Lần đầu tiên tôi được thấy một con vật mà thoạt nhìn, tôi lại nhầm là trăn Nam Mỹ, đó là trong một quyển sách, và lời thuyết minh dưới bức ảnh cho biết, nó không phải là con trăn mà là con soucouriou, một giống rắn rất hiếm trong rừng rậm Amazone. Hồi tám, chín tuổi, tôi đã giết được một con rắn vi-pe bằng cách lừa nó chui vào một cái chai rỗng, sau đó tôi đổ đầy nước gia-ven: tôi định bày trong bảo tàng lịch sử tự nhiên mà trước kỳ nghỉ hè, chưa gì tôi đã trót dại miệng khoe khoang là sẽ cắt băng khánh thành vào tháng Chín. Con vi-pe là rắn độc, trong khi cả con trăn Nam Mỹ lẫn con soucouriou đều không phải, mà những con này thì không đời nào chui vào chai được. Ngày hôm sau, nước gia-ven chỉ chừa lại một vài đốt sống của chú bò sát không may ấy thôi, thế là tôi đành phải xé cái nhãn mà tôi vừa viết: “Bộ rắn, họ vi-pe, Vipera aspis (vật hiến tặng của ông François Weyergraf)”. Đúng lúc tôi đang trút nước gia-ven xuống bệ xí thì mẹ tôi vào hỏi tôi đang nghịch ngợm gì trong buồng tắm và mắng cho một trận mà nếu đem so sánh với cơn hoảng hốt mà tôi vừa gây ra cho bà thì mức độ cũng ngang nhau. Bà bảo, với tư cách là giám đốc tương lai một viện bảo tàng lịch sử tự nhiên, tôi không thể không biết rằng số người thiệt mạng vì bị rắn cắn rất lớn - ở Ấn Độ và Miến Điện thì tôi nhất trí, còn ở xứ Provence thì không. Tôi phải hứa với bà là từ nay chỉ bắt thằn lằn thôi.
Người ta bảo rằng, có những con rắn dài hơn bảy mét và nặng hơn năm trăm cân, thật hay bịa nhỉ? Rằng chúng có thể làm anh ngạt thở trong các khúc cuộn, nuốt gọn anh dễ như bỡn mà không cần nhai gì cả sau khi bọc anh trong một lớp dãi rớt? Tôi đem những thắc mắc ấy ra hỏi mẹ, bà lại giảng giải cho tôi hiểu chủ yếu về trăn Nam Mỹ. Theo nhận xét của tôi, bà chưa đánh giá hết mối nguy từ con soucouriou. Tôi bèn kể với bà, khi bị chặt đầu con soucouriou chảy nhiều máu lắm, chảy ồng ộc như con bò bị đem giết thịt. Tôi thấy trong sách người ta nói vậy. Còn mẹ tôi thì lại cho rằng những con rắn lớn ấy không bao giờ trực tiếp tấn công người. Hai mẹ con đang nói chuyện trong bếp. Trong lúc mẹ tôi đứng trước bồn rửa và chuyển dần từng cái đĩa để tôi lau khô thì ở Nam Mỹ, bọn trăn vẫn đang nuốt chửng đủ mọi động vật mà không ai làm gì chúng được - lợn lòi hôi, khỉ và bé trai. Mẹ tôi giải thích cho tôi hiểu, con trăn Nam Mỹ giãn rộng miệng ra như thế nào để nuốt gọn được cả dê. Cách tả của bà diễn cảm quá đến nỗi tôi có cảm giác ghê ghê, hình như xương mình đang gãy răng rắc trong miệng một con bò sát vảy bóng loáng. Bà nói thêm, trăn Nam Mỹ không hung hăng tấn công người trước, nhưng đã quá muộn, tôi đã tưởng tượng một con trăn năm trăm cân làm mình chết ngạt mất rồi. “Hai mẹ con đang nói chuyện gì thế?” cha tôi hỏi khi cả nhà ngồi vào bàn ăn. Tôi nhận thấy bà trả lời qua quýt cho xong: “Thằng François tự nhiên lại nổi hứng thích nghe chuyện rắn ấy mà.”
Tôi tìm cuốn từ điển Larousse của gia đình để tìm hiểu về con trăn Nam Mỹ, trong đó không thấy nói gì đến con soucouriou cả. Nhưng tôi lại biết được một điểm về con trăn Nam Mỹ: chỉ nguy hiểm vì kích thước lớn và sức mạnh phi thường. “Chỉ nguy hiểm vì”! Cứ như thể kích thước và sức mạnh không là gì ấy! Không hiểu có phải do trí tưởng tượng hay do mơ mộng hão huyền mà tôi lại đâm ra suy nghĩ vẩn vơ mẹ tôi là một con trăn Nam Mỹ, và tôi cảm thấy mình có khả năng thuần hóa được nếu mọi việc xấu đi, một con trăn không bao giờ tấn công tôi, có thể nói là con trăn hiền dịu như bà tiên. Nhưng dù hiền dịu đến đâu, đôi lúc con trăn cũng nổi hứng muốn ôm ghì anh thật chặt, đơn thuần chỉ vì yêu quý anh như phần lớn các bà mẹ đều làm như vậy, và trong đó dĩ nhiên có cả mẹ tôi nữa, thế là anh chết ngạt. Mặc dù sợ thì có sợ nhưng tôi không bất mãn vì có một bà mẹ là trăn. Mẹ các bạn tôi đều giả vờ là y tá hay thư ký. Thằng bạn này thì không ngờ rằng mình đi học về là ôm chầm lấy một con rắn chuông hung ác, crotalus atrox, còn thằng bạn kia thì lại không hề biết là mình phải nhờ một con rắn mang bành giúp làm bài tập. Còn tôi, tôi phải cố gắng thận trọng không để lộ cho mẹ tôi biết là tôi nghi ngờ bà. Thậm chí, tôi còn tỏ ra ngoan ngoãn hơn trước. Không hiểu bà có nhận thấy là, mấy tháng sau khi tôi phát hiện ra mẹ là con trăn, tôi đối xử với bà âu yếm tử tế hơn không? Nhưng tôi nhất định không chịu để cho mình bị nuốt chửng một cách dễ dàng thế đâu. Tôi cũng phải biến thành rắn thì mới đối phó với bà được. Hay mình biến thành rắn mang bành chúa? Một con đáng gờm và vô cùng hung ác, chuyên ăn thịt các loài rắn khác. Nó không bao giờ chờ kẻ địch quấy rầy thì mới tấn công cả. Nọc của nó rất độc. Bị nhốt trong lồng, một ngày nó phải ăn rất nhiều rắn nhỏ. Tôi bèn lập danh sách những loài rắn đáng chú ý: hổ mang (rất hung dữ), mamba đen (nhanh nhẹn, rất nguy hiểm), hổ mang nước (bơi giỏi, đáng sợ, không bao giờ do dự khi tấn công, phần lớn vết cắn đều gây chết người), bitis gabonica (một trong những con rắn đáng sợ nhất thế giới).
Tôi sẽ chẳng bao giờ nhớ đến con soucouriou nếu hôm nọ tôi không vô tình tìm được một cuốn Dã thú hình người trong rừng Amazone đã ố vàng, gáy gãy lủng lẳng, bìa rách tả tơi tại một hiệu sách cũ mà tôi là khách quen. Chủ hiệu không dám nhận tiền của tôi: “Ồ thôi, nó cũ nát quá rồi. Tôi xin tặng ông đấy.” Tôi nhận ra ngay, đó chính là cuốn mà tôi đã lấy trộm trong tủ sách của cha mẹ hồi đầu thập kỷ năm mươi thế kỷ trước. Mẹ tôi không bao giờ hỏi, tại sao tôi lại biết con soucouriou. Chắc bà tưởng tôi tìm được từ ấy trong truyện tranh của Lão Hải ly. Bà sẽ bực mình lắm nếu biết là tôi đọc Dã thú hình người trong rừng Amazone từ hồi lên chín, một cuốn sách mà bà không ngờ nội dung lại đáng sợ đến thế bởi vì tôi đã xé đi những trang kinh khủng nhất. Lý do mà tôi lén đem cuốn sách đó về phòng riêng không có liên quan gì đến rắn rết cả, mà là tôi tò mò muốn tìm hiểu về những thổ dân chuyên đi săn đầu người, một thú sưu tầm mà tôi hoàn toàn không biết gì. Trong lúc đọc cuốn sách ấy, tôi luôn tưởng tượng mình bị lạc trong rừng già, nơi mà lúc nào mình cũng có nguy cơ bị một mũi tên tẩm nhựa độc hoàng nàn cắm phập vào gáy, nếu chưa bị một chú nhện to bằng con cua biển đốt cho một phát trí mạng hoặc vô phúc gặp phải một đàn kiến lửa, toàn những tai họa mà tác giả và độc giả trẻ của cuốn Dã thú hình người trong rừng Amazone đã thoát khỏi trong gang tấc. Hóa ra làm cho một cái đầu người nhỏ lại không khó như tôi vẫn tưởng. Đầu tiên, ta đập giập xương sọ và chú ý dùng lá cọ bảo vệ da mặt. Sau đó, qua đốt sống cổ, ta rút hết xương vụn và óc ra, rồi cạo sạch khoang sọ. Sau khi bị nhét đầy cát và tro, cái đầu sẽ nhỏ lại trong một vài tiếng đồng hồ. Đó là điều mà một cậu bé lắm mưu nhiều kế say mê tìm hiểu. Chẳng lẽ tôi phải đọc truyện cổ tích Hoàng tử Nhỏ cả đời sao.
Tôi có thể viết về thời thơ ấu của mình hết trang này đến trang khác không bao giờ hết, tôi đã kể trong những cuốn sách khác rồi và tôi sẽ còn tiếp tục nữa. Làm thế thì tiện lợi đủ đường! Kể về tuổi thơ của mình thì không có gì mạo hiểm cả, mà viết ra giấy lại càng tốt, bởi vì người ta nói rằng lời thì mới lụy đến thân nhiều hơn. Các ông thẩm phán và bác sĩ phân tích tâm lý đã rút được nhiều kinh nghiệm về vấn đề này lắm rồi. Trước tòa, nguyên tắc lấy lời khai bằng miệng trong các cuộc tranh luận vẫn được dùng làm cơ sở pháp lý nếu chưa có luật mới. Người ta chỉ cho phép nhân chứng sử dụng tài liệu viết trong trường hợp ngoại lệ thôi. Tòa đại hình không mang theo hồ sơ vụ án vào phòng thảo luận. Với lại, phiên xét xử thì bao giờ mà chẳng có mặt cả hai bên và ý kiến mọi người bao giờ mà chẳng trái ngược nhau. Bị can có quyền được đặt câu hỏi cho các nhân chứng. Tại sao mình lại dùng chữ “các” cho các từ “nhân chứng”? Nhân chứng thì tôi chỉ thấy có một mình mình thôi, lúc thì dẫn chứng có lợi cho mình, lúc thì không, nhưng luôn luôn rụt rè e ngại, lúc nào cũng bứt rứt, ngây đờ như tượng gỗ vì các câu chất vấn mà Siêu-cái-tôi của tôi đặt ra. Tôi là nhân chứng, bị can, người bào chữa, quan tòa hay chỉ là viên lục sự cắm cúi xuống biên bản tòa án? Người ta gọi tài liệu bằng văn bản về các tình tiết của vụ án là “bút lục” - tức cuốn sổ chép lại nội dung tranh cãi và ý kiến các bên - xuất phải từ động từ “múa bút”, tức là ghi để nhớ, viết nháp. Bút lục ư, tôi hoàn toàn nhất trí dùng từ này. Nhưng tôi phải ghi những gì mới được chứ?
Tôi vừa gửi một bản fax đến ngân hàng mình vẫn thường giao dịch, trong đó tôi phát huy hết miệng lưỡi biến báo để biện minh cho việc chậm thanh toán nợ. Tôi gọi cho ông giám đốc nhớ lại lập luận nổi tiếng của Miller và Modigliani[1], hai nhà kinh tế học từng chứng minh rằng giá trị một hãng mắc nợ cũng bằng một hãng không mắc nợ. Tôi đã kể cho ông ta biết chuyến du hành của Nhà vua Charles Quint[2] đến thăm các vị chủ ngân hàng ở Augsbourg, những người đã có cử chỉ rất lịch lãm là châm lửa đốt ngay trước mắt ngài, trong lò sưởi toàn củi đàn hương, những tờ giấy ghi nợ mà ngài đã ký. Câu chuyện Charles Quint lưu lại gia đình Fugger, các ông chủ ngân hàng cha truyền con nối mấy đời mà nhà vua thường giao dịch, và được tiếp đãi rất trọng thể, tôi có thuận lại trong một cuốn sách mà thời gian này tôi đang viết: tôi thấy ông chủ ngân hàng của tôi mà đọc trước cả nhà xuất bản thì cũng chẳng có gì là bất tiện cả.
Tôi gửi tờ fax ấy đi có khôn ngoan không? Gửi fax thì thuận lợi ở chỗ tôi khỏi phải lo lắng hồi hộp khi tiếp xúc trực tiếp với người khác. Như thế tức là tôi đã vi phạm vào quy tắc tranh cãi bằng miệng. Và sau khi đọc bản fax của tôi, ông giám đốc ngân hàng sẽ cho biết ý kiến, và tôi thì lại ngăn không cho ông ta phạm vào tôi mà luật pháp rình chờ, nếu ông gặp mặt tôi, là có quan hệ riêng tư với bị cáo. Nhưng, là một nhà văn, tôi có thể viết. Tôi đi gặp ông giám đốc ấy để làm gì cơ chứ? Để ông ta nhắc lại: “Xin lỗi, tôi đâu có phải là chủ ngân hàng, tôi chỉ là một người làm công ăn lương thôi và tôi phải xuất trình sổ sách với cấp trên trực tiếp” một lần nữa sao? Không biết từ bao nhiêu tháng nay - tôi thấy thà không nhớ cụ thể là bao nhiêu thì hơn - số nợ trong tài khoản của tôi đã vượt quá mức mà ông ta có quyền cho phép, và hai chúng tôi, cả con nợ lẫn giám đốc ngân hàng, đều hiểu rằng không còn cách nào khác ngoài việc kiên nhẫn chờ tôi xuất bản được một, hai cuốn sách mới: “Xin ông cố chờ cho đến khi tôi viết xong sách”, trước khi kết thúc cuộc trao đổi gần đây qua điện thoại, tôi khẩn khoản nới với ông ta, ông ta bèn đáp: “Thôi, cứ cho rằng tôi không còn lựa chọn nào khác đi.” Tôi bực mình với câu cuối cùng trong lá thư bảo đảm mà ông ta gửi cho tôi quá, một câu mà Napoléon mới có đủ tư cách ký tên bên dưới: “Tình trạng này không thể kéo dài được nữa.”
Tôi bèn hủy bỏ tất cả các cuộc hẹn với ông bác sĩ đa khoa mà tôi định đến xin một ít thuốc tăng lực - không có ông ta và dăm ba thứ thuốc vớ vẩn ấy, tôi vẫn sống bình thường được - và với ông thầy thuốc khoa mắt, người đang muốn thuyết phục tôi dùng kính lão tăng số dần dần: “Ông đừng chờ đến sáu mươi tuổi mới đeo kính, ông sẽ khó quen hơn nhiều.” Cả hai cô thư ký giúp việc cho bác sĩ đều nói lời cảm ơn vì tôi bảo hủy bỏ cuộc hẹn khám sớm trước vài ngày. Tôi cũng có một lần làm được việc gì đó sớm sủa đấy chứ!
“May mà mình sống ở Pháp đấy! Nếu là ở Mỹ thì người ta không bao giờ đối xử khoan dung với một nhà văn như vậy đâu”, tôi nghĩ bụng trong lúc theo dõi máy phát chuyển đi một bức fax mới cho ông Kế toán Kho bạc, đề phòng trường hợp tôi không thanh toán được theo đúng kỳ hạn: “Cả ông lẫn tôi đều có chung một mong muốn, mong muốn tôi đóng được thuế. Đối với ông thì là công việc. Đối với tôi lại là một cơn ác mộng. Thưa ông Kế toán Kho bạc kính mến, nhà phân tích tâm lý nổi tiếng Françoise Dolto đã nói rằng người ta viết vì họ sẽ lăn ra ốm ngay nếu không viết. Riêng tôi thì ngược lại: chính việc viết lách mới làm cho tôi ốm. Giấy báo thanh toán nợ của ông khiến tôi tỉnh ra và nghĩ đến tình hình hiện tại, tôi xin trân trọng cảm ơn ông. Tôi phải làm cho xong cuốn tiểu thuyết tiếp theo mới được.” Suýt nữa thì tôi đã định viết thêm rằng, vấn đề rắc rối với cuốn sách nói về mẹ tôi - ông ta đã biết tôi có dự định này - là ở chỗ, cha tôi cũng đã viết nhiều cuốn về bà, hay nói chính xác hơn là về vợ ông, và tôi sẽ lâm vào hoàn cảnh cạnh tranh với ông một lần nữa. Tôi mong sao mình dành hẳn một cuốn sách nói về mẹ ở tuổi xế chiều, việc này, nếu cha tôi còn sống thì hẳn là ông đã thực hiện rồi, nhưng nay ông đã qua đời, cho nên đó đâu phải là lỗi tại tôi. Tôi có tin chắc là không phải lỗi tại mình không? Khi cha tôi còn sống, tôi chẳng đã có lần mong ông chết đi là gì? Trước khi cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi ra mắt bạn đọc, tôi chẳng đã nói với ông thầy thuốc một câu mà ông ấy thấy bất thường nên đã ghi lại ngay: “Tôi mà xuất bản cuốn sách này thì nhất định cha tôi sẽ chết mất. Đọc sách của tôi, cha sẽ không chịu được đâu” là gì? Thế rồi cha tôi mất thật, mất mấy tháng sau khi cuốn sách nói trên xuất hiện ở các hiệu sách. Tôi cố trấn an mình, đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên thôi nhưng vô ích, hai sự kiện ấy gần nhau quá, và tôi cứ day dứt mãi không thôi.
Tôi rất tiếc căn phòng mà ở đó, cuối cùng, tôi cũng cặm cụi hoàn thành được toàn bộ sách của mình. Dọn nhà là một sai lầm tai hại, nhưng đành phải chấp nhận thôi. Khi hợp đồng thuê hết hạn, tay chủ nhà đã làm cho một vị thẩm phán tin rằng ông ta sẽ cho họ hàng dọn dến diện tích mà người ở cuối cùng là tôi đây. Ông ta nói dối. Tôi đã kiểm tra rồi. Người nhà ông ta không ai đến ở căn hộ ấy cả. Bây giờ thì căn hộ cũ của tôi đã bị ngăn làm ba, bất chấp cả cách bố trí phòng ốc xứng đáng được Unesco xếp hạng - thời Haussmann[3], các kiến trúc sư nột thất hiểu rất rõ công việc của mình, thế là thành ba căn phòng xoàng xĩnh, mỗi phòng lại phải lắp đặt một ngăn vệ sinh và một ngăn bếp, và bây giờ thì có lẽ ông ta cho thuê với giá khá cao. Tôi đã từng làm việc ở nhiều nơi, ở Provence, Sologne, Bavière, London, Venise, Bruxelles, Berlin, Lausanne, và rồi tôi thấy mình phải mạo hiểm xa hơn nữa xem sao, xa hẳn Paris, rời hẳn châu Âu. Thế là tôi đi Tanger, Dakar, tôi đã trọ suốt một tháng trời trong một căn phòng trên tầng cao nhất Khách sạn Akasaka Prince ở Tokyo, tôi đã thuê một căn hộ trên gác quán cà phê Les Gâteries ở Montréal, tôi cảm thấy rất dễ chịu ở Melboure (không ai chịu tin tôi cả) nhưng rồi cuối cùng tôi vẫn quay về đây, về căn phòng mà tôi so sánh với một xưởng dựng phim, nơi tôi thường tự nhốt mình sau khi “sách của tôi được quay ngoại cảnh”, tôi vẫn gọi các chuyến đi xa của mình như vậy. Tôi đã tìm cách sắp xếp lại gian phòng ấy trong căn hộ mới, nhưng hình như là không giống lắm.
Tôi đi ngủ đây. Cứ thiếp đi được là tôi mừng rồi. Đó là lúc tôi nghĩ ra nhiều ý tưởng nhất. Ý tưởng ấy ư, tôi nghĩ ra vô khối, mà là toàn ý tưởng hay nhất chưa từng có, tôi chào mừng chúng thật nồng nhiệt và săn đón chúng thật ân cần vì biết rằng mình không thể sử dụng chúng được. Than ôi, tôi không thể vừa ngủ vừa viết được. Vậy là tôi ngủ thiếp đi, yên trí rằng mình là một thiên tài, và tôi cứ tỉnh dậy thì lại thấy cuộc đời mình là địa ngục, hơi nhận định phóng đại quá đỗi.
Trong những năm tháng cuối cùng của thế kỷ XX, cứ đến mùa hè là báo chí lại quảng cáo rùm beng rằng, mùa thu tới, một cuốn tiểu thuyết liên quan đến tôi sẽ ra mắt bạn đọc: tên tôi nằm chình ình ngay trên trang bìa, mục sự kiện dự báo - một cuốn tiểu thuyết mà đã đến lúc tôi phải là tác giả bằng cách thôi không bỏ dở chừng nữa. Tôi có thể lấy đoạn đầu trong cuốn truyện vừa Ngày cuối cùng của một người bị kết án[4] của Victo Hugo mà tán thêm thành như thế này: “Viết cho xong đi! Đã bốn năm nay, tôi phải sống cùng với ý nghĩ này, lúc nào cũng chỉ có tôi và nó đối diện với nhau, lúc nào tôi cũng phải còng lưng dưới sức nặng của nó! Ngày xưa, tôi là một người khác hẳn. Tôi có thể nghĩ đến bất kỳ điều gì tôi muốn, tôi được hoàn toàn tự do. Còn bây giờ, tôi chỉ còn có một ý nghĩ: tôi phải viết xong cuốn tiểu thuyết này.”
Đó hoàn toàn không phải lần đầu tiên tôi chọn một nhà văn làm người kể chuyện. Tôi thấy mình thoải mái với một nhà văn hơn là với một kẻ giết hàng loạt, một bác sĩ ngoại khoa hay một mục sư. Tinh thần các nhà văn trong tiểu thuyết của tôi càng ngày càng suy sụp vì luôn luôn phải vật lộn với tiền bạc, tình dục, gia đình và những khái niệm về mổ xẻ mà họ dùng để chống lại những chân lý tưởng như bất diệt. Đêm nào, người kể chuyện trong cuốn sách sắp tới của tôi cũng ngồi im thin thít trong một căn phòng, nơi mà ông ta định làm việc chăm chỉ, nhưng thật ra ông ta lại mải mê những trò khác, đến nỗi tôi phải nói chữa hộ ông ta rằng, có thế thì ông ta mới nghĩ ra được những ý tưởng hay cho công việc đang tiến hành. “Thế đêm đêm, con làm gì mà cứ mải miết thế?” mẹ ông ta lo lắng thắc mắc. Ông ta không dám trả lời rằng ở tuổi của ông ta đàn ông vẫn thủ dâm là chuyện thường, không phải thủ dâm theo nghĩa bóng trong bản thảo mà là theo nghĩa đen, nếu từ đen với nghĩa “kín, không công khai” thích hợp để nói về việc dùng khăn giấy lau chùi tinh dịch nhớt nhát ở bụng và chảy xuống đùi, xuống cả sàn nhà. Lao động trí óc đòi hỏi người ta phải trả giá bằng cách nhịn, thậm chí cai hẳn những thú vui thỏa mãn ngay tức khắc, đó là luật đời, nhưng người kể chuyện của tôi lại phân tán sức lực rất phí phạm. Ông ta dùng một cuốn từ điển vần cũ rích (cùng loại mà nhà thơ Charles Péguy, một gã thợ thơ hạng bét, vẫn sử dụng) cất công thảo ra những vần thơ dở ẹc để gửi fax cho bạn bè, ông ta lò mò tìm trong bài văn của nhà triết học Đức Martin Heidegger để tìm kiếm đoạn bình luận câu châm ngôn của Hegel nói rằng một chiếc tất rách tốt hơn một chiếc tất mạng và ông ta phân vân không biết một cuốn tiểu thuyết được báo trước là sẽ ra mắt có hay hơn một cuốn tiểu thuyết đã xuất bản không, ông ta cắt bài phỏng vấn viên kỹ sư đã chống đỡ tháp nghiêng Pisa trong một tờ báo ra hàng tuần ở Ý, và còn không biết xấu hổ đến mức so sánh bản thân mình với tháp Pisa, cho rằng mình cũng nghiêng nghiêng không kém, cũng cần phải được chống đỡ không kém, ông ta nghe Caramba! It’s the Samba do Peggy Lee trình bày chỉ vì tên bài hát, ông ta mua đĩa ấy cũng chỉ vì cái tên, và dĩ nhiên là bài hát không xứng với tên chút nào cả, ông ta nghe bộ tư đàn dây của Morton Feldman dài bốn tiếng đồng hồ, và vừa nghe vừa nghĩ vẩn vơ không hiểu họ làm thế nào tấu được nhạc phẩm da diết và buồn chán ấy trong hơn bốn giờ mà không bị co cơ và không buồn đi vệ sinh. Đêm xuống, ông ta mới viết, ông ta đặt một cái đĩa khác vào máy, đó là nhạc của Bach do Evgeni Koroliov biểu diễn, Koroliov ấy, nhạc sĩ dương cầm người Nga mà người ta đánh giá là chơi Variations Goldberg hay hơn cả Glenn Gould[5] ấy, ông ta thấy mình bất công với Glenn Gould quá, thế là ông ta lấy đĩa Glenn Gould ra nghe lại, tuyệt lắm, cái anh chàng Glenn Gould này, ông ta so sánh giữa Yến tiệc[6] của Platon với của Xénophon và thấy rằng mình thích tác phẩm của Xénophon hơn (đây là vấn đề còn cần phải chứng minh, nhưng ông ta nguyện sẽ làm, tại sao lại không làm trong cuốn Volcano nhỉ), ông ta lấy thư từ một người đàn bà mà mười lăm năm qua ông ta không gặp gỡ nữa ra đọc lại, trong thư bà xin ông ta, mỗi khi nghĩ đến bà thì hãy tưởng tượng cảnh ân ái và cố gắng đạt đến mức cực khoái, ông ta tự nhủ rằng mười lăm năm qua rồi, bây giờ làm được việc này thì kể ra cũng thú, như thể mình đặt ngón tay cái lên mũi vẫy mấy cái để chế nhạo thời gian đang trôi đi vèo vèo ấy, nhưng thực ra thời gian đâu có trôi đi mà là chúng ta đấy chứ, “thời gian ấy ư, ông ta thầm nghĩ, vấn đề rắc rối muôn thuở của mình đó”, thời gian còn là đề tài nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần trong vở kịch thơ Faust nữa. Ông ta nhớ đến đôi mắt xanh biếc của người đàn bà mà hồi cuối thế kỷ XX, ông ta đã tán là “my sweet nightingale[7]”, bà nói tiếng Anh mà lại, thế là bà hôn ông ta và thỏ thẻ: “Ông gọi em là nightingale nữa đi, ông sinh ra để gọi em là nightingale mà.” Ông ta hồi tưởng lại mười lăm ngày lưu lại khách sạn Ritz ở Barcelona vừa qua, đó cũng là khách sạn mà một lần, hồi còn trẻ, ông ta đã tình cờ được đứng trong thang máy cùng với ngôi sao màn bạc Greta Garbo, bà đã già lắm rồi, ông làm sao nhận ra được nếu nhân viên trực tầng không nói cho biết. Thiếu phụ mà ông vừa sống chung hai tuần ở Barcelona đã ghé vào tai ông thì thầm: “Quan hệ của chúng ta không phải là tình yêu mà là chuyện có đi có lại trên giường thôi, như thế vừa đơn giản vừa gọn nhẹ!” Hai người ở lì trong khách sạn, ngay cả đồ ăn thức uống, trong đó dĩ nhiên có cả sâm banh nữa, cũng được phục vụ tận phòng, tất cả đều được thanh toán bằng tiền tạm ứng một phần do bản quyền tác giả của ông, làm sao hoàn thành nổi một cuốn sách mà nhịn làm tình được? Ông đã nói với ngày Dolorès xinh đẹp tuyệt trần: “Tôi phải làm việc thôi! Tay ở nhà xuất bản mà nhìn thấy tôi lúc này thì…” và bà ta đã cướp lời: “Thì nhất định sẽ phải ghen tị với ông.”
Đó là những gì tôi cố nhét vào đầu người kể chuyện trong sách của mình. Đôi khi ông ta cũng ra phố để ngắm trời ngắm đất và đi bách bộ một chút. Ông ta thơ thẩn về phía Palais-Royal, một địa điểm dạo chơi rất tốt, nhưng mới đi được khoảng ba trăm mét, ông ta đã cảm thấy băn khoăn day dứt. Ông ta thấy mình có lỗi vì đã rời khỏi bàn làm việc. Rèn luyện đôi chân cho dẻo dai thì để sau hẵng hay, bao giờ sách xuất bản thì tha hồ đi chơi. Ông ta quay lại và lầm lũi trở về nhà. Nhưng buổi tối, thỉnh thoảng tôi lại cho phép ông ta ra khỏi căn phòng mà tôi nhốt ông ta suốt ngày, và lúc hai giờ sáng, kể khốn khổ ấy lại như chim sổ lồng, ông ta phóng như bay đến Wine and Bubbles, một quán bar ở phố Française, để uống hai hoặc ba cốc Languedoc nồng độ cồn 14,5% coi như thuốc an thần với mấy ông bạn và đồng thời cũng chính là chủ quán, trong khi tôi vừa ngồi chờ ông ta về vừa uống trà tươi của Trung Hoa, một thứ nước kích thích thần kinh dễ sợ. Để cho đầu óc đỡ căng thẳng, có lẽ tôi phải đọc một vài công trình nghiên cứu đại loại như Hãy thuần hóa tình trạng stress của mình mới được. Tôi không muốn mình suy nhược đến mức độ đó đâu. Hôm nọ, trong tàu điện ngầm, tôi vô tình ngồi đối diện với một thiếu phụ rất xinh, ngay lập tức, tôi đã nảy ra ý định mời người đẹp đi ăn tối để được nghe cô ta kể về cuộc đời mình, có thể tôi mới đỡ nghĩ ngợi đến cuộc đời của chính mình. Tôi đã tưởng tượng ra cảnh hai chúng tôi ở Capri. Cô ta lấy một cuốn sách trong túi ra. Vừa nhìn thấy đầu đề Thành công bằng ý nghĩ có tính xây dựng của Napoléon Hill, tôi đã cụt hứng, chẳng thiết nói chuyện với cô ta nữa.
Cách đây hai hay ba năm, mẹ tôi đã nhắc nhở: “Con phải cho ra sách đi chứ. Nếu không, người ta lại tưởng con chết rồi thì sao.” Mẹ thân yêu, người ta không quên con đâu. Tuần này, con vừa nhận được thư của một giáo sư dạy con ngày xưa. Hình như thầy con bằng tuổi mẹ thì phải, nhưng thầy vẫn còn nhớ người học trò mà ông tưởng là xuất sắc này: “Về văn học Pháp, cậu hiểu biết hơn tôi nhiều, nhưng chưa bao giờ cậu tỏ vẻ huênh hoang với tôi cả” (lạ nhỉ, chưa bao giờ tỏ vẻ huênh hoang ư, nhưng nếu thầy đã tưởng như vậy thì…) Ông thầy tu này đã ngồi không biết bao nhiêu giờ trong phòng xưng tội (nhiều đến nỗi làm cho một tiểu thuyết gia tương lai là con đây phải ghen tị) thì chắc là phải biết khá rõ về thói lần nữa việc hôm nay để đến ngày mai. Con phải viết thư phúc đáp mới được. Lá thư bốn trang đặc kín của thày có phải là ý trời đến giúp con không nhỉ? Thày vẫn nhớ về những lần con đến trường trễ giờ. Thày còn nhắc lại, ở trường ai cũng biết con chuyên đi học muộn, trong các cuộc họp hội đồng giáo viên, con hay bị nêu tên lắm.
Ôi, sao mà tôi muốn bỏ tất cả đấy và đi du lịch thế không biết!
Đi du lịch! Nghe sao mà quyến rũ! Vừa nói lên mất tiếng này là người ta đã không sao tìm nổi một cụm từ nào khác hay hơn thế nữa rồi, ngay cả khi hiện tượng như vậy có thể đến với bất cứ từ nào, nếu mình nhẩm đi nhẩm lại và ngẫm nghĩ kỹ. Xuất hiện sau các cuộc hành hương và viễn chinh chữ thập nhưng đã khác đi rất nhiều, khái niệm về du lịch đã được sinh ra và phát triển đồng thời với một sáng tạo khác: thể loại tiểu thuyết. Một đề tài viết báo khá hay đây. Tôi sẽ ngẫm nghĩ về chuyện này trong lúc cho các nhân vật của mình đi chu du thiên hạ. Người đi du lịch với mục đích du lịch thật sự rất bốc đồng. Anh ta đi chỉ để mà đi thôi. Anh ta không cần biết điều gì đang chờ mình phía trước. Anh ta giống như tiểu thuyết gia, càng viết càng nghi ngờ và xa rời ý tưởng ban đầu. Nhà du hành có kinh nghiệm thường trở thành nhà văn, nhưng việc này không ảnh hưởng gì đến tính chất thơ mộng của các chuyến đi cả, tuy rằng du lịch thuộc phạm vi văn xuôi. Vì sao ư? Vì chỉ có văn xuôi mới thể hiện được đời sống tình dục, còn thơ ca chỉ là tiếng vang hưởng ứng thú vị thôi, và ai dám cả gan tách tình dục ra khỏi cái thú đi du lịch nào? Các chuyến đi chơi xa, tình dục và văn xuôi, nhất định phải kết hợp đủ bộ ba mới được! Tôi mà chưa bao giờ đi du lịch thì cũng như tôi chưa bao giờ làm tình… Thế thì chán lắm.
Cách đây tám ngày, tôi đã từ chối một chuyến đi chơi Tây Ấn bằng du thuyền của một người hâm mộ để ngồi lì bên bàn làm việc trong căn phòng ám khói, mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn chịu khó thông gió. “Mẹ không sao hình dung nổi con mà dám lên du thuyền”, mẹ tôi đã trêu như vậy qua điện thoại và nhắc lại chuyện tôi đã sợ hãi đến thế nào khi hai mẹ con đáp chuyến xe thư Ostende-Douvres để sang London thăm cô em út tôi đang học ở một trường mỹ thuật nào đó mà tôi không nhớ tên nữa. Thôi đành nói lời vĩnh biệt với châu Đại Dương vậy, tôi tự nhủ. Nhóm đảo Sous-le-Vent có phải ở châu Đại Dương không nhỉ? Thôi đành vĩnh biệt Trinidad và Tobago, vĩnh biệt Antigua và Barbuda. Dù sao thì tôi cũng có thể viện cớ phải viết cuốn sách về núi lửa để đi cơ mà. Antilles gồm rất nhiều đảo ngày xưa vốn là núi lửa cơ mà. Đáng lẽ tôi phải chọn lựa, hoặc là làm nhà nghiên cứu núi lửa hoặc là nhà văn viết tiểu thuyết. Vĩnh biệt rừng rậm cây cối sum xuê, rượu rum và rượu vỏ cam. Năm nay thì tôi không được may mắn khám phá quần đảo Antilles thuộc Hà Lan và nghe người ta nói tiếng mẹ đẻ của họa sĩ Rembrandt, triết gia Spinoza, họa sĩ Van Gogh và Karrel Van de Ever, một nhà thơ ở thành phố Anvers mà tôi chỉ thuộc một câu: “O Dinska Bronska, gij vertrekt naar Canada” (Ôi con tàu Dinska Bronska, mi đã nhổ neo ra khơi sang Canada). Vĩnh biệt vùng bờ biển Venezuela, vĩnh biệt isla La Tortuga. Tôi tự coi mình là hồn ma cha Hamlet, trước khi biến mất, ông ta đã nói một câu bằng tiếng vo.[8]: “Adieu adieu adieu remember me.” Đáng lẽ tôi nên đáp máy bay đến đảo Jamaica, nơi mà một phòng trên chiếc du thuyền La Pasithée đã được dành sẵn cho tôi thì có phải là hay không?
- Tớ chẳng bao giờ hối tiếc vì đã nhỡ một chuyến du lịch cả, Hubert, một anh bạn lâu năm nhất của tôi, người đã đi vòng quanh thế giới ít nhất là ba lần, đã an ủi tôi như vậy. Cậu ta sống ở Nhật Bản (“quần đảo của tôi”, cậu ta thường gọi vậy), nơi cậu ta soạn thảo một cuốn từ điển bách khoa dành riêng cho việc giải thích từ ngữ chuyên biệt trong đạo Phật từ bốn mươi năm nay mà vẫn chưa xong. Một buổi tối, ngồi trong một quán ăn ở Kyoto nói chuyện, trước mặt là món sushi ngon chưa từng thấy trên đời, cơm được ướp mắm muối nhàn nhạt với giấm gạo, cá mùa xuân và sò ốc, cá suzuki, kohada, akagai, Hubert và tôi phát hiện ra là, tuy chúng tôi học cách nhau mấy năm nhưng lại có chung một giáo sư Pháp văn, thày Laloux, Hubert có địa chỉ của thày, thế là vừa ôn lại kỷ niệm về nhà ngữ pháp học danh tiếng ngày xưa, chúng tôi vừa viết vài chữ vào một tấm bưu ảnh và cùng ký tên, tên của hai trong số các học trò cũ vẫn còn nhớ đến thày. Năm nay, tôi cũng đã gửi thư mừng thọ nhưng hình như thày mất rồi thì phải. Mỗi lần tôi xuất bản một cuốn sách, thày lại tìm mua bằng được và viết thư cho tôi, chúc mừng tôi.
Thày Laloux là giáo sư Pháp văn, đồng thời là giáo sư tiếng La-tinh dạy tôi ở một trường khác, trường trung học thuộc giáo phái dòng Tên ở Bruxelles, thành phố quê hương của hai đồng nghiệp Rosny anh và Rosny em, thành phố quên hương của Jacques Feyder, người Bỉ duy nhất đã làm phim có Marlène Dietrich đóng, người Bỉ duy nhất đã làm phim có Greta Garbo đóng, đạo diễn duy nhất trên thế giới đã quay phim cả hai ngôi sao điện ảnh ấy. Bruxelles những năm năm mươi, thành phố tuyệt vời ấy đã biến mất rồi. Đâu rồi, mấy rạp xiếc và đám xe con giao hàng trên quảng trường Sainte Croixe? Đâu rồi, rạp chiếu bóng Régent ở phố Gray nơi mà lần đầu tiên trong đời tôi được thấy một người đàn bà gần như trần truồng thoáng qua vài giây trên màn ảnh? Đâu rồi, lũ ngựa trên đường phố xã Ixelles? Tôi có cảm giác như còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng móng của chúng gõ trên mặt đường cồm cộp. Chúng đã biến mất sớm hơn loại xe con chở hàng, và thế là hết, đâu còn nét bình dị của làng quê ở chốn đô thị nữa. Cách đây không lâu, tôi tự nhiên lại nghĩ đến thày Laloux. Tôi cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn, chuyện gì sẽ xảy ra nếu vài ngày nữa tôi đột nhiên chết đi. Rồi tôi lại tự hỏi: “Tại sao lại là vài ngày nữa, tại sao lại là một lần khác, biết đâu ngay bây giờ thì sao?” Thế rồi tôi chợt nhớ đến giọng thầy Laloux đọc phó từ tiếng La-tinh olim.
Bọn học trò chúng tôi đang dịch một đoạn thơ của Albius Tibullus, bạn Ovide và Horace, nhà thơ bi thương nổi tiếng. Tibulle bị ốm nặng nên phải ở lại Rome trong khi các bạn đi tắm chữa bệnh ở vương quốc Etrurie. Ông viết thư bày tỏ ông rất tiếc không tham dự được chuyến du lịch cùng các bạn. Ông cảm thấy bệnh tình của mình rất nguy kịch, không biết có qua khỏi được không, ông viết thêm là ông sẵn sàng chết nếu phải chết, nhưng ông mong là olim, “một lần khác”. Tôi thì lại dịch là “càng muộn càng hay”.
Thầy Laloux nhắc nhở tôi:
- Trò có sợ là nội dung tư tưởng đã làm cho mình hiểu sai dạng thức, do đó hiểu sai cả một phó từ chưa đủ tầm quan trọng mà trò gán cho nó không? Trò đọc lại câu thơ này xem nào.
- Elysios olim liceat cognoscere campos[9].
- Trò thấy chưa! Từ olim trong tiếng la-tinh tương đương như “một ngày” trong tiếng Pháp, một thứ Janus[10] ngữ pháp một mặt quay về quá khứ, một mặt hướng tới tương lai. Từ olim không khẳng định cả quá khứ lẫn tương lai và chỉ có giá trị phủ định thời hiện tại thôi. Ở đây, nhà thơ chỉ xin Thần Chết lui thời khắc định mệnh lại, olim. Lời cầu xin của Tibulle thật lòng và cảm động chỉ vì nó không có ý “càng muộn càng hay” như cách dịch của trò, người sắp chết mà yêu cầu như vậy chẳng phải là đòi hỏi quá cao hay sao. Thưa quý ông, tôi đã đoán được, tại sao quý ông lại nhầm lẫn như vậy rồi. Quý ông chỉ biết chăm chăm vào từ olim cho nên đã không quan tâm đúng mức đến từ liceat. Quý ông chỉ việc dịch đơn giản thế này: “Xin hãy cho phép ta tìm hiểu về Cánh đồng Elysées vào một lần khác”, bỏ quách “tôi có thể… được không” đi, thế là xuôi. Quý ông sẽ không cần đến “càng muộn càng hay” nữa, không thì hỏng bét. Trò Weyergraf thân mến ơi, làm ơn để cho từ olim của Tibulle mang một chút sắc thái ý tứ và rụt rè đi cho thày nhờ.
Vốn là một nhà sư phạm giàu kinh nghiệm, lại được hàng lô từ điển mà ông cất trong một cái tủ ở cuối lớp làm cho uyên bác thêm, thày Laloux còn viện dẫn cả truyện ngụ ngôn để dạy học trò nữa, trong đó Jean de La Fontaine (“nhà văn tài hoa mà người đời vẫn chưa đánh giá được đúng mức”, thày chủ ý dằn từng tiếng để nhấn mạnh) đã cho một cụ già trăm tuổi nói với Thần Chết: “Mi bắt người ta phải chết đột ngột thì có công bằng không? Mi hãy chờ thêm một chút nữa đi…”
- Các trò đã hiểu cả rồi chứ? Ông già trong truyện ngụ ngôn của La Fontaine còn bạo gan tới mức dám nói với Thần Chết rằng cụ muốn có thời gian làm thêm một chái nữa cho ngôi nhà của mình. Thưa các quý ông học trò, xin các quý ông nghĩ cả về nữ tù nhân trẻ của nhà thơ André Chénier năn nỉ cái chết hiện ra dưới hình dạng một con ma máu me be bét nữa: “Ta vẫn chưa muốn chết”, rồi lại xin gia hạn thời gian: “Ta muốn sống đến hết năm.” Từ olim ở đây là tâm trạng nửa phục từng nửa chống đối và thái độ hầu như đã chịu đầu hàng, kể van xin và kẻ hấp hối nào mà chẳng thế.
Thày Laloux kính mến! Con vẫn dùng cuốn từ điển của Freund-Theil mà thày rất quý nhưng vẫn đem tặng con cuối năm học ấy. Đêm hôm nọ, sao tự nhiên tôi lại nghĩ đến cái chết? Tôi tự nhủ: “Mình mà sắp chết thì cuộc đời mình còn có ý nghĩa gì nữa? Mình sẽ không làm được những gì cần phải làm nốt mất.” Tôi không còn phân biệt nổi, tôi nghĩ đến các cuốn tiểu thuyết sau này của mình hay đến tình cảm đối với những người mà mình yêu quý trong cuộc sống thực, nhưng cũng có lúc tôi tưởng rằng cái thực ấy là những gì mình sáng tạo ra, viết đến đâu sáng tạo đến đó. “Tế bào được sinh ra để mà chết mà lại”, một anh bạn là nhà sinh học vừa nói với tôi vừa ngây ngất ghé mũi vào miệng chai hít lấy hít để mùi rượu vang xô-tec vừa khui, loại château Rieus-sec 1996, và khen mùi vị vả, mật ong và hạnh nhân nướng. “Sự nhân lên của tế bào phải được trả giá bằng sự mất trí nhớ. Chúng tôi, những người nuôi cấy tế bào, chúng tôi chiến đấu với cái chết. Đầu óc tôi lúc nào cũng nghĩ đến cái chết.”
- Với tư cách là nhà văn viết tiểu thuyết, tớ nói cho cậu nghe nhé, cái chết là sự kiện duy nhất người ta không bao giờ kể cho người khác nghe được.
- Nếu có thể chết nhiều lần, người ta sẽ luyện tập cho quen và rút kinh nghiệm.
- Cậu phát biểu với tư cách là sếp một cơ sở sinh học thần kinh ư?
- Tớ chỉ khua môi múa mép được về những gì tớ bất tài thôi. Kiến thức đã dẫn chứng ta vào quá trình nhiều ngõ cụt rồi. Sự bất tài là một sự bảo đảm cho tinh thần nghiêm túc đấy. Chúng ta không nên thành thạo giỏi giang về bất cứ vấn đề gì cả thì hơn[11].
- Thế thì chúng ta hãy cam lòng đánh bóng đồ đồng và lau chùi đồ bạc cho sáng vậy! Cả quét bụi, đẽo gọt, cạo sạch gỉ… nữa. Chúng ta sống ở đời để phát quang bụi rậm trong vườn… Khu vườn trong đầu óc chúng ta sao? Thôi nào, cụng ly, chúc sức khỏe cậu!
Sống cho đến phút cuối cùng mà không biết mình sẽ chết chính xác vào lúc nào là món quà quý giá nhất mà thần thánh ban tặng cho chúng ta, những thần thánh mà dù tên tuổi là gì đi chăng nữa, nhưng chỉ vì mỗi món quà đó chúng ta đã phải tin họ rồi.
❀ ❀ ❀
[1] Merton Howard Miller (1923…) Người Mỹ, Giải Nobel Kinh tế năm 1995, Franco Modiglian (1918-2003) Người Mỹ gốc Ý, Giải Nobel năm 1995.
[2] Charles Quint: (1516-1556) Vua Tây Ban Nha thời kỳ cực thịnh của đế chế TBN với rất nhiều thuộc địa mà tập trung nhất là ở châu Mỹ.
[3] Georges Haussmann: (1809-1891) Bá tước người Pháp, tỉnh trưởng Seine, có công quy hoạch lại Paris, nhờ vậy mới có những đại lộ và công viên rộng rãi như ngày nay (1853-1870).
[4] Ngày cuối cùng của một người bị kết án: Truyện vừa của đại văn hào Pháp Victo Hugo (1802-1888), đoạn mở đầu là: Đã năm tuần nay, tôi phải sống cùng với ý nghĩ này, lúc nào cũng chỉ có tôi và nó (cái chết) đối diện với nhau, lúc nào người cũng lạnh cứng và biết nó đang lảng vảng quanh đâu đây, lúc nào cũng phải còng lưng dưới sức nặng của nó.
[5] Glenn Gould: (1932-1982) Nhạc sĩ dương cầm Canada, người đầu tiên tổ chức biểu diễn hòa nhạc Variations Goldberg của Bach năm 1955 (trước đó, người ta chỉ độc tấu trên dương cầm, kể cả Evgeni Koroliov)
[6] Yến tiệc: Platon (428-348 trước CN) là triết gia Hy Lạp, tác giả “Banquet”. Xénophon (430-355 trước CN) là sử gia, triết gia, nhà quân sự ở Athènes, tác giả “Symposium”, hai từ đều có nghĩ là yến tiệc.
[7] My sweet nightingale: Chú chim sơn ca đáng yêu của anh.
[8] v.o.: (version origianle) Bản gốc. “Adieu adieu adieu remember me.”: “Vĩnh biệt vĩnh biệt vĩnh biệt hãy nhớ đến ta.” (3 từ đầu là tiếng Pháp, 2 từ sau là tiếng Anh).
[9] Elysios olim liceat cognoscere campos: (Xin hãy hoãn…) cho ta lần khác mới phải tới Cánh đồng Thiêng Elysium… (theo huyền thoại Hy Lạp, Elysium là nơi mà người có đạo đức được đến sau khi chết).
[10] Jamus: Thần Cửa và thần bảo vệ những sự bắt đầu và kết thúc, cũng có hai mặt như cánh cửa.
[11] Être orfèvre en aucunc matiêre: Nghĩa đen là “Làm thợ kim hoàn với bất kỳ chất liệu gì”, nghĩa bóng là “Không nên thành thạo về bất cứ việc gì”. Vì vậy, tác giả mới chơi chữ và đáp là đánh bóng, lau chùi đồ đồng, đồ bạc.