình có thể lừa gạt được những tia quỷ quái gì đó mà nhà vật lý học Röntgen đã tìm ra cách đây một thế kỷ - “tên gì mà ngộ thế, nghe như tên một nhà sản xuất mực ấy”, tôi tự nhủ, à mà nhân tiện nhắc đến chuyện mực, tôi phải nói là lúc này máu tôi chắc đã đen kịt như mực vì lo sợ rồi. Ông Wilhelm Conrad Röntgen, xin ông cứu giúp tôi, xin ông đừng phát hiện ra vấn đề gì đáng sợ trong bộ máy hô hấp của tôi! “Nào, ông cởi áo, bỏ đồng hồ và nếu có răng giả tháo lắp được thì xin ông đặt vào cái khay này.” Lòng đầy nhớ tiếc, tôi nghĩ đến cảnh chụp quay răng miệng, phần chụp X quang dễ chịu nhất, với chiếc camera kỹ thuật cao lia một hình vòng cung theo chiều nằm ngang xung quanh hàm theo phương pháp của đạo diễn Hitchcock khi ông quay cảnh một đôi tình nhân hôn nhau. Thế thì cô kỹ thuật viên X quang xinh đẹp, với mái tóc ngắn mà cô ta cầu kỳ cắt ở hiệu dành cho đàn ông, đôi má mà người ta chỉ thèm cắn một miếng, cặp vú trông như hai trái cây nhỏ xinh, sẽ được phân vai gì? Một nữ thần Hy Lạp chủ tọa những cảnh hấp hối chóng kết thúc chăng? Không hiểu huyền thoại Hy Lạp có nữ thần thuốc lá không? Thế thì chắc là nữ thần Nicotina phải thơm ngon tuyệt vời lắm… Tôi có rủ được cô kỹ thuật viên X quang cùng cởi áo không? Có bảo được cô ta áp sát cặp vú vào ngực tôi không? Cô em thân mến, đàn ông mà tính mạng đang lâm nguy hay nghĩ đến những việc như vậy lắm. Chắc là cô nàng biết quá rõ rồi, nhưng biết thì biết, cô ta vẫn không ngại chạm tay trần vào lưng tôi – động tác nghề nghiệp thuần túy thôi mà.

Khâu chụp X quang đã xong từ lâu rồi mà người ta cứ để tôi cởi trần ngồi đợi, có lẽ phải hơn mười lăm phút. Không thấy cô kỹ thuật viên X quang đâu cả. Chắc là một chuyên gia về bệnh phổi ngồi lì ở tầng trên sẽ giao cho cô ta nhiệm vụ xuống thông báo kết quả, trường hợp của tôi khá bi quan nên tốt hơn cả là nói riêng với người đưa tôi đến. Còn tôi thì sao? Tôi cứ phải ngồi đó mà run lập cập. Tôi đã được phép mặc lại áo chưa? Không mặc vào tức là cam chịu để cho người ta chụp X quang thêm một lần nữa và khám kỹ hơn. Mặc vào tức là mình đã quyết định quá sớm, cóc cần chụp chiếu thăm khám gì nữa, chỉ cần mau mau thoát ra khỏi đây. Những lần khám trước, các bác sĩ đều tuyên bố tôi chẳng có bệnh tật gì cả. những câu đại khái như thế này, tôi hỏi mãi đến phát nhàm rồi: “Thưa bác sĩ, theo ý bác sĩ, tôi có nên dùng thuốc bổ gì không? Hay ít ra cũng là vitamin C có được không?” – “Đồ ăn thức uống ông dùng đủ chất dinh dưỡng chứ? Thế thì tốt rồi, ông cứ tiếp tục chế độ như vậy đi.” Không ai tuân thủ hướng dẫn điều trị của thầy thuốc nghiêm chỉnh hơn tôi, nhưng tôi có bệnh gì đâu mà phải dùng thuốc thang, phải điều trị bằng liệu pháp vận động, bằng nước khoáng nóng. Từ khi về Manosque, tôi lại hút thuốc nhiều hơn. Tôi, một người từ xưa tới nay chưa bao giờ bị nạo hạch cổ (người ta loại bỏ hạch ở cổ không phải với một cái nạo mà bằng ngón tay), thế mà bây giờ biết đâu lại bị cắt hẳn một bên phổi! Ông giám đốc phòng xét nghiệm đã kéo màn cửa đi ra, trông oai vệ như vị Hiệp sĩ được phong tước trong vở opera Don Juan của Mozart! Và cũng như trong vở Don Juan, ông ta chìa tay ra: “Mọi việc đều tốt đẹp, ông có thể yên tâm tiếp tục hút thuốc.” Gott sei Dank, Herr Röntgen[2]! “Đồ ngốc!” mẹ tôi bất bình buông một câu. Tôi vẫy một chiếc taxi và mời bà dùng bữa trưa ở Fuste, một trong những quán ăn khá nhất vùng. Vả lại, bụng tôi cũng đã lép kẹp, và đến đó hai mẹ con sẽ được một bữa thịt thú rừng và nấm củ ra trò: “May quá, con không bị ung thư phổi, thế thì mẹ con mình phải ăn mừng thôi!” Hôm sau, trong lúc nói chuyện điện thoại với Delphine, tôi không dám đả động gì đến chuyện chụp phổi cả. Bà ấy cũng hút và biết rõ nghiệm pháp đánh giá mức độ phụ thuộc vào chất nicotine và tỷ lệ tử vong trong số những người nghiện thuốc lá.

Chính trong thời gian về chơi với mẹ lần đó, tôi đã tình cờ mua được một bản Hồi ký cô hầu gái của Madame Pompadour[3] đóng gáy rất vụng về, xuất bản năm 1824, trang nào cũng chi chít lời chú và giải thích, tại quận Forcalquier, trong một hiệu đồ cũ trên đầu dốc bãi chợ nhỏ, quá cửa hàng thịt lợn của anh em nhà Tagliana một chút thì rẽ trái. Tôi tự nhủ, giá mà mình cải biên được tập hồi ký này cho sân khấu kịch thì chắc là hay lắm: “Độc thoại bây giờ đang là mốt, bất cứ nữ diễn viên kịch nào có tí chút đầu óc cũng sẽ hiểu rằng đây là một món quà đặc biệt trời ban cho mình.” Thế là giữa đêm, tôi bắt tay vào việc đánh máy vài trang. Sáng hôm sau, vẻ mặt mẹ tôi rất rạng rỡ, bà bảo đêm qua bà đã nghe thấy tôi làm việc. Tôi nói cho bà biết, tôi đã tạm dừng ý định viết cuốn tiểu thuyết để chuyển sang làm một kịch bản sân khấu. vốn ưa thích những chuyện bất ngờ, bà gật đầu tán thành quyết định của tôi. Không hiểu bà có bằng lòng đọc diễn cảm mấy trang mà tôi vừa viết không? Tối hôm ấy, hai mẹ con đã định coi lại Một ngày ở trường đua ngựa, bộ phim do anh em nhà Marx[4] đóng mà tôi đã được xem cùng với bà hồi còn là học trò của thày Laloux. Đó chính là phim mà Groucho đóng vai bác sĩ thú y giả làm thầy thuốc chữa bệnh cho người. Ông ta vừa bắt mạch cho Harpo vừa nhìn đồng hồ và tuyên bố: “Hoặc là người bệnh này đã chết, hoặc là đồng hồ của tôi đã ngừng chạy.” Mẹ tôi kể rằng năm mà bộ phim này ra mắt công chúng, anh em nhà Marx đã bị gọi ra trước toà, về một vấn đề bản quyền gì đó, và câu đầu tiên họ thắc mắc với ông thẩm phán là, theo ý ông ta thì nhà tù nào tốt nhất.

Sau bữa tối – món chính là một nồi súp rau chỉ có mẹ tôi mới nấu được ngon đến thế - bà yêu cầu tôi: “Con cho mẹ xem những trang đã viết chứ?” Tôi mới viết được khoảng một chục trang, thế mà bà đã giãy nảy:

- Trời ơi, con bắt mẹ đọc tất cả chỗ này cơ à? François này, thế thì mẹ phải tập trung tư tưởng lắm mới đọc được! Con đòi hỏi mẹ quá cao đấy. Mẹ có phải là diễn viên kịch Sarah Bernhardt đâu!

Tôi đã đốt đống củi trong lò sưởi. Tôi ném vào đó khoảng một trăm cái nút chai rượu mà tôi mang từ Paris về. Mớ nút chai ấy, tôi đã tích cóp từ nhiều năm nay để dành cho mẹ. Người ta bảo, ném vào lửa nhiều nút chai cùng một lúc sẽ tạo ra một mùi thơm rất lạ. Đúng thật. Chưa đến một phút, mớ nút li-e đó đã cháy thành than và hai mẹ con tôi có ngay cảm giác kề mũi vào một cốc rượu. Mẹ nhìn trang thứ nhất một lượt từ đầu đến cuối rồi mới bắt đầu đọc:

“Từ nhiều ngày nay, Madame de Pompadour dặn nhà bếp, tách sô-cô-la bữa trưa của bà phải tăng lượng va-ni lên gấp ba lần, và phải sánh màu hổ phách. Ngoài ra, bà còn dùng súp cần tây. Tôi đã nhắc bà nhiều lần, liệu chế độ ăn uống như vậy có lợi không, nhưng hình như bà không buồn để tâm thì phải. Vì vậy, tôi thấy cần phải báo với bà Công tước de Brancas, thị nữ của Công nương Thái tử.”

- Mẹ không phải là nghệ sĩ mà con cần đâu. Khi nào về Paris, con sẽ tìm được ngay thôi, con có cả một đội quân thường trực bạn tình cơ mà, trong số đó thể nào cũng có một cô giúp con được việc này. Còn mẹ, mẹ cũng thích kịch, nhưng chỉ ở vị trí khán giả thôi.

- Mẹ không hiểu rồi! Con rất thích giọng mẹ. Mẹ mà đọc với cái giọng hơi mệt mỏi, hơi chán chường thì mới tuyệt. Mẹ phải công nhận, hai chúng ta mà cùng quan tâm tới những chuyện mưu mô đồn thổi trong triều đình Vua Louis XV thì cũng thú vị đấy chứ.

Mẹ tôi nói cho tôi hay, hồi còn trẻ bà cũng đã từng diễn kịch. Hai mẹ con đã gần nhau hơn nửa thế kỷ, thế mà bà chưa bao giờ kể chuyện đó với tôi cả! Bà đã đóng kịch của Corneille, vai nữ hoàng trong vở Sertorious. Tôi xin bà cho tôi được thưởng thức tài năng của bà một chút, bà liền cố nhớ lại một vài lời thoại: “Ngài mang ân sâu nghĩa nặng với ông ta, còn đối với ta, chẳng lẽ ngài không có ân nghĩa gì sao?” hoặc “Xin Ngài nói thẳng ra đi: ta đã coi Ngài là chủ nhân của ta rồi…” Nhưng bà không sao nhớ nổi tên nữ hoàng ấy là gì, chỉ biết đó là một nữ hoàng Bồ Đào Nha. Tôi hứa sẽ tặng bà bộ sưu tập đầy đủ các vở kịch của Corneille được lưu trữ tại thư viện Pléiade. Bà mừng rỡ bảo: “Thế ư? Thích quá, mẹ sẽ rất vui. Con còn nhớ bài Đàn Djinns[5] không?” Hồi còn học ở trường trung học, tôi đã học thuộc bài thơ của Victor Hugo để tham gia một cuộc thi đọc diễn cảm. Tôi cứ đinh ninh là mình đã học bài này cùng vớ cha, nhưng không phải, mẹ tôi bảo bà nhớ rõ chính bà đã đọc mẫu trước để tôi nhắc lại. Đó, đàn Djinn vù vù bay qua… Trong lúc lửa tàn dần trong lò sưởi, hai mẹ con ngồi vắt óc cố nhớ từng đoạn để lắp lại thành câu. Ôi, sao ngoài kia ồn ào thế!... Hàng đàn, hàng lũ ma cà rồng và… long xà gớm ghiếc… Lũ Djinn gieo rắc… đau thương tang tóc, con của thần chết, trong bóng đêm âm u… rảo bước… Đọc đến đây thì tôi phải đứng dậy để cho thêm củi vào lò sưởi. Mẹ nhắc để tôi nhớ lại, một trong những điểm số cao nhất mà tôi đạt được thời học sinh thuộc về một bài văn nghị luận mà bà đã giúp tôi làm dàn bài. Rõ ràng là bà biết rõ nhiều đoạn đời của tôi còn hơn cả bản thân tôi. Delphine vợ tôi cũng vậy, trong khi tôi rất lơ mơ về những lần mình đi ăn vụng ở ngoài thì bà ấy lại không bao giờ quên, hơn nữa lại còn nhớ chính xác thời kỳ nào thì là cô nào (“Cô Melissa của ông ấy, đó là thời gian ngày sát nút ngày sinh Zoé”). Trong bài văn ấy, tôi đã bình luận câu nói của một người tài trí sống ở thế kỷ XVIII, người đã khẳng định rằng, những cảnh tâm tình bao giờ cũng được ưa thích hơn độc thoại nội tâm. Trong khi các bạn khác thi nhau khen hết lời cách diễn đối thoại thì tôi lại ra sức ca ngợi lối độc thoại, và kết quả là tôi đã đạt được mười chín trên hai mươi điểm. “Con thấy không, con chẳng thay đổi gì cả, con vẫn thích kiểu độc thoại như xưa. Qua những phản ứng mang tính chất đàn ông trưởng thành của con bây giờ, mẹ luôn tìm lại được chàng trai hồi nào, thậm chí đứa bé con hồi nào”, mẹ tôi kết luận.

Năm 1939, khi còn là một cô dâu mới cưới, bà đã được xem Georges Pitoëff diễn vai Trigorine trong vở Chim hải âu! Con cái có bao giờ hiểu hết được cuộc đời cha mẹ không? Có phải cả đời, ta chỉ sống hời hợt bên cạnh những người mà mình yêu quý không? Nghĩ đến điều này mà thấy hơi buồn, nhưng sự thật đúng là thế. “Pitoëff ốm lắm, mẹ tôi kể tiếp, lưng ông ta đã hơi còng, ông ta diễn từ tốn, nhưng nghe rất xúc động. Bác sĩ muốn cấm ông ta diễn vở của Ibsen, vở mà mẹ chỉ nhớ vai chính tên là Stockmann, còn tên vở kịch là gì thì mẹ quên mất rồi. Thế là tay lăm lăm một khẩu súng lục, Pitoëff lao vào phòng mạch của ông bác sĩ và dõng dạc tuyên bố: Tôi sẽ tự sát nếu ông cấm tôi diễn vai Stockmann! Coi bộ ông ta có vẻ dám làm thế lắm. Hồi đó, cha con khá gần gũi với một trong số những người thân của gia đình Pitoëff cho nên mới được nghe kể chuyện này, mọi chuyện đã xa xưa quá rồi.”

Hồi tôi hai mươi tuổi, Mẹ đã đưa tôi đi xem Pierre Brasseur và Maria Casarès trong vở kịch Anh chàng nói dối đáng yêu. Không hiểu bà có còn nhớ không? Chắc chắn là còn, kể cả việc sau đó hai mẹ con rủ nhau đi ăn hàu nướng ở quán Pied de Cochon, tôi thì lại quên mất rồi. Sáng hôm sau, tôi đang từ từ trôi vào giấc ngủ thì nghe thấy tiếng bà thức dậy và lịch kịch làm việc gì đó, tôi nghĩ thầm: “Hay thật! Mẹ con mình đã chia sẻ với nhau rất nhiều kỷ niệm.” Thôi đúng rồi, bà đang kéo mấy cái ghế bành ra sân trời và quẳng cái gì đó mà tôi đoán là bộ xương gà quay bữa tối hôm qua cho con Milou, chú chó xpa-nhơn nhà trại chủ hàng xóm.

Tôi chưa bao giờ nuôi chó cả, mà nếu có nuôi thì tôi cũng sẽ làm cho chúng mất ngủ theo mất! Nhưng tôi đã tìm lại được những tấm ảnh chụp con Acuto, một chú bốc-xe lúc nào cũng dương dương tự đắc như thể mình là chủ ngôi nhà mà tôi trọ hồi đi chơi Florence. Nó hay vào phòng đánh thức tôi dậy. Tôi lưu lại ngôi nhà ấy vẻn vẹn chỉ có một tuần, thế mà đã quyến luyến và nhớ nó mãi mãi. Delphine và tôi vừa tới, chúng tôi đang lững thững đi đến một quán ăn cách đó không xa lắm thì ngoảnh lại đã thấy con Acuto lon ton theo sau, hay nói chính xác hơn là nó chạy theo để tìm chúng tôi. Trước biểu hiện của một con vật như vậy – nhưng là biểu hiện điều gì chứ? - tôi thấy lòng dạ xốn xang khó tả. Làm thế nào mà nó tìm được hơi người chúng tôi trong vô vàn mùi vị khác nhau giữa mạng lưới ngách chằng chịt ở Florence, một thành phố thường bị ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng về mùa hạ? Trong quán ăn, nó ngồi im bên chúng tôi, nó kiên nhẫn chờ chúng tôi ăn mà không tỏ vẻ đòi hỏi gì cả. Sau đó, ba chúng tôi lang thang một lúc rồi mới về. Trong ngôi nhà ấy chỉ có một bà cụ đón tiếp chúng tôi, cụ nhiệt tình mời chúng tôi lưu lại chơi thêm vài ngày nữa. Tôi đoán, chắc cả con Acuto cũng mong chúng tôi ở lại lắm. Xem lại ảnh chụp, tôi không ngờ bà cụ lại già nua và loắt choắt đến thế, nhưng con Acuto thì giống y như hình ảnh mà tôi vẫn giữ được trong ký ức. Kể cũng lạ, trong ngôi nhà rất đẹp, đẹp gần như một cung điện, mà chúng tôi được coi là khách không mời mà đến (bản thân chủ nhà không hề biết vợ chồng tôi có mặt ở đó, họ cho một bà bạn của chúng tôi mượn, bà bạn này lại mời chúng tôi đến chơi, nhưng rồi lại phải rời khỏi đó trước), cả bà cụ lẫn con Acuto cũng chỉ là những kẻ không mời mà đến như chúng tôi. Dù thế nào thì bà lão và chú chó cũng bị người ta bỏ lại đó, và cụ đành ở lại chờ cô con gái độc nhất đến đón, cô ta đang ở bên Anh và tối nào cũng gọi điện về để báo hoãn ngày về. 

Một tháng trôi qua, tôi trở lại Paris, mang theo bộ sưu tập mực viết và khoảng năm mươi trang độc thoại của bà thị nữ thân tín hầu hạ Madame Pompadour, còn toàn bộ sách tham khảo được đem xuống đó để phục vụ cho một công việc mà tôi chưa thực hiện được, một best-seller chưa đặt bút viết đã chết yểu, một tiểu sử Charlemagne[6] dựa theo lời kể của các con trai ông nhưng lại là dấu hiệu báo trước cuốn tiểu thuyết nói về mối quan hệ giữa cha tôi và tôi mà mười hai năm sau tôi mới hoàn thành, thì tôi để lại ở ngôi nhà thờ. Bao nhiêu công phu thu thập tài liệu mà phải bỏ lại, tôi tiếc lắm, tôi tần ngần bỏ từng cuốn vào thùng bìa, cái thùng bìa sắp trở thành quan tài của chúng, những cuốn sách chẳng dính dáng gì đến Charlemagne và triều đại vẻ vang nhất trong toàn bộ lịch sử trung đại, chẳng dính dáng gì đến vị hoàng đế, cha của độ hai chục người con trai chính thức mà sử sách ghi lại được cũng chính là những người kể chuyện trong cuốn sách của tôi, chẳng dính dáng gì đến các bà vợ của ông, như Himiltrude hay Hermangarde, chẳng dính dáng gì đến quan hệ khá lý thú giữa vị hoàng đế được Giáo hoàng tấn phong tại thành phố Aix-la-Chapelle và vị kha-lip thành Bagdad hay các tín đồ đạo Hồi ở thành phố Fez, nhưng lại dính dáng đến tôi, con trai yêu quý của bà Marie Weyergraf mà tên thời con gái là Lapidès. Rốt cuộc, chính các con gái của Charlemagne mới cuốn hút tôi mạnh mẽ, chứ không phải cha họ, tôi buộc phải thú nhận điều này. Tiếc rằng sử sách Đức quốc không ghi chép đầy đủ về mấy thiếu phụ trẻ chuyên gây chuyện tai tiếng ầm ĩ trong cung điện vua cha với lối sống phóng túng của họ.

Tôi đi rồi, Mẹ có đọc một vài cuốn sách tôi để lại cho bà không? Tôi đã xếp một chồng trên bàn phòng ngủ của bà: Marie Seton, Eisenstein (bộ sưu tập “Cinémathèque” nhà xuất bản Seuil). Louis Wolfson, Người bị chứng tâm thần phân lập và khả năng ngôn ngữ. Agrippa d’Aubigné, Hiến cả đời mình cho các con. Baudelaire, Những tác phẩm viết từ hồi còn trẻ, Tác phẩm để lại cho đời, Di tích hóa thạch (3 tập). Henri Mondor, Cuộc đời của Mallarmé (827 trang). Cazotte, Quỷ si tình. HG. Wells, Một lần định viết tự truyện.GK. Chesterton, Kẻ nghịch biện. Henri Massé, Hợp tuyển thơ Ba Tư. LJ. Arnim, Nàng Isabelle vùng đất Ai Cập. Maurice Catel,Chuyên luận về động tính từ quá khứ.

Tủ sách hiện tại của tôi có cuốn Jim Davis của John Masefield. Tôi vẫn đọc được dòng chữ: “Thân tặng François bé bỏng của mẹ, Ký tên: Mẹ của con. Tháng Bẩy năm 1950” trên trang trắng đầu cuốn sách. Tôi chưa bao giờ đủ kiên nhẫn đọc đến trang cuối cùng, vì vậy hồi chín tuổi, tức là năm mà tôi được mẹ tặng cuốn tiểu thuyết ấy, lòng tôi lúc nào cũng không yên chỉ sợ mẹ giận. Tôi tự ái vì Mẹ tặng sách gì mà mỏng dính, nhà xuất bản chẳng có tiếng tăm gì, in ấn lại hà tiện chỉ có hai màu trắng đen xấu òm, chất lượng giấy lại xấu, trong khi tôi ước ao biết bao nhiêu quyển khác đẹp hơn, khổ lớn hơn, cầm nặng tay hơn. Tác phẩm chỉ toàn nói về lính gác bờ biển và bọn buôn lậu ấy là cuốn sách duy nhất trong số biết bao cuốn khác đã qua tay tôi hồi nhỏ mà tôi còn giữ lại được cho đến ngày nay. Bây giờ giở ra xem lại, tôi mới nhận thấy là nó không khác với sách của Robert-Louis Stevenson lắm, nhưng không hay bằng. Masefield từng là bạn thân của WB. Yeats, một trong những nhà văn tôi ngưỡng mộ nhất, và khi Yeats mất, ông đã cho xuất bản một cuốn sách kể lại những kỷ niệm về bạn mình và một khúc bi ca mà nếu tôi là nhà văn Anh có ý định viết về một người mà mình yêu mến vừa mới qua đời thì tôi rất muốn mượn đầu đề đó: Oh, what he was[7].

❀ ❀ ❀

[1] SNCF: Soiciété Nationale des Chemins de fer Francais. Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp.

[2] Gott sei Dank, Herr Röntgen: Tạ ơn trời, Ngài Röntgen! (tiếng Đức).

[3] Madame Pompadour: (1721-1764) Nữ Hầu tước được Vua Louis XV sủng ái thời kỳ từ 1745 đến 1751, người bảo trợ cho văn học, nghệ thuật.

[4] Anh em nhà Marx: Ba anh em diễn viên hài người Mỹ gồm Chico (tên thật ;à Léonard, 1887-1961), Harpo (Adolph Arthur, 1888-1964) và Groucho (Julius Henry, 1890-1977).

[5] Đàn Djinns: Sinh vật siêu thự nhiên trong văn học dân gian của người Hồi giáo có thể biến thành hình người hoặc hình động vật. Ở đây nói đến bài thơ của Victor Hugo (1802-1885) trong tập thơ “Những bài thơ Phương Đông” (Les Orientales, 1829).

[6] Charlemagne (Charles I Đại đế): (742-814) Vua xứ France, Hoàng đế phương Tây từ năm 800 sau lễ tấn phong của D(ức Giáo hoàng La Mã tai Aix-la-Chapelle, nổi tiếng là nhà chỉ huy quân sự tài giỏi.

[7] Oh, what he was: (tiếng Anh) Chao ôi, ông từng là người như thế.

À MẸ Nguyên tác: Trois jours chez ma mere ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.