Ba Ngày Ở Nhà Mẹ

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ta Chu Du Khắp Đó Đây, Một Mình Trên Lưng Ngựa, Thu Lu Trong Áo Khoác, Giữa Vùng Quê Tối Om, Trong Gió Rít Âm U, Không Ánh Sáng Soi Đường. - - 1 -

❊ ❊ ❊

“Ông làm cho thiên hạ người ta sợ đấy”, tối hôm qua Delphine đã phán vào mặt tôi câu này để chấm dứt cuộc lời qua tiếng lại có nguy cơ bùng nổ thành một trận cãi vã quyết liệt. Thỉnh thoảng, cách cư xử của tôi làm cho bà ấy bật ra những kết luận đại loại như vậy, những câu luận tội thật sự. Ngày xưa, và ngay cả thời gian gần đây, tôi đã từng bị người mà mình vẫn gọi là “Delphine bé nhỏ của anh”, mặc dù bà ấy cao những một mét bảy mươi tám, chơi cho những câu còn đau điếng hơn thế nhiều. Chúng tôi đã chung sống hơn ba mươi năm trời. Delphine là người đàn bà mà tôi vẫn tưởng tượng sẽ có mặt bên tôi, cúi xuống giường tôi, nếu một ngày tôi phải chết trong bệnh viện chứ không phải trong một vụ tai nạn máy bay – mà dù là tai nạn máy bay đi chăng nửa thì có lẽ bà ấy cũng ở bên tôi thôi. Vậy là tối hôm qua, tôi đã bị bà ấy đưa ra một lời phán xét, tuy không nghiêm khắc bằng cái chết, tất nhiên, nhưng vẫn không phải là một lời tuyên bố trắng án: tôi, François Weyergraf, người từng dựng năm bộ phim và xuất bản mười tiểu thuyết, tôi làm cho thiên hạ người ta sợ.

Một câu như vậy, nếu là thời mà tôi vẫn còn chịu khó mua sổ tay công việc và thường xuyên phải dùng đến, tôi sẽ ghi ngay vào đó, nhưng bây giờ tôi lại không còn hẹn gặp lại ai nữa và cũng không còn gì để mà ghi chéo nữa. Ghi câu đó lại để làm gì? Một câu như thế thì quên làm sao được mà phải ghi.

Delphine không bảo là tôi làm bà ấy sợ, mà là tôi làm cho thiên hạ người ta sợ. Cái “thiên hạ” này ở đâu ra? Có phải “thiên hạ” là hai cô con gái của chúng tôi, hai người đàn bà đã trưởng thành và đủ hiểu biết để nhận thấy cha chúng đang gặp rắc rối không nhỉ? Chắc chắn rồi. Và hẳn là cả mẹ tôi và chị em gái tôi nữa. Nhưng Delphine có mấy khi qua lại với gia đình tôi đâu, cả tôi cũng vậy, tôi cảm thấy mình có lỗi vì không thường xuyên về thăm nom mẹ. Hầu như mỗi ngày, tôi đều nghĩ mình phải xuống thăm bà mẹ sống thui thủi một mình trong ngôi nhà cũ kỹ ở tỉnh Alpes-de-Haute-Provence, nhưng rồi tôi vẫn chưa bao giờ quyết định dứt khoát được. Trong cảnh quay ở nghĩa trang của bộ phim Tám rưỡi, khi nhân vật đạo diễn điện ảnh do Mastroianni thủ vai nhìn thấy cha mình hiện lên, ông mới nhận ra một điều đáng buồn là hai cha con ít chuyện trò với nhau quá: “Papa, si siamo parlati cosi poco![1]” Cũng có thể là một ngày nào đó sẽ đến lượt tôi phải hối tiếc, không phải vì ít nói chuyện với mẹ bởi vì gần như mỗi tối tôi đều gọi điện cho bà, mà vì ít gặp bà quá, nhất là mấy năm gần đây. Tuy đã hơn tám mươi tuổi, bà mẹ thân yêu của chúng tôi còn cố chấp hơn tôi nhiều. Qua điện thoại, bà đã tóm tắt quan hệ giữa hai mẹ con bằng một câu như sau: “Rốt cuộc, mẹ chẳng mấy khi có dịp được nhìn thấy mặt con.”

Một đòn trừng phạt đích đáng! Không hiểu bà có biết là tôi đang điếng người không, nhưng thấy tôi cứ im thin thít nên bà lại bồi thêm một câu nữa: “Thật đấy! Con chẳng đã bỏ nhà ra đi rất sớm là gì, hồi ấy con bao nhiêu tuổi nhỉ, mười bảy hay mươi tám? – Mười chín đấy chứ, Mẹ! – Thế vẫn là sớm so với lớp trẻ thời nay, bằng tuổi con thì chúng vẫn còn ở với cha mẹ.” Cho đến cuối thập kỷ chín mươi, bà vẫn thường xuyên lên Paris, mỗi năm phải đến dăm bảy lần, lần nào cũng ở chơi nhà tôi vài ngày, nhà Madelien vài ngày. Vì vậy, có thể nói là chỉ có mẹ đến thăm con thôi, còn con thì… Mấy năm gần đây, bà hầu như không đi đâu nữa. Bà mà đã cất công lên tận Paris thì nhất định là đang cần một thầy thuốc chuyên khoa khám bệnh, mặc dù bà có thể tìm được khá nhiều bác sĩ giỏi ngay tại Marseille. Thế mà đối với bà, Marseille cũng đã là xa lắm rồi, tuy chỉ cách nơi bà sống chưa đến một trăm cây số.

Chắc là một vài người trong số bạn bè của chúng tôi cũng đã nói chuyện với Dephine tỏ ý lo ngại rồi. Tôi đoán là trong lúc tôi còn ngủ (thường thường thì giữa buổi chiều tôi mới thức dậy, đôi khi còn muộn hơn nữa), bà ấy đã nhận được nhiều cuộc gọi: “Chị ơi, anh François ra sao? Đã lâu lắm rồi, anh ấy không liên lạc gì với tôi cả. Lần cuối cùng tôi gặp anh ấy, trông anh ấy có vẻ không được khỏe lắm. Tôi lo cho anh ấy quá.” Khi Depphine nói cho tôi biết là tôi làm cho thiên hạ người ta sợ, giọng bà ấy tự nhiên trầm hẳn xuống, giống như tiếng dương cầm trong bản giao hưởng Bão táp của Beethoven hay tiếng kèn fa-gốt trong bản concerto La Tempesta di mare của Vivaldi vậy, nói tóm lại là tôi cảm thấy sóng to gió lớn sắp nổi lên rồi, mà sóng to gió lớn thật chứ không chỉ dăm ba đợt lăn tăn thôi đâu. Phải công nhận là cuộc sống vợ chồng của chúng tôi từ trước đến đây chẳng có gì là sóng yên biển lặng cả, thậm chí còn đầy phong ba bão táp nữa kia. Luồng không khí có ngược chiều thì mới tạo ra gió lốc, tôi bèn đối đáp lại bà rằng, mũi Bão Táp còn có một cái tên thứ hai được nhiều người biết đến hơn là Hảo Vọng, quan hệ đối kháng giữa hy vọng và bão táp còn đỡ rắc rối hơn cuộc xung đột dai dẳng giữa hận thù và tình yêu. Tôi còn giảng giải về từ tempestas, một từ thôi nhưng trong tiếng La-tinh có nghĩa là thời tiết tốt, đồng thời cũng là thời tiết xấu. Tôi cố gắng trổ hết tài ăn nói của mình để thoát ra khỏi tình thế khó xử này, nhưng quả thực Delphine nhận xét rất đúng. Không những tôi làm cho thiên hạ người ta sợ mà còn làm cho chính mình sợ nữa.

Đáng lẽ tôi phải công nhận ngay điều Delphine nói, đằng này tôi lại đi kể lể dông dài về ca sĩ hát giọng nam cao, người đã cất tiếng hô mưa gọi gió trong vở opera Bão táp của Purcell. Tôi chỉ nhớ vở Bão táp một cách bập bõm, tức là phần nhạc soạn cho vở kịch của Shakespeare, còn nội dung vở kịch thì tôi thuộc hơn nhiều. Khi đọc tác phẩm này, tôi tưởng tượng mình là nhân vật Prospero, vị thuật sĩ già nua quý bộ sưu tập sách của mình hơn tất cả mọi thứ trên đời, tôi cũng vậy. Đã bao lâu rồi tôi không nghe nhạc của Purcell? Hai cô con gái tôi lớn lên là nhờ thói quen nghe nhạc của Purcell đều đặn trong bữa sáng qua giọng hát của Klaus Nomi hay Alfred Deller, và tất nhiên là nhờ nhiều thứ khác nữa. Toàn bộ đĩa 33 mà hồi bé hai đứa thích vẫn còn đây, xếp gọn gang trên giá. Một hôm, chúng nhận ra một điều: “Cha nghe nhạc ít hơn hẳn ngày xưa.” Hình như chúng cho việc này là dấu hiệu xấu.

Tôi muốn ứng trước tiền nhuận bút cho mấy cuốn sách mà tôi chỉ viết được phần đầu thôi. Tôi không còn sách để xuất bản nữa. Tôi không thiết nữa thì đúng hơn. “Chúa ơi! Cho ra mắt một cuốn sách thật là lắm phiền hà.” Molière đã viết một câu như vậy. Đọc một quyển sách về Racine, tôi mới biết là người ta chê trách ông đã được trả tiền rất hậu để viết về tiểu sử vua Louis XIV, thế mà ông chẳng viết được dòng nào cả. Tôi đã ghi lại đoạn này rồi. Thực ra, Racine làm việc khá nhiều. Cả tôi cũng thế. Tại sao tôi lại lôi kéo Delphine, và tại sao bà ấy lại chịu để cho tôi lôi kéo, vào cuộc sống toàn người điên điên khùng khùng thế này, mà quả là cuộc sống của chúng tôi đang lâm vào tình trạng như vậy thật. Hôm nọ, bà ấy đã nói toạc ra một câu rất chí lý:

- Chúng ta sống một cuộc sống của người điên khùng, hay nói đúng hơn, chúng ta là những kẻ điên khùng đang sống.

Nhưng Delphine còn chưa biết hết mọi chuyện đâu. Gần đây, tôi phải giấu biệt toàn bộ thư tín mà người ta gửi cho tôi. Từ ba tháng nay, tôi không dám rời khỏi căn hộ, ngộ nhỡ nhân viên chấp pháp lại đến vào lúc tôi đi vắng và bà ấy phải ra mở cửa thì sao. Bà ấy sẽ choáng mất.

Tôi mà sống độc thân thì mới có quyền được là kẻ không lo xa bất trị, mặc dù trong thâm tâm, tôi đâu có cảm thấy mình là người như thế. Đối với Zoé và Woglinde, tôi là cha kiểu gì vậy? Khi đọc và gạch dưới những điều kinh khủng mà các nhà phân tích tâm lý khẳng định về vai trò của người cha, tôi hoàn toàn nhất trí với họ khi nghĩ đến cha mình, ngay cả khi họ còn táo bạo đến mức ám chỉ rằng người cha duy nhất thực thụ phần nào là con tinh trùng, nhưng tôi lại tự nhủ: “Miễn là hai con gái mình không tình cờ đọc được đoạn này!” và thế là tôi giấu biệt luôn những cuốn sách ấy đi. Con gái Zoé thân yêu, tên con là một từ Hy Lạp có nghĩa là cuộc sống, Zoépoiétiki, kẻ tạo ra cuộc sống! Còn con, Woglinde, con mang tên một người con gái sông Rhin, nữ thần sông núi canh giữ vàng bạc… Hồi còn bé, các con hay vòi cha kể cho nghe nguồn gốc tên mình lắm.

Tôi mà xuất bản được cuốn sách thì nhất định sẽ năng về thăm mẹ hơn. Con người tôi không bao giờ biết hối hận là gì. Còn hối tiếc thì có, nhưng không liên quan gì đến hối hận cả. Trong bất kỳ cảm giác hối tiếc nào cũng có một tính chất “đau đớn buốt nhói, thấm thía” mà tôi không hề cảm thấy bao giờ. Đằng này, hối tiếc là mình lầm lỗi nhưng không có ác ý. Mình không chấp nhận nhưng cũng không lên án quá khứ. Ngược lại, hối hận khiến mình cứ nghĩ luẩn quẩn mãi không sao tiến lên phía trước được. Và ngày nào, tôi cũng nắm chặt tay như một cầu thủ quần vợt và thầm hô khẩu hiệu không biết bao nhiêu lần: “Nào, François! Nếu mi muốn thoát ra khỏi tình cảnh này thì hãy thẳng tiến!” Cả một nền văn học viết bằng tiếng Hin-đi, tiếng Pa-li hay tiếng Phạn không cần chờ tôi tìm đọc cũng đã khẳng định từ bao thế kỷ này rằng quy luật cuộc đời là phải tiến lên phía trước. Bánh xe cuộc đời cứ quay mãi mãi. Ai hãm nó lại được đây? Delphine chẳng cần phải có một thầy Bà-la-môn giảng giải cũng phát biểu được một câu, trong một phút làm ra vẻ thanh thản, miệng mỉm cười mơ màng: “Nhìn từ góc độ nào đi chăng nữa thì cuộc sống của chúng ta sau này cũng sẽ không được yên ấm lắm.”

Tôi sắp sáu mươi tuổi rồi. Cả Delphine cũng vậy. Giả sử như một buổi tối, chúng tôi được mời đến dùng bữa ở nhà Freud[2] tại Viene, ông chủ nhà sẽ nhận xét như thế nào sau khi chúng tôi cáo lui? “Cả hai người ấy đều có xu hướng khá mạnh mẽ thích thú gây đau đớn cho người khác” chăng? Ông ta có nói rõ thêm: “Người đàn ông ấy không phải là không có tính thích tự gây đau đớn cho mình đâu” không? Nếu là thời Louis XIV, không biết người ta sẽ nghĩ gì về chúng tôi nhỉ? Các quan trong triều sẽ nhìn chúng tôi đi dạo trong vườn Versailles và bàn tán: “Nhìn bà công nương sắp sang tuổi xế chiều và ông chồng già cốc đế kìa.” Lần đầu tiến đọc được câu này, tôi còn là học sinh trung học, thế là tôi áp dụng luôn vào trường hợp cha mẹ mình. Tôi không sao nhớ nổi câu này là của ai nữa.

Khi cha tôi mất, mẹ tôi mới ở lứa tuổi gần như tôi bây giờ. Các bà bạn tín đồ Công giáo rất đông của mẹ tôi, cả các bà sùng đạo lẫn các bà mù quáng vì đạo, và cả các chị tôi và bản thân tôi nữa, đều tin rằng bà sẽ tạo được hình tượng góa phụ theo lời khuyên của thánh Paul. Đối với các cháu ngoại tôi, Saint Paul chỉ còn là tên một trạm xe điện ngầm ở Paris và tên thủ phủ bang Minesota, nơi mà tôi không hề mong chúng đến và nơi mà nhà văn François Scott Fitzgerald không thể phát biểu trái với ý kiến của tôi được, ngay cả khi Côte d’Azur từ lâu đã không còn là thiên đường đối với ông ta như xưa kia nữa, mặc dù mỗi khi đứng trên sân thượng khách sạn Roches Blanches ở xã Cassis nhìn ra Vịnh Canaille hay dạo chơi trên bờ thành ở Antibes, tôi vẫn khăng khăng cho rằng Côte d’Azur vẫn là một kiểu thiên đường. Sau khi tôi chết, các cháu ngoại của tôi sẽ tìm thấy tác phẩm của Fitzgerald trong tủ sách, và chắc chúng sẽ không hiểu nổi, tại sao ông chúng lại thích những truyện quá ủy mị đa cảm như vậy, nhưng thôi, chúng ta hãy trở lại đề tài thánh Paul, một trong số rất ít người được Chúa Giê-xu chọn để xuất hiện trước mắt và truyền ý muốn của Người nhưng lại làm cho mắt ông không nhìn thấy gì trong ba ngày. Thánh Paul đã đưa ra những lời khuyên răn rất nghiêm khắc và áp đặt về vấn đề hôn nhân và những gì liên quan. Ông chấp nhận cho góa phụ được tự do muốn lấy ai thì lấy, miễn là “ở trong Chúa”, nhưng rồi lại vội nói thêm rằng góa phụ sẽ có phúc hơn nếu không tái hôn. Thánh Paul thuộc mẫu người có quan điểm rõ ràng về mọi vấn đề, từ vấn đề được phép để tóc dài đến đâu hay cách ăn thịt. Ông còn khuyên nô lệ: “Hãy tuân theo chủ nhân của các ngươi dưới trần thế này” và yêu cầu đàn bà con gái phải im lặng trong các cuộc hội họp công cộng.

Sau vài năm sống trong cảnh góa bụa theo lời dạy của thánh Paul, mẹ tôi đã phải lòng một người đàn ông trẻ hơn bà mấy tuổi.

Trước tiên, bà thông báo riêng cho từng người trong số năm cô con gái đã, sau đó mới đến lượt tôi, đứa con trai độc nhất, nhưng tôi đã được mấy chị em kể cho nghe ngay khi biết tin rồi. Claire, bà chị cả, vẫn thường bảo chúng tôi: “Mẹ phải làm lại cuộc đời chứ.” Chị ấy có hình dung ra cảnh mẹ tôi mà tái hôn thì sẽ như thế nào không? Tôi thì lại ghét nhất đi dự đám cưới. Nhưng may cho tôi, người ấy lại có vợ rồi, thế là thánh Paul sẽ phẫn nộ lắm đấy. Ông ta có bốn người con đã trưởng thành, con nào cũng đã có gia đình riêng, và hiện sống với vợ, một người đàn bà quanh năm ốm đau quặt quẹo cho nên không thể để cho bà ta biết chuyện được. Cứ tối đến, ông ta lại phải viện đủ mọi cớ để xuống đường chui vào một buồng điện thoại công cộng và giấu vợ gọi cho mẹ tôi. Một hôm, chờ mãi không thấy ông ta gọi đến, bà đã tâm sự với tôi: “Con có hiểu không, mẹ không muốn làm gì có hại cho bà vợ ông ấy đâu, không có mẹ thì bà ấy cũng đã khổ sở lắm rồi, mẹ không mong cho bà ta chết nhưng dù sao thì bà ta có chết thì mới hết khổ được.”

Ông ta tên là Frédéric Trucbert và là chủ, đồng thời phải trực tiếp điều hành, một xưởng làm giấy bìa. Muốn đi chơi với mẹ tôi, ông ta phải bịa ra những chuyến thăm dò thị trường, lần thì Nam Hàn, lần thì Phần Lan, và ông ta thường đưa mẹ tôi đến những khách sạn thơ mộng bên bờ hồ Annecy hay vùng ngoại ô Paris. Ông ta làm thế nào để cho bà vợ tin là mình đang ở Helsinki trong khi lại gọi điện thoại về từ Saint-Germain-en-Laye nhỉ? Ông ta xoay xở ra sao với số điện thoại ở các khách sạn? Thời ấy đã làm gì có điện thoại di động. Hồi còn chưa biết quan hệ giữa mẹ tôi và ông ta, tôi đã được xem một tấm ảnh ông ta chụp trên bờ bể bơi trong một khách sạn lớn, ngồi bên cạnh một cô gái rất xinh khoảng hai mươi lăm tuổi. Trong tấm ảnh màu ấy, tôi chỉ để ý đến cô gái mặc áo tắm ấy thôi. Tôi có hỏi bà xem cô ấy là ai. Mẹ tôi ấp úng rằng, đó là bạn thân nhất của một trong số mấy cô cháu gái tôi. Nếu có dịp, tôi rất muốn làm quen nàng tiên cá ngồi bên cạnh cầu nhảy ấy, hồi đó cô ta chưa thể đoán được sau này cha cô sẽ trở thành người tình của mẹ tôi. Ngủ với con gái người tình của mẹ mình thì không hiểu đó là cấp nào trong thang của Richter về tội loạn luân?

Ông Frédéric kém mẹ tôi mấy tuổi nhưng vẫn đinh ninh rằng bà trẻ hơn mình. Mẹ tôi rất thích thú về chuyện hiểu lầm này: “Việc gì mẹ phải nói thật cho ông ấy biết. Ông ấy chưa bao giờ xem thẻ căn cước của mẹ. May mà trong các khách sạn, người ta không bao giờ yêu cầu mẹ trình giấy tờ cả! Mẹ không phải là kẻ nói dối, ông ấy tưởng mẹ trẻ hơn năm tuổi thì đâu có phải lỗi tại mẹ”. Mọi người đều nhất trí như vậy, nhìn bà thì ai bảo bà từng ấy tuổi đầu rồi.

“Đó mới chỉ là người đàn ông thứ hai mà mẹ biết trong đời thôi mà”, bà chị và mấy cô em tôi bảo nhau như vậy, chả là tất cả bọn họ đều trải qua nhiều mối tình hơn mẹ nên rất dễ thông cảm. Tôi chợt nhớ đến một cô cháu gái gọi tôi bằng bác. Một hôm, cô bé gọi điện nhờ tôi làm nốt một bài văn nghị luận. Đang nói dở, cô bé bỗng im bật, và bằng một giọng thờ ơ như thể báo tin nhà vừa sắm một chiếc lò vi sóng mới, cô bé thì thầm vội mấy câu: “Mẹ cháu vừa về cùng tay tình nhân mới đấy, bác ạ, cháu phải chuồn để họ được tự nhiên thôi, cháu cúp máy đây.” Tôi không kịp cả hỏi xem cha cháu đang ở đâu.

Các chị em tôi thường đem cuộc sống tình cảm của mẹ ra bàn rất sôi nổi, như thể họ là các ngôi sao ba-lê đàn chị quan tâm dạy bảo một đàn em học sinh lớp múa ở Viện Nhạc kịch Paris mới vào nghề vậy. Đối với ông Frédéric Trubert, buổi mà Mẹ giới thiệu ông với chúng tôi không còn là cuộc thương lượng mua bán bột giấy ở bán đảo Scandinavie hay cuộc đối đầu với hội đồng quản trị nữa mà là lễ ra mắt một ban hội đồng giám khảo khó tính và xét nét mà thành phần là chị tôi, các em gái tôi và tôi. Mấy ngày trước, chị em chúng tôi đã bàn kỹ mọi việc qua điện thoại: “Chúng mình phải khen ông ta dễ mến đấy nhé. Không còn cách nào khác đâu.” Như tất cả mọi gia đình, tính nết chị em chúng tôi rất khác nhau, mỗi người một ý nên dễ xảy ra chuyện lôi thôi lắm. Chúng tôi mà không lớn lên trong cùng một nhà thì có lẽ chỉ như người dưng nước lã thôi, đơn giản là vì chúng tôi không bao giờ hợp nhau cả. Nhưng sáu chị em lại có cả một thời kỳ thơ ấu không không bao giờ quên được, chúng tôi lại có biết bao kỷ niệm chung không thể xóa bỏ chứ không phải khó tả nên lời đến bây giờ vẫn làm chúng tôi vui buồn, lúc vui lúc buồn tùy theo thời điểm. Tôi vẫn tự hỏi mình, không biết có phải mối tình đầu của đời tôi bà chị cả Claire không. Chắc chị sẽ ngạc nhiên lắm nếu tôi nói cho biết, một vài lần, tôi đã gọi tên chị chứ không phải tên người đàn bà mà tôi đang ôm ấp và cùng chung hưởng khoái lạc tình dục. Chị mà hỏi Delphine thì khắc biết thôi. Nói tóm lại, tôi hay bị tên đàn bà ám ảnh lắm. Đôi lúc, khi tôi hổn hển thì thầm tên những bạn tình cũ mà tôi đã từng ăn nằm lại thoáng qua trong tâm trí, thế là tôi phải kìm nén lắm mới không bật ra một trong những cái tên ấy, có khi nhiều tên một lúc, thay vì kêu đúng cái tên mà tôi bắt buộc phải nhớ lúc đó. Những giây phút như vậy, tôi lại tự an ủi cho mình đỡ băn khoăn rằng người đàn bà mà tôi đang ghì chặt vào lòng sẽ thay thế, sẽ nhập chung vào làm một hay loại trừ tất cả những người đàn bà khác, nhưng ý nghĩ này lại đè nặng lên tâm trí tôi chứ không làm tôi yên tâm được. Hai đối tượng mà mình cảm nhận cùng một lúc bao giờ cũng có một cái gì đó chung. Quy luật của tính giống nhau là thế. Một âm tiết, đôi lúc một nguyên âm đơn giản, cũng đủ để cho mình nhớ đến một cái tên cũng có nguyên âm hay âm tiết ấy. Trong trường hợp chị Claire và Delphine thì phải mất một thời gian khá lâu sau, tôi mới nhớ là ngày xưa, hồi còn nhỏ, tôi đã đặt biệt hiệu cho chị Claire là “Délice[3]”. Chúng ta luôn bị những quy tắc mà chúng ta không hiểu rõ chi phối, những quy tắc cũng bất di bất dịch như trong ngữ pháp, thí dụ như một từ bao giờ cũng phụ thuộc vào một từ khác trong câu chẳng hạn. Khi các liên từ phụ thuộc chi phối động từ ở lối liên liếp thì người ta không thể tùy tiện đặt động từ ở lối trình bày được. Cả tôi nữa cũng không thể tùy tiện tách một tên riêng ra khỏi các tên khác được.

Buổi gặp mặt giữa gia đình Weyergraf và ông Frédéric Trubert diễn ra vào mùa hạ, khoảng giữa tháng tám, trên sân thượng ngôi nhà xứ Provence, nơi mà mấy chị em tôi đã trải qua rất nhiều kỳ nghỉ hà và cũng là nơi mà hiện nay Mẹ đang sống một mình. Xưa kia, đó là một ngôi nhà thờ cũ mà Giám mục thành phố Digne đứng ra bán năm 1954 hay 1955 gì đó, và cha chúng tôi đã tậu được với một cái giá rẻ như cho. Hồi đó, ngôi nhà đã đổ nát lắm rồi, muốn đến đó thì phải vượt qua mấy con đường đất, nước máy lại không có. Chúng tôi phải đi múc nước ở giếng một tu viện cổ không còn một viên gạch nào nguyên vẹn và bị bỏ hoang gần đó. Chị em tôi phải ở chung với lũ nhện và một vài con bọ cạp trong một phòng ngủ tập thể mà ngày xưa nằm ở giữa Carniol và Revest-des-Brousses, những người thông tỏ đường đi lối lại ở vùng này đều biết rất rõ. Chính trong ngôi nhà ấy, ngày mồng 5 tháng Hai năm 1974, một buổi sáng mùa đông giá lạnh, cha tôi đã qua đời. Từ tối hôm trước, ông đã dặn mẹ tôi phải gọi ông dậy bằng được trước mười hai giờ trưa và ông đã thức trắng đêm để viết cho xong một bài báo. Bà đã phải lên lên xuống xuống đến hai mươi lần để gọi ông dậy, và chỉ đến khi lay người ông thì bà mới biết là ông đã tắt thở từ lúc nào.

Đêm hôm ấy, cha tôi nằm trên chiếc giường mà buổi sáng hai mẹ con đã trải mấy cái khăn lanh thêu màu trắng. Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu làm thế nào mà hai mẹ con lại trải được tấm khăn dưới thi thể cha tôi vì người chết thì khó nâng lên hơn người ốm nhiều. Lúc nhập quan, khi phải chứng kiến cảnh hai nhân viên nhà tang lễ nhét thi thể cha tôi vào cái túi rác lớn màu xám mà không thèm gượng nhẹ gì cả, rồi đặt cả bọc vào hòm gỗ, tôi đã tưởng bà sắp ngất xỉu đến nơi.

Đầu giờ chiều, chúng tôi mới xong việc ở nghĩa trang, một khách sạn cho người chết mà sách hướng dẫn du lịch Michelin có lẽ chỉ xếp được vào hạng một sao. Chúng tôi dừng xe ở thị trấn Forcalquier để vào cửa hàng anh em Tagliana mua thịt lợn muối, nhưng họ nhất định không chịu nhận tiền với lý do: “Cha các ông, các bà từng là chỗ bạn bè với anh em chúng tôi mà.” Sinh thời, cha tôi chỉ mê nhất món ô-liu đen muối với lá húng tây bán ở đó. Bà chị và bốn cô em tôi, người nào người nấy mặc bộ váy áo đen tuyền trông rất trang nhã, đã nhanh trí làm một vài món nguội và đem nước giải khát ra mời tất cả những người đến chia buồn với gia đình, phần lớn bọn họ đều ở khá xa. Cha tôi mà còn thì chắc là sẽ tự hào về các con gái lắm. Tại sao cuộc đời chúng ta cứ phải chấm dứt ngay trước lễ tang của mình, một trong những dịp hiếm hoi mà thế nào chúng ta cũng được ca ngợi hết lời nhỉ? Tôi hay tưởng tượng về đám tang của mình. Quan tài thì tôi đặt hàng của cô họa công mà tôi đã có một cuộc tình ngắn ngủi, tất nhiên là thế rồi. Lễ tang thì sẽ được tổ chức tại một phi trường hay một rạp hát, nhưng có lần thì là tại một nhà thờ xây theo phong cách ba-rốc ở Haute Bavière. Cái kiểu lễ tang fantaisie[4] ấy, cũng giống như người ta gọi “kirsh fantaisie” (thực ra chẳng có kirsh gì cả) lại thú vị nhất ở chỗ mình được sắm vai chính, mặc dù là một vai chính kịch câm. Người nào tưởng tượng được lễ tang của mình tức là người ấy vẫn còn sống nguyên.

Nhân dịp ông Frédéric đến chơi, Mẹ đã thực hiện được kỳ tích là lần đầu tiên, kể từ khi cha chúng tôi mất, tập họp đủ sáu người con. Bà đã bỏ bộ ly pha lê ra dùng, và trên sân trời, dưới bóng mát cây đoạn, tôi chợt nhớ đến việc các chị em mình đã phục vụ nước quả ép cho khách khứa sau khi mọi người đi dự đám tang Cha về, thế là tôi đứng lên khui chai sâm banh thứ nhất trong số những chai có niên hiệu đàng hoàng mà ông Frédéric Trubert mang đến. Phong thái ung dung lịch lãm, ông ta mỉm cười thân thiện lần lượt với từng người và kể cho chúng tôi nghe về các chuyến du lịch ở châu Phi. Phải công nhận là ông khá hiểu biết về Kenya. Ông ngỏ ý muốn mời mẹ tôi cùng đi khám phá các bãi tắm bên bờ Ấn Độ Dương, gần thành phố cảng Mombasa. Bà bảo bà thích trở lại Venise hơn. Ông lại chuyển sang đề tài sườn núi lửa Kilimandjaro. Mẹ tôi liền hỏi, ông đã xem phim Tuyết trên đỉnh Kilimandjaro chưa, vai chính là Gregory Peck, một trong những diễn viên mà bà mê nhất. Nhưng ông Frédéric ít khi đi xem phim. Tôi bèn nói cho ông biết mẹ tôi là người rất mê phim ảnh. Hai người chưa kịp bàn sâu hơn về đề tài này thì Bénédicte, cô em từng làm kế toán ở Nam Phi mặc dù có bằng tốt nghiệp đại học môn tâm lý, lại lên tiếng hỏi về hậu quả mà cuộc nổi dậy của tổ chức Mau-Mau đã để lại cho đất nước Kenya. Mọi người đều nhận thấy ông Frédéric Trubert là một nhà kinh doanh thân cận với nhà cầm quyền bên đó. Ông thường xuyên được yết kiến tổng thống Jomo Kenyatta. Tôi không còn nhớ ai đã đề cập việc gọi tên riêng cho thân mật, và tôi đã lo ông Frédéric sẽ nêu ý kiến mong được chị em chúng tôi gọi ông ta là Fre, Freddy hay Fredo, nhưng may mà ông ta không phạm phải sai lầm ấy. Và suốt cả buổi gặp mặt ấy, ông ta không phạm một sai lầm nào cả. Sau một chầu sâm banh, ông ta mời chúng tôi đến tiệm ăn L’auberge du Lubéron. Để phòng xa, ông ta đã đặt trước một bàn tám chỗ ngồi, đó là một cơ sở mới mở được ít lâu ở thị trấn Apt, mặt tiền nhìn ra bến cảng, và ông ta đã từng đưa mẹ tôi đến đó dùng bữa. Chúng tôi phải đi mấy xe mới đủ. Mẹ tôi lên xe ông Frédéric. Tất cả các chị, em tôi đều biết lái xe. Cả tôi nữa, tôi cũng đã từng lái xe nhưng phải bỏ. Ngồi trước tay lái, tôi hay mất bình tĩnh, hơn nữa, tôi lại có vấn đề về thị lực, và tôi muốn đi nhanh hơn, tôi không xác định chính xác được tốc độ xe ngược chiều. Tôi không sao đánh giá được khoảng cách giữa hai xe giảm dần như thế nào. Hồi đầu thập kỷ sáu mươi, tôi đã có lần lái một lèo từ Hambourg đến Naples mà gần như không dừng lại lần nào, tôi đã chạy xuyên qua nước Đức và chỉ ngủ hai hay ba bận gì đó trong xe, bên vệ đường. Hồi ấy, tôi mới hai mươi lăm tuổi.

Khi chúng tôi rời khỏi tiệm ăn, một mình ông Frédéric lên chiếc Volvo của mình. Ông còn phải đến chỗ bà vợ đang ở chơi nhà anh con cả ở gần thị trấn Uzès. Ông chỉ phải lái xe khoảng một tiếng là đến nơi. Tối hôm ấy, chúng tôi ngồi quây quần trong bếp, còn mẹ đã lên gác nghỉ, một cô em lên tiếng phát biểu trước: “Lạ thật, sao ông ấy làm mình nhớ đến Cha thế nhỉ, ông ấy cũng cao to như cha, và cả chất giọng cũng giống nữa.” Mẹ tôi không bao giờ giấu là bà chỉ thích giọng nam trầm, uy nghiêm, ấm áp và âm vang như giọng cha tôi, người từng là một nhà diễn thuyết tuyệt vời. Bà chỉ yêu được những người đàn ông rất cao lớn. Cha tôi cao một mét chín mươi, nhưng mẹ tôi thì lại thấp bé, hình như một mét sáu mươi thì phải. Cả đời, bà đã mang giầy cao gót đế đến bây giờ phải khổ sở vì chứng vẹo cột sống hay gù vẹo.

Chúng tôi được biết, Mẹ gặp ông Frédéric trong một buổi dạ hội mà chắc chắn rượu đã đóng vai trò giải ức chế. Mấy điểm chung giữa hai người đàn ông trong đời mẹ tôi (ba mươi lăm năm chung sống với người thứ nhất, một vài cuộc gặp gỡ cách quãng với người thứ hai) khiến chúng tôi nhận ra một điều, nhất định phải có những điều kiện cần thiết nào đó thì tình yêu mới nảy nở được, những điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ, may thay! “Thế còn anh, anh cần những gì thì mới phải lòng người ta?” Bénédicte hỏi tôi. Tôi thì lại quan tâm đến những lý do khiến tôi không yêu một người đàn bà. Thứ nhất là người đó không được trùng tên với bà chị hoặc bất cứ cô em nào của tôi, thứ hai là không được có mắt đen và vóc dáng nhỏ bé như Mẹ:

- Từ xưa tới nay, anh mới yêu có một vài người thôi, nói chung là rất ít, đấy là nói yêu thật lòng chứ không phải yêu vớ vẩn đâu. Còn lâu anh mới yêu tất cả những cô tóc vàng mắt xanh lam mà anh đã…

- Nói tóm lại, anh không hợp với đàn bà miền Nam chứ gì! Ừ nhỉ, đúng là mắt chị Delphine xanh ngọc thật.

Tôi từ Paris xuống Alpes-de-Haute-Provence một mình. Delphine đã đi Thụy Sĩ với hai con gái. Các chị em tôi cũng không đưa chồng về thăm mẹ. Các anh em rể tôi (năm đó, nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như cả bà chị và bốn cô em tôi đều kết hôn hoặc tái hôn) đang ở đâu, chỉ có trời mới biết được. Chị em chúng tôi thôi không bàn chuyện ông Frédéric nữa. Vừa ra khỏi thị trấn Uzès, ông Frédéric đã vào một ca-bin điện thoại công cộng gọi cho mẹ tôi để bày tỏ, ông vui mừng như thế nào được làm quen với các con bà: bà vội xuống bếp nói lại cho chúng tôi biết ngay. Trong lúc uống nốt chai porto, chúng tôi tiếp tục nói chuyện lan man thế nào mà lại chuyển sang đề tài ông nội, một thợ rèn đã làm việc rất vất vả và sống tằn tiện để cho con trai được học hết bậc đại học và trở thành luật sư. Không hiểu ông nội có phản ứng thế nào khi cha chúng tôi đột nhiên tuyên bố từ bỏ nghề luật sư để chuyển sang viết văn nhỉ? “Còn anh, cô em út nói với tôi, Cha muốn anh thôi không viết văn nữa để trở thành luật sư đấy.” Cả sáu chị em đều nhất trí nghiêm khắc phê phán cách cư xử của cha đối với ông nội, cha hay gắt gỏng với ông nội lắm. Ngồi nhấm nháp rượu porto và nghĩ lại, chúng tôi mới thấy ân hận vì đã không đối xử tốt hơn với ông nội. Rồi, như mỗi lần có dịp họp mặt đủ cả sáu, chúng tôi lại nhắc đến cuộc đời bà ngoại, một người đàn bà lúc nào cũng buồn u uất vì bị chính em gái út của mình phụ lòng tin, người em gái ấy đã tự tiện đến ở cùng nhà với chị và ngủ với anh rể. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, chúng tôi lại không khỏi mủi lòng trước cảnh ngộ của một cô bé tám tuổi ấy – tức là mẹ chúng tôi – một mặt thì phải nói dối để che dấu thói trăng hoa của cha, mặt khác thì lại phải đứng ra làm trung gian giữa mẹ và dì. Được thực hành liên tục như vậy, năm học nào cô bé dễ thương ấy cũng đoạt giải nhất cuộc thi ăn nói lễ phép ở trường. Khoảng ba giờ sáng, cô bé mà chúng tôi vừa nói đến, người mà sau này đã sinh ra cả sáu chị em chúng tôi, hé mở cửa phòng ngủ để nhắc chúng tôi nói chuyện khẽ hơn một chút.

Chị cả Claire định rủ các em gái về chỗ mình, một ngôi nhà đứng tên hai vợ chồng chị, cách ngôi nhà thờ của gia đình hai mươi cây số, gần khu rừng công Sigonce. Sáng sớm hôm sau, ăn điểm tâm xong, chị sẽ đưa các em ra ga Avignon cho tiện. Mọi người mải chuyện quá đến nỗi trời sáng lúc nào không hay. Thế là mấy chị em quyết định ngủ lại ngôi nhà thờ cũ, rồi hôm sau sẽ đi chuyến tàu khác để về nhà, vé đặt trước cũng bỏ luôn. Trước khi tắt đèn hành lang, tôi bảo mấy chị em: “Chúng mình ở lại thêm một ngày nữa càng hay chứ sao.” Năm chị em bắt đầu bảo nhau kẻ dọn, vừa làm vừa nô đùa khe khẽ, cố nén không dám cười nói to. Vớ được thứ gì họ trải tạm xuống đất thứ đó, nào đệm hơi, nào gối dài, nào chăn đơn chăn đôi, và thế là họ được dịp ngủ chung một phòng như hồi còn nhỏ.

Mẹ đã dọn giường đệm cho tôi trong căn phòng mà ngày xưa tôi ở. Chỉ có một mình tôi được nghỉ lại ở nhà bà thôi. Bà còn chu đáo tới mức để sẵn một chai nước và một cái cốc trên bàn đầu giường. Vừa ngả lưng xuống giường, tôi đã phải bật dậy để tháo chân dung cha tôi trên tường và cất vào tủ, mong sao sáng hôm sau tôi không quên treo lại vào chỗ cũ. Tôi không cần ông canh gác trong lúc tôi ngủ, và tôi cũng không muốn tỉnh dậy mà thấy ông cứ nhìn chằm chằm như vậy.

Tôi đang khoan khoái nằm trên mớ khăn trải giường mới giặt thì chợt nhớ ra, thôi đúng rồi, đây chính là mấy tấm lanh thêu mà năm năm trước, sau khi cha tôi qua đời, hai mẹ con đã trải cho ông nằm. Chả là hôm ấy, Delphine vội vã rời Paris và đáp chuyến tàu đêm (thời đó chưa có TGV[5]). Từ ga Avignon, bà ấy đã bắt taxi đến thẳng nhà thờ lớn Forcalquier, nơi tổ chức lễ tang. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh chiếc va-li của bà ấy đặt cạnh ghế cầu kinh. Suốt cả ngày hôm ấy, Delphine cứ lủi thủi đứng một mình, bà ấy không quen ai trong số bạn bè gia đình tôi cả, hơn nữa, vốn từ nhỏ đã không có gia đình, nên người nhà tôi làm bà ấy ngại. Sau khi uống một viên thuốc an thần, mẹ tôi vào một trong những phòng trẻ con ngày xưa để nghỉ ngơi, chắc là bà không muốn ngủ trên chiếc giường mà ba ngày trước đó bà đã phát hiện ra ông chồng nằm cứng đơ cho nên nhường cho con trai và con dâu căn phòng lớn, nơi cha mẹ tôi sử dụng từ hồi cưới. Nhưng tôi cũng đâu có muốn nằm trên cái giường ấy. May thay, ở góc phòng lại có một cái đệm đơn và hai bộ khăn trải giường đặt sẵn trên đó. Vợ chồng tôi bèn lột mấy cái chăn trên chiếc giường lớn và khiêng tấm đệm ra giữa phòng. Tôi thấy nhẹ nhõm cả người vì lúc này mới được ở một mình với Delphine, tóm lại là một người biết rất ít về cha tôi cho nên sẽ chỉ nói với tôi về những chuyện khác chứ không phải về ông.

Thường thường về mùa đông, vùng Haute Provence được các nhà băng hà học quan tâm hơn khách du lịch nhiều. “Chúng mình năm chung trên tấm đệm hẹp này sẽ ấm hơn nhiều,” Delphine vừa trải giường vừa bảo tôi. “Anh vào đây nhanh lên, em sẽ sưởi ấm cho,” bà ấy giục tôi, rồi người trần như nhộng, vội chui luôn vào giữa mấy lớp vải lạnh ngắt. Tôi mới đang hôn hít khắp người bà ấy thì đã phải nhảy dựng lên trông chẳng có vẻ gì là một tư thế mà bộ sưu tập sách khiêu dâm Trung Hoa của tôi dạy cả. Tôi vừa giật mình nhớ ra, hai vợ chồng đang làm tình trên mấy tấm khăn trải trên chiếc giường mà cha tôi nằm lúc ông lâm chung: “Anh nhận ra tấm ga này rồi! Chính là ga trải giường Cha! Sáng nay, chính tay anh giúp Mẹ lót dưới thi thể Cha mà.”

Nghe thấy thế, Delphine vội bật dậy, và cuối cùng, nằm tạm bợ trên hai cái đệm hơi mà tôi xuống hầm nhà mang lên, không cần khăn trải gì cả, chúng tôi cũng thiếp đi được. Chúng tôi có tiếp tục âu yếm nhau không ấy nhỉ? Tôi quên mất rồi, còn Delphine, bà ấy có nhớ nổi một việc xảy ra cách đây đã một phần tư thế kỷ không? “Đỉnh cao khoái cảm một đêm sau lễ tang”, đầu đề giật gân cho một chương sách đây. Cả “Không có đỉnh cao khoái cảm” cũng là một đầu đề hay không kém đấy chứ. Gần đây, tôi có nghiên cứu một số bản dịch khác nhau của anh hùng ca Iliade. Nàng Hélène sắp gặp lại chàng Pâris. Cách dịch thứ nhất: “Chàng ngả lưng xuống giường nàng, và hai người trôi dần vào giấc ngủ.” Cách dịch thứ hai: “Chàng dìu nàng lên giường rồi hai người say đắm trong khoái lạc.”

Mới có tám giờ sáng, điện thoại đã đổ chuông ầm ĩ, khiến tôi giật mình tỉnh giấc. Tôi hiểu ngay, ông Frédéric đang gọi cho mẹ tôi. Chưa kịp nghe tiếng gác máy keng một cái nho nhỏ, tôi đã lại ngủ tiếp một mạch cho đến một giờ chiều mới ra khỏi giường. Chị em tôi đã có mặt đầy đủ ngoài sân trời, như thế là tôi dậy muộn nhất nhà. Họ đã nướng bánh mì. Dưới ánh nắng, tảng bơ đã mềm và sắp chảy thành nước, đống hộp đào và hai hũ mật trên bàn đã dụ mấy con ông đến vo ve xung quanh.

- Chị Claire ơi, Mẹ đâu?

- Mẹ biến vào phòng khách rồi, đang thủ thỉ trong điện thoại với ông Frédéric đấy. Chị chỉ nghe câu được câu chăng thôi, nhưng mùi mẫn lắm, mẹ nói giọng thỏ thẻ như gái mười tám ấy.

Thế mà có một lần, người ta tưởng nhầm bà là vợ tôi cơ đấy! Tôi hỏi năm chị em: “Thế ra em chưa kể cho chị Claire và các cô nghe buổi tối mà chúng em, tức là Mẹ, Delphine và em, ngồi ở quán Harry ư?” Đó là dịp Mẹ lên Paris thăm chúng tôi, cách đó ba năm. Mười ngày đầu, bà đã đem hết những mẩu chuyện lý thú trong kho kỷ niệm gia đình mà bà là người có công lưu giữ ra kể với hai cháu nội, phải công nhận là bà nhớ khá nhiều và bọn trẻ rất thích nghe. Bà ghét con mèo nhà tôi lắm, đó là một con mèo lai đen tuyền được đặt tên là Pruneau, lạ một điều là nó rất quấn bà, quấn đến mức bà chỉ cần động đậy một chút thôi, nó đã nhảy phóc lên vai bà và bấm vuốt vào cổ. Bà sử dụng phòng Zóe, trong đó có hình James Dean và Leonard Whiting, người đóng vai Romeo trong phim của Zeffirelli, thức canh cho bà yên giấc. Vừa tỉnh dậy, bà đã mở hé cửa và cảnh giác thò đầu ra ngoài nhờ mọi người nhốt con mèo lại, trong lúc bà đi từ phòng ngủ vào buồng tắm. Ngày thứ ba, chúng tôi đành gửi tạm con Pruneau sang bà hàng xóm nhờ nuôi dùm.

Delphine yêu cầu tôi cố gắng dậy sớm hơn thường lệ, những ngày mà hai đứa con gái đi học: “Ông đừng để tôi sáng nào cũng phải một mình tiếp chuyện mẹ ông. Tôi cũng rất quý bà ấy nhưng bà ấy đến thăm ông là chính chứ có phải tôi đâu.” Mẹ tôi vẫn thích ăn tôm cua từ xưa, thế là một hôm, trước bộ mặt ngơ ngác của cả nhà vì tôi hầu như không bao giờ nấu nướng gì cả, tôi tuyên bố, để chào mừng bà đến chơi, tôi sẽ khao cả nhà món tôm hùm nướng lò điện. Tôi bèn đi mua toàn những thứ hảo hạng. May mà đúng dịp bà lên chơi, tôi lại tương đối rủng rỉnh, vì vậy tôi cất công đi khắp Paris tìm đến những nhà cung cấp thực phẩm ngon lành nhất. Tôi mua luôn một lúc hai con tôm hùm, mỗi con nặng chín trăm gam, tôm hùm cái hẳn hoi vì thịt chúng mềm và ngọt hơn. Rồi tôi đến cửa hàng Legrand nổi tiếng chọn rượu. Tôi còn mua cả một chai dầu ô-liu vùng Nyons nữa: Mẹ không ưa ô-liu trồng ở đất nào khác cả. Bà rất sành về các sản phẩm ô-liu và phân biệt được từng giống, giống tanche, saloneque, aglendau, grossane và nhiều giống khác nữa mà tôi chịu không sao nhớ hết được.

Mặc dù mẹ tôi khuyên chỉ nên luộc bằng nước sôi và muối hạt, tôi vẫn cầu kỳ đun một nồi nước dùng pha rượu vang và bẻ càng cua bỏ vào cho ngọt, đúng như hướng dẫn trong sách dạy nấu ăn. Khi tôi cẩn thận đếm đúng hai mươi lăm hạt hồ tiêu xanh, bà liếc nhắc tôi câu thành ngữ cổ “đắt đỏ như hạt hồ tiêu”, và khi tôi bỏ thêm hai nhánh tỏi vào nồi, bà lại bình luận: “Con có biết rằng ngày xưa, trong các loại dược thảo, tỏi được đặt biệt danh là long não cho người nghèo không?” Khi tôi cắt hành tây thành khoanh thì bà im lặng. “Thế còn hành tây, mẹ không có ý kiến gì cả sao?” – “Hình như người ta phát hiện ra thứ hành ở Palestine và quân Thập tự chinh mang giống về trồng hay sao ấy… Con định quét dầu ô-liu Nyons vào vỏ tôm à? Thế thì tuyệt!” Với con mắt rất tinh tường, bà đứng kè kè bên cạnh, vừa giám sát tôi trộn cả trứng băm vào bơ chảy vừa kể cho tôi nghe tin tức của các cháu gọi tôi là bác hay cậu, về việc học hành và chuyện yêu đương của chúng. Khâu bẻ càng hai con tôm hùm khốn khổ vẫn còn cựa quậy khá hăng không được thú vị lắm, nhưng tôi vẫn dùng kìm bóc hạt óc chó kẹp cho giập và bỏ vào nồi nước dùng. Hồi đó, chúng tôi chưa sắm được nồi Hackman, kiểu nồi này bằng thép đúc màu xỉn mờ với hai lớp inox dày dặn nhằm bảo vệ cho cái lõi bằng nhôm và được sản xuất tại Phần Lan và tôi rất thích thú ngắm nghía chúng như thể đó là một tác phẩm điêu khắc của Brancusi vậy. Hai con tôm hùm đã bị tôi bổ làm đôi, đúng giữa hai mắt, bày trên một cái đĩa gang tráng men Le Creuset và đưa vào lò. Bao nhiêu công phu chỉ cho hai phút trong lò! Như thể một cuốn tiểu thuyết mà người ta đọc chỉ có hai giờ đồng hồ trong khi viết ra nó thì phải mất hai năm trời đằng đẵng, trường hợp tôi bây giờ thì chắc là lâu hơn. Tôi vừa theo dõi xem hai chú tôm hùm chín như thế nào vừa nghĩ lan man đến những gì mà con người thích ăn từ thời xa xưa tới nay, dòi, trứng mối, châu chấu tán thành bột và trộn với mật ong, chuột chũi, mắt hải cẩu, bộ óc vẫn còn phập phồng của con khỉ vừa bị phạt đầu.

Cuối bữa ăn, mẹ tôi nhận xét: “Nói chung là hôm hay mẹ được chén một bữa không chê vào đâu được. Phải công nhận là ngon tuyệt, đáng lẽ con nên chăm làm bếp hơn mới phải.” Món tráng miệng gồm có một quả dứa mà bên ngoài bì có dán một cái nhãn quãng cáo khẳng định rõ “chíh tự nhiên dưới ánh nắng Bénin và chuyên chở bằng máy bay”, nước quả đông lạnh mua ở cửa hàng Berthillon và bánh hạnh nhân nhà Pons làm. Hai cô con gái tôi thi nhau kể chuyện cho bà nội nghe, tôi đã làm nước xốt dưa chuột như thế nào để ăn kèm với một con cá mà tôi quên khuấy mất tên rồi. Tôi đã đi chợ mua đủ cả ớt cựa gà, thìa là, mấy loại mù tạt làm theo kiểu xưa nhưng rồi lại quên mất dưa chuột.

Buổi chiều mà tôi cho là một dịp vui hiếm có ấy, trên sân trời ngôi nhà thờ cũ, mấy chị em mới cho tôi biết, chuyện về món tôm hùm François làm thì họ đã được nghe kể rồi: “Ba mươi năm anh mới ra tay làm bếp một lần để mời mẹ, khiến cho mẹ cứ nấc nỏm khen lấy khen để, nhưng từ đấy trở đi, mỗi lần mẹ đến nhà chúng em, món nào mẹ cũng bảo là không có gì đặc sắc cả. Con trai độc nhất có khác, đứa con yêu chiều nhất nhà mà… Mấy chị em thích nghe câu chuyện ở quán Harry hơn, anh kể đi nào.”

Câu chuyện ấy diễn ra ngay hôm sau bữa tiệc tôm hùm. Vào một ngày tối thứ Bẩy. Mẹ định về vào thứ Hai tuần sau, vì vậy Delphine và tôi mời bà đến quán Tan Dinh, một hiệu ăn Việt Nam mà tôi rất thích ở phố Verneuil. Thường thường, những lần ăn món châu Á, tôi chỉ uống nước trà thôi, nhưng Mẹ thì lại muốn uống rượu vang, mà quan Tan Dinh này lại nổi tiếng vì có một hầm rượu rất tuyệt. Tôi vừa chọn một chai vang đỏ ngon nhất thế giới vừa trích đọc một câu của Alexandre Dumas: “Không có gì làm cho tương lai đỏ hồng tươi đẹp hơn là nhìn nó qua một cốc Chambertin.” Sau bữa ăn, Mẹ chưa có vẻ gì muốn về nhà cả. Thế là hai vợ chồng tôi lại chiều bà, đưa bà đi uống bia ở quán Lipp là nơi mà nhiều năm qua bà không có dịp đặt chân đến. Trước kia, mỗi khi Cha có hẹn làm ăn ở khu Saint-Germain-des-Prés, ông lại bảo bà chờ ở quán Lipp, ông xong việc thì sẽ đến đó đón bà. Ba mẹ con chúng tôi ra khỏi quán Lipp và bắt taxi đến nhà hát Opéra vì bà muốn ngắm lại mặt tiền một chút; bà mới được xem có mỗi một vở ở đó thôi, và đó là vở Norma biểu diễn từ năm 1964, do nữ danh ca Maria Callas đóng vai chính.

Quán Café de la Paix đang rục rịch đóng cửa. Thấy Mẹ vẫn có vẻ chưa muốn về, tôi lại mời bà đi uống thêm một ly cuối cùng ở Harry’s Bar cách đó không xa thường đóng cửa rất muộn. Không còn bàn nào trống cả, chúng tôi đành đứng ngay tại quầy rượu, gần cửa ra vào. Mẹ và tôi bỏ qua không thèm gọi các loại rượu loàng xoàng mà chơi ngay hẳn whisky, còn Delphine vốn không ưa rượu mạnh nên chỉ uống một ly porto. Buổi tối thật dễ chịu, chúng tôi đã uống khá nhiều, mọi người đều ở trạng thái lâng lâng và nói chuyện gì cũng sôi nổi và hứng thú. Một ông ngồi bên phải Mẹ tuổi độ trên dưới năm mươi, vóc người rất cao lớn, dáng vẻ rất lịch lãm, lân la bắt chuyện với bà. Không giữ gìn ý tứ trước mặt con trai và con dâu gì cả, bà liền quay sang nói cười rôm rả với ông ta. Tôi kể cho Delphine nghe ngày hôm đó tôi đã làm gì và không để ý đến Mẹ nữa cho đến khi bà kéo tay áo tôi: “François này ông đây là chủ nhà in. Mẹ đã giới thiệu với ông ấy, con là nhà văn. Hai người có thể hợp tác với nhau được đấy!” Bà nói tiếp, tưởng rằng mình đã thì thầm khẽ lắm nhưng thực ra, không có câu nào lọt khỏi tai người trông quầy rượu: “Con tỏ ra tử tế một chút có được không, con bắt tay ông ấy đi, mẹ bảo đảm với con rằng ông ấy rất lịch sự mà, đúng là một gentleman.” Tôi chưa bao giờ nghe thấy Mẹ dùng từ gentleman cả. Tôi sẵn lòng bắt tay ông chủ nhà in, nhưng tôi thấy rõ là ông ta không được tỉnh táo lắm. Ông ta tự giới thiệu: “Pascal Robert, chủ nhà in vùng Alsace. Pascal trùng với tên nhà văn, còn Robert thì viết giống như tên cuốn từ điển ấy.” Nghe lời giới thiệu trơn tru như vậy, người ta đoán được ngay là ông ta đã nói câu này hàng trăm lần rồi. Tôi hỏi ông đã đọc Tư tưởng của Pascal chưa. Ông ậm ừ nói rằng, ông chỉ quan tâm đến Pascal trên tờ năm trăm franc thôi. Rồi ông tha thiết xin được đãi chúng tôi một chầu nữa. Chúng tôi uống khá nhiều, nhưng tôi chưa kịp mở miệng từ chối thì Mẹ đã nói át giọng: “Này này, có phải tối nào con cũng đưa bà mẹ già nua này đi chơi đâu!” Già nua gì mà già nua! Từ này không thích hợp cho lắm, tối nay trông bà rất rạng rỡ, ai dám bảo bà già nua. Thế là chúng tôi lại tiếp tục vừa trò chuyện vừa uống, tôi thì với Delphine, còn Mẹ thì với ông chủ nhà in, ông ta rất khôn, cứ mỗi lần ly của chúng tôi cạn, ông ta lại ra hiệu cho người phụ trách quầy rượu rót đầy. May mà Delphine có sáng kiến gọi thêm hot-dog, mà tôi thì chưa bao giờ chê món này ở Harry’s Bar cả. Ngồi ngay bên cạnh con trai mà Mẹ dám bảo ông chủ nhà in cắn vào miếng hot-dog bà đang ăn dở, thế là tôi hiểu rằng tình hình đã diễn biến xấu rồi. hai người có vẻ cao hứng lắm, theo ý tôi thì đã hơi quá trớn rồi. Ông chủ nhà in đã khoác vai mẹ tôi, vẻ thân mật lắm, tôi bèn nói thì thầm với Delphine: “Em có thấy là ông ta tán Mẹ sát sạt không?” Tôi dỏng tai lên và nghe thấy ông Pascal Robert bảo Mẹ: “Khách sạn của tôi ở ngay gần đây thôi, bà đến đó với tôi đi, tôi tha thiết mời bà đấy. Bà cứ tống ông nhà về trước đi – ông nhà đây chính là tôi – và con gái bà nữa – con gái chúng tôi là Delphine.” Mẹ tôi cải chính rằng chồng bà đã mất, rằng tôi là con trai bà, rằng Delphine và tôi có hai con gái. Ông ta bèn chỉ tôi: “Thế thì ông kia là ai?” “Là François, con trai tôi!” “Thế còn cô gái kia?” “Ơ hay, tôi đã bảo ông rằng đây là mẹ của hai đứa cháu nội tôi rồi mà, cháu Zoé và Wiglinde.” Đã đến lúc tôi phải ra tay thôi, nếu không thì thế nào cũng có chuyện lôi thôi với cái tay dở hơi tưởng tôi là chồng mẹ đẻ của mình và “hai vợ chồng” đang đưa con gái lớn đi chơi. Tôi cố thuyết phục bà về nghỉ, nhưng bà nhất định không chịu. “Khu này có quán nào còn mở cửa không nhỉ?” Ông Pascal Robert can thiệp: “Marie, bà cứ đi với tôi, tôi đưa bà đến khách sạn tôi trọ, quầy rượu có đóng rồi thì tôi cũng bảo họ mở lại được. rất gần đây thôi mà.” Gớm thật, tay này đã gọi mẹ tôi bằng tên riêng rồi đấy… Ông ta rút lấy một tấm danh thiếp và đưa cho tôi: “Hôtel Edouard VII, 39 Đại lộ Opéra.” Đúng là rất gần thật. Delphine ghé vào tai tôi thì thầm : “Em mệt rồi, chúng ta về đi thôi, anh cứ để Mẹ tự do muốn làm gì thì làm xem nào.” “Cái lão này say khướt rồi, anh không thể để mẹ đi với lão được.” Người phụ trách quầy rượu đã tắt gần hết đèn, đã mặc áo khoác và xua chúng tôi ra đường. Trước mặt tôi là Mẹ và ông Pascal Robert khoác tay nhau vừa đi vừa cười nói huyên thuyên. Sau lưng tôi là Delphine, bà ấy uống ít hơn chúng tôi nhiều và hiển nhiên là không muốn can thiệp vào việc của mẹ tôi. Người gác đêm ở khách sạn dửng dưng nhìn mấy ông bà khách say mèm, rạng đông mới về nghỉ. Tôi nhất quyết ngăn không cho mẹ tôi vào thang máy và tìm cách dỗ dành bà, giữ chặt tay bà, trong khi ông chủ nhà in cố nhớ số phòng để lấy chìa khóa. Một câu thơ trong bi kịch Phèdre chợt hiện ra trong đầu tôi: “Đâu mất rồi, đoan trang và tiết hạnh, giới hạn đã vượt quá xa.” Tôi lấy giọng quả quyết, hay nói chính xác hơn là tôi tưởng giọng mình đã rất quả quyết, để nhắc mẹ tôi là đã đến lúc về nhà. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in ánh mắt thất vọng của bà: “Con vô lý vừa vừa thôi, thế còn ông Pascal thì sao?”

Sau này, ngay trước mặt tôi, Delphine kể lại chuyện tối hôm ấy cho Suzanne, bạn thân nhất của bà ấy: “Cái lão say ấy cứ tưởng mình là con gái François và mẹ anh ấy mới buồn cười chứ! Cậu mà nhìn vẻ mặt của François lúc đó nhỉ. Chỉ cần nghĩ đến việc mẹ mình muốn lên giường với một người lạ là anh ấy đã không chịu nổi rồi.” Tôi thấy mình có nhiệm vụ phải nói cho rõ: “Nhưng cả hai người đều say khướt mà, chấp làm gì. Anh thì lại chỉ lo việc gì sẽ xảy ra sáng hôm sau thôi, khi lão biết Mẹ hơn mình mười lăm tuổi, thế nào lão cũng tuôn ra những lời xúc phạm bà cho xem.” Delphine vặn lại: “Không phải vấn đề chênh lệch tuổi tác làm anh thấy chướng mắt. Việc mà anh không thể chấp nhận được là cứ phải bận tâm suy nghĩ đến nhu cầu tình dục của mẹ anh, điều này thì em có thể thông cảm được.” Suzanne thấy Delphine nói rất chí lí. Thế thì phận làm con, tôi phải xử sự thế nào cho phải đây? Chẳng lẽ tôi phải lẳng lặng bỏ đi chứ không lẽo đẽo theo mẹ vào sảnh khách sạn để canh giữ bà, rồi sau đó bắt bà lên taxi bằng được như một chú mèo con mà người ta nhốt vào lồng hay sao? Delphine thì lại tin rằng ông chủ nhà in ấy sẽ không bao giờ làm hại ai, kể cả một con ruồi, và biết đâu tôi lại cản trở một chuyện tình rất lãng mạn? Nhưng trên sân thượng ngôi nhà thờ hôm ấy, tất cả các chị em tôi đều nhất trí tán thành cách giải quyết của tôi.

Tôi vốn là một người khá nhút nhát. Hồi những năm sáu mươi, vào hiệu thuốc, tôi còn không dám lên tiếng hỏi mua băng vệ sinh phụ nữ Tampax trước mặt các khách hàng nữa kia, và khi Delphine lần đầu tiên thọc tay vào áo khoác tìm cửa quần để nghịch của quý của tôi trên một chiếc taxi, tôi đã suýt ngất xỉu, vừa vì sợ, vừa vì thích thú… Bà ấy còn chơi trò này trên tàu hỏa nữa. Hôm đó, chúng tôi chỉ có hai người trong một ngăn. Delphine kéo rèm che kín cửa lối đi, còn tôi thì chỉ biết lắp bắp: “Nhỡ người soát vé vào thì sao?” “Thế thì lại càng kích thích mạnh hơn chứ sao.” Hồi đó, chúng tôi hai mươi lăm tuổi. Từ đó, tôi mới phát hiện ra rằng mình không đến nỗi làm cho đàn bà ghê sợ khi họ sờ soạng mình ở những nơi công cộng, dưới gầm bàn quán ăn, trong ca-bin điện thoại, tại phòng đợi, trong xe cộ đậu ban đêm tại các phố ít người qua lại. Tôi đoán, những trường hợp như vậy thì mọi người đều đã từng gặp rồi, nhưng tôi chưa bao giờ đề cập vấn đề này với bạn bè, có lẽ vì tính tôi hay cả thẹn hơn là vì giữ ý không thích nói chuyện bậy bạ. Chuyện cụ thể về tính xấu hổ trong đời tôi thì không kể xiết.

Tháng tám năm 1960, tôi vừa tròn mười chín tuổi. Cha tôi báo tin mừng, ông sẽ cho tôi đi cùng tới Liên hoan phim Venise. Cả Venise lẫn Liên hoan phim, tôi chưa bao giờ được đặt chân đến cả. Hai cha con rời xứ Provence quê hương trên một chiếc xe 2CV ma ông vừa tậu được trước kỳ nghỉ hè. Một tấm bản đồ miền bắc nước Ý lúc nào cũng trải rộng trên đùi tôi. Đến tối ngày thứ nhất, chúng tôi đã chạy qua thành phố Turin và xã Novara, chỉ còn khoảng ba mươi cây số nữa là đến Milan. Cha tôi quyết định rẽ vào một khách sạn nghỉ đêm, nhưng tôi thì lại rất thất vọng vì không được ngủ trong xe. Tôi đành xin ông cho đi tham quan nhà thờ Dôme. “Không được! Chúng ta nên tránh không nên vào trung tâm thành phố. Sáng mai, chúng ta phải khởi hành rất sớm. Chúng ta sẽ tìm một khách sạn không xa đường cao tốc lắm cho tiện.” Hôm sau, mặt trời vừa mọc, hai cha con tôi đã ngồi ăn sáng ngoài thềm một tiệm cà-phê. Nắng sớm chiếu vào bức tường rào một tu viện ở vỉa hè đối diện trong thật vui mắt. Tôi lưu ý cha rằng nắng đẹp quá, chỉ có Otello Martelli, giám đốc hình ảnh giỏi nhất trong ngành điện ảnh Ý, mới có khả năng tạo ra ánh sáng tuyệt vời như thế, “kể ra nói thế cũng không công bằng cho lắm, tôi cố ý khoe hiểu biết để làm cho cha tôi chú ý, cả ông ấy cũng là một giám đốc hình ảnh rất sáng giá đấy, cha ạ.” Tôi biết, tôi mà nêu tên các nhà kỹ thuật phim ảnh thì ông chỉ có phục lăn thằng con thông thái thôi. Không có ánh sáng thì con người ta chẳng là gì hết, tôi nghĩ thầm. Sự khác biệt giữa phim hay và phim dở không liên quan gì đến kịch bản hay dàn cảnh cả: một phim hay trước hết phải là một phim sáng sủa và rõ nét.

Chúng tôi đi hai tiếng đồng hồ thì nhìn thấy hồ Garde, sắp đến thành phố Vérone rồi. Chợt có tiếng động lạ trong đầu máy, chúng tôi lo ngại không biết dọc đường có xảy ra sự cố gì không, tốt hơn cả là cứ rời autostrada, tìm một xưởng sửa chữa kiểm tra xem sao. Chúng tôi lại sắp đến gần một thành phố khác rồi, tôi muốn tham quan khu trung tâm, nhưng việc cần kíp lúc này là tìm được một xưởng sửa chữa xe chứ không phải hồn ma Roméo và Juliette. Nhưng cha tôi lại chỉ mải ngó nghiêng đàn bà con gái ngoài phố khiến tôi rất sửng sốt. Tôi đã bắt được quả tang ông ngắm nghía thân hình phụ nữ. Ông hầu như ít giữ ý tứ ở Vérone hơn cả tôi tại khu vực xung quanh nhà ga phía Bắc ở Bruxelles, khi tôi trố mắt nhìn các cô tiếp viên trong tủ kính đang tìm cách quyến rũ tôi. Lúc xe dừng trước đèn đỏ ở ngã tư, tôi thấy ông xoay đầu đúng một trăm tám mươi độ để nhìn theo một bà con mọn trẻ mà dáng vóc tròn trĩnh quả thật cũng xứng đáng để người ta ngắm không chán mắt. Tối hôm trước, lúc ở Milan, tôi đã có ý nghi ngờ khi thấy, ông gặp đèn xanh mà cứ cố tình lần chần mãi không chịu đi, mắt không rời hai hay ba cô gái mặc váy bó sát người. Tôi lên giọng thật nghiêm nhắc ông: “Thế nào, cha? Cha lái đi chứ!” Thì ra trong khi mẹ tôi ở nhà cặm cụi là sẵn áo sơ-mi để ông về là có đồ thay ngay thì ông lại để cho sắc đẹp của một vài cô nàng Vérone lôi cuốn. Tín đồ Thiên Chúa giáo sùng đạo này đã phạm tội thèm muốn vợ đồng loại ! Vì vậy, khi thấy một xưởng sữa chữa xe phía trước, tôi thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ thi chúng tôi tha hồ mà ngắm mấy tay mặc quần yếm dây đầy dầu mỡ. “Sửa cái này phải mất khoảng một tiếng”, anh thợ máy xưởng Fiat ước chừng. Không ngờ xưởng Fiat cũng hạ cố quan tâm đến một động cơ Citroën. “Cha ở lại đây, còn con, nếu muốn, con có thể đi chơi lòng vòng quanh đây một lúc”. Cha tôi gợi ý. Ông ở lại xem người ta sửa chiếc 2CV thì tôi yên tâm rồi, nếu là ở một phố nào đó trong trung tâm thành phố thì không có chuyện ông tự nguyện thế đâu!

Ngày hôm đó khá nóng bức. Tôi đang thơ thẩn dạo chơi ở mấy phố vắng vẻ thì chợt trong thấy một cô gái cực kỳ duyên dáng bước về phía mình. Khi cô bé đi ngang qua, không hiểu điều gì xui khiến mà tự nhiên tôi lại lên tiếng xin cô ấy một nụ hôn mà nào tôi đâu có thạo tiếng Ý, chỉ vò vẽ tàm tạm được mấy câu hỏi. Như có phép màu, cô bé đỏ bừng mặt và e thẹn hôn nhẹ vào má tôi một cái. Rồi cô hôn tôi một lần nữa, thật nhanh, vào môi hẳn hoi, và bỏ đi luôn, không quay đầu lại. Trông tôi có giống một thằng thần kinh không nhỉ? Cô bé có thấy tôi đẹp trai không? Hay cô ta đã suy tính, thà cứ thí ngay cho cái thằng ghẹo gái này một cái hôn cho xong chuyện, còn hơn là cứ để hắn lẽo đẽo theo sau thì còn lâu mới tống khứ được hắn? Năm năm sau, tôi có kể lại chuyện này cho ông bác sĩ phân tích tâm lý nghe. Theo ý kiến ông ta, tôi xin được hôn là cách phản ứng riêng khi bất chợt phát hiện ra, cha tôi bị xung năng tình dục, mà mười chín tuổi tôi mới phát hiện ra thì đã là khá muộn. “Một trường hợp điển hình về bước chuyển sang hành động! Mà lại đúng ở nơi diễn ra mối tình giữa Roméo và Juliette nữa! Ít nhất thì anh cũng phải xem cảnh hôn nhau ở hồi một vở kịch của Shakespeare rồi chứ? Chưa ư? Cha anh thì nhất định là phải xem rồi. Ông bị chứng vướng mắc về mạch biểu đạt ý…”

Hồi mới bắt đầu đợt phân tích tâm lý ấy, một lần tôi được cha mẹ cho đến một tiệm ăn Tàu ở cuối phố Saint-Jacques dùng bữa tối. Suốt bữa ăn, đầu óc tôi cứ bứt rứt với mấy ý nghĩ không sao xua đuổi được. “Cha mà chết thì mình mới chăm lo cho Mẹ được, tôi thầm nhủ mà không hề bận tâm đến phản ứng của vai nữ chính trong cuộc, cha không săn sóc mẹ gì cả, còn mình ấy ư, mình sẽ đưa mẹ đến những hiệu ăn xứng đáng được đón tiếp mẹ, mình sẽ mời mẹ đi du lịch bằng đường biển.” Tôi đã hai mươi tư tuổi, và phải công nhận, tôi phản ứng với cha như thế là khá muộn. Khoa học phân tích tâm lý hay chơi khăm mình những vố kiểu như thế mỗi khi mình cố nhớ lại kỉ niệm thời thơ ấu lắm. Tôi đang ở giữa thời kỳ khủng khoảng tinh thần và lúc nào cũng chỉ tưởng tượng lại, tuy chỉ là được chăng hay chớ thôi, tình yêu ích kỷ và mãnh liệt đối với mẹ mà chắc là tôi cảm thấy khi còn là một em bé ẵm ngửa - tình trạng hoang tưởng suy diễn đơn giản hóa mà ông bác sĩ phân tích tâm lý của tôi sẽ không chấp nhận. Từng tuổi này rồi mà tôi vẫn chưa hoàn toàn tách ra khỏi cha mẹ và có lẽ tôi vẫn còn nơm nớp lo cha mẹ trách phạt. Muốn để cho cha phạt thì tôi phải có tội đã, và lần này tôi đã phạm một tội tày đình là mong cho cha chết. Người nào từng phải trải qua phân tích tâm lý thì mới hiểu, nếu không nói là chấp nhận, một kiểu lý sự gàn dở đến thế. Về một mặt nào đó, tâm lý tôi hồi ấy bình thường hơn bây giờ nhiều. Ít ra thì tôi cũng phê phán một người khác chứ không phải bản thân mình. Đối với ông bác sĩ phân tích tâm lý, tôi kể rõ hơn: “ \Mẹ tôi chưa bao giờ phạt tôi cả, bà chưa bao giờ nổi giận với tôi cả.”

Trình độ niên đại học của tôi đến đâu nhỉ? Ngày tháng thiên thực toàn phần hay từng phần, các trận động đất và quỹ đạo của sao chổi rất quan trọng để xây dựng một nền niên đại học, nghiêm túc. Nhưng tôi thì hình dung được thiên thực, sao chổi và động đất theo nghĩa bóng thôi. Đơn vị phút gồm sáu mươi giây được các nhà thiên văn Babylone nghĩ ra, đơn vị tuần gồm bảy ngày là của người Hê-brơ, còn nhờ người Ai Cập mà chúng ta có tên ngày trong tuần như hiện nay. Người ta không chờ tôi sinh ra mới bắt đầu lo sợ vì thời gian cứ trôi mãi và tìm cách ngăn nó lại tí chút gọi là có làm. Tại đất nước Ai Cập của các pharaon, năm mới bắt đầu vào ngày 29 tháng Tám. Còn lịch của chúng ta bây giờ là đầu tháng Chín rồi, báo chí những ngày này cho tôi biết như vậy. Đó đây, người ta mưu sát nhau bằng cách cài bom vào xe cộ. Cuối cùng thì một nhà cựu độc tài Argentina cũng bị tóm cổ vì tội bắt cóc, tra tấn và giết người. Những kẻ nhập cư bất hợp pháp khoảng hai mươi quốc tịch khác nhau tạm trú trong nhà thờ Saint-Denis từ hai tuần nay đã bị buộc phải rồi đi chỗ khác. Tại Paris, một phạm nhân người xứ Basque đã bố trí cho em trai vào tù thay để trốn khỏi trại giam Santé. Tại Toronto, một đức giáo hoàng gần đất xa trời đã tìm cách làm cho hai trăm nghìn thanh niên ghê sợ cái mà ông ta gọi là “thú vui ngắn ngủi và hời hợt của xác thịt”.

Một hôm, mẹ tôi - hồi đầu mùa hè, bà đã tròn tám mươi tám tuổi - đột nhiên gọi điện thoại cho tôi để báo tin Lionel Hampton đã mất: “Ông ấy chín mươi ba tuổi rồi. Đàn ông mà sống lâu thế là thọ lắm rồi đấy.” Gần đây, bà hay để ý đến danh sách người chết hơn là đến tuổi thọ. Bà hay nói ra miệng: “Sắp đến lượt mẹ rồi đấy.” Bà còn nhắc cho tôi nhớ, năm năm mươi mấy gì đó, bà đã đưa tôi đi dự một buổi hòa nhạc của Lionel Hampton, và sau đó, tôi nổi hứng muốn học đàn vibraphone ngay. Tôi vẫn còn cất giữ mấy đĩa hát của Lionel Hampton ở đâu đó trong nhà. Tôi phải tìm để nghe lại mới được.

Hôm nay là thứ Ba mồng 3 tháng Chín năm 2002, tôi vừa xem lịch xong, là ngày lễ thánh Grégoire, vị giáo hoàng đã được người ta lấy tên để đặt cho lễ ca Grégorien. Cách đây mấy ngày, tại Philippines, một nhóm Hồi giáo đã chặt đầu hai con tin, hai đại lý thương mại đồng thời cũng là tín đồ giáo pháp Chứng nhân Jéhovah. Người ta đã tìm thấy đầu họ trong túi rác.

Hôm nay là hôm sau ngày mà Delphine báo cho tôi hay, tôi làm thiên hạ người ta sợ, và tối hôm qua ( ngày lễ thánh Ingrid, một cái tên nghe hay hay mà trước kia tôi hay nhắc đến), khi tôi bảo bà ấy rằng câu này có thể gợi ý cho tôi viết phần mở đầu khá hấp dẫn của một cuốn tiểu thuyết, bà ấy đã giãy nảy lên : “Thôi, ông đừng có mà vơ quàng vơ xiên bất cứ câu nói nào của tôi nữa. Không phải ông làm thiên hạ người ta sợ mà là thiên hạ người ta sợ cho ông.” Bà ấy còn nói tiếp: “Ông làm những người quý mến ông lo lắng đấy”, lại một đầu đề tiểu thuyết hay nữa đây, tôi tự nhủ.

❀ ❀ ❀

[1] Papa, si siamo parlati cosi poco!: Cha ơi, chúng ta ít nói chuyện với nhau quá (tiếng Ý).

[2] Sigmund Frued: (1856-1939) Bác sĩ người Áo chuyên chữa bệnh thần kinh và tâm thần, sáng lập và phát triển khoa phân tâm học.

[3] Délice: có nghĩa là niềm vui thú, mỹ vị, ngon tuyệt, thơm tuyệt… Délice và Delphine đều bất đầu bằng âm tiếng Del.

[4] Fantaisie: Việc (chuyện) mà người ta bịa hoặc tưởng tượng. Kirsh là rượu anh đào trắng, nhưng kirsh fantaisie là một hỗn hợp hóa chất rẻ tiền chỉ có 1% là kirsh.

[5] TGV: Tàu tốc độ nhanh.

À MẸ Nguyên tác: Trois jours chez ma mere ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.