Ba Ngày Ở Nhà Mẹ

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 2 -

❊ ❊ ❊

Tôi phải viết cho xong ít nhất một trong số những cuốn sách mà các nhà xuất bản đang chờ mới được, cuốn nói về nghệ thuật nhảy múa (mà tôi nói về việc Socrate, trong tác phẩm Yến tiệc của Xénophon, tỏ ý muốn học nhảy múa), một chuyện tình diễn ra trong thời kỳ Đế chế II[1], một bài viết về Husserl và Descartes (mà chắc chắn là sẽ thành một thứ gì đó khác hẳn), một tuyển tập các bài viết mà tôi đã xuất bản, một tiểu luận về các bản cho bộ tư của Beethoven (nhờ có sách của Joseph Kerman[2], tôi mới viết nổi), Chuyện ăn nằm lang chạ, tất nhiên, và cuối cùng là cuốn nói về núi lửa. Thế nào tôi cũng sẽ làm cho các nhà xuất bản gặp rắc rối mất thôi, mặc dù họ đã nhẫn nại chịu đựng tôi lắm rồi. Trong cuốn sách viết về núi lửa, tôi sẽ tả xác người bị sóng địa chấn làm cho bật ra khỏi lăng mộ. Thi thể mới chôn lẫn với xương khô phóng lên trời như chùm cuối cùng của một cuộc bắn pháo hoa rùng rợn. Tôi cũng sẽ tả cảnh biết bao gia đình nông dân chạy tán loạn, rồi lần lượt đến đám này đến đám khác bị làn sóng dung nham cao hơn một trăm mét đuổi kịp. Tôi có thể bắt đầu bằng cách kể về Callao - thành phố cảng ở Peru mà nhân vật Tintin trong truyện tranh Ngôi đền Mặt trời, sẽ lên bờ hai thế kỷ sau - bị tàn phá như thế nào, sóng thần hung dữ đến nỗi hất khoảng một chục tàu thuyền neo ở bến cảng tung lên không trung. Chúng bay vèo qua bầu trời, trông chẳng khác gì những con chim di cư khổng lồ, trong lúc chuông báo động réo liên hồi. Sau đó, người ta tìm thấy chúng nằm chỏng chơ trong đất liền, cách xa bờ biển đến hàng cây số. Không hiểu các con thuyền chiến ba cột buồm Tây Ban Nha bay lượn như vậy có phải là hiện tượng hy hữu hay chỉ là tưởng tượng trong văn học?

Hoàn cảnh dẫn đến việc ký bản hợp đồng cho cuốn sách nói về núi lửa còn thú vị hơn cả đề tài cuốn sách. Hai tiếng trước đó, tôi còn chưa nghĩ đến. Đó là tháng Hai năm ngoái, trong thời gian diễn ra Hội chợ Sách. Tại quán bar ở khách sạn Costes, tôi tình cờ gặp ba người Ý làm xuất bản và hai người buôn bán sách từ Barcelone tới. Họ đều nói tiếng Pháp không chê vào đâu được. Đáng lẽ chúng ta nên gọi ngay một lần mấy chai sâm banh mới phải, như thế đỡ tốn hơn là gọi từng này cốc, tôi nói với bọn họ. Ông người Tây Ban Nha mà tôi cứ tưởng là chủ hiệu sách ở Barcelone nhưng hóa ra lại là đại diện một nhà xuất bản ở Madrid vừa thanh toán tiền rượu vừa nói: “Nhưng cô hầu bàn kia xinh xắn và dễ thương quá, trông cô ấy đến bàn chúng ta phục vụ mà cứ như đang bước trên sàn diễn thời trang của một nhà tạo mẫu nổi tiếng, chúng ta mà gọi ngay một lúc mấy chai thì có phải ít được dịp ngắm cô ấy hơn không.” Sau đó, ông ta hỏi xin giấy trắng và sang ngồi bàn bên cạnh hí húi viết gì đó. “Anh đã bắt đầu viết Hồi ký rồi đấy à?” bà vợ ông ta hỏi. Đã hai giờ sáng rồi mà ông ta vẫn bắt tay vào việc thảo bản hợp đồng với tôi.

Để kỷ niệm buổi tối đặc biệt ấy, tất cả những người có mặt đều muốn ký tên mình dưới chữ ký của tôi, nhưng sau đó thì chỉ có một mình ông làm ở nhà xuất bản Tây Ban Nha ký tờ séc thôi, Chắc là, khi thấy đó là tờ séc thanh toán bằng đồng ơ-rô do một ngân hàng ở Zurich phát hành, tôi đã không giấu nổi vẻ bực bội. “Tôi đảm bảo với ông là đã lâu lắm rồi, tôi không đồng ý cho khấu trừ nợ nhiều thế này đâu”, người đại diện cho nhà xuất bản mà tôi mới ký kết hợp đồng thấy vẻ thất vọng hiện rõ trên mặt tôi vội lên tiếng an ủi, thế mà tôi đã vội mừng thầm là tài khoản của mình sẽ bị khấu trừ chậm hơn nếu là tờ séc thanh toán bằng đồng ơ-rô. Một trong hai người Ý nói đùa với tôi: “Ông đã bắt đầu lo sợ phải để giấy trắng rồi đấy!” Tôi đành nở một nụ cười để cho ông ta tin là câu nói đùa của mình có duyên lắm.

Tôi làm thế nào mà mới nói sơ sơ về đề tài núi lửa, họ đã hứng thú đến mức ký ngay hợp đồng? Khởi đầu, một trong hai người Ý nói vài lời về núi Vésuve hay Etna. Người thứ hai vừa từ quần đảo Lipari về. Tôi cũng nhảy vào góp chuyện và thao thao ca ngợi các vườn nho trồng trên đất núi lửa: “Rượu nho ở quần đảo Lipari ấy ư, phải nói là mang nhiều hương vị phương đông nhất nước Ý. Vừa uống vừa nhắm mắt mới tuyệt. Có thế mới tưởng tượng được các thị tỳ Thổ Nhĩ Kỳ!” Tôi nói huyên thuyên như vậy một hồi, kể ra thì cũng không được lịch sự lắm nhưng tôi thấy cử tọa cứ ngây người ra nghe. Tôi còn hứng lên kể cho họ nghe quá trình quay phim Stromboli của đạo diễn Rossellini mà vai nữ chính là Ingrid Bergman. Họ mới chỉ biết tên bộ phim này thôi. Giới điện ảnh Hollywood không thể hiểu nổi, vì lý do gì mà một ngôi sao như Ingrid Bergamn lại từ chối tiền nghìn bạc vạn để diễn trên một ngọn núi lửa, mà phim ấy lại do một người Ý không có khái niệm gì về ngân sách và kế hoạch làm việc đạo diễn. Đó là chưa kể Ingrid còn bỏ rơi cả con gái lẫn chồng! Mới đầu, Rossellini định viết vai đó cho Anna Magnani, người tình của ông ta, nhưng sau khi phải lòng Ingrid Bergman, ông đã giao cho cô mà không đắn đo suy xét gì cả. Khi biết chuyện, Magnani đã hất cả một đĩa mứt vào mặt ông, ngay giữa quán ăn, và quyết định đóng một phim mà cốt truyện cũng diễn ra trên một ngọn núi lửa. Đó là phim Vulcano, khung cảnh là một hòn đảo khác thuộc quần đảo Lipari, chỉ cách nơi đang quay Stromboli có hai giờ chạy tàu biển thôi. “ Một cái tên hay cho cuốn sách của ông đấy, Volano!” Tôi cũng hoàn toàn nhất trí với ý kiến ấy. Và đó chính là tên tạm thời được ghi trong bản hợp đồng.

Trong cuốn sách ấy, cuốn bất ngờ nhất trong kế hoạch của tôi, tôi không có ý định viết vòng vo dài dòng mà sẽ bắt chước giọng văn nhẹ nhàng và lạnh băng của các cộng tác viên tham gia làm bộ Địa lý thế giới mà Vidal de la Blade[3] đã khởi thảo. Tôi sẽ tha hồ biểu lộ xung năng khoái trò độc ác, tôi sẽ tha hồ biểu lộ tính hung hăng cầu mong những kẻ quấy rầy và ngăn cản tôi làm nhưng gì tôi thích biến quách đi cho rảnh nợ, chẳng hạn như thằng bé chiều hôm nay tập chơi bộ nhạc khí gõ trong tòa nhà tôi ở, cả nó lẫn bà mẹ cứ đần mặt ra vì thán phục cậu con trai duy nhất mà bà ta đã tưởng là tài hoa như hai tay trống nổi tiếng người Mỹ Kenny Clarke và Art Blakey cộng lại. Nếu chẳng may mà một thằng bạn nó lại lò mò đến, vác theo cả một bộ trống conga và mấy khúc gỗ nữa thì tôi sẽ ra sao, công việc của tôi sẽ ra sao? Thích gõ đập chứ gì? Cứ việc thoải mái, nhưng ở ngoài trời hay đến vùng Ca-ri-bê mà gõ thì được! Tôi sẽ không bao giờ yêu đồng loại như bản thân mình cả, và cái thằng nhóc tì mười tuổi mà tôi vẫn chào hỏi tử tế khi gặp nó ở cầu thang không thể là một ngoại lệ dược. Tôi không đến nỗi độc ác tới mức mong cho nó biến mất trong một trận động đất - nó làm tôi nhớ đến cái thằng bé là tôi ngày xưa quá chừng - nhưng ít ra thì nó cũng phải dọn nhà đi chứ! Tôi sẽ xung phong chuyển giúp nó toàn bộ đống cồng chiêng, trống phách đi. Và nó cứ việc dẫn theo cả ông thày dạy nhạc, kẻ đã nhồi vào đầu nó những luận điệu vớ cẩn thông thường về nhịp điệu và sức sống. Nhưng cách tốt nhất là dỗ dành mẹ nó, một thiếu phụ trẻ mặt mũi dễ coi, và thuyết phục bà ấy cho con trai học hội họa để trở thành một họa sĩ lớn. Cây cọ lướt êm ái trên vải cũng sẽ giải phóng được sức sống cơ mà.

Đã trót nói vỗ vào mặt người ta rằng, con trai người ta làm phiền tôi lắm, giọng lại còn gay gắt nữa, thế mà bây giờ lại định nhún mình lấy lòng người ta thì kể cũng khó. Đầu buổi chiều, tôi vừa mới dậy để chuẩn bị làm việc thì nhạc sĩ thiên tài tương lai cũng bắt đầu lao vào công cuộc tìm kiếm phần sức sống vũ trụ của mình. Đòn độc tấu ấy tra tấn từ mười lăm đến mười tám giờ. Nhưng đến hai mươi giờ thì tôi lại phải khổ tai một lần nữa: Art Blakey trên tầng năm định mở mang đầu óc cho dồn dập của vùng Tây Phi. Chẳng lẽ giờ giấc của tôi lại phải phụ thuộc vào cái thằng bé vắt mũi chưa sạch ấy? Mà nào có phải chỉ một mình nó thôi đâu! Còn ba thiếu niên khác nữa, cứ tan học là chúng lại về làm loạn trong sân, ngay dưới cửa sổ căn hộ của tôi. Bọn này thì lại khác, trò chơi ưa thích nhất của chúng là bóng đá. Thế là chúng cứ sút, cứ bắt bóng, cứ hò hét ầm ĩ, rồi chúng cứ đá vào lưới. Chúng tôi có vui lòng dọn đến căn hộ nhìn xuống sân sau này đâu. Cái chính khiến chúng tôi quyết định là không khí yên tĩnh, tôi dám nói là như vậy.

Sau khi ký hợp đồng thuê nhà, tôi còn nói với bà Delphine: “Bà đừng lo, chúng ta sẽ không ở đây lâu đâu, chỉ trong thời gian tôi viết xong cuốn tiểu thuyết tiếp theo thôi”. Ngay cả toàn bộ các thùng bìa đựng đó, chúng tôi còn chưa dỡ nữa kia. Hai vợ chồng tôi khổ tâm lắm khi phải rời căn hộ cũ, nơi hai con gái chúng tôi đã lớn lên, một căn hộ rộng rãi, thoáng mát với năm cửa sổ sát đất mở ra ban công chấn song sắt rèn nhìn ra một khung cảnh xanh tươi um tùm và bầu trời bao la. Đến bây giờ tôi mới thấy tiếc ông hàng xóm ngay ban công sát cạnh. Tự nhiên giữa đêm khuya ông ta lại ra ban công lắp mấy cái loa rồi vặn âm lượng lên mức cao nhất và đứng khóc nức nở, bắt cả phố phải nghe toàn bộ các bản giao hưởng của Tchaikovski. Đến những phần chậm rãi, ông ta khóc to hơn một chút, nhưng khi đến cuối Bản Giao hưởng thứ Sáu thì ông ta còn phá kỷ lục của chính mình đến mức rên la rầm trời và từ đó mới giúp tôi hiểu tại sao người ta lại đặt tên cho bản giao hưởng ấy là Thống khổ. Thỉnh thoảng, cảnh sát mới đến can thiệp. Bộ loa lập tức bị ngắt điện. Tôi đành phải sắm một bộ tai nghe để được thưởng thức những bản nhạc mà tôi tự chọn trong những bữa dạ tiệc âm thanh của ông ta. Tôi phải nói khéo với ông hàng xóm, ra sức ca ngợi bộ tai nghe và ngỏ ý muốn tặng ông ta một bộ, nhưng ông ta chỉ thích thú mỗi một việc là làm dân phố giật mình thức giấc giữa đêm. Đó là một người đàn ông kiệm lời khoảng hơn năm mươi tuổi, biết tôi là nhà văn viết tiểu thuyết, và chúng tôi đã chuyện trò sôi nổi về nhà văn Léon Bloy, từ ban công bên này nói với sang ban công bên kia. Rồi một hôm, ông ta bị xe cấp cứu đến đưa đi, và từ đó, dân phố không được nghe nói gì về ông ta nữa. Một vài tuần sau, một cặp vợ chồng trẻ kèm theo một thằng con trai hay khóc nhè ra ban công bày mấy chậu hoa mỏ hạc, đúng ở chỗ trước kia đặt bộ loa.

Tôi tuyên bố: “Tôi viết xong cuốn tiểu thuyết này thì chúng ta lại dọn nhà.” Viết xong ư? Nhưng muốn viết xong thì phải bắt đầu đã. Kết quả là: năm năm rồi mà chúng tôi vẫn ở đó. Năm năm rồi mà tôi chẳng cho xuất bản thêm được quyển nào cả. Bọn trẻ con trong tòa nhà này đã lớn và bỏ xó hết lúc lắc để chuyển sang chơi còi trọng tài và quả bầu khô có hạt hay sỏi bên trong. “Tôi nghe nói, ở châu Phi, làng mà không có nhạc là một làng chết.” Mẹ của Art Blakey tương lai đốp lại tôi. Cứ cho bà ấy sang đó giã sắn trong một làng châu Phi chứ không phải đi mua sắm đồ ăn ở cửa hàng Lafayette Gourmet xem. Lúc đó, bà ta có còn dạy con rằng âm nhạc, của nhóm dân tộc Dogon ở Tây Phi chẳng hạn, khuyến khích sự gần gũi về thể xác nữa không?

Cứ như thể chỉ cần dọn nhà thôi là tình hình sẽ được cải thiện không bằng! Trong căn hộ mới ấy, tôi đã đặt một tấm ván lên hai cái mễ và hạ quyết tâm viết mỗi ngày khoảng một chục trang. Tôi đi cùng với Delphine đến cửa hàng Kitchen Bazaar, Habitat, Darty và Dehillerin chọn một lò nấu ăn mới, một chiếc tủ lạnh mới và một lô dĩa chén cũng mới nốt. Đã hơn năm mươi tuổi đầu rồi nhưng chúng tôi vẫn thích chơi trò vợ chồng mới cưới đi sắm đồ. Thế mà mấy tháng trước, suýt nữa chúng tôi đã ly hôn. Lấy cớ không khí yên tĩnh thì mới viết được, tôi đã thuê căn hộ một phòng để tiện tiếp một thiếu phụ trẻ, đôi lúc tiếp cả đêm nữa. Đáng lẽ phải hiểu rằng mối quan hệ này sẽ không bền lâu, Delphine lại tưởng tượng ngược lại, và nếu nói thật lòng, tôi phải thú nhận là mình cũng vậy. Chẳng lẽ bà ấy chưa đọc cuốn Thuật Yoga nhằm đạt được lòng trắc ẩn, trong đó một viên chức Đài Loan kể rằng, mẹ ông ta, sau hai mươi năm làm vợ hiền, đã không hề do dự khi tự mình chọn cho chồng hai nàng hầu trẻ đẹp, một câu chuyện mà chỉ có phần đầu là mang tính cảm hóa thôi. Sau đó, ông chồng lại sinh ra si mê một cô trong khi vẫn không tha cô kia, và mấy tháng sau, bà vợ qua đời vì quá đau buồn. “Cha tôi khổ sở nhất, ông con trai kết luận, không phải vì mẹ tôi mất mà vì trong vài tuần, ông phải tuân thủ tục lệ, không được ăn nằm với các nàng hầu.”

Ba tháng sau, tức là đang là mùa xuân, một ngày Chủ nhật đẹp trời, Delphine đến giúp tôi thu dọn những cuốn sách mà tôi đã góp nhặt dần và vài thứ quần áo không hợp với tôi chút nào, bà ấy nhận xét như vậy và tỏ vẻ không tin - bà ấy không tin tôi cũng phải - khi tôi thề rằng tôi đã đi mua một mình, đặc biệt là một chiếc áo choàng mặc trong nhà bằng vải xốp màu san hô, trông xấu xí đến nỗi rõ ràng là tôi chỉ có thể mua trong một lúc cô đơn khủng khiếp và tuyệt vọng đến cùng cực mà thôi.

Trong ba tháng ấy, tôi đã phát hiện ra là bà Delphine là một siêu sao lý sự, nhưng điều này vẫn chưa thấm vào đâu so với những gì mà hai năm sau chúng tôi phải trải qua, khi tôi từ Bruxelles về. Ở đó, tôi đã gặp Katlijine, một cô gái Hà Lan thích chơi trò “Người Đàn bà và con Rối[4]” với tôi. Tôi phải nhờ vào bùa đạo Lão mà người ta gọi là fu mới thoát khỏi tay cô ta mới được. Và suýt nữa thì tôi đã mua một cái bùa như vậy ở hiệu thuốc trung y lâu đời tại Osaka. Đó là những câu chú viết sẵn trên băng giấy dài rộng - và cái mà người ta đưa cho tôi xem có phép làm giảm bớt cãi cọ giữa vợ chồng và lập lại sự hòa hợp tình dục. Phải bỏ vào trong gối bạn đồng sàng ba ngày liền mà không cho người đó biết, rồi đốt đi và uống tro giấy trộn vào một chén nước trà loãng toàn búp. Chắc là tôi sẽ tìm mua được loại trà này ở Paris thôi. Tôi biết chắc rằng, tại các hiệu ăn tàu gần Porte de Choisy, có vô thiên lủng thầy tu Lão giáo thành nghề. Đôi lúc, đầu óc tôi lộn xộn quá đến nỗi bất cứ điều gì, tôi cũng muốn tin. Sau khi đọc ở đâu đó thấy người ta bảo rằng cứ nắm chặt mấy đồng tiền vàng trong tay, mình mới có đủ khả năng quyết định mọi việc, tôi đã đi mua ngay vài đồng. Nhưng chẳng có kết quả gì cả. Tuy vậy, tôi vẫn giữ mấy đồng tiền ấy lại.

Trong cuốn Volcano, tôi sẽ nhắc đến một bộ phim mà Zoé giữ rất lâu một tấm áp phích quảng cáo đính vào tường phòng riêng bằng đinh rệp, bộ phim có tên là Ngày tận thế ấy. Bản thân tôi thì chưa xem nhưng tôi sẽ sử dụng một đoạn cảm tưởng mà Zoé, hồi đó còn là một nữ sinh trung học mười bốn tuổi, đã ghi. Nó dán vào một quyển vở toàn bộ các bài báo và tin quảng cáo những phim mà nó ưa thích và ghi mấy câu bình luận mà nó tự nghĩ ra nữa. Đối với phim Ngày tận thế, nó đã viết như sau: “Vốn say mê diễn viên Paul Newman, mình không thể không thích bộ phim này được. Mọi việc bắt đầu do một trận núi lửa phun trào. Mình thích những bộ phim về thảm họa. Các diễn viên khác đóng cũng khá (William Holden, Jacqueline Bisset).” Mấy câu này khá ngắn gọn nhưng tôi sẽ phỏng vấn Zoé. Mỗi lần tiểu thuyết của tôi có một nhân vật nữ nới lớn, tôi đều hỏi ý kiến hai cô con gái. Rồi tôi ghi lại kẻo quên mất. Zoé tiết lộ cho tôi biết, khi đến trường, nó hay mặc liền một lúc hai cái quần bò để mông mẩy hơn, để phần dưới được bó khít hơn: “ Mình chỉ mong sao mình vừa nhỏ nhắn vừa béo thôi. Sao mình lại gầy giơ xương thế này? Mình chán bị người ta gọi là cây sào lắm rồi. Năm mười một tuổi, mình rất xấu hổ vì ngực bắt đầu nhú. Mình có kinh nguyệt từ lúc mới mười một tuổi! Mình còn nhớ, lần ấy, mình đang ở một cửa hàng McDonald. Cả nhà định đi xem phim của đạo diễn Mel Brooks cùng với con bé Céline. Mình hoảng quá, vừa chạy từ nhà vệ sinh ra vừa la hét thất thanh. Mẹ dặn, khi nào mình đi chơi với bạn trai thì phải báo cho mẹ biết. Thế là, năm mười hai tuổi, mình hỏi mẹ xem mình uống thuốc tránh thai có được không vì mình phải lòng một anh chàng và mình muốn ngủ với anh ấy, nhưng mình lại bị mẹ mắng cho một trận tơi bời. Còn hôm mình ăn cắp đồ ở cửa hàng Monoprix nữa chứ! Mình có một đứa bạn tên là Marie-Pierre, mỗi lần thó đồ là nó lại chơi một lúc hai cái, một cái cho mình, một cái cho nó, lúc thì áo nịt vú, lúc thì son phấn. Lần đầu tiên đi theo nó, mình đã bị bảo vệ bắt ngay tại trận, hắn làm mình đau quá. Hắn lôi cổ mình đến thẳng đồn cảnh sát. Mình chỉ lo nhất người ta báo về trường thôi, thầy cô và bạn bè mà biết chuyện mình ăn cắp thì xấu hổ lắm! Mẹ phải đến bảo lãnh thì mình mới được về.” Tôi phải đọc lại đoạn này: “Khi mình gọi điện thoại về nhà kể là lần đầu tiên mình ngủ với con trai, mẹ đã bật khóc.” Delphine mà khóc ư? Tôi không để ý đến mũi tên nối sự kiện vừa rồi với tên cháu Céline, bạn thân nhất của Zóe. Lần duy nhất chúng tôi gửi hai con bé đến trại hè - việc này, tôi có ghi cẩn thận - chúng đã gửi thư cầu cứ cha mẹ: “Chúng con muốn về nhà lắm” nhưng mọi thư từ của trẻ con đều bị kiểm soát chặt chẽ và người ta bắt chúng viết lại, cuối thư nhất định phải có câu: “Mọi việc đều tốt đẹp cả”. Hình như tôi có đề cập đến trại hè này trong một cuốn tiểu thuyết rồi thì phải.

Trong cuốn Volcano sẽ có những trận động đất, hỏa hoạn, lũ lụt, những vụ án mạng, những chuyện khủng khiếp, nhưng tôi phải hoàn thành cuốn tiểu thuyết về mẹ tôi trước đã. Sau đó, tôi vẫn có thời giờ đề cân nhắc xem những chuyện địa chấn và núi lửa phun trào có đáng để viết thành sách không, mặc dù chúng cũng đã đáng để tôi thu về một tờ séc khiến Kho bạc thúc giục đỡ ráo riết hơn phần nàoCách đây năm năm, tôi cũng đã lâm vào tình thế như thế này rồi. Hồi đó, tôi cứ do dự mãi, không biết mình nên sáng tác một vài truyện ngắn mà mình rất thích viết, truyện về đề tài quan hệ trai gái (Chuyện ăn nằm lang chạ là một cái tên rất có lý mà tôi dự định đặt) hay cuốn tiểu thuyết mà tôi đã thề với lòng mình sẽ viết, nguồn cảm hứng lại là quan hệ cha con chúng tôi, một mối quan hệ có lẽ mãnh liệt và sâu thẳm hơn dăm ba cuộc tình mà tôi đã trả qua với những người đàn bà từng muốn ngủ với tôi. Cứ việc gì liên quan đến cha hay mẹ là hình như tôi lại tìm cách lẩn tránh thì phải. Cuốn Volcano lại cho phép tôi tha hồ thể hiện lòng dạ hả hê trước nỗi đau của người khác, mà tôi thì không muốn nói về mẹ tôi với giọng điệu như vậy. Còn với cha tôi thì ngược lại, tôi có nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ với ông hơn với các cô nhân tình của tôi. Hay là tôi lật ngược hai phương trình này? Có phải tôi lùi bước trước cuốn sách viết về cha mình bởi vì không muốn người ta tưởng tôi yêu quý ông hơn bất kỳ một người đàn bà nào không? Thế còn mẹ tôi, chẳng phải bà là quả núi lửa thực sự của đời tôi ư? Tôi đã bao giờ tha thứ cho bà vì bà đã tống con trai đi bằng cách gửi đến trường chưa? Hôm bước chân đến trường lần đầu tiên (từ nhỏ, tôi chưa bao giờ phải đi nhà trẻ hay mẫu giáo), tôi đã bàng hoàng xiết bao khi hiểu ra rằng bà không ngồi học bên cạnh mình. Bà chỉ đứng ngoài cửa thôi! Bà không vào cùng với tôi! Bà không chuẩn bị tâm lý cho tôi gì cả. bà chỉ bảo tôi: “Mẹ sẽ đến trường cùng với con.” Những lần đưa tôi đến công viên, bà đều ở lại, và hai mẹ con cùng chơi đùa vui vẻ. Nhưng rồi tôi đã nhanh chóng bình tĩnh lại nhờ có Mẹ Marie-Emma dỗ dành và dạy tôi yêu thích sách vở, môn chính tả và cách chia động từ.

Việc mà tôi thích thú nhất trên đời là được đi xem phim với mẹ, nhưng với điều kiện là cha tôi phải xem phim đó trước và cho phép đã. Nhưng ông lại không bao giờ ngờ rằng bộ phim làm tôi hoảng sợ nhất trong suốt cuộc đời, tôi đã xem từ hồi lên tám cùng với các bạn học, và đó là một phim Laurel và Hardy[5], trong đó có những con cá bay vào phòng, lật khăn trải giường lên và biến thành ma.

Kể cũng lạ, tại sao trên đời lại có người thù ghét mẹ đẻ của mình, không bao giờ nói chuyện với mẹ, có khi hàng năm trời liền! Khi còn nhỏ, họ có thực sự tin rằng mình bị tống ra ngoài như một chất thải qua hậu môn không? Nếu chẳng may mà bà mẹ mất đi, họ sẽ lồng lên oán trách, cả con trai lẫn con gái. Nào là cái chết của mẹ khiến họ không đạt được điều này, điều kia, không thành được ông nọ bà kia. Thế là họ phải chịu hình phạt exsecratio[6] của người La Mã xưa. Trách móc người khác là một việc thú vị, và nếu mình biết rõ đối tượng thì lại càng dễ. Đó là một cách con cái tự giải thoát khỏi tình cảm trói buộc của cha mẹ. Nếu không thì ngạt thở không chịu nổi. Tôi cũng muốn làm thế lắm nhưng mỗi người một tính cách. Biết làm sao được. Như mẹ tôi chẳng hạn, tôi biết là bà không bao giờ làm gì có hại cho tôi cả, ngoài trừ vụ bỏ tôi lại một mình ở trường năm ấy, nhưng bản án nào cũng chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định (nếu là tội giết người thì thời hiệu là mười năm).

Hay là tôi viết cuốn sách về núi lửa thật nhanh, trong thời gian ngắn nhất? Ở đời có những việc mình phải làm rất nhanh mới được. Tôi có thể bắt tay vào việc ngay bây giờ và làm xong trước Giáng sinh. Thế thì vẹn cả đôi đường, sách sẽ ra mắt tháng Giêng và tôi sẽ có dịp về Provence thăm mẹ trong kỳ nghỉ Giáng sinh. Nhất định lần này tôi phải đốt củi trong lò sưởi cho bà ấm áp mới được, từ khi còn lại một mình, bà không buồn làm việc này nữa. Tôi sẽ tranh thủ tỉ tê hỏi bà đủ thứ chuyện, thế là đến đầu năm sau, tôi sẽ trở lại Paris, mang theo một tập ghi chép đặc kín chữ, và a-lê, bắt đầu! Ba ngày ở nhà mẹ sẽ xong vào tháng Sáu và ra mắt vào tháng Chín.

Tôi vừa tra từ “kế hoạch” trong mất cuốn từ điển. Đây là thí dụ thứ nhất mà le Petit Robert cung cấp: “Lập kế hoạch thay vì hành động.” Từ điển Littré thì dẫn lồi Molière: “Và quá trình từ kế hoạch đến hành động rất dài.” Vậy thì cảm ơn cả hai cuốn đã giúp đỡ nhé. Tôi được bao nhiêu thời gian để viết cuốn Volcano? Hôm nay là ngày mồng mấy? Thứ Tư, 23 tháng Mười năm 2002, ngày lễ thánh Jean de Capistran, một vị thánh mà chỉ có các nhà xuất bản sổ ghi công việc hàng ngày mới nhớ thôi: ông được nhắc đến trong cuốn sổ mà tôi đang dùng, cuốn 1994 (chỉ cần biết, các ngày Chủ nhật năm 1994 thì năm nay lại là thứ Tư). Cuộc đời thánh Jean de Capistran rất đáng được đưa lên phim mà tiền đầu tư khá nhiều. Sát cánh cùng vị voïvode[7] ở Transylvanie, ông thầy tu dòng thánh François sinh ra ở Ý này đã tham gia vào công cuộc bảo vệ Belgrade chống lại vua Ôt-tô-man[8] Mahomet II, và gần đây, bản tin thời sự đã nhắc đến sự kiện lịch sử này nhân vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập vào Liên minh châu Âu có vướng mắc. Mùa hè năm nay, người Thổ đã bãi bỏ hình phạt tử hình, thế cũng tốt lắm rồi. Hôm nọ, Giáo hoàng Jean-Paul II đã mạnh dạn ra sắc lệnh phong thánh cho người sáng lập ra Opus Dei[9], một vị thánh mà có lẽ giáo hội sẽ làm lễ mừng vào ngày kỷ niệm Franco[10] qua đời. Tại đảo Bali, một chiếc xe bị cài bom đã nổ tung: hậu quả là gần hai trăm người bỏ mạng trong một hộp đêm, phần lớn là khách du lịch Úc. Các chính khách Pháp làm dân chúng chán đến tận cổ rồi. Phái hữu thì tuyên bố một các rất nghiêm túc rằng họ muốn sáng tạo ra một nền dân chủ kiểu mẫu, phái tả thì phát biểu chính thức rằng, hiện tại thì họ sẽ bằng lòng với chủ nghĩa cải lương thiên về tả, nhưng nhất định phải nhìn thấy khả năng phát triển thành tả trong tương lai. Phe Xanh[11] thì đề xuất thành lập một đảng duy nhất đặt tên là Đại Tả khuynh, còn UDF[12] thì đề ra phương châm: “ Đảng của chúng ta phải có sức lôi cuốn mới được”. Một vị bộ trưởng tự thấy mình có quyền cho phép thành lập một triệu xí nghiệp trong năm năm. Không tin vào mắt mình, tôi đọc lại con số này hai lần nữa, có lẽ là nhầm lẫn của tòa báo. Tôi được mời dự hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng nói tiếng Pháp ở Beyouth, tôi thì đến đó làm gì? Tôi vừa nghe đài và được tin, tại một nhà hát ở Mat-scơ-va, một nhóm khủng bố Tre-sni-a đã bắt hàng trăm khán giả làm con tin và dọa sẽ cho tất cả nổ tung nếu cảnh sát đến can thiệp.

Đêm vừa rồi có một việc đáng lo ngại xảy ra với tôi. Tôi cảm thấy như có người bóp cổ mình. Tôi rơi vào khoảng không, trong khi đầu óc vẫn biết là mình không rơi gì cả. Ngay lập tức, tôi đã tự nhủ, thôi chết, mình bị xuất huyết não rồi, chắc mình sẽ chết mất. Tôi rất hay nghĩ là mình sắp chết, nhưng lần này thì chắc chắn rồi, mình không thoát được nữa đâu. Không sao mở được mắt. Ngạt thở quá. Tôi không dám đưa tay lên sờ đầu, mình mà sờ vào thì thái dương và trán sẽ vỡ như thủy tinh mất. Tôi thấy sọ mình như đầy nước, một thứ nước nhão nhoét bùn đất và nong nóng, trong đó nhung nhúc hàng mấy chục con côn trùng. Tôi hình dung ra những cái bụng lông lá, những cái đầu bóng loáng, những con mắt nhỏ xíu đỏ lòm. Tôi không biết mình đang ở đâu nữa. Cuối cùng, tôi cũng đánh bạo mở mắt ra, thì ra mình đang ở nhà, mình vẫn mặc nguyên quần áo nằm trên ghế dài và ngủ quên từ lúc nào không hay. Chắc là mình phải đến bước đường cùng rồi thì mới ngồi trên ghế mà mê đi như thế.

Tôi không sao rũ bỏ được hình ảnh lũ côn trùng kêu ra rả lội bì bõm trong đầu mình. Tôi chợt liên hệ tới địa ngục âm nhạc mà họa sĩ Jérôme Bosch vẽ, trong đó có một người đàn ông đang tìm cách rút cây sáo cắm vào hậu môn mình và một người khác bị một lô dây của một cây đàn hạc khổng lồ xiên qua thân. Hồi trước, tôi đã viết một cuốn sách về Jérôme Bosch. Ôi, nhớ lại những lần tôi có dịp đến Vienne, Madrid, Lisbonne, Rotterdam ngắm tranh của Bosch mà thấy luyến tiếc, hồi đó, bất cứ cảnh địa ngục và phán xét cuối cùng nào cũng chỉ có trong viện bảo tàng thôi chứ chưa xâm chiếm được đầu óc tôi!

Tôi mệt mỏi quá không gượng được nữa rồi. Tình trạng của tôi càng ngày càng tồi tệ. Trước kia, trạng thái tinh thần của tôi đã không được bình thường lắm, nhưng vẫn chưa đến nỗi mắc phải căn bệnh mà các bác sĩ tâm thần thường gọi là số phận khắc nghiệt của người trầm cảm. Còn hiện nay thì tôi đã lâm vào tình cảnh khốn cùng rồi. “Người trầm cảm” là một từ chưa diễn đạt được hết tính nghiêm trọng, nhưng tôi lại nhất trí với cách dùng từ “số phận khắc nghiệt”. Nếu được phát biểu, tôi thích dùng những từ ngữ khiêm tốn hơn, chẳng hạn như “cuộc sống đáng sợ”. Tôi từng này tuổi đầu rồi mà chẳng có tài sản gì cả, ngay cả việc mua một ngôi nhà ở thôn quê cho bằng bạn bằng bè, tôi cũng không đủ khả năng. Tất cả các chị em tôi đều sở hữu một vài bất động sản, cả mẹ tôi cũng vậy. Cha tôi mất đi còn để lại cho bà một ngôi nhà. Tôi thì lại phải è cổ ra trả tiền thuê nhà, thế mà bây giờ cũng không lo nổi nữa. Vì vậy, tôi hầu như không dám gặp ai cả. Tôi còng lưng gánh chịu một đống nợ nần, nhưng bề ngoài vẫn phải làm ra vẻ mọi sự đều tốt đẹp! Bao nhiêu món nợ chồng chất thế thì làm gì mà tinh thần tôi chẳng bị khủng hoảng. Tôi cứ im thin thít suốt ngày, chẳng muốn mở miệng chuyện trò với ai cả. Nhưng đồng thời, tất cả những gì liên quan đến mình, tôi đều dỏng tai chú ý hết. Như chuyến tống đạt thông báo đòi nợ của một nhân viên chấp hành chẳng hạn, tôi muốn biết tường tận việc ấy sẽ diễn ra như thế nào, tôi nghĩ ngay đến chương sách mà tôi sẽ viết. Kể ra, cả một chương thì quá dài, làm gì có lắm chuyện để viết, thôi thì một đoạn vậy. Đã hai tháng rồi, tôi cứ thấp thỏm chờ tiếng chuông cửa, bao giờ thì nhân viên chấp hành thuộc Kho bạc đến? Tại sao họ chưa đến? Mỗi lần có tiếng chuông cửa, tôi lại hồi hộp, nhưng đó chỉ là người nhầm tầng thôi.

Làm sao tôi lại thiếp đi trên cái ghế ấy trong lúc đang đeo tai nghe nhạc với âm lượng mà tôi đã cố ý vặn ở độ lớn nhất để khỏi ngủ gật? Làm sao tôi có thể nhầm, dù chỉ trong mấy giây, bộ tai nghe chuyên dụng - đó cũng chính là bộ tai nghe mà tôi đeo trong tấm ảnh Delphine chụp với đèn chớp, khiến tôi trông có vẻ tập trung tư tưởng suy nghĩ như một nhân viên kỹ thuật ở Mũi Canaveral[13] đang đàm thoại với một phi hành gia vũ trụ - với một cái bể thủy tinh đầy côn trùng trông ghê người?

Không biết bây giờ là mấy giờ? Chắc là tôi sẽ quên đồng hồ trong buồng tắm rồi. Tôi nghe thấy người gác cổng xách thùng rác ra đường, cũng như mọi ngày, vào lúc sáu giờ kém mười lăm, cái nhà ông này giờ vào việc ấy rất đều đặn, tưởng như ông ta là cái đồng hồ thạch anh ấy. Sáng nào ông ta cũng làm ầm ĩ như vậy, tôi tức lắm, nhưng riêng hôm nay, ông ta lại có công cung cấp cho tôi một điểm mốc thời gian quen thuộc, thế mà tôi cứ lo mình mắc chứng mất trí nhớ toàn bộ! Tôi đã nhận ra tiếng thùng rác va vào nhau loảng xoảng ngay, thế mà lại không sao nhớ nổi mình đang nghe đĩa nào. Hiện tượng quên một số sự việc mới xảy ra không phải là dấu hiệu tốt. Không biết có phải đĩa dương cầm không nhỉ? Hay là đàn cla-vơ-xin? Tôi tự nhủ, mình không nên ngó quanh để tìm hộp đựng CD, thế là ăn gian. Mấy chữ “chứng mất trí nhớ” chắn ngang không cho tôi tìm được vốn từ ngữ còn lại của mình và ngăn không cho tôi nhớ. Những rối loạn về khả năng lưu giữ và tái hiện trong trí những điều đã biết là hình thức phổ biến nhất báo hiệu khởi đầu của bệnh sa sút trí tuệ. Chứng ictus amnésique, cơn đột quỵ trí nhớ, có thể đánh vào các đối tượng từ tuổi năm mươi trở đi. Sau từ “ictus” (một từ La-tinh rất hay, ictus fulminis: một tiếng sấm hay một tin sét đánh), những từ khác cũng tìm đường len lỏi vào não tôi, mà toàn từ đáng sợ! “Bệnh thoái hóa tiểu não”, “chứng liệt dây thần kinh sọ”, “dù sao đi nữa thì cũng không thể tránh được thủ thuật khoan chọc xương sọ”… Kể ra thì trí nhớ của tôi cũng đâu đến nỗi suy giảm lắm. Chỉ tại tôi đọc nhiều sách y học quá thôi. Gì, chứ sách y học thì tôi mua thường xuyên ở Maloine, hiệu sách y học mà lần nào đến đó tôi cũng phải chạy bổ ra và lao vào bất cứ quán nào để lấy lại tinh thần nhờ một hai cốc rượu nặng sau khi đã lật giở những quyển ảnh màu luôn luôn vượt qua giới hạn chịu đựng của con người. “Thế thì cậu đến đó làm quái gì?” các bạn tôi thắc mắc. Tôi là tiểu thuyết gia, tôi phải quan tâm đến sức khỏe các nhân vật của mình. Còn nếu vì ý thích, tôi sẽ đến Réaumur, tôi sẽ vào Hiệu sách Nhạc Paris mua một số bản đàn bè, có thế tôi mới được nghe thỏa thích những bản nhạc mà tôi ưa chuộng. Tôi thích nhìn những bản nhạc mà tôi ưa chuộng. Tôi thích nhìn những bản sao phóng hay chụp lại mang thủ bút của tác giả, như Khúc biến tấu Goldberg chẳng hạn.

Thế là, vì cuốn sách mà tôi đã nghĩ ra tiêu đề từ trước khi đặt bút viết: “Ba ngày ở nhà mẹ”, tôi phải quay lại hiệu Maloine thêm một lần nữa. Chả là tôi cần tạo ra một nhân vật đứng tuổi, bà mẹ giả tưởng của người kể chuyện chứ không phải của tôi. Thế nào là bệnh đái dầm của người già và hiện tượng lão suy về mặt tinh thần, hai cái khổ mà may quá Mẹ không mắc phải, tôi đã nắm được khá rõ. Tôi bỏ qua những cuốn như Đôi lứa, sống, chết hay Già đi, kế hoạch cho cuộc sống chung đời. Trong tiểu thuyết của tôi, nhân vật bà mẹ sẽ góa chồng. Bà ấy sẽ không phải đương đầu với nỗi khổ do bệnh học bất tương hợp giữa vợ chồng gây ra, một bệnh học mà gần đây tôi mới biết, và nó đang là đề tài cho cả một chương trình nghiên cứu. Đọc loại sách làm ảnh hưởng đến tinh thần này cũng có một cái lợi mà tôi không biết trước, chúng dạy cho tôi lường trước những gì sẽ đến với tôi tuyệt nhiên không phải là dolce vita[14]. Nếu đem so với những chuyện rắc rối về tiền nong của tôi thì những việc đó chưa là gì cả.

Tuần trước tôi bị mời đến sở thuế làm việc. Họ đóng cửa vào lúc mười sáu giờ, vì vậy tôi phải dậy sớm hơn ngày thường một chút. Đó là ngày 14, ngày lễ Saint-Juste, Juste là tên riêng của Bouvard hay Pécuchet[15], tôi chẳng nhớ nữa. Chỉ biết rằng một người tên là Juste, còn người kia là François. Hai nhân vật ấy đều bốn mươi bẩy tuổi. Cả cuốn tiểu thuyết ấy, tôi chỉ thuộc được có câu đầu thôi: “Hôm ấy, trời nóng đến ba mươi ba độ cho nên Đại lộ Bourdon cũng vắng tanh vắng ngắt.” À, tôi còn nhớ một câu nữa: “Bỗng một người đàn ông xuất hiện, một người từ phía ngục Bastille đi tới, còn người kia thì từ Vườn Bách thảo.” Nói đến Vườn Bách thảo, tôi mới sực nhớ, đã lâu tôi không đến đó. Suốt ngày, tôi chỉ ru rú ở nhà. Đáng lẽ tôi nên đến đó chơi mới phải. Một lần, tôi được dịp dự tiệc tại một căn hộ rộng lớn ở Đại lộ Bourdon, thế mà khách lại ở đó không ai biết Bouvard và Pécuchet cả. Có một nhà mỹ học công nghiệp người Đan Mạch trẻ trung, mắt xanh lơ phớt hồng, thế là tôi sán đến buông lời tán tỉnh bằng cách gợi chuyện về phim của đạo diễn Carl Dreyer. Nhưng chán quá, cô ta lại mù tịt, không biết gì về người đồng hương của mình cả. Thế thì làm sao tôi còn dám nói đến nhà triết học Kierkegaard nữa. Tôi đành xoay sang đề tài Andersen vậy, thể nào cô ta cũng nghĩ bụng, già cốc rồi mà còn thích truyện cổ tích, đúng là ông già lẩm cẩm. Có lẽ đúng là tôi lẩm cẩm thật rồi, nhưng vì nguyên nhân khác. Tôi không còn khái niệm gì về thời gian và tuổi tác của mình nữa. Tôi còn nhớ một cô gái ở Montréal mà hồi trước tôi đã có quan hệ. Một hôm, đang ngồi trong tiệm ăn, cô ta bảo tôi: “Ông đừng ôm ấp em kiểu này nữa, ông mà còn tiếp tục thì em sẽ xưng con và gọi ông là cha trước mặt người hầu bàn đấy”. Một cô khác, cách đây không lâu lắm, đã vén lưng áo tôi lên để hôn hít và vuốt ve, sau đó đã nói thẳng thừng với tôi: “Ông đáng tuổi làm ông em đấy”. Câu này không phải cô gái Đan Mạch mà tôi gặp ở Đại lộ Bourdon nói ra, nhưng so với cả cô ta nữa, tôi cũng đáng tuổi làm ông thật. Cô nhân viên tiếp tôi ở sở thuế cũng vậy. Từ trước đến nay, mỗi khi đến sở thuế, tôi đều được các bà đã có chồng con tiếp cả, chỉ cần nhìn mấy tấm ảnh bọn trẻ cố ý trưng trên bàn làm việc để khoe là hiểu ngay. Thế mà ngày lễ Saint-Juste lần này lại khác hẳn. Tôi bị trừ nghiến đi mất bao nhiêu là tiền, và vì lúc đó tôi đang ở gần nhà hát Comédie Française cho nên tôi chỉ muốn đọc to lên một câu trong vở Kẻ hà tiện: “Than ôi! Đồng tiền khốn khổ của ta, bạn thân nhất của ta! Họ đã tước đoạt mi của ta rồi!” Có lẽ cô nhân viên này biết thưởng thức câu nói đùa của mình, tôi nghĩ bụng. Buổi làm việc này đã khiến tôi hứng chí viết cả một trang giấy, định bụng sẽ đưa vào một trong những cuốn sách của mình, còn cụ thể cuốn nào thì để xét sau:

“Một thiếu phụ mặc váy mini bó sát có khóa kéo sau lưng mà lúc đầu ông lại tưởng là một người cùng cảnh ngộ bị truy thu thuế với tâm trạng căng thẳng và tuyệt vọng như mình đã mời ông vào một văn phòng sưởi quá ấm và trống trơn như phòng tiếp khách trong nhà tù. Cô ta mở tập hồ sơ trước mặt, và ông nhận ra ngay lá thư mà mình mới gửi đi cách đây ít lâu: tiếc quá, nếu biết trước rằng lá thư của mình sẽ đến tay một người duyên dáng nhường ấy thì ông sẽ viết cẩn thận hơn. Cô nhân viên trẻ trung xinh đẹp thuộc Bộ Kinh tế thông báo cho ông biết, cô sẽ giúp ông điền vào tờ khai “Phiếu thu hồi nợ theo kỳ hạn”. Cô ta đề nghị ông viết ngay một tấm séc: “Ít nhất phải một nghìn năm trăm ơ-rô.” Chết rồi, những mười nghìn frăng! Khi cô ta nghiêng người hỏi: “Hẳn là hôm nay ông có mang theo quyển séc chứ?”, ông nhận thấy cô ta không mặc nịt vú, mà cổ lại khoét rộng ngoác, mà bộ váy lại bó sát quá, gọi là áo tắm thì chính xác hơn. Ông luống cuống quá nên viết sai tờ séc thứ nhất, đành phải xé đi và nhét vội vào túi bên phải cái quần nhung rất đẹp mà ông mới mua cách đó mấy ngày. Ông lại càng bối rối đến nỗi lúc điền vào tờ phiếu, đáng lẽ phải ghi: “Kho bạc Nhà Nước” thì ông lại định viết “vú vê oai phong lẫm liệt”. Nào, mình phải bình tĩnh lại mới được. Có phải cô ta và ông đang ngồi kín đáo trong một góc khuất tại quán bar ở tầng một khách sạn Lutétia, đợi đến bao giờ nguồn cảm xúc thôi thúc trong lòng mạnh đến mức phải lao ngay vào vòng tay nhau đâu. Họ đang ở trong một văn phòng thuộc Tổng cục Kiểm toán công. Ông bèn bụng bảo dạ, phen này mình phải viện đến triết gia Kant mới xong. Kant là con người vững vàng không ai lay chuyển nổi mà gần đây ông đã đọc lại một vài trang sách để chuẩn bị viết cuốn tiểu thuyết của mình. Kant không phải là hạng người để cho một việc cỏn con như chuyện đàn bà con gái không mặc nịt vú làm cho bối rối, và trong cuốn Phê phán năng lực phán đoán của mình, ông ta đã tự hỏi, không hiểu cơ chế hoạt động tinh thần phải như thế nào mới khiến cho người ta nói ra một nhận xét: “Đây là một người đàn bà đẹp”. Vậy là theo Kant thì không có gì phải nghĩ ngợi lôi thôi gì cả, chỉ đơn giản là: Trên cơ thể đàn bà - Kant không phải là người thích bàn với các vị về thân hình tròn trĩnh hay khêu gợi - thiên nhiên thể hiện tài năng rất khéo léo khiến cho nét nào cũng mỹ miều cả. Ông còn khuyên nên dựa vào một khái niệm triết học để đánh giá đối tượng bằng con mắt thẩm mỹ hợp lô-gic. Thưa giáo sư Kant, làm sao chấp nhận được một quan điểm hợp lô-gic khi mình viết nhầm một tờ séc chỉ vì mải nhìn vú người ta? Cô nhân viện thuế mà là một đối tượng sao? Cần cổ, đôi vai, gần như để trần của cô ta mà là khái niệm triết học ư? Dù thế nào đi nữa thì cô ta cũng là một người đàn bà đẹp, nhưng than ôi, cô ta lại yêu cầu người chịu thuế phải chia số tiền nợ ra làm năm phần, mỗi tháng nộp một lần, nộp trong năm tháng liền, để nhanh chóng khép hồ sơ (thế mà ông cứ hy vọng sẽ xin được nộp trong mười tháng, ông không dám mở miệng xin xỏ, cô ta yêu cầu gì mà ông chẳng phải chấp nhận). Cô ta đứng lên: “Tôi đi xin chữ ký ông kép của tôi đây.” Thôi hỏng bét rồi! Cô ta ngủ với tay kế toán Kho bạc rồi thì mình còn nước non gì nữa. Cô ta đã đi khuất, để lại trong văn phòng một mùi hương nhài và huệ, ông mới nghĩ ra, cô ta vừa nói: “Tôi đi xin chữ ký ông sếp của tôi đây.” Mắt cô ta đẹp dễ làm rung động lòng người, giọng nói oanh vàng thỏ thẻ dễ nghe, mầu son rực rỡ dễ ưa, váy áo cắt may khéo dễ gây chú ý, bộ ngực nặng trĩu dễ gây ấn tượng, nét chữ mềm mại dễ xem và - ông vừa làm cho cô ta bật cười - tiếng cười dễ lôi cuốn. Có lẽ cả một anh chồng dễ mến và hai đứa con dễ thương nữa, một cô bé dễ thương và một cậu bé dễ thương.”

Tôi ký vào sổ nợ kỳ hạn, tuy biết rõ rằng tháng sau mình không thể thanh toán được. hình như cô gái cũng hiểu như vậy cho nên mới nhắc tôi: “Nếu có gì trục trặc, đề nghị ông gọi điện báo cho tôi biết.” Ra đến đường, tôi vẫn lẩm nhẩm tên cô ta. Cô ta tên là Claire- Marie. Cha mẹ cô ta có đặt tên gọi ở nhà cho con gái là Clarinette không? Hay là Marionnette[16]? Quê cô ta ở xứ Bretagne, và cô ta vừa được thuyên chuyển lên Paris. Sách của tôi mà xuất bản, nhất định tôi sẽ gửi biếu cô ta một quyển mới được. Nhưng than ôi, trước khi sách ra, tôi đã phải đến gặp cô ta rồi.

Tôi mang về tặng Delphine một bó hoa mang tên bà ấy, một bó delphinium đỏ tía và hồng nhạt, cứ thấy ở đâu bán là tôi lại mua ngay: “Tặng bà này! Hoa tai thỏ mùa thu là đẹp nhất đấy.” Sau đó, chúng tôi bàn về khu vườn bao quanh ngôi nhà mà tôi vẫn ước ao mua tặng bà ấy, một khu vườn không bị gió lộng, đất nhiều mùn, cây cối um tùm xanh tốt. Ở đó, hoa tai thỏ sẽ nở mỗi năm hai lần. Tôi luôn tưởng tượng cảnh mình trao tiền đặt cọc cho một công ty bất động sản, và giống như trong phim màn ảnh rộng hồi những năm năm mươi, tôi nói với Delphine: “Bà cầm lấy này, chìa khóa nhà chúng ta đây!” Tôi rất mong bà ấy hạnh phúc. Nhưng làm thế nào để bà ấy hạnh phúc được đây? Việc này thì tôi dở lắm. Delphine đã nói với tôi, đã viết cho tôi bao nhiêu câu ân cần tử tế, thế mà tôi lại hay đai đi đai lại những câu mà bà ấy buột miệng nói ra trong những lúc tinh thần khủng hoảng hơn tôi. Hôm qua tôi thức dậy khá muộn, tôi thấy bà ấy để lại một mẩu giấy ngoài hành lang báo cho biết: “Tôi đi dạo đây. Hôn ông, chú chuột sóc ham ngủ thân yêu của tôi.”

Bà ấy thì như thế, còn về phần tôi, đôi lúc tôi lại thầm cầu nguyện: “Delphine, bà đừng có mà về nhà ngay đấy, bà để tôi yên thân một chút, làm ơn đi, chỉ một hay hai giờ thôi cũng được”, nhưng tôi mà không biết bà ấy đang ở đâu thì lập tức lại như người không còn điểm tựa, và tôi có thể hát lên một câu trong vở Renard: “Ta thất bại rồi, ta hết đời rồi.” Hồi tôi đến Munich để thương lượng về bản dịch tác phẩm mới nhất của mình sang tiếng Đức, lúc nào tôi cũng cứ ngong ngóng chờ từng bản fax của bà ấy gửi đến khách sạn. Bà ấy có viết một câu như thế này: “Tôi thích đọc đi đọc lại thư ông, nhất là đoạn ông bảo ông đọc đi đọc lại thư của tôi ấy.” Sách của tôi mà hoàn thành, hai vợ chồng nhất định sẽ đi tự khao một bữa tra trò, ngồi ngoài trời, trên sân thượng tiệm ăn, chúng tôi sẽ lại chuyện trò tình tứ như xưa. Tháng trước, bà Delphine đã gửi thư từ Hy Lạp về cho tôi: “Bán đảo Péloponnèse ngay trước mắt, một cốc rượu mùi ouzo trên tay và ông trong tim tôi.”

❀ ❀ ❀

[1] Đế chế II (1852-1870) do Napoleon III (1808-1873 thành lập

[2] Edmund Husserl: (1859-1938) Triết gia Đức. René Descartes (1596-1650) Triết gia, nhà toán học, nhà vật lý học Pháp. Joseph Kerman (1924-…) Giáo sư Danh dự, nhà phê bình, nhà bình luận âm nhạc học người Mỹ.

[3] Paul Vidal de la Blache (1845-1918): Nhà địa lý người Pháp. Sau khi ông mất. 15 tập Địa lý thế giới (Géographie Universelle) do ông khởi đầu đã được Lucien Gallois hoàn thành (1927-1948) và xuất bản.

[4] La Femme et le Pantin: Tên một tác phẩm của nhà văn Pháp Pierre Louys (1870-1925) đã được chuyển thành 5 kịch bản phim. Ở đây ý nói người đàn bà làm đàn ông say đắm, gây tai họa cho họ.

[5] Laurel và Hardy: Hai diễn viên hài người Mỹ nổi tiếng nửa đầu thế kỷ 20, một gầy một béo, từng đóng chung 200 phim.

[6] Exsecratio: Phép tượng trưng để tước bỏ tính chất thiêng liêng và bắt trở lại tình trạng phàm tục.

[7] Voïvode: Vương công Vlad Tepes, chủ nhân xứ Valachie ở TK XV nhiều lần kéo quân đến Transylvanie đánh người Sasi (người Đức định cư ở Brasov và Sibin), chuyên dùng nhục hình đóng cọc vào hậu môn cho nên bị người Hồi Giáo và người Ghiauri gọi là “Kaziklu Voivoda” nghĩa là Vương công - Kẻ đóng cọc vào hậu môn. Jean de Capistran (1386-1456) Thầy tu tham gia bảo vệ Belgrade chống quân Thổ Nhĩ Kỳ.

[8] Ôt-tô-man (Ottoman): Tên gọi của quốc gia Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ, hưng thịnh vào TK16-17, tan rã sau Chiến tranh thế giới I.

[9] Opus Dei: (tiếng la- tinh nghĩa là tác phẩm của Chúa): Một tổ chức tôn giáo do Josemaria Escriva de Balaguer (1902-1975) thành lập năm 1928. J.E. de balaguer được Giáo hoàng phong thánh ngày 6 tháng 10 năm 2002.

[10] Francisco Franco (1892-1975): Nhà hoạt động quân sự, chính trị và nhà nước Tây Ban Nha, năm 1939 trở thành quốc trưởng và tổng tư lệnh quân đội, trong Đại chiến II được Hitler và Mussolini ủng hộ, năm 1947 phục hồi chế độ quân chủ và tự xem như người có quyền nhiếp chính bảo vệ chế độ đó suốt đời, mất ngày 20 tháng 11.

[11] Đảng Xanh: tên đầy đủ là “Les Verts, Conf édération Écologiste- Parti Écologiste” (gồm những người bảo vệ thiên nhiên theo phái tả)

[12] UDF: Union pour la Dé mocratie Française (Liên minh vì nền dân chủ Pháp).

[13] Mũi Canaveral: nằm trên bờ biển phía đông bang Florida, có căn cứ thử nghiệm tên lửa và tên lửa vũ trụ, thời kỳ từ 1963 đến 1973 đổi tên là Cape Kennedy.

[14] Dolce vita: ( tiếng Ý) Cuộc sống ngọt bùi, dễ chịu.

[15] Bouvart et Pécuchet: tác phẩm viết dở của nhà văn Pháp Gustave Flaubert (1821-1880), được xuất bản năm 1881, nói về hai người đàn ông đầu óc tầm thường, bất tài vô dụng nên thất bại thảm hại.

[16] Marionnette: (tiếng Pháp) Con rối.

À MẸ Nguyên tác: Trois jours chez ma mere ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.