Ba Ngày Ở Nhà Mẹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Vừa đặt mình ngồi xuống ghế trên tàu – toa 11, chỗ biệt lập, dành riêng cho người hút thuốc -, ông mới nhận thấy mình kiệt sức đến mức nào và tiếc là mình đã không bảo taxi dừng lại trước một khách sạn gần ga, khách sạn Alpes hay Termunus chẳng hạn, bất cứ đâu cũng được. Ông sẽ để nguyên cả quần áo mà nằm ngang giường đánh một giấc, không đủ sức cả nhấc điện thoại gọi một cuộc lẫn mở túi du lịch lấy hộp bàn chải răng và dao cạo râu. Ông đã bất công đi cả một chặng đường dài để gặp ông bạn Lütfi, thế mà cuối cùng có gặp ông ta mấy đâu, lại còn phải quay về trong tình trạng mệt rã rời nữa. Mất toi hai, ba ngày làm việc. Người khác thì sẽ coi trọng công việc hơn tình bạn, còn ông thì không, nhưng đó có phải là tình bạn thật không? Ông có rời Paris không, nếu trong quá trình chuẩn bị danh mục triển lãm Juliette Chavoz không gọi điện thoại trao đổi với ông, khiến ông nổi hứng muốn biết mặt cô ta?

Tàu đã đi xa Grenoble. Khi giở mấy tờ báo ra xem, ông chợt liếc qua cửa sổ và nhìn thấy một khối núi đồ sộ mà hai lớp kính phản chiếu ánh sáng đèn trong toa khiến ông không sao quan sát được thoải mái. Đây là tỉnh Savoie hay vùng Piémont? Ông ngạc nhiên vì không thấy tuyết vĩnh cửu. “Tất cả chúng tôi, những người leo lên đến đỉnh Everest, đã có nhiều kỷ niệm không bao giờ phai mờ”, John Hunt[1] đã trả lời như vậy khi nhận được thư cậu bé François chúc mừng về thành tích chinh phục đỉnh núi Everest. Suốt cả một tuần, cậu bé chỉ ăn uống “như những người chiến thắng đỉnh Everest trong lều bạt”, cậu tuyên bố như vây, tức là sữa đặc đóng hộp, mơ sấy và bánh lương khô Yến mạch Quaker, khiến cho mẹ cậu lo lắng. Kèm theo lá thư của ngài John Hunt là một vài tấm ảnh chụp trên độ cao sáu nghìn mét so với căn cứ tiền trạm. Cậu bé François đã gắn tất cả bằng đinh rệp lên tường phòng riêng.

Ông đã quên lá thư ấy từ nhiều năm nay. Ông nghi ngờ cô vợ cũ Isabella đã giấu biệt vào tài liệu lưu trữ riêng của mình cùng với mọi giấy tờ và sách vở khác thuộc về ông. Ông nói thế nào, bà cũng không chịu trả lại. Họ ly hôn đã lâu, và bây giờ việc đặt vấn đề tranh cãi hay kiện cáo không còn hiệu lực nữa. Từ tuổi lên mười đến mười tám, ông đã viết thư cho tất cả những người mà ông ngưỡng mộ, và hầu hết họ đều phúc đáp, nhóm tác giả bộ sưu tập “Dấu hiệu vòng đua” và bộ sưu tập “Khoa học ngày nay”, các vận động viên đua xe đạp, nghệ sĩ dương cầm mà ông nghe qua đài phát thanh, nhà bác học, nhà thơ, diễn viên. Ông không bao giờ vứt một lá thư nào đi cả. Đâu rồi, thư của Ngài Edmund Hillary, của vị thủ lĩnh hướng dẫn viên leo núi Norgay Tenzing, của Charly Gaul, của Kũbler, của Koblet, của Graham Greene, của Raymond Queneau, thị trưởng thành phố Florence, của Giorgio La Pira, chính khách đầu tiên gây cho ông ấn tượng sâu sắc? Còn lá thư của Jean Renoir? Còn lá thư của Vladimir Horowitz, nhạc sĩ mà ông ngưỡng mộ bởi vì người ta đã đặt biệt danh cho ông là Quỷ Xa-tăng chơi đàn piano, một nhân tài trầm uất mà một năm sau mới trả lời ông trên giấy chép nhạc bằng cách ghi lại vài khuôn nhịp của Chopin? Còn bức tranh chính tay Hergé vẽ lạc đâu mất rồi? Cả ảnh chân dung có đề tặng của Sydney Bechet và Gary Cooper[2] nữa?

Lá thư của John Hunt được đánh máy với nhiều lỗi kỹ thuật, chứng tỏ ông tự gõ lấy chứ không phải đọc cho một cô thư ký. Ngài John Hunt có đích thân trả lời hàng nghìn lá thư không hay ông chỉ chú ý đến lá của cậu bé François, và ông thấy cậu xứng đáng được phúc đáp theo đường bưu điện, đặc biệt còn gửi kèm theo cả một số ảnh nữa? Ông François rất tiếc là đã để thất lạc lá thư của John Hunt, nhưng ông cũng tiếc không kém vì đã không giữ được bản nháp lá thư của mình. Tại sao ông lại viết thư cho nhóm chinh phục đỉnh Everest? Để góp phần vào những cố gắng của họ mặc dù việc đã xong rồi chăng? Để thoát khỏi ảnh hưởng của gia đình mình chăng? Để được nhận thư chăng?

Đoàn tàu chạy băng băng dọc theo vách đá dựng đứng và những quả đồi cao phủ rừng cây bạt ngàn mà ông François vừa ngắm chúng lướt qua vừa tưởng tượng những con suối uốn lượn, những dòng thác đổ ào ào, những khe núi hiểm trở nằm sâu trong đó. Giá mà được nằm duỗi dài thoải mái trong bãi lau sậy bên bờ một hồ nhỏ lọt thỏm trong núi hay một dòng suối chảy xiết thì ông sẽ dễ chịu biết bao! Một hồ nước sâu và lạnh, một dòng thác reo vang mà đáy lổn nhổn sỏi đá. Trong làn nước, trong vắt, ông sẽ nhìn thấy cá bơi lội, cá chép vảy bạc, cá gì đó là lạ mà lưng màu xanh lục thẳm, lại có cả cá chó mà ông sẽ nhầm là cá hồi sông nữa, hay ngược lại, nhưng ở một vùng đã bị nhượng bán cho ngành du lịch thì làm gì còn hồ nào yên tĩnh, không có quầy cho thuê thuyền xe đạp, không có cầu trượt nước? Làm gì còn những đoàn tàu êm ru, không có tiếng lép bép của máy walkman, không có doanh nhân bám chặt vào điện thoại di động, bắt mọi người phải khổ tai nghe chi tiết kế hoạch làm việc trong tuần của họ?

Vừa châm một điếu trong cái toa tàu sặc mùi hôi lưu cữu của thuốc lá, ông vừa tưởng tượng mình đang ở trên đó, vươn vai thoải mái và căng lồng ngực hít thật sâu bầu không khí trong lành ở đỉnh núi. Ông mơ mộng quá đi mất! Vầng dương trang điểm cho những ngọn núi nhấp nhô xa xa một lớp phấn đủ mọi sắc màu, ông tự nhủ, nơi đó các kẽ nứt và nạn tuyết lở sẽ làm cho ông rất dễ gặp hiểm nguy, nhưng dù sao thì cũng chưa thấm vào đâu so với lúc ông ngồi trước máy chữ. Ông ghé sát vào cửa kính và nhìn thấy một hình ảnh in chồng nhiều lớp mờ mờ ảo ảo, lửng lơ giữa một cảnh toàn bụi rậm, một khuôn mặt tái mét và nhăn nhúm, chính khuôn mặt của mình, với cái trán rất dễ nhận ra, vừa cao vừa hói, mí mắt sưng húp và cái miệng với cặp môi mỏng dính. Ông muốn nói với bóng mình trong kính: “Tớ có thể làm gì để giúp cậu được?” Tự nhiên ông lại thấy mình có cảm tình với khuôn mặt ghé sát gần ấy. Ông đã có dịp bắt gặp bóng dáng mình hàng nghìn lần trong tủ kính bày hàng hay gương soi, và ngay cả khi chưa nhận ra đó là mình, ông đã cảm thấy một mối thiện cảm bột phát trong lòng đối với người lạ đó. Tuy ông có khá nhiều vấn đề rắc rối – “con mà không có vấn đề rắc rối gì thì con đâu còn là con nữa”, mới đây mẹ ông đã nói với ông như vậy, nhưng ông lại không hề có đối với sơ đồ cơ thể mình, một từ ngữ mà ông ghét cay ghét đắng từ khi một bác sĩ phẫu thuật, ngay trước mặt ông, đã nói xẵng với một người đàn bà vừa phàn nàn là vết sẹo dài rộng ở chân làm mình mất dáng: “Bà hãy học cách chịu đựng sơ đồ cơ thể của mình đi!”

Trong sân ga, ông vô tình nhặt trên quầy báo một lô tờ quảng cáo do tỉnh Isère phát hành, vì thế ông mới biết là ở đó người ta nuôi đà điểu (wwwdadieunet). Không biết sắp tới từng đàn đà điểu có tràn ngập mọi khu thể thao mùa đông không, có làm tắc nghẽn mọi đường đua trước khi xâm chiếm tất cả các toa cáp treo để ấp trứng không? Đà điểu trượt tuyết sẽ hấp dẫn khách du lịch: sau khi lượn xuôi theo mốc đẹp mắt không chê vào đâu được, chúng sẽ nuốt chửng máy ảnh của khán giả. Ông François nảy ra ý tưởng so sánh bộ não của mình với dạ dày đà điểu, chúng phải nuốt bất cứ thứ gì, sỏi đá hay kim loại, để tiêu hoá thức ăn dễ dàng hơn. Còn ông, bộ não đòi hỏi những thông tin đa dạng, gây bất an và dễ mất đi để tiêu hoá được cái thế giới thật khó tiêu hiện nay.

Tỉnh Isère đưa về nuôi không chỉ có đà điểu mà còn cả hai mươi bảy giống chuồn chuồn cùng tồn tại bên bờ cùng một khu đầm than bùn mà hoa lan chồi lên khỏi mặt nước khá tốt tươi. Ngày nay, người ta không dùng từ “đầm” nữa mà là “khoảng trũng tự nhiên mà môi trường dễ bị ảnh hưởng”. Người ta không bảo trẻ con trèo lên cây nữa, người ta gọi là trò chơi leo bám cành. Một cuốn sách mỏng giới thiệu các viện bảo tàng trong vùng thì nhiều hơn cả số chuồn chuồn và đà điểu cộng lại. Khi lên đường tới Grenoble, ông François đã có ý định rủ ông bạn Lütfi đi thăm viện bảo tàng Stendhal, nhưng ông không đoán trước được mình sẽ thức trắng một đêm với một thiếu phụ mà ông đã lớn tiếng tuyên bố, không chút đắn đo: “Từ nay trở đi, trong mắt tôi, thành phố quê hương của Stendhal sẽ là thành phố quê hương của Juliette Chavoz.” Viện bảo tàng Stendhal nằm ở phố Hector-Berlioz, một địa điểm không xứng với tiếng tăm của ông lắm vì Berlioz[3] thuộc lớp đàn em sau ông những hai mươi năm, thậm chí còn xa hơn nữa. Ít ra thì ở Grenoble cũng phải có một phố thật đẹp mang tên Stendhal chứ? Ông François có khoảng hai mươi bản in khác nhau của tác phẩm Tu viện Parme – ông đã tặng hai bản quý hiếm nhất đóng kiểu thời bấy giờ cho các con gái. Ông đọc Tu viện Parme lần đầu tiên trên sân thượng ngôi nhà của gia đình ở xứ Provence, đúng giữa mùa hè, ngồi tựa lưng vào bức tường thấp bằng đá âm ấm nắng mặt trời, ngay trước ngày lên đường đi học ở Viện nghiên cứu điện ảnh cao cấp. “Tôi bị đuổi ngay từ đầu học kỳ thứ ba, người ta viện cớ tôi đã quay một bộ phim ngắn trong kỳ nghỉ Phục sinh và sinh viên không được quyền hoạt động nghề nghiệp trước khi ra trường”, ông kể cho Juliette nghe khi cô thắc mắc tại sao ông lại thôi không làm phim nữa – cô đã đọc tiểu sử tóm tắt của ông trong danh mục giới thiệu triển lãm của Lütfi, tiểu sử mà y như một tờ phiếu trong hồ sơ của cảnh sát: “Sinh năm 1942 tại Saint-Jean-de-Luz, từng đạo diễn vở opera Salomé của Richard Strauss tại London, dựng năm phim và xuất bản mười tiểu thuyết.”

Theo như các tờ phụ trương gập, khắp tỉnh Isère đâu đâu cũng nhan nhản tường để chơi trò leo trèo, sân trượt băng, sân ten-nít có mái che, bể bơi đạt tiêu chuẩn thế vận hội. Ngôi làng nhỏ nhất cũng tổ chức lễ khai trương cho người lần đầu nhảy dù từ trên đỉnh dốc xuống, những cuộc đi chơi xa gọi tắt là “rando”, những cuộc hành trình ban đêm bằng VTT[4] với đèn pin đeo trên trán, những kỳ nghỉ cuối tuần mang tên “Khám phá sinh hoạt của người chăn mục súc” mà chỗ trú là bãi chăn thả trên núi cao: “Sau một kỳ nghỉ cuối tuần như vậy, sinh hoạt của người chăn mục súc không còn gì bí ẩn đối với bạn nữa.” A, đúng là điều ông cần đây! Sống trong bầu không khí mát lành ở các bãi chăn thả, làm bạn với lũ dê cừu. Đêm đêm, khi cả đàn gia súc đã ngủ, ông sẽ viết dưới ánh nến. Không ai đến quấy rầy ông, khách của ông sẽ chỉ là lũ đại bàng và sơn dương. Và đến cuối tuần, Juliette Chavoz hoặc người đẹp mặc quần soóc cực ngắn, trang bị dây thừng và cuốc chim, sẽ leo lên núi để ông đỡ cô đơn. Và rồi một ngày nào đó, ông sẽ lặng lẽ rời khỏi bãi chăn thả, ông sẽ biến mất trên độ cao hơn ba nghìn mét, trong dãy Vanoise trùng trùng điệp điệp, nơi ông sẽ tìm được cõi Bảo Vân Sơn của mình. Thở ra hết không khí lưu cữu trong phổi, rồi hít một luồng mới trong lành vào, ông sẽ sống trong một hang đá và tự làm lấy mực viết bằng cách trộn muội khói với mật ong. Ông sẽ viết sách với bút lông làm bằng tóc trẻ sơ sinh, bằng râu hùm, và cuối cùng thì bằng lông mi của mình.

Khi một nhà hiền triết đạo Lão mỗi một trăm năm xuống trần hai lần sắp tiết lộ cho ông biết bí mật của sự lưu danh muôn thuở thì nhân viên kiểm soát đến đề nghị ông cho xem vé, ông đang móc túi trong áo vét lấy ra thì bỗng cảm thấy đau nhói ở cánh tay, hậu quả của cuộc vật lộn hăng hái trên sàn nhà đêm hôm trước. Khi về soi gương trong buồng tắm khách sạn, ông đã phát hiện ra mình còn bị sây sát ở khuỷu tay và bầm tím ở lưng. Bây giờ vấn đề là ở chỗ, ông không được để ngực trần lượn lờ trước mắt bà Daphné. Ông sẽ bịa chuyện gì được nhỉ? Bịa là mình tình cờ lạc vào giữa một đám cầu thủ bóng bầu dục hăng máu chăng?

Tàu sắp đến thành phố Lyon. Ông có thể cất mấy tờ quảng cáo đi được rồi. Còn lâu ông mới có dịp trở lại tỉnh Isère. Chính tại Lyon, thời trung cổ, hội nghị giám mục toàn thế giới đã quyết định danh sách bảy thánh lễ. Bắt đầu từ lễ đặt tên thánh cho đến lễ cưới, ông François đã được nhận gần đủ rồi. Và lễ xức dầu cuối cùng đang chờ đến lượt mình, lúc mà cái chết càng ngày càng thúc bách – năm mươi năm sau, ông vẫn còn nghe văng vẳng tiếng ông giáo giảng Kinh Thánh, Cha Dumont, người đã trở thành bậc thầy về nghệ thuật làm cho cả lớp khiếp vía: cái chết giụụục giããã và đeèèè nặặặng… Chắc là ông đã mệt mỏi lắm cho nên những giáo lý khô khan của đạo Thiên Chúa mà thời niên thiếu ông phải học mới trỗi dậy như vậy. “Đạo Thiên Chúa bám chặt lắm, ám ảnh lắm, cậu không vứt bỏ được như một chiếc áo cũ đâu”, Bác sĩ Zschamack đã cảnh báo khi chàng thanh niên François đến khám để bắt đầu một đợt điều trị phân tích tâm lý hồi đầu những năm sáu mươi. Zschamack đã kiên nhẫn chờ mấy tháng mới hỏi độp cậu một câu: “Hay là cậu nói cho tôi nghe về bà cụ thân sinh đi?” Có lẽ ông ta đã phải nghe chi tiết những chuyện ăn nằm lang chạ của bệnh nhân đến phát chán không thể chịu nổi nữa. François chỉ trả lời ngắn gọn: “Mẹ tôi cư xử rất đúng mực”, nhưng câu này không đáp ứng được yêu cầu của nhà phân tích tâm lý: “Ngoài cách cư xử đúng mực ra, bà còn có những đức tính nào nữa?” François giữ im lặng cho đến hết buổi điều trị.

Tựa hồ như ông đang tháo một cuộn băng video, kỷ niệm trong quá khứ lần lượt hiện về nối tiếp nhau theo chiều ngược thời gian với tốc độ mà nếu đem so sánh thì giống như tàu tốc hành TGV biến thành tàu chợ chạy rì rì và ngoằn ngoèo. Khuôn mặt cô Kim, một nghệ sĩ vi-ô-lông-xen người Úc sang Nhật Bản làm một tua trình diễn, hiện ra thay thế hình ảnh mẹ ông. Tình cờ cô ta và ông lại thuê phòng trong cùng một khách sạn ở Osaka và ông cứ đứng từ xa ngắm người đàn bà trẻ tuyệt mỹ cao một mét tám mươi sải bước qua sảnh mà không nhìn một ai. Cô mặc một chiếc áo khoác chần sợi vàng làm nổi bật chiếc hộp vi-ô-lông-xen màu đen lắp bánh lăn trông y như xe hàng dành cho khách dùng ở siêu thị do một người Nhật không cao hơn cây đàn là mấy đẩy đi bên cạnh. Cô đã vào khuất trong thang máy, ông vẫn còn tiếc rẻ: “Mình sẵn sàng chấp nhận mọi thứ để được ngủ với cô ta một lần.” Cũng trong ngày hôm đó nhưng đã gần đến nửa đêm, ông vừa định rời khỏi quán bar trên tầng ba mươi khách sạn Royal thì run rủi thế nào mà cô ta lại xuất hiện ở cửa, lần này chỉ mặc váy và áo len dệt giản dị, phấn son đã tẩy sạch, lẻ loi một mình, nét mặt mệt mỏi. Kết quả là hôm sau, ông đổi vé máy bay để đi cùng cô ta đến những địa điểm trình diễn tiếp theo. Nàng Kim của ông, mái tóc dài màu hung đỏ mà cô uốn xoăn bằng cuộn lô trước các buổi hoà nhạc, tình yêu đối với âm nhạc Pháp, cây đàn vi-ô-lông-xen bao giờ cũng chiếm riêng một trong hai chiếc giường giống nhau như hệt trong phòng ngủ, một cây đàn do chính nghệ nhân Bergonzi làm mà ông bà cô, hai nhà chăn nuôi cừu mê-ri-nốt, mua tặng… Ông François nhớ lại cảnh mình ngồi trong “Green Car[5]” từ Osaka tới Tokyo cùng với cô ta. Suốt ba tiếng đồng hồ trong cuộc hành trình, nhân viên phục vụ liên tục bưng rượu sakê nóng đến tận chỗ ngồi mời họ. Vừa nhấm nháp, Kim vừa hát khe khẽ vào tai ông bài You and the Night and the Music. Hồi đó, ông vẫn còn là đạo diễn điện ảnh, và ông đang định làm phim tài liệu về cô ta. Một năm sau, ông đáp tàu đêm đi Munich. Buổi tối hôm đó, cô Kim trình diễn một bản concerto của Schumann, và sáng sớm hôm sau họ lại có dịp gặp nhau trong một phòng khách sạn. Đúng lúc ông sắp đi được vào trong Kim thì cô ta báo cho ông biết cô ta đang mang thai. Thế là ông lập tức mềm nhũn. Cô trách ông emotional[6] quá. “Nếu người ta cũng giải thoát được cho mình khỏi những kỷ niệm khó chịu một cách dễ dàng như mỗi thứ Hai mang phim video thuê để xem trong kỳ nghỉ cuối tuần đi trả thì…”, ông thầm nhủ. Tuổi tác của ông lộ rõ chính ở điểm này. Ông là một trong số những người đầu tiên mua máy ghi hình từ, thế mà đến bây giờ vẫn chưa có đầu từ đọc DVD. Sách ông mà xuất bản, nhất định ông phải đến một cửa hàng thuộc hệ thống Fnac hoặc hãng Darty kiếm một cái mới được. Tất cả những việc mà ông biết thừa là mình sẽ không làm sau khi sách của ông được xuất bản! Chẳng hạn như ông sẽ thu dọn phòng làm việc để lắp đặt một máy chèo thuyền và mỗi sáng sẽ tập thể dục một giờ, ông sẽ cai thuốc, ông sẽ về thăm mẹ sau bao nhiêu tháng chỉ bằng lòng với việc gọi điện hỏi thăm và ông sẽ đưa bà đi du lịch ở Venise, nơi bà đã nhiều lần được ông chồng – nhà phê bình điện ảnh như François, người con trai được cha truyền cho lòng say mê – đưa đến dự liên hoan phim, ông sẽ lên đường khám phá Trung Mỹ và Nam Mỹ, hoặc ông sẽ sang Trung Hoa, thế thì thú vị hơn nhiều, ông sẽ thăm lại các thành phố châu Âu mà ông ưa thích, Lisbonne, Praha, Dresde, Thessalonique, ông cũng sẽ gặp lại bạn bè – lâu nay họ không dám gọi điện cho ông vì ngại làm phiền -, ông sẽ nghe tất cả những bản xô-nát dành cho piano của Haydn với bản đàn bè có sẵn trong tay, ông sẽ tạo một trong Internet để cung cấp thông tin, có thế thì thông tin về phim và sách của ông mới có thể chính xác được, ông sẽ tậu một ngôi nhà ở vùng đồng quê để được viết thật nhiều sách mà ông còn muốn viết trong khung cảnh yên tĩnh, và cuối cùng, để cho kết thúc có hậu, ông sẽ cưới bà Daphné, nhưng bà Daphné lại không muốn cưới, và thật ra thì cả ông cũng vậy, rằng đêm vừa qua ông đã không giật mình và nhảy dựng lên khi một nàng Lọ Lem ở Grenoble tưởng nhầm ông là Hoàng tử đẹp trai.

“Ông có lấy em không?” Juliette hỏi người đàn ông mà cô ta chỉ quen biết mới có mấy giờ trước. Đó là lần đầu tiên trong đời người ta hỏi ông một câu như vậy – một mẫu câu hỏi thẳng tuột khá hay. Khi đã ngồi trong tàu rồi, khi đã quá muộn rồi, ông mới nhớ đến chuyện nàng tiên Mélusine hứa hẹn giàu sang phú quý và hạnh phúc muôn đời với một hiệp sĩ mà nàng vừa mới gặp, nhưng lại ra điều kiện: “Chàng phải lấy em trước đã!” Đáng lẽ đêm qua ông phải trả lời Juliette Chavoz: “Cô tưởng mình là nàng tiên Mélusine chắc?” thì ông lại ấp úng là mình đã ly hôn.

- Ông có lấy em không?

Ông mà đáp là không thì chắc gì cô ta đã cho ông ôm hôn. Lấy em ư, cô em thân mến, tại sao lại không, miễn là bây giờ chúng ta ngủ với nhau ngay! Ông đâu có ngờ rằng một tháng sau cô ta sẽ đẩy ông đến Toà Thị chính thành phố Grenoble để tìm một văn phòng, nơi một viên chức sẽ nói cho họ hay thủ tục kết hôn theo pháp luật.

Tối nay, bà Daphné đã hẹn cả hai con gái, Chloé là tổ trưởng tổ dựng phim và Sieglinde là diễn viên hài kịch, về nhà ăn một bữa với cha mẹ vì hôm sau Chloé sẽ đi Montréal dựng những hồi đầu của một tác phẩm điện ảnh do thành phố Quebec và Pháp hợp tác sản xuất trên phần mềm Avid – một công nghệ mà ông mù tịt, ông vẫn chỉ biết có mỗi bản xử lý phim Moritone của Pháp thôi. Còn Sieglinde thì sẽ ở lại Paris suốt mùa hè để tập những tác phẩm chọn lọc của Strindberg cho kịp mùa công diễn cuối tháng Chín ở Montpellier. Quả là ông già ghét đàn bà Strindberg ấy vẫn tiếp tục hấp dẫn được các cô diễn viên kịch trẻ trung.

Ông François thì lại thích mở một hộp cá xac-đin trong bếp và đứng ngay trước bồn rửa chén đĩa ăn bốc cho nhanh gọn. Một bữa tiệc với khăn trải bàn và đĩa chén thì hình như vượt quá sức chịu đựng của ông nhưng gặp hai con gái thì ông sẽ phấn chấn lên.

Ông tìm cặp hồ sơ bọc các-tông mà ông đã dùng bút dạ đỏ viết hoa đầu đề cuốn tiểu thuyết của mình, Ba ngày ở nhà mẹ, giữa các cuốn sách trong túi cầm tay – Northop Frye, Edmund Husserl, Emmanuel Kant, ông không bao giờ đi du lịch với bất cứ một kẻ vô danh tiểu tốt nào cả -, rồi bấm cho lưng ghế dựng thẳng lên. Ông rút một cái bút Pilot Hi-Tecpoint V5 mực đen từ trong túi ra – ông bao giờ cũng mua cả hộp mười chiếc - đặt lên chiếc bàn xếp trước mặt, giãn dây chun ở cặp hồ sơ và lật trang bìa, thế là trước mắt ông là khoảng năm mươi trang đánh máy lem nhem chỗ sửa viết bằng tay và chi chít nét gạch xoá mà vừa nhìn thấy, chắc một thợ in sẽ lắc đầu lè lưỡi và một nhà tâm lý học sẽ bị cuốn hút. Toàn những trang giấy mà các nghệ sĩ như Beuys hay Cy Twombly[7] sẽ coi là xứng đáng với mình. Thà ông cứ cho đóng khung và đem bán còn hơn lúc nào cũng vẫn muốn sửa tiếp.

Sau trang đề tên cuốn tiểu thuyết, ông đã chép lại một số câu để ghi ở đầu sách hoặc đầu chương. Ông rất thích thú câu “Người điên giống như một con khỉ hung dữ.” (Swami Sivananda[8]) và “Cá bơi trong nồi”, một thành ngữ Trung Hoa mà độc giả Pháp rất dễ nhầm với “sung sướng như cá gặp nước” trong khi nghĩa của nó lại là rơi vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Còn có lời dẫn của một người Đức ở thế kỷ XIV, đích thị miệng Thầy Eckhart[9] nói ra: “Người ta có phạm một nghìn lỗi lầm cũng không nên hối hận và mong ước mình chưa phạm gì cả”, một câu làm người ta vững lòng nhưng ngay sau đó đã bị Jean XXII, vị giáo hoàng thứ hai ở Avignon, lên án với lời lẽ như sau: “Chúng tôi vô cùng đau đớn tuyên bố, một người Đức tên là Eckhart đã tỏ ra ham hiểu biết quá mức cần thiết.” Ông François đang có những câu ghi chép ấy ngay trước mắt.

Người kể chuyện trong cuốn tiểu thuyết của ông tên là Weyerstein, François Weyerstein. Ông cho nhân vật này làm nhà văn như mình. Ba ngày ở nhà mẹ sẽ kể về những chuyện xảy ra và nỗi gian truân của Weyerstein, người đàn ông tự nhiên lại cảm thấy rất hoang mang vào đúng ngày sinh nhật lần thứ năm mươi của mình nên đã đùng một cái huỷ bỏ tất cả các cuộc hẹn và quyết định về nhà mẹ vài ngày để xả hơi và điểm lại tình hình. Chờ cho bà mẹ ngủ say, Weyerstein mới bắt đầu đi lang thang trong nhà, ông lò mò suốt đêm, ông mở toàn bộ tủ lớn tủ bé, lục lọi ngăn kéo toàn bộ com-mốt, rồi khi xuống tầng hầm thì ông tìm thấy chiếc đài ga-len cũ của mình, bộ đồ chơi Meccano của mình, và đủ mọi thứ linh tinh khác mua dần dần từ năm này sang năm khác tại các cửa hàng bán đồ cũ trong vùng mà ông không bao giờ mang theo lên Paris.

“Nhân vật của ông mà lò mò suốt đêm trong nhà thì ông nên đặt tên cuốn truyện là Ba ngày ở nhà mẹ”, tối hôm trước Juliette đã gợi ý với ông như vậy. Ai mà dại dột đem dự định của mình ra kể cho người khác nghe thì thể nào họ cũng tưởng họ có ý tưởng hay hơn mình cho mà xem. Ông François dự định kể chủ yếu về ngôi nhà chứ không phải về mẹ mình, ngôi nhà mà cha mẹ ông đã cùng nhau tu sửa từ khi mới dọn vào ở cho đến một buổi gần trưa mùa đông, khi trái tim cha ông ngừng đập, người ông mà hai cháu nội Chloé và Sieglinde hầu như không được biết. Hai cô bé không còn nhớ cả việc chúng đã từng giúp ông nội dọn phá bụi rậm trong vườn lẫn việc chúng đã chạy lại nép vào vòng tay ông khi trông thấy lũ bọ cạp và nhện bò lổm ngổm.

Đêm đầu tiên ở nhà mẹ, ông Weyerstein tìm lại được những lá thư tình ố vàng mà ông đã để quên tận đáy một chiếc hộp bìa dưới tầng hầm. Ông quyết định đốt hết – một việc mà không đời nào François Graffenberg chịu làm cả. Ông bèn chụm một ít cành nhỏ để nhóm lửa trong lò sưởi, thầm mong ống khói đã được cạo sạch. Tập thư cháy chậm quá, ông phải xé vụn ra. Và mặc dù không muốn, ông vẫn đọc được một vài mẩu câu sắp biến mất mãi mãi nhưng trước kia đã từng làm trái tim ông rung động. Ông lấy một nồi nước đổ vào đống tro rồi đi một mạch xuống cuối vườn, bước đến đâu lại soi đèn pin đến đấy vào thân mấy cây tống quán sủ bóng loáng và cây hạnh già đã chết khô mà hồi còn nhỏ ông vẫn hay mang cung tên leo trèo lên. Ông đặt mình nằm xuống bãi cỏ gần con suối khô cạn ngăn cách khu vườn của mẹ ông với một cánh đồng húng tây thuộc về chính quyền xã, trong lòng lâng lâng niềm vui khi cảm thấy hơi ấm vẫn bốc lên từ lòng đất. Ban ngày hôm ấy thật ấm áp và nắng ráo, và buổi chiều, sân thượng nóng hơn ba mươi độ. Ông chợt nhìn thấy một ngôi sao đổi ngôi, hay đó chỉ là một vệ tinh nhân tạo? Ông cố nhớ tên các chòm sao và căng mắt nhìn xem có nhận ra không, chòm Tiểu mã, Thiên Long, Hải Đồn. Ông mơ màng nghĩ đến năm ánh sáng, tinh vân, lỗ đen, thiên hà. Ông nhìn đăm đăm vào một ngôi sao mờ mờ, hầu như khó thấy bằng mắt thường nhưng có thể lớn hơn mặt trời khoảng tám trăm lần. Nằm hoàn toàn bất động, ông thả lỏng người theo vòng quay của trái đất. Ông nghĩ đến hàng tỷ người mà đêm tối và các vì sao đã làm vơi bớt mọi nỗi khổ đau buồn phiền, tất cả những kẻ phải đẽo rìu trong đá lửa và đá vỏ chai, tất cả những kẻ phải ở trong lều lán, tất cả những cặp tình nhân sống ở thời tiền sử biết rằng mọi hành tinh đều ngầm nhìn họ, và cả các thợ săn, thuỷ thủ, mục đồng du cư… dân quê, nhà địa lý học Bồ Đào Nha, nhà thiên văn học A-rập, thi sĩ, hoạ sĩ nữa. Ông nhất định không chịu nhắm mắt. Ông muốn mắt mình phản chiếu cả bầu trời. Ông cởi hết quần áo ra. Trên người không còn mảnh vải, ông lăn trên thảm cỏ vẫn còn giữ được chút hơi ấm ban ngày, rồi ông nằm im và tự nhủ mình chỉ là một khối vật chất nhỏ li ti. Cơ thể ông không tồn tại nữa. Ông trở thành một thiên thể. Ông lấp lánh như một vầng mặt trời lùn tịt cách cuộc sống của chính mình hàng bao nhiêu năm ánh sáng. Ung dung tự tại và được giải toả khỏi mọi vướng mắc và trói buộc, ông sắp hoà mình vào thiên nhiên, vào đám lá tầm xuân màu tía xung quanh mình, vào những chòm sao, nơi ông sẽ đi qua mà không ai thấy, vào hơi nóng của trái đất. Ông đang quên hết những gì mình hiểu biết. Ông không còn kỷ niệm nữa.

Trạng thái ngây ngất là một mục tiêu mà người ta luôn luôn nhằm tới, còn khoảnh khắc khoái cảm cực độ chỉ là một sự lặp lại chập chờn và nhạt nhẽo của trạng thái ấy mà thôi, ông, François Graffenberg nghĩ thầm khi đọc lại những câu ghi chép của mình về nghĩa từ “ekstasis” trong tiếng Hy Lạp. Để tả trạng thái ngây ngất mê li của nhân vật Weyerstein lúc ở ngoài vườn, ông định dựa vào một kinh nghiệm có thực mà ông từng trải qua tại Eiheiji, một ngôi đền thiền tông ông đã lưu lại một đêm, khi chuyến du lịch lần đầu đến Nhật Bản tháng Năm năm 1970 của ông sắp kết thúc, nơi cuộc đời ông bắt đầu thay đổi nhờ một vị cao tăng hóm hỉnh mà ông không thông dịch nổi tên – đó là một phòng tham thiền nhập định chứ có phải là nơi người ta trao đổi danh thiếp đâu. Đầu tiên, nhà sư mời ông nằm xuống một cái chiếu rơm, và vừa giậm chân lên lưng ông vừa nói cho ông rõ, bằng một thứ tiếng Anh có lẽ là học được từ thời quân Mỹ chiếm đóng, rằng xem binh tình này thì ông có vẻ không được khoẻ lắm và trong một thời gian quá ngắn ngủi như vậy thì khó có thể giúp ông được. Thấy ông François có vẻ không vui, vị cao tăng nọ liền bảo ông ngồi quay mặt vào tường, hai chân cố gắng gập gọn lại như ngồi trên toà sen, bàn chân bên này kẹp vào khoeo bên kia. “Ông cố giữ cho cột sống thẳng đứng như vách đá vực thẳm nhé”, nhà sư vừa nhắc nhở vừa ôm ngang lưng ông, buộc ông phải chống đầu gối xuống đất, rụt cằm, hõm khung chậu. Ông bắt đầu ngồi thiền, mắt khép hờ, cố gắng không nghĩ ngợi gì. Ông mà cử động, dù chỉ là một chiếc lông mi, ông mà nghĩ đến bất cứ chuyện lông bông nào, nhà sư sẽ nhận thấy ngay và ông sẽ phải nhận một vài cái quật bằng kyosaku khá mạnh. Biết được sự tồn tại của chiếc gậy ấy trong sách vở là một chuyện, bị hai hay ba cú trời giáng vào cả hai bên vai lại là chuyện khác, đau thì có đau thật nhưng được cái săn chắc da.

Ông François Graffenberg đang giữ được tư thế đúng như nhà sư hướng dẫn một lúc khá lâu thì bỗng nhiên, trong một vài giây, ông tưởng rằng mình đã hiểu thấu được những gì mà các thầy thiền tông chỉ dạy, rằng sự trống vắng vời vợi là sự đủ đầy ăm ắp, rằng người ta nhìn thấy phương Bắc rõ hơn nếu quay mình về phương Nam. Tất cả những gì mà từ xưa tới nay ông coi là quan trọng như việc viết lách, quay phim chụp ảnh, yêu đương, đi du lịch và cả làm tình lúc này không còn ý nghĩa gì đối với ông nữa. Ngay cả ý nghĩ ham muốn sắc dục cũng đã biến hẳn khỏi đầu óc ông. Tâm hồn ông trở nên trong trẻo và thanh thản. Ông có thể ngồi mãi, ngồi cả ngày lẫn đêm trước bức tường này chỉ ăn cầm hơi một chút cơm và không làm gì cả cho đến hết đời. Ông khát khao trở thành một trong số các vị sư kia, họ cứ ngồi thiền mãi rồi thì đến một lúc nào đó cũng có được cảm giác thoả mãn về tinh thần mãnh liệt hơn vì họ có thể chay tịnh, không cần phải phí sức tìm kiếm cảm giác thoả mãn về xác thịt nữa, nhưng rồi khuôn mặt xinh xắn của cô bán hàng mà ông đã tán mấy hôm trước trong một cửa hàng bán giấy bút ở Tokyo tự nhiên lại len lỏi vào ý nghĩ ông và chấm dứt trạng thái ngây ngất trong lòng ông. Cô ta đã hứa dẫn ông đến Viện Bảo tàng Giấy. Lại mất tập trung rồi! Vị cao tăng nhận thấy ngay hiện tượng này và nên cho ông hai gậy khá thẳng tay rồi bảo ông nằm ngửa, còn bản thân mình thì vẫn đứng im bên chân ông, hai tay bắt chéo, mắt không rời khỏi ông, tráng kiện, lừng lững, trông như một tảng đá. Ông François lo lắng không biết tiếp theo chuyện gì sẽ diễn ra với mình. Gian bên cạnh, các nhà sư đang tụng kinh trước bữa ăn, “Kai-i-gu jo-bu-tsu-do…”, ông nhận ra ngay vì đã nghe khá nhiều lần, đó là một mặt đĩa The Way of Eiheiji, loại 33 vòng nhập khẩu mà năm 1960 ông tìm được tại Cado-Radio ở Bruxelles. Ông đã mời mọi người thưởng thức, cha mẹ, chị em, bạn bè, bà Isabella, bà Daphné, và sau này cả hai con gái ông nữa, khi chúng còn nhỏ. Mới lên bốn hay năm tuổi, Chloé, rồi sau đến lượt Sieglinde, đã trở thành hai thính giả rất thích thú những đĩa ấy, chúng luôn miệng đòi nghe các nhà sư hát như thể rặn ị. Hai đứa cũng thích tiếng gõ và thuộc hết, thuộc hơn cả tên Bảy Chú Lùn, đâu là tiếng chũm choẹ, đâu là tiếng chuông và tiếng trống trong các nghi lễ Phật giáo: naiko, hansho, hachi, o bon sho, chúng phát âm khá chuẩn để bắt chước giọng nhà sư giới thiệu từng nhạc cụ trong đĩa hát. Khi đã sành điệu về âm nhạc Nhật Bản rồi, hai cô bé lại đâm chán các nhà sư ở đền Eiheiji để quay sang hâm mộ các ca sĩ bunraku [10], những người này còn rít to hơn ở đủ mọi mức độ, cao thấp, mạnh yếu.

Vị cao tăng bỗng hét lên một tiếng chói tai, đồng thời gập mình lại và vặn ngón chân cái bên trái của ông François một cái thật mạnh, khiến người ông bật lên mấy xăng-ti-mét rồi rơi phịch xuống cách chỗ cũ một chút. Ông François không làm sao thở được nữa, ngực ông nóng rát như bị bỏng, tay ông tím bầm và lạnh cóng. Ông tưởng mình sắp chết. Rồi đột nhiên, nỗi sợ hãi mà ông vừa cảm thấy chuyển sang tâm trạng khoan khoái. Thay vì phải từ bỏ những thú vui trần tục, ông lại thấy mình có thể đương đầu với chúng, chịu đựng được chúng, yêu thích hay chối bỏ chúng. Khi đứng dậy, ông chợt nhận ra một điều: từ nay mình sẽ không bao giờ cần uống thuốc an thần nữa. Vừa ra khỏi ngôi đền, ông đã ném ống Valium đi, thứ thuốc an thần mà mới sáng nay thôi, có các toàn bộ vàng trên thế giới ông cũng không bao giờ chịu rời ra cả. Chỉ cần có một nhà sư vặn ngón chân cái của ông một cái, thế là chào vĩnh viễn mọi thứ thuốc an thần! Tài tình hơn cả bác sĩ Zscharnack!

Trước khi để ông đi, nhà sư còn đắp cho ông mấy cái moksha[11]. Đầu tiên, nhà sư dùng đầu bút chì dò khắp người ông François tìm hai điểm đối xứng, và cây bút dừng lại dưới đầu gối ông một chút. Nhà sư đốt hai núm bông dày màu xám và áp mạnh vào hai vị trí vừa được xác định. Lập tức, ông thấy khắp lưng, rồi đến hai bả vai, dễ chịu hẳn. Ông được nhận thêm một cái túi con đựng thứ bông đã ngâm tẩm sẵn ấy, trông như một túi thơm đựng hoa oải hương khô. Nhà sư dặn, khi nào hết số bông ấy thì ông dùng que hương thay thế cũng được. Trở về Paris, ông mới nhận thấy từ lâu người châu Âu đã biết dùng moksha, và nhà văn Tolstoi đã từng đề cập đến trong tiểu thuyết của mình. Trong từ điển thì người ta lại viết là “moxa” nhưng ông vẫn muốn giữ cách phát âm và cách viết của Nhật Bản. Ông sẽ đắp moksha trong vài tháng, nhưng tâm trạng lúc nào cũng nơm nớp chỉ lo mình làm tổn thương co duỗi ngón chân: chẳng phải nhà sư ấy đã phát hiện não bộ ông nằm trong ngón chân sao? Mỗi lần gí que hương nóng đỏ vào những vết thương đã mưng mủ, ông lại thấy phấn chấn hơn. Nếu ông có hẹn vào mười giờ sáng mà hôm trước lại không ngủ thì một vết bỏng ở mỗi bên chân sẽ thay thế được một đêm ngon giấc.

Bây giờ, một phần tư thế kỷ đã trôi qua, thế mà mỗi khi nhìn kỹ, ông vẫn tìm lại được hai vết sẹo nhỏ xíu ấy. Nếu mang theo hương trong túi du lịch, ông sẽ vào phòng vệ sinh trên tàu TGV làm moksha dưới đầu gối, và thể nào bà Daphné và hai đứa con gái cũng sẽ thấy ông xuống ga với vẻ mặt tươi rói. Bà Daphné có nghĩ đến việc chuẩn bị sẵn cho ông một bình rượu vang ngon không? Đáng lẽ ông phải dặn bà Daphné lấy một chai trong thùng rượu corton đỏ mà các chị em ông tặng nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ bốn mươi của ông mới phải, thấm thoát đã qua bao nhiêu năm rồi – họ đã góp tiền mua thứ rượu vang quý được ủ trong hầm rất lâu ấy, kể ra thì cũng đáng đồng tiền thật nhưng đắt quá. Ông làm thế nào mà giữ được thùng rượu ấy lâu đến thế?

Một giờ nữa, tàu sẽ đến Paris. Ông muốn cuộc hành trình sẽ kéo dài hàng tuần, nếu cần thì hàng tháng cũng được, để ông viết cho xong cuốn Ba ngày ở nhà mẹ, tại đây, ngồi ở chiếc ghế cách biệt này, trong toa tàu hạng nhất này. Khi nào hết giấy, ông sẽ tiếp tục viết vào các trang trắng, sau đó thì vào lề những cuốn sách mà ông đã có sáng kiến mang theo. Ông châm một điếu thuốc. Sắp tới sẽ không còn toa dành cho người hút thuốc nữa. Và biết đâu đến một ngày nào đó, khi tái bản tiểu thuyết của thế kỷ XX, người ta phải chú thích cả những từ như điếu thuốc và gạt tàn mất.

Trước tiên, ông phải đọc lại những gì mình đã viết. Ông phải tiến xa hơn trang đề tên sách và phần lời nói đầu, lời dẫn mà ông ghi riêng. Ông phải có gan lấy các trang khác ra khỏi cặp hồ sơ Exacompta. Tại sao ông lại cất giấu các trang sách và hy vọng của mình vào đồ dùng văn phòng? Ông có những cặp hồ sơ kiểu cổ rất đẹp, sản xuất từ hồi những năm ba mươi, mà ông đã phát hiện khi lục lọi trong các kho dự trữ của cửa hàng giấy bồi Pietrobon ở Venise. Nhưng quan trọng nhất vẫn là bản thảo. Hôm qua, mẹ ông đã nói qua điện thoại là bà rất mừng vì lại sắp được đọc một tiểu thuyết mới của con trai.

Chương một. “Mẹ đã bao giờ ăn mặc thanh lịch hơn hôm dạ tiệc mừng đám cưới của tôi chưa, khi hai mẹ con nhảy van tại tư gia của cha mẹ vợ tôi, giữa phòng khách mà cửa sổ nào cũng trổ sát mặt đất ra một khu vườn trên cao nhìn xuống thành phố Stuttgart ấy? Không những bà khiêu vũ điêu luyện hơn tôi nhiều mà còn dẫn tôi nữa. Chúng tôi lướt nhẹ trước những mặt gương, trong đó áo váy bà lấp lánh, nổi bật trên nền cây cảnh mà toàn bộ lá đều có vân trắng. Về sau này, cách đó rất lâu, tôi mới biết là bà đã bán một trong những chiếc nhẫn của mình đi để mua bộ váy áo ấy. Còn tôi thì phải đi thuê một bộ lễ phục và tôi vừa tròn hai mươi tuổi. Hai mẹ con lướt đi trên mặt sàn lát ván, giữa vòng trong vòng ngoài các cặp nhảy khác đã nhường chỗ cho chúng tôi. Chính sáng hôm đó, cha mẹ vợ tôi, một gia đình chủ nhà máy ở vùng Bude-Wurtemberg, đã tặng cho cặp vợ chồng mới cưới một chiếc xe thể thao mà một năm sau tôi đã làm hỏng khi đưa một cô khác chứ không phải con gái họ đi chơi. Ông bà nhạc tôi còn chi một số tiền khá lớn để mời các nhạc công thuộc Wiener Phiharmoniker đến biểu diễn nữa. Sau bữa tiệc đó, họ đã trình diễn rất hăng say một chương trình hỗn hợp gồm nhiều điệu van thành Vienne mà các nhà soạn nhạc, rất lâu trước khi máy bay được sáng chế, đã tiên đoán được niềm hân hoan trước cảnh cất cánh và tình trạng nôn nao khi rơi vào lỗ trống trong không khí. Chúng tôi xoay tròn trong khung cảnh thể hiện rõ lối sống đế vương với gỗ sồi lát tường cao đến tận trán, ngây ngất vì ly sâm banh chúng tôi vừa uống trong một phòng khách khác mà tường lại được bọc da có nếp gợn bằng vàng, mà nhiều chùm đèn pha lê chiếu sáng rực… tất cả những thứ mà vợ tôi vui mừng bỏ lại. Sau những nhịp cuối cùng của một điệu van được sáng tác tại Vienne chỉ để phục vụ cho đám cưới vương giả Nữ hoàng Sissi và sau đó không bao giờ được trình diễn lại nữa, các nhạc công nhất loạt kéo cây vĩ vài lần để tỏ ý tán thưởng Mẹ. Tôi bèn đứng xích ra và lùi cách bà mấy bước để được vỗ tay khen ngợi cùng với họ. Mẹ đứng một mình giữa phòng khách rộng mênh mông tường lát gỗ ấy, duyên dáng, nét mặt ngời ngời hạnh phúc được là mẹ của con trai mình, đồng thời, trong chốc lát, được là nữ hoàng buổi dạ hội.”

Còn François Graffenberg cưới vợ lại không mặc lễ phục đuôi tôm mà là bộ quần áo dạ tiệc, một bộ smoking may đo tại hiệu Butch, phố l’Êcuyer ở Bruxelles. Cô dâu Isabella, một cô gái Ý trẻ trung, xinh đẹp, mái tóc và cặp mắt đen nhánh như hạt huyền, nàng Isabella của cậu, không phải con gái một ông chủ nhà máy người Đức giàu có tầm thường mà là một ông chủ nhà máy ở thành phố Milan còn giàu có hơn gấp nhiều lần mà cô con gái độc nhất muốn trêu tức bằng cách nhất định đòi khoác tay một chàng trai diện smoking ra khỏi nhà thờ, trong khi cha cô dâu lại mặc áo ja-két đen và quần kẻ sọc rất nghiêm chỉnh, còn chiếc mũ cao thành thì cầm ở tay. Thời kỳ đầu thập kỷ sáu mươi, người ta không bao giờ đùa với lễ nghi. Bắt ép được một gia đình đại tư sản chịu để cho con rể mặc smoking đến đám cưới là cả một chuyện phi thường. Ông François còn giữ dáng người mảnh khảnh như thời hai mươi tuổi khá lâu cho nên vẫn sử dụng được bộ smoking ấy thêm nhiều năm nữa, kể cả sau khi đã ly hôn. Ở Venise, tối nào ông cũng mặc bộ ấy để đi dự liên hoan phim, ở Cannes cũng vậy. Trước khi một con nhậy kịp cắn ve áo bằng xa tanh màu xanh tối, bộ smoking ấy đã được một cô gái Na Uy có đầu óc hơi thần bí, có bộ ngực nở nang tên là Greta Ekeland vuốt ve. Cô thường vẽ biểu tượng âm dương phía trên mỗi lá thư mà mình viết và làm việc cho hãng Norsk Film – cô ta đã vận động để đưa bộ phim dài đầu tiên của ông vào chương trình Film Club ở Oslo, một phòng chiếu chứa được một trăm hai mươi ghế. Hai người gặp nhau trong một buổi dạ hội ở Paris, lúc kết thúc cuộc họp báo giới thiệu một bộ phim Pháp không có gì hấp dẫn, và họ đã uống nhiều đến nỗi sáng hôm sau thức dậy thấy mình nằm bên cô ta, ông ngẩn cả người không hiểu thiếu nữ xinh đẹp trần như nhộng mà ngay cả tên tuổi ông cũng không biết là ai. Cả hai người đều không nhớ họ có làm tình với nhau hay không, thế là Greta bèn đề xuất: “Vậy chúng ta cứ làm ngay bây giờ đi, có thế mới nhớ được.” Chỉ cần nhìn thẳng vào mắt cô ta, ông đã cương cứng, mặc dù đang đau đầu như búa bổ.

Liisa Peltomaa, một nữ diễn viên Phần Lan mà ông đã cùng đi chơi cả một ngày đẹp nhất đời mình, lại nói với ông như thế này: “Tối nào anh cũng nên mặc smoking, trông tuyệt lắm.” Buổi tối cuối cùng ở liên hoan phim Venise, năm mà đạo diễn Ý Antonioni giành được giải Sư tử Vàng, hai người hẹn nhau tại quán Chizzolin ở gần bến tàu thuỷ Lido. Họ ngồi sát vào nhau, ôm hôn nhau trên một chiếc ghế xích đu ngoài sân thượng. Họ đã đáp chuyến tàu cuối cùng đến quảng trường Saint-Marc và đi tìm một phòng khách sạn. Đang là đầu tháng Chín, lại là thời gian liên hoan phim hai năm một lần cho nên khách sạn nào cũng hết sạch phòng. Còn ở khách sạn Lido, cả hai người đều có phòng, nhưng phòng Liisa thì một cô bạn đang ngủ nhờ, còn phòng ông thì lại có Isabella, cô vợ trẻ đã đường đường là bà François Graffenberg đang lo lắng hoặc đang hốt hoảng không biết anh chồng mới cưới biến đi đâu mất. Nếu có người nói với Isabella rằng, ba mươi năm sau chồng cô sẽ thử tả lại cái đêm yêu đương vụng trộm ấy để đưa vào một cuốn tiểu thuyết thì chắc cô sẽ ngạc nhiên lắm.

Ông François Graffenberg đã phác những nét chính về đêm hôm đó kín cả một trang: “Liisa thì váy áo bằng nhung và lụa mu-xơ-lin dài kín chân, còn François Weyerstein thì mặc smoking. Họ đi lang thang suốt đêm trong thành phố Venise. Phố xá vắng tanh. Cứ mười bước, hai người lại dừng bước để ôm hôn nhau. Đó là lần thứ năm anh tới Venise, còn Liisa thì đến từ ngày hôm kia, và đêm ấy cô đã khám phá thành phố cùng với anh. Những khách sạn mà anh biết như Bonvecchiati, San Frantin, Ala, và cả các khách sạn ở đường Riva degli Schiavoni nữa, và ngay cả Danich, nơi mà tổ tiên của họ không chịu nổi giá thuê phòng, tất cả đều đóng cửa. Họ bấm chuông ở đâu, người ta cũng bảo hết sạch phòng. Họ phải đi bộ mãi. Cuối cùng, Liisa cởi phăng đôi giày cao gót nhọn hoắt. Trên quảng trường Plazzetta, ghế bày ngoài thềm các quán cà phê vẫn chưa bị thu về. Liisa ngồi trên lòng Weyerstein để hôn vào môi. Rồi hai người lại đi tiếp. Đến một campiello[12], ôm hôn, đến một sottoportica[13], lại ôm hôn, rồi cứ thế, họ vượt qua không biết bao nhiêu sông đào và cây cầu. Cùng một campo mà họ đi qua đi lại đến mười lần. Liisa để vai trần, đôi vai tròn lẳn, thậm chí hơi u và núng nính, mềm mại ngon lành khiến người ta dễ so sánh với một vài thứ mứt phương đông trong một thành phố trông cũng giống như một thành phố phương đông, đôi vai mịn màng sáng bóng mà người kể chuyện ra sức ngấu nghiến, vuốt ve, hôn hít say sưa như một thiếu niên mười lăm tuổi – trong khi anh đã hai mươi ba. Liisa thủ dâm cho anh. Tay cô nhoe nhoét tinh dịch. Cô cười rúc rích và thè lưỡi ra liếm. Quỳ gối trước mặt cô, anh vén váy, kéo quần lót xuống, cô giãy nảy: “Không, ở đây bất tiện lắm!” Nhưng chiếc váy dài của Liisa đã trùm kín người anh rồi. Anh đã mê mẩn với mùi vị chỗ kín của cô. Thế rồi người anh run lẩy bẩy không sao kìm hãm được, cô đạt đến đỉnh cao khoái cảm. Cô khuỵu xuống đè lên người anh. Cả hai ôm nhau lăn ra đất. Quần áo họ vừa nhàu vừa bẩn. Ngày đã rạng. Họ đến một khu chợ nằm ở chân dốc cây cầu Rialto. Cặp trai gái mặc quần áo dạ hội trông thật lạc lõng giữa đám đông kẻ bán người mua đi chợ sớm, giữa đám cá mú. Quảng trường Saint-Marc, nhà thờ lớn vừa mở cửa. Lại thêm một hình ảnh tương phản nữa, một bên là các tín đồ tới dự buổi lễ sáng, một bên là cặp tình nhân mà người ta nhận thấy ngay là đêm vừa qua đã được thoả mãn nhiều lần. Liisa đi giày cao gót vào và bước cồm cộp trên nền lát đá tuyệt đẹp trong nhà thờ. Đôi mắt xanh lục của Liisa được đèn nến chiếu sáng rực! Cô là diễn viên điện ảnh, cô hiểu hiệu quả ánh sáng. Weyerstein mò về đến khách sạn thì thấy vợ nước mắt đầm đìa, phát điên phát rồ vì tức giận và lo lắng. Cô đã chạy ngược chạy xuôi tìm anh suốt đêm, cô còn đến cả bệnh viện Lido nữa. Anh viện cớ phải làm việc với một nhà sản xuất phim ở Venise, phải chờ chuyến tàu sớm nhất để về. “Chuyến sớm nhất ư? Chuyến sớm nhất đến trưa mới cập bến Lido cơ mà. Thằng đểu, anh là một thằng đểu! Thế còn mùi nước hoa? Người ngợm anh sặc sụa mùi nước hoa! Đồ đểu! Đồ đểu!”

Kim, Greta, Liisa, rồi đến Kimiko, cô gái bán giấy bút ở Tokyo từng doạ, ông mà ngủ với một người đàn bà Nhật nào khác thì cô sẽ đâm cho vài nhát dao… nàng Togawa Kimiko, một nghệ sĩ uốn dẻo trên giường rất tài ba lúc nào cũng để sẵn một bộ sưu tập roi ngựa để quất ông trước khi vào cuộc. Ông không bao giờ ngờ cảm giác được một cô gái quất lại kích thích đến thế, kể ra roi quất thay thế cho gậy phang mà ông đã phải chịu trước đó tám ngày trong ngôi đền thiền tông cũng là một kinh nghiệm hay, nhưng thật ra hai kiểu hành hạ thân xác ấy có khác nhau đến thế không? Mấy người đàn bà ngoại quốc ấy nhảy vào cuộc đời ông làm gì cơ chứ? Ông chỉ trao đổi với họ những câu ước chừng đại khái và buộc mình phải nói bằng một thứ tiếng Anh dở kinh khủng, tiếng Phần Lan ngớ nga ngớ ngẩn như trong ca kịch, tiếng Na Uy ở trình độ sơ cấp. Greta, jeg savner deg veldig. Sjarmerende Greta[14]! Khi ông thổ lộ những điều sâu kín ấy, Bác sĩ Zscharnack đã liên tưởng ngay đến tâm lý sợ hãi không muốn nói tiếng mẹ đẻ: “Cậu có tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của người mẹ bằng cách buông lời tán tỉnh mấy cô gái lẳng lơ người nước ngoài ấy không? May mà cậu làm phim đấy! Cậu mà là nhà văn thì…” Bác sĩ ạ, ông nói đúng đấy. Từ khi viết văn, tình trạng của tôi còn tồi tệ hơn nhiều. Madamina, il catalogo e questo…[15]

Tại sao ông lại nhớ đến những chuyện xa xưa ấy? Cuộc đời hiện tại không làm ông hài lòng và ông phải tìm cách lẩn tránh trong việc gợi lại những hoàn cảnh xa xưa, khi mà mọi nhu cầu và khát khao của ông đều được thoả mãn. “Cuộc sống của mình vẻ vang đấy chứ”, ông tự nhủ. Nhưng bây giờ thì tất cả đã hết rồi. Tối nay, ông sẽ nghe lại Astrid Varnay ca ngợi cái chết của nàng Isolde, Lisa Ekdahl trong bài Plaintive Rumba – hai giọng hát đều bằng tiếng Scandinave. Ông có nên viết tên thật của Greta và Liisa trong sách của mình không? Không biết chừng bây giờ Liisa đã có cháu nội, ngoại rồi cũng nên. Bà ấy có bỏ nghề diễn viên không? Bà ấy có tiếp tục quan tâm đến văn chương Pháp không? Bà ấy có biết rằng, chàng trai trẻ làm phim ngày xưa từng hôn tới tấp vào vú bà trong khu phố buôn bán Merceria và trên cầu Rialto nay đã trở thành tác giả hơn một chục cuốn tiểu thuyết không? Khi gặp lại nhau ở Paris, vài tháng sau liên hoan phim Venise, họ đã la cà hàng giờ trong hiệu sách nhỏ của Bà Tschann và cửa hàng Hune. Có đúng là Greta đã biến mất giữa vùng Nam Ấn Độ như bà ấy thông báo trong một lá thư đóng dấu bưu điện ở thành phố Bénarès không? Bà ấy có nói thông thạo tiếng tamil không? Nếu không trở thành tiểu thuyết gia, ông có nhớ đến tất cả những thiếu phụ ấy một cách chính xác đến thế không, có thêm thắt về họ đến thế không? Dù sao thì ông cũng có biết gì nhiều về họ đâu. Ông chỉ bịa ra một phương châm để tuân theo: “Điều mà tôi đòi hỏi ở những người đàn bà mà tôi gặp gỡ là làm thế nào tạo hứng viết văn cho tôi.” Mười năm nữa, ông có còn nhớ đến Juliette Chavoz không, đến cái đêm ở Grenoble tuy không dữ dội như sấm chớp bằng cái đêm ở Venise cùng với Liisa Peltomaa nhưng lại dở dang hơn không – biết đâu chỉ vì vấn đề khung cảnh không thích hợp thôi – và ông có nên nêu chuyện đó trong một cuốn tiểu thuyết không? Nhưng mười năm nữa, ông có còn viết tiểu thuyết nữa không?

Ông mà cho nhân vật Weyerstein là một kẻ giết người hàng loạt thì bây giờ đâu đến nỗi phải sử dụng thói thoả mãn tai ác trước nỗi đau của người khác để làm cho chính mình đau, ông sẽ nhằm vào người đọc làm cho họ đau bằng cách mô tả những cảnh giết chóc mà ông chẳng thích thú chút nào, những cảnh mà xương sọ bị máy khoan xuyên thủng, mà óc bị cho vào máy xay, mà tuỷ sống rỉ nước bị trát lên tường, mà hành não bị nuốt trửng như con hàu người ta ăn gỏi. Mặc dù quan hệ giữa một kẻ giết người hàng loạt và người mẹ sinh ra hẳn là đề tài phong phú về mặt tâm lý dễ làm người đọc bối rối, nhưng đó cũng không phải là những gì ông muốn bàn đến trong cuốn Ba ngày ở nhà mẹ.

Việc chấp nhận mình đúng theo bản tính trời sinh, ông nhủ thầm, đòi hỏi một sự nhún nhường gần đúng như lời dạy trong Sách Phúc âm, và nếu ông đã học được ở các cha dòng Tên rằng tính nhún nhường chính là ở chỗ nhận thức được khoảng cách vô tận chia cắt triệt để chúng ta với Chúa, thì việc sáng tác cuốn tiểu thuyết này khiến ông cay đắng nhận thức được khoảng cách chia cắt ông với chính bản thân mình. Ông đâu còn là nhà văn tập tọng viết cuốn sách đầu tiên. Đáng lẽ ông phải hiểu, nói về những gì mình biết rõ còn khó hơn nói về tất cả những gì còn lại. Phải chăng Weyerstein là người giơ đầu chịu báng thay ông hay là người phát ngôn của ông?

Thay vì bắt đầu cuốn tiểu thuyết bằng cảnh nhảy van trong một phòng khách nhà tư sản, ông có thể lấy cảm hứng từ chuyến du lịch mà ông đã đi cùng với mẹ tới Canada cuối những năm tám mươi. Những lần phân vân do dự liên tục ấy khiến cho việc viết lách của ông cứ bị chậm trễ mãi và làm cho ông rất sốt ruột, mặc dù kinh nghiệm đã dạy cho ông biết rằng những ý tưởng nảy sinh đầu tiên hiếm khi được coi là hay nhất. “Chỉ có phút chót mới làm mình hưng phấn, còn những phút khác chỉ có nhiệm vụ chuẩn bị cho phút chót thôi”, ông tự nhủ - một cách nhìn cuộc đời tạo khoái cảm cực độ. Ông không muốn kết thúc như con lừa của Buridan[16] chết vì đói khát giữa một xô nước và một bó cỏ khô. Ông chỉ cần mở đầu cuốn tiểu thuyết với cảnh Weyerstein và bà mẹ đi tàu xuyên suốt từ Canada. Từ Montréal-Ottawa, tàu đã chậm mất một gờ. Sau khi vượt qua suốt chiều dài hồ Supérieur, họ đi hết ngày này sang ngày khác, hết cánh đồng lúa mì dài hàng cây số, cảnh nào cũng đều xa quá tầm nhìn. Khi tàu dừng lại tại một ga xép thuộ tỉnh Lanitoba, một ban nhạc truyền thống klezmer của người Do Thái Đông Âu đang biểu diễn, họ liền xuống san ga nhảy cùng với nhau bằng thứ tiếng yiddish. Mẹ ông có vẻ cảm tình với người thổi cla-ri-net. Ông mở đầu cuốn tiểu thuyết như vậy cũng đâu đến nỗi nào. Ông cầm tập giấy đầy nét gạch xóa lem nhem giơ ra trước mặt, chúng như lùi ra xa rồi nhòa đi, ông cố giữ cho mắt khỏi khép lại nhưng vô hiệu, ông ước ao mình có mí mắt thứ ba như một con chim ăn đêm, một câu tiếng La-tinh hiện lên trong ký ức ông, in mente est mihi dormire[17]… Ông không bao giờ chịu nủ trên tàu cả, ông sợ mình mà ngủ thì sẽ ngáy, sẽ rên rỉ hoặc bật ra tiếng thét kinh hoàng.

Ông trở về Paris, sau khi đã từ chối mọi lời mời của bạn bè đi chơi tám ngày ở Ibiza, mười ngày ở Toscane, mười lăm ngày ở Tyrol chỉ vì thích ba ngày ở nhà mẹ hơn! Ông cảm thấy bụng bắt đầu đau lâm râm. Ruột ông sôi ùng ục. Đáng lẽ ông không nên ăn cái món “thịt lợn hổ lốn” ấy – một cách nấu nướng từ thời trung cổ, đấy là lời giới thiệu của tay đầu bếp – cùng với mấy tay chủ hiệu sách ở Grenoble, nhóm người đã mời ông dùng bữa trưa. Vừa cố chống chọi với cơn buồn ngủ, ông vừa nhớ đến những chuyện rắm rít đã khiến ông hiểu ra nhiều điều mới mẻ mà ông đã đọc trong sách vở về đạo Phật. Nếu chẳng may cá nhà sư có nhổ đánh một phát rắm trong lúc đnag nghe giảng kinh, họ sẽ lấy việc đó làm đề tài ngẫm nghĩ về kiếp phù sinh và thoảng qua thay vì bịch mũi. Hôm nghỉ lại đền Eiheiji, ông đã ngủ trong một guest room, xung quanh toàn là người hành hương Nhật Bản nằm la liệt, và họ cứ mạnh ai nấy ngáy như sấm và đánh rắm bùm bụp mà không ngượng gì cả. Đang giữa đếm, trong ánh sáng đỏ mờ mờ từ một lò than hắt ra, ông tưởng như mình nằm mê khi thấy bộ mắt con quỷ trong kịch nó xanh lè lè, trong khi đó chỉ là một nhà sư được giao việc trông nom khách qua đường đến lay ông để mời một bát cơm: “On your feet, on your feet!”. Từ bao thế kỷ nay, người ta vẫn đánh chuông và gõ cổng đánh thức khách hành hương nghỉ lại đền Eiheji.

Ông giật mình choàng dậy, nhưng không phải do tiếng vang của chuông cổng mà do tiếng loa truyền thanh trong loa. Ông François vừa kịp tỉnh hẳn, tàu đã vào ga Lyon. Hành khách đã đứng lên và dồn hết về phía cửa toa như các tay đua xe Công thức 1, người nào người nấy tay cặp tài liệu, tay điện thoại di động, tư thế sẵn sàng chiến đấu để tranh thủ được một vài giây trong cuộc chạy đua về phía bên taxi. Đặt chân xuống sân ga, ông mới nhận thấy nơi này thiếu cái gì. Thiếu tác phẩm điêu khắc. Phải đặt tượng ở khắp nơi, bằng cẩm thạch, bằng đồng, tượng người cưỡi ngựa, tượng sư tử bị thương, tượng đàn bà khỏa thân. Các bức tượng im phăng phắc sẽ tương phản với cảnh đi lại náo nhiệt xung quanh. Chỉ cần vào các kho tác phẩm nghệ thuật của viện bảo tàng Orsay là có ngay. Ít ra thì người ta cũng được ngắm chúng và sân ga sẽ không cong là một nơi mà người ta muốn tống khứ hành khách đi càng nhanh càng tốt bằng cách niêm yết giờ tàu chạy hoặc gần biển hướng dẫn lối ra. Một đề tài viết báo hay đáo để. Túi du lịch của ông có vẻ nặng hơn ở ga Grenoble. Ông phải về ngay để gặp bà Daphné. Đêm qua, ông có phản bội bà ấy không? Một lần, bà đã thổ lộ tâm sự với ông “Chúng ta sống chung với nhau lâu đến thế là nhờ những chuyện lăng nhăng điên rồ của ông đấy. Ông chỉ yêu mỗi một mình tôi thì quan hệ của chúng ta đâu có bền đến thế được. Một tình yêu nồng nàn quá mức sẽ gây áp lực cho tôi, khiến tôi nghẹt thở mất. Nhưng ông đừng tưởng như thế là tôi đã hạnh phúc nhé, rắc rối là ở chỗ ấy đấy”. Bà Daphné muốn nói gì thì nói, nhưng nếu ông dành bao nhiêu công sức đã bị mất và phí hoài vào những chuyện tình vờ vịt từ ba mươi năm nay chỉ để yêu một mình bà Daphné thì bây giờ cả hai có hạnh phúc hơn không? Ngồi trong chiếc taxi vừa chạy ngang qua quảng trường Bastille và đang đi vào phố Saint-Antoine, ông nghĩ bà Daphné tươi tắn mãn nguyện như thế là nhờ có ông, nhưng rồi ông lại tự trách mình quá tự phụ. Cứ làm như hạnh phúc của ai đó phụ thuộc vào một người duy nhất ấy! Ông có phản bội bà Daphné không? Ông có ngủ với ai ở Grenoble đâu, ông chỉ mới vuốt ve và hôn hít vú Juliette thôi đấy chứ, cô nàng bạo thật, dám hỏi ông có thấy vú mình to quá không! “Đến Lễ Giáng sinh, em sẽ tậu cho mình một cặp khác đẹp hơn, em đã có tên trong sổ hẹn của một bác sĩ ngoại rồi.” Một cô gái mảnh khảnh nhưng vai rộng như con trai và vú rất to, làm phẫu thuật và biến mình thành tầm thường vô vị là tùy cô ta thôi – một cô gái mà dù sao ông cũng sẽ quên trong vài ngày tới.

Gần mười hai giờ rưỡi đêm. Chloé đứng lên chào cha mẹ, đã đến lúc cô phải về. Chỉ còn mấy tiếng nữa máy bay của cô sẽ cất cánh. Cô đi xa hai tháng, thế mà đến giờ vẫn chưa sửa soạn va li gì cả. Thôi được, cô sẽ ngủ bù trên máy bay vậy. Hai chị em cùng nhau ra khỏi căn hộ của cha mẹ. Mặc dù khá mệt, ông François vẫn xuống đường cùng với các con, tiễn họ đến bến taxi và lấy bao thuốc lá ra ghi biển số của cả hai xe, ông có một thói quen này từ hồi hai con gái còn trẻ, và sau đó nhất định ông sẽ gọi điện thoại kiểm tra xem họ đã về đến nhà an toàn chưa.

Ông thì lại hay đi Québec vào mùa đông. Bán đảo Labrador và vùng phía bắc Québec rộng bao la phủ tuyết trắng xóa, ông đã nhiều lần bay qua và mải mê quan sát cho đến khi băng bám vào ô cửa kính dày đặc và viên chỉ huy phi hành đoàn thông báo máy bay sắp hạ cánh xuống Montréal mới thôi, ông vẫn chưa tưởng tượng được cảnh tượng ấy vào giữa tháng Sáu sẽ như thế nào. Khi ông về đến nhà, bà Daphné đã lên giường. Ông thay một cái áo dệt ngắn tay để che giấu những vết bầm tím rồi lăn ra giường bên cạnh bà.

Hôm sau, máy điện thoại trả lời tự động dành riêng cho ông trong căn hộ (bà Daphné có một đường dây khác) báo có tin nhắn. Ông nghe thấy tiếng Juliette Chavoz : “Em mong là người đáng tin cậy như ông đã mua một chiếc điện thoại di động. “Cậu hài lòng với máy tính của mình chứ? Ông hỏi người bán hàng, thế thì cho tôi mua một máy giống như của cậu.” Ông bắt đầu khám phá thế giới tin nhắn bằng chữ, tin nhắn điện tử hay tin nhắn truyền hình – không ai tìm được tên gọi ra hồn cả - texto hay Sms[18]. Juliette còn nghĩ ra động từ “bấm nhắn” và tin “bấm nhắn” đầu tiên của cô ta là: “Ông hãy thuộc về em!” Ông khuyên cô mua một cái máy fax, theo ý ông, phương tiện thông tin liên lạc này tế nhị hơn và ngay cả máy tính và e-mail ông cũng không tin lắm (mà ở Québec, người ta gọi là emile, Chloé đã nói cho ông biết như vậy), huống chi điện thoai di động. Nhưng rồi cuối cùng, mấy tháng tiếp sau đó, ông vẫn phải sử dụng điện thoại di động, thậm chí còn lạm dụng nữa.

Nội dung bản fax đầu tiên của Juliette chỉ toàn chuyện ham muốn tình dục, trong đó cô khẳng định lòng mình đã quyết yêu ông và được ông yêu, cô kể về những ảo giác, về cái thú thủ dâm nhưng lại dùng cụm từ “tự vuốt ve mình” mà cả ông François lẫn Viện Hàn lâm Pháp đều không chấp nhận. “Còn những người không bao giờ vuốt ve nhau thì em thấy khó mà tin tưởng được.” Cuối bản fax là dòng chữ : “Ông Graffenberg, ông cứ nhìn đàn bà con gái và cùng lên đi.” Trong tám ngày liền, họ đã gửi cho nhau không biết bao nhiêu tin nhắn trên điện thoại di động, vì thế nỗi khát khao làm tình càng lúc càng mãnh liệt hơn cả hai phía, thế là ông François không thể kìm lòng được nữa và lại lên tàu đi Grenoble. Khi xuống tàu, ông mua một vài chai whisky mini – lại một từ mà ông rất ghét. Juliette đã chờ ông trên sân ga, và hai người vừa mới ra ngoài phố, ông đã cuống quýt luồn tay vào váy vuốt ve mông cô, còn cô thì phản đối bằng cách dọa mở khóa kéo cửa quần ông và lôi đuôi ông ra trước mặt người đi đường. Căn hộ vắng lặng, không thấy bóng dáng boyfriend của cô đâu nữa, Juliette lôi tuột vào phòng ngủ: “Chúng ta khai trương tấm nệm mới nào, người giao hàng vừa mang đến sáng nay. Nghe nói, nó có tính đàn hồi tốt lắm, dù mình có cựa quậy mạnh đến đâu, nó vẫn kết thành một khối với cơ thể mình. Quà của cha em đấy.” Quái lạ, sao cô nàng thích từ kết thế không biết, kết hôn, kết duyên…Giát lò xo thì giống như chiếc thảm bay, còn nệm thì có tên là Mê hồn, chỉ có một người cha đang tìm kiếm con rể mới bỏ ra một gia tài để sắm sửa như vậy. Cô có chắc là không còn ai khác cầm chìa khóa nhà không? Ông François chợt lo ngại hỏi Juliette. “Ông yên tâm, bồ em đã bỏ đi thật rồi, nhưng không phải em không tìm cách níu kéo hắn một chút đâu đấy nhé.”

Sáng hôm sau, đang nằm trần truồng trên tràng kỷ, Juliette bảo ông ngồi xuống chiếc ghế cách đó hai mét và thủ dâm cho cô xem. Hai người nhìn thẳng vào mắt nhau một lúc khá lâu, sau đó ông François lên tiếng hỏi trước: “Cô đang nghĩ gì thế?” – Không nghĩ đến ông đâu, - Cô quên tôi rồi sao? – Quên từ lâu rồi. Em đang nghĩ đến một người đàn ông khác chứ không phải ông. Em thèm muốn anh ta ngay từ khi vô tình gặp ngoài phố chiều hôm qua.” Ông François lập tức xuất tinh. Cô vừa đưa ông vào thế giới ảo giác, và việc này làm cả hai người hưng phấn cao độ trong mấy tháng liền. Cô ta sẽ làm tình với những người đàn ông khác rồi về kể cho ông nghe, với điều kiện ông phải tuyệt đối chung tình: “Em sẽ xin phép ông hẳn hoi. Làm tình với người khác mà biết rằng ông chấp nhận, và cả nghĩ lại cả chuyện ấy khi hưởng lạc với ông nữa, sẽ khiến em đạt được khoái cảm gấp bội.”

Sau bốn ngày không bước chân ra khỏi căn hộ và hầu như không mấy khi xa rời cái đệm, chỉ trừ những lúc mở đồ hộp hay cùng nhau vào buồng tắm, ông François phải trở về Paris. Ông về gặp một nhà xuất bản để đòi họ ứng trước một số tiền nữa, vả lại, ông còn có một buổi hẹn làm việc không thể trì hoãn được ở Kho bạc quận nhà. Viên kế toán Kho bạc mời ông có mặt tại văn phòng ông ta để giải quyết vấn đề sau: nghiên cứu hồ sơ liên quan đến việc nộp thuế thu nhập của ông trong ba năm vừa qua”. Xong việc một cái là ông sẽ quay lại Grenoble ngay. Trên đường ra ga, ông dỗ khéo Julitte rằng cô có cặp mông xinh xinh dễ thương làm ông mê mẩn, cô đáp gọn lỏn: “Thế thì hay quá, ông sẽ không được biết cặp nào khác nữa đâu.”

Ông không có hành lý, vì vậy vừa xuống ga Lyon, ông đã lên tàu điện ngầm để đến quán Montalembert đúng hẹn, vào ở đó ông sẽ bàn chuyện tiền nong với một nữ nhân viên nhà xuất bản đang có ý định mời ông viết một cuốn sách để góp vào bộ sưu tập cô vừa tạo lập. Đúng lúc ông vừa nghĩ ra được một chủ đề khả dĩ chấp nhận được cho cuốn sách ấy – ông đề xuất tên “Cuộc Gặp gỡ” – thì điện thoại di động rung trong túi áo vét. Đó là một tin nhắn của Juliette: “Em vừa dốc cạn chai whisky mini cuối cùng, nhưng em thích hương vị tinh dịch của ông hơn.” Ông đang đưa ra một con số, bao nhiêu frăng thì thành bao nhiêu ơ-rô, nhận ngay lập tức là bao nhiêu, khi bàn giao bản thảo là bao nhiêu, thì lại có thêm ba tin nhắn nữa: “Ông tới khoan thủng cửa em đi, lấp miệng em bằng mọi cách đi. Ông đóng cọc vào em đi, cày xới với em đi, em thèm muốn ông đến phát điên rồi”. “Chúng ta vừa cười vừa làm tình nhé, làm một cách say đắm, chậm rãi, mãnh liệt. Thân hình ông, môi ông, em yêu ông” và “Ông nói em là vợ ông đi. Em mê mút đuôi ông lắm.”[19]

❀ ❀ ❀

[1] John Hunt: (1910-1998) Nhà thám hiểm leo núi người Anh cùng với một người New Zealand là Edmund Hillary (1919-…) và một người Nê-pan là Norgay Tenzing (1914-1986) đã chinh phục đỉnh Everest lần đầu tiên trên thế giới năm 1953.

[2] Charly Gaul: (1932 – 2005) Vận động viên đua xe đạp leo núi người Luxembourg. Annie Kubler: Tác giả nhiều truyện tranh trẻ em, Hugo Koblet: (1925 – 1964) Vận động viên đua xe đạp người Thuỵ Sĩ, Graham Green: (1904 – 1991) Nhà văn Anh, Raymond Queneau: (1903 – 1976) Nhà văn Pháp chủ trì nhóm soạn Bách khoa thư Plèiade, Giorgio La Pira: (1904 – 1977) Thị trưởng Florence khoá 1951 – 1958 và 1961 – 1965, Jean Renoir (1894 – 1979) Nhà làm phim Pháp, con trai hoạ sĩ Auguste Renoir, Vladimir Horowitz (1904 – 1989) Nhạc sĩ dương cầm Mỹ gốc Nga, Hergé (1907 – 1983) Bút danh của George Reno, người Bỉ, tác giả truyện tranh Tintin… Sydney Bechet (1897 – 1959) Nhạc sĩ nhạc Jazz người Mỹ, thổi cla-ri-net, Gary Cooper (1901 – 1962) Ngôi sao điện ảnh Mỹ, được 2 Giải thưởng Hàn lâm vai nam chính xuất sắc năm 1941 và 1952.

[3] Hector Belioz: (1803 – 1869) Nhà soạn nhạc Pháp, sinh ở tỉnh Isère, đại diện xuất sắc của nền âm nhạc lãng mạn Pháp, sáng tạo loại giao hưởng trữ tình có tiêu đề.

[4] VTT: (Velo Tout Terrain) Xe đạp đi được trên mọi địa hình.

[5] Green Car: Tàu cao tốc hạng nhất ở Nhật, vải bọc ghế và trang thiết bị màu xanh lá cây, vé đắt gấp rưỡi, nhiều khi chỉ có vài ba hành khách.

[6] Emotional: Dễ xúc động (tiếng Anh).

[7] Joseph Beuys: (1921 – 1986) Nhà điêu khắc Đức, nhà biểu diễn nghệ thuật sắp đặt. Cy Twombly: (1928 - …) Hoạ sĩ, nhà điêu khắc Mỹ.

[8] Swami Sivananda: (1887 – 1963) Bác sĩ, năm 1924 xuất gia, trở thành nhà Ấn độ giáo đạo cao đức trọng, kiến thức uyên thâm thuộc hàng giáo phẩm cao, tác giả một số sách về yoga, tôn giáo và Triết học

[9] Johann Eckhart: (1260 – 1327) Thầy tu dòng Đô-mi-ních, triết gia thần bí. Triết học của ông có khuynh hướng phiếm thần nên bị Toà thánh cấm.

[10] Bunraku: Hình thức nhạc kịch rối, con rối cao to gần như người thật, mỗi con rối do hai hoặc ba người trên sân khấu điều khiển, trong khi người đọc lời thoại và kể chuyện thì đứng đằng sau sân khấu.

[11] Moksha: Phép cứu là phương pháp điều trị vật lý cổ truyền ở Viễn Đông, dùng nhiệt của mồi ngải đốt cháy tác động lên huyệt hoặc vùng có liên quan đến chứng bệnh để điều khí và giảm đau (xuất xứ từ tiếng Nhật mogusa tức là cây ngải mà cành mầm có thể dùng làm chất đốt).

[12] Campiello: (Tiếng Ý) Một bãi đất trống trước một ngôi nhà nằm cách xa một đường, khá khuất vắng, rất tiện để các cặp trai gái tâm sự.

[13] Sottoportica: (Tiếng Ý) Dưới một cửa vòm hay hàng hiên.

[14] Greta, tôi nhớ em nhiều lắm. Greta xinh đẹp! (tiếng Na Uy nhưng nói không chính xác lắm).

[15] Thưa cô, danh mục mà ta đang nói đến… (tiếng Ý).

[16] Buridan: (1300 – 1358) Triết gia, một thời làm hiệu trưởng trường Đại học Paris, được coi là người nghĩ ra luận chương Con lừa của Buridan, nói về kẻ có hai việc cần làm ngay nhưng không biết chọn lựa nên cuối cùng hỏng cả hai việc.

[17] in mente est mihi dormire: (tiếng La-tinh) Về tinh thần thì tôi đã ngủ rồi.

[18] Texto: Tin nhắn bằng chữ hiện trên màn hình điện thoại. S.m.s: (Short Message Service): Dịch vụ nhắn tin ngắn.

[19] Chú thích của Francois Weyergraf : Dứt khoát tôi không thể phát triển mối quan hệ giữa Granffenberg và Juliette Chavoz trong cuốn sách viết về mẹ tôi được, nếu không thì chướng lắm, Juliette chỉ thích hợp với vai trò nhân vật nữ chính trong một chương cuốn Chuyện ăn nằm lang chạ thôi. Tôi thích đoạn trên tàu nói về lũ đà điểu, nhà sư ở đền Eiheiji, chuyến đi Canada cùng với bà mẹ. Cách đây khá lâu, hình như năm 1970 thì phải, tôi cũng đã một mình đáp chuyến tàu ấy. Hồi ấy, tôi mới hai mươi tám hay hai mươi chín gì đó, tới ra sức thuyết phục Caroline đi cùng, đó là một cô gái người Québec cùng tuổi tôi, nhưng cô ấy không có tiền lấy vé và cương quyết từ chối khi tôi ngỏ ý muốn mua tặng: đó là hậu quả đáng tiếc duy nhất mà chủ nghĩa nam nữ bình quyền làm ảnh hưởng đến đời tư của tôi. Tôi vẫn còn giữ toàn bộ thư từ và tấm bản đồ đường bộ mà cô ấy gửi cho tôi: “Để anh theo được em cho đến hồ Serpent bằng cách đi qua thành phố Hull và Birmingham, hai cái tên tiếng Anh dở vô cùng. Em muốn rẽ vào Saint-Ours, Contrecoeur, Venise-en-Québec, Pointe-Calumet, Saint-Zotique, Sainte-Emilie-de-l’Energie và ngay cả Grand-Remous để làm anh vui, nhưng đi vòng vèo như thế sẽ mất quá nhiều thời gian và vô ích. Đi một mình thì còn gì vui nữa.” Tôi còn nhớ, tôi muốn cô ấy và tôi cùng tới Grand-Remous chỉ vì tò mò với cái tên lạ ấy. Tôi phải tìm lại những ghi chép của mình về tuyến đường sắt xuyên Canada mới được, phần lớn hành khách chịu chấp nhận năm ngày ngồi tàu chỉ vì sợ máy bay. Toa phục vụ ăn uống thì lịch sự không chê vào đâu được, đĩa chén đều bằng sứ, dao dĩa bằng bạc, sau này toàn bộ đã được mang ra bán đấu giá. Kể cũng ngược đời, ngồi trên tàu hỏa mà mình cứ có cảm giác lênh đênh như tàu thủy. Dễ chịu quá đến nỗi tôi còn thầm cầu mong : “Thế nào cũng được, miễn là tàu không bao giờ đến nơi.” Tôi sẽ giữ mãi kỷ niệm tuyệt diệu về những giờ phút con tàu chạy dọc theo vũng Grands Lacs. Tôi đã có đủ thời gian đọc gần hết bộ Omnibus Simenon đóng bìa cứng, hơn một chục tập mà tôi đem cho hết trước khi quay về lãnh sự quán Pháp tại Vancouver.

À MẸ Nguyên tác: Trois jours chez ma mere ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của François Weyergans

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.