Thời gian trôi rất nhanh. Có lẽ tôi phải sống một nghìn cuộc đời thì mới thỏa. Một ngày nào đó, tôi sẽ viết một cuốn tiểu thuyết trong đó chẳng có con người nào cả, hoặc giả tôi có thể kể về sự tồn tại của một hòn đá hay một cây thích trong một chương của cuốn Volcano, một hòn đá vốn xưa kia là dung nham hóa thạch bị dịch chuyển qua bao thế kỷ hết từ khu vườn Nhật Bản này sang khu vườn Nhật Bản khác. Rồi thể nào cũng có một số bạn đọc, những người mà tôi chưa bao giờ gặp, mà tôi chưa bao giờ tiếp xúc, sẽ đến hỏi tôi: “Hòn đá ấy, có phải là ông không?” Không hiểu tại sao mà lần nào người ta cũng tưởng nhân vật trong sách của tôi chính là tôi. Ngay cả Delphine nhiều khi cũng không biết tôi là ai nữa. Trong chương nói về hòn đá, nhiều bậc vương tôn công tử quyền cao chức trọng sẽ dùng vũ lực để chiếm được nó. Ở Nhật Bản luôn xảy ra chuyện chém giết nhau chỉ vì muốn sở hữu một hòn đá như vậy. Và khi chiếm được rồi, người ta sẽ tổ chức những buổi hòa tấu trước hòn đá đó và dành riêng cho nó. Tôi sẽ nghiên cứu tính cách những bậc vương tôn kiêu hãnh ở nước Nhật phong kiến ấy, những người có thể phát động cả một đội quân đi chiếm đoạt một hòn đá hết sức hiếm hoi, nhưng tính cách ấy thì tôi có thể hiểu được. Tôi cũng đã mang một hòn từ Nhật Bản về, nhưng không phải gay go khó nhọc gì mà chỉ cần mất chút thời gian mặc cả nhỏ nhẹ với một người bán đồ cổ ở Kyoto. Nó cao khoảng hai mươi lăm xăng-ti-mét và được đặt trên một cái đế bằng gỗ sugi. Khi nhận được giấy thông báo tịch biên động sản để đem bán đấu giá của các chấp hành viên Kho bạc quan tâm đến tôi, tôi đã khôn ngoan nhấc nó ra khỏi đế và đặt ngay trên bàn làm việc, ngụy tạo thành một cái chặn giấy tầm thường thô kệch. Trừ một đường vân trắng chạy dài theo chiều dọc từ đỉnh xuống chân trông như dòng thác, hòn đá ấy màu đen tuyền rất bóng đẹp. Ngắm nhìn nó mãi, tôi cũng nghe được tiếng thác chảy ào ào, và những lúc ấy đầu óc tôi lâng lâng, tôi không còn nghĩ ngợi gì nữa, thế là tôi từ bỏ ý định đun cát để nấu thành cơm như một thày tăng Phật giáo thiền tong từng mong làm được. Hồi đi chơi ở xứ Provence hay vùng Cévennes, tôi đã nhặt được vô khối đá bên bờ sông bờ suối. Và tôi rất thích tặng đá cho mọi người. Trên một viên đá cuội hình ô-van màu trắng như ngà voi mà tôi tìm được ở làng Tegernsee, tôi đã viết một câu bằng mực tàu: “Anh yêu em” rồi đem về tặng Delphine. Bà ấy đã cất cẩn thận tận đáy túi xách.
Thế còn cuốn sách nói về các kiểu ghế tựa thì tôi đã viết đến đâu rồi ư? Tôi có ý tưởng ấy từ hôm Delphine lắng tai nghe mãi mà không thấy trong phòng tôi có tiếng động nên đã đến gõ cửa xem sao nhưng vì bên trong vẫn im lặng như tờ, bà ấy hoảng lên và cuống quýt đẩy cửa bước vào để rồi phát hiện người đàn ông bà ấy yêu quý đang ngồi trên ghế và ngủ say như chết. Theo như lời Delphine kể lại thì trông tôi như một người vừa mắc chứng giữ nguyên thế, hai xương bả vai gồ hẳn lên và tì mạnh vào lưng chiếc ghế bằng gỗ sồi tự nhiên mua ở hãng Habitat. Nét mặt tôi khiến bà ấy liên tưởng đến một chiếc mặt nạ Tây Tạng thể hiện vẻ đau đớn tột cùng. Trước khi đốn hạ, người ta có xin phép vị thần cây sồi ấy không? Người ta có báo cho vị thần ấy biết là ông ta sẽ được nghỉ ngơi trong khung chiếc ghế của tôi không? Hiển nhiên là không, cho nên tôi mới phải chịu hậu quả - tôi và Delphine. Ban giám đốc hãng Habitat phải cử nhân viên thiết kế mẫu mã đồ gỗ sang Ghana thì mới hiểu được, việc đóng một cái ghế thiêng liêng đến mức nào. Mỗi lần có một vị vua bộ tộc da đen achanti băng hà, chiếc ghế mà sinh thời ông ta ưa thích nhất được đưa ngay tức khắc vào ngôi Đền thờ Ghế, một cái tên mà hãng Habitat còn lâu mới xưng. Linh hồn vị vua sẽ tìm được sự yên nghỉ đời đời trong chiếc ghế ấy. Còn tôi thì không dám mơ đến sự yên nghỉ đời đời nhưng tôi không bỏ tiền ra sắm chiếc ghế ấy để rồi nó đưa tôi vào giấc ngủ li bì khiến Delphine hoảng sợ - đó là sự trả thù của vị thần cây sồi. Delphine nhắc tôi: “Ông lên giường mà nằm đi, chứ ngủ vạ ngủ vật trên ghế thế này không được đâu.” Nhìn thấy tận mắt là tôi đã nằm thoải mái trong chăn lông rồi, bà ấy mới yên tâm khép cửa đi ra. Trong cuốn sách viết về các kiểu ghế, tôi định sẽ bắt đầu bằng một câu nhắc nhở mà trẻ em nghe mãi đã nhàm tai: “Thôi, đừng có ngó ngoáy đung đưa trên ghế nữa, kẻo ngã bây giờ!” Tôi sẽ làm sống lại thời kỳ mà Richelieu[1] yêu cầu thay ghế dài trong các phòng ăn bằng ghế tựa, tôi sẽ phân tích phép lịch sự bắt buộc đàn ông phải đứng lên khi có một người đàn bà đi vào gian phòng mà họ đang ngồi. Xin lỗi Delphine là tôi đã không đứng lên khi bà vào phòng, nhưng như bà thấy đấy, tôi đang ngủ say mà. Từ đó, tôi đặt một tấm đệm nhồi đầy bông cỏ. Và đang giữa đêm, lúc nào muốn nghỉ, tôi chỉ việc trải giữa các chồng sách vở bừa bãi trên sàn.
Tôi còn có kế hoạch viết một tiểu luận về thói dâm ô trong văn chương nữa, một cuốn sách mà tôi hy vọng sẽ rất khác thường, một câu chuyện về thói dâm ô viết thành văn (Câu chuyện về thói dâm ô đúng như được kể) với rất nhiều dẫn liệu. Tôi sẽ chỉ giới hạn trong văn học Pháp, như vậy mới dễ tìm tư liệu, mặc dù tôi rất tiếc không đưa ra được vô số những chuyện kỳ thú xảy ra ở khắp nơi trên hành tinh, trong các căn hầm ở Potala[2] cũng như ở Tòa thánh Vatican mà chắc chắn người ta không bao giờ cho phép tôi tha hồ lục lọi. Tôi muốn kế hoạch viết lách mà tôi đã có ý tưởng từ hơn mười lăm năm nay sẽ là của nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết mà thỉnh thoảng tôi vẫn đề cập đến với cái tên Chuyện ăn nằm lang chạ. Nhân tiện nhắc đến nhân vật chính, nhân vật mà lần này tôi sẽ đặt tên là François Weyerbite, tôi định để ông ta dùng tiền nhuận bút ứng trước cho cuốn Chuyện ăn nằm lang chạ thuê phòng khách sạn rồi rủ rê các cô gái vào đó. Tôi đã bắt đầu đọc thư từ của Flaubert và Nhật ký của Stendhal để ghi chép những tình tiết đáng chú ý. Hồi Flaubert ba mươi tuổi, ông đã sống ở Ý. Về thành phố Venise: “Chẳng có chuyện trăng hoa nào.” Về Rome: “Mình sinh hoạt rất lành mạnh.” Về Naples: “Mình chơi gái khá nhiều ở Naples.”
Còn Stendhal thì mới mười chín tuổi, ông viết trong nhật ký về một bà Genet nào đó mà “tôi đã khát khao từ khi người ta bảo tôi rằng, nếu đàn ông mà làm việc đó như kiểu nhảy cái, bà ta sẽ làm cho họ mê mẩn”. Về một người đàn bà khác: “Tôi yêu bà ta từ khi thấy bà ta có thể để cho tôi tòm tem được.” Tại một địa điểm khác: “Chỉ trừ có the D. of R.[3] (mà mỗi tuần tôi lại xơi một lần), tôi sống hết sức thanh bạch. Vì vậy tôi mới mập ú ra.” Về một phụ nữ người Lyon: “Tôi cho rằng hai chúng tôi ngủ với nhau sẽ thú vị đấy.” Và rất nhiều câu đại loại như vậy.
Tôi vừa tìm được một lá thư mà tôi viết dở. Ngày tháng là năm ngoái. Tôi không sao nhớ được mình định gửi cho ai nữa. Đôi khi, tôi cứ viết thư mà không cần biết ai sẽ nhận, thế rồi một câu đột nhiên bật ra trong óc tôi, khiến cho tôi nghĩ đến một người cụ thể. Đoạn đầu lá thư có thể thành đoạn đầu một cuốn sách: “Tuần sau, tôi sẽ bước sang tuổi năm mươi hai. Không có gì bất ngờ cả, vì tôi đâu có ảo tưởng mình mới hai mươi ba.” Câu tiếp thì tôi không sao đọc nổi. Tôi chỉ đoán chừng là có tên thánh Bernard,và sau nữa là câu gì đó có từ Lạc viên, nhưng rồi tôi cũng đọc được: “Sau tám ngày ở Lạc viên thì theo ý tôi người ta chỉ còn nước tự bắn vào mình.” Ở mặt sau, tôi tìm lại được dự thảo tóm tắt cuốn Ba ngày ở nhà mẹ có lẽ sẽ gây hứng thú cho tôi: “Ngày sinh nhật lần thứ năm mươi, một người đàn ông ở tình trạng thái cực kỳ hoang mang quyết định hủy bỏ tất cả các cuộc hẹn để ngẫm nghĩ xem cuộc đời mình đã đi đến đâu. Ông ta mong muốn thay đổi số phận, nghề nghiệp, bà vợ, thành phố và cả thời đại.”
Một người đàn ông ở trạng thái cực kỳ hoang mang ư? Uyển ngữ hay thật! Thời đại này thì ông ta sẽ vô hiệu hóa các loại thang đo độ suy sụp, thang đo độ trầm cảm, thang đo độ tuyệt vọng (thang này được chia độ từ không đến sáu). Nhân vật của tôi đã trải qua một chặng đường hiển nhiên là lối mòn mà từ cổ chí kim nhiều người đã đi: bước chuyển biến từ nỗi buồn ngẫu nhiên sang tâm trạng chán nản liên miên. Một vài câu hỏi nữa cần phải đặt cho người đàn ông luôn ở trạng thái hoang mang ấy: số lần quan hệ tình dục đạt được khoái cảm cực độ? Mỗi tuần bao nhiêu lần? Và ý kiến ông về mức độ thỏa mãn của bạn tình, ông hãy ghi lại từ không, không một chút nào, đến mười, tuyệt đối. Ông có sợ đám đông, bóng tối, thang máy không?
Những cách đánh giá đó có homologatif[4] không? Tôi chẳng hiểu “homologatif” nghĩa là gì, từ này chỉ vừa mới xuất hiện trong đầu tôi. Đó là một từ không có trong từ điển. Cũng như “playboyite”, tối hôm nọ tự nhiên tôi lại nghĩ ra từ này. Một từ mới do Weyergraf sáng tạo. Qua điện thoại, mẹ tôi nói với tôi bà đang lo mình bị chứng phlébite[5], thế là khi tỉnh dậy, tôi chợt nghe thấy câu sau vang lên trong đầu: “Thà là chứng playboyite còn hơn là phlébite.” Trạng thái thoát khỏi ý thức đã đẩy tuột tôi vào vòng tay một cô gái thuộc kiểu người được đăng ảnh trong tạp chí Playboy chứ không phải vào bệnh viện để túc trực bên giường mẹ tôi. Riêng lần này thì tôi hoàn toàn nhất trí với trạng thái ấy. Dùng từ “thrombose[6]” đúng hơn từ “phlébite”, nếu không thì “thrombophébite” vậy, tôi tự nhủ với tư cách là một khách hàng năng lui tới hiệu sách Maloine.
Playboyite, đó lại là chuyện khác. Tại sao mình lại không nói đến vấn đề này trong Chuyện ăn nằm lang chạ, cuốn sách sẽ được Playboy Enterprises Incorporated kết hợp phát hành nhỉ? Từ phlébite dịch sang tiếng Anh là “phlebitis”, thế thì chương sách cũng sẽ được gọi là “Playboyitis”, giống như tên mà người ta đặt cho một loại lan. Vấn đề chủ yếu trong cuốn sách này sẽ là hành động mà thế kỷ XVIII và Diderot[7] trong Bách khoa thư của mình gọi là manstupration, một danh từ mà năm 2002, do nhận thức còn đơn giản – đó là đặc tính của thời điểm đó - bộ hiệu chỉnh chính tả của chương trình Word trong máy tính của tôi đã đề xuất việc thay thế bằng từ “manutentionner”… Cả từ điển Littré cũng không biết từ manstupration, cho nên chỉ giải thích chung chung là “hành động một cách phóng đãng đơn độc”. Nhìn thấy thày Laloux ở lại lớp rất lâu sau giờ học, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ học trò, luôn nhắc chúng tôi không được ngại gọi điện thoại đến nhà thày, tự nguyện phụ đạo không lấy thù lao cho những kẻ yếu kém muốn học đuổi, mà hồi đó thày đã góa vợ, tôi đi đến kết luận chắc là đời sống tình dục của thày chỉ giới hạn ở việc thủ dâm, một tội lỗi mà ngay cả bản thân tôi cũng không sao chừa được. Ngoài cách dịch chính xác một động từ như completor mà Virgile[8] dùng cho cả những cử chỉ yêu đương lẫn việc các chiến binh ghì chặt lấy nhau hay làm thế nào biết được Molière bao nhiêu tuổi khi Racine ra đời, một trong những câu hỏi mà tôi tự đặt cho mình là: “Đến tuổi nào thì người ta thôi không thủ dâm nữa?” Lắm khi tôi cũng nản không muốn bị bắt buộc tháo chỉ ở đáy túi bên phải toàn bộ quần dài của mình nữa – đấy là chưa kể đến nguy cơ bị mẹ tôi phát hiện – để tìm lại thật nhanh, trong lớp học hay ngay giữa đường, anh bạn nhỏ đồng hội đồng thuyền luôn hành hạ tôi một cách độc đoán và để tự giải quyết nhu cầu cho mình theo cách của Diogène[9], như Diderot từng viết. Yên tâm là mình vẫn được Diderot tán thành, tôi mong ngóng được hòa hợp nhu cầu tình dục và niềm đắm say của một bạn tình mà con tim tôi sẽ tự chọn. Diderot thì thầm vào tai tôi: “Trong khi chờ đợi, tại sao đằng ấy lại bắt mình thiếu thốn những khoảnh khắc cần thiết và tuyệt vời ấy? Tự nhiên kêu cứu bằng những triệu chứng ít mập mờ nhất, đằng ấy ra tay giúp thì đâu phải là phạm tội?” Niềm tin của tôi đã được xác định: tôi phải thủ dâm cho đến khi một người đàn bà xuất hiện và lôi tôi ra khỏi nỗi cô đơn như Senta trong Con tàu ma[10] , một vở opera bắt đầu với nốt rê thứ và kết thúc với nốt rê trưởng, thày Laloux nhắc tôi chú ý điểm này khi cho tôi mượn hộp đĩa ghi âm mà nữ danh ca Astrid Varnay hát vai chính. Vậy là khi góa vợ thì người ta đành phải thủ dâm vậy chứ biết làm sao. Còn tôi, tôi sẽ phải sống suốt đời với một người đàn bà chắc chắn là thọ hơn tôi và làm cho tôi cương cứng đến chết cho tới khi tôi chết thật mới thôi. Hồi ấy, tôi chưa nhận thấy là mọi cặp vợ chồng đều mệt mỏi và sờn lòng như những tấm thảm sờn cũ, họ ở lại với nhau như khách, những vị khách không hiểu sao lại cứ ì ra, trong nhà anh, làm phiền anh mà không biết là đã đến lúc phải cáo từ. Tôi cũng không ngờ rằng, một ngày nào đó, một người đàn bà đa tình sẽ khuyên tôi thủ dâm trong lúc bà ta thủ thỉ với tôi trong điện thoại, rằng một số khác lại thích tôi làm việc này trong lúc đọc thư của họ. Tôi sẽ kể về một người đàn ông quen sống về đêm nên không còn muốn đánh thức vợ dậy nữa, do đó ông ta cứ phải vừa thủ dâm vào lúc ba giờ sáng vừa gọi điện đến các máy trả lời tự động để tìm kiếm âm điệu chùn chụt như người đang mút, hổn hển đứt quãng như người đang gắng sức tận hưởng khoái lạc, đanh thép hùng hồn như người quen ra lệnh, toàn giọng đàn bà gần giống như của vợ mình, dù chúng có ề à các câu văn ghi âm sẵn mà ông ta viết lại được một cách dễ dàng, ngay cả khi vợ ông ta có khả năng tìm những câu nói hiệu quả hơn gấp một nghìn lần để cho ông ta cương lên, việc mà bà vợ đã làm không biết bao nhiêu lần rồi.
Thôi, chúng ta hãy trở lại với bản tóm tắt cuốn tiểu thuyết của tôi. Vậy là, một người đàn ông đang ở trạng thái cực kỳ hoang mang, đồng thời là một người thủ dâm hăng hơn tôi nhiều. Ông ta có biết rằng, nhân vật của tôi ấy, rằng mình phải tính trước những điều bất ngờ, những cuộc đụng độ khó chịu khi mình mạo hiểm vào những chỗ sâu kín nhất mà mình giấu kỹ bên trong bản thân không? Ông ta có đoán trước được mọi việc không, cả việc lành lẫn việc dữ, mà nói chính xác hơn là lành ít dữ nhiều? Tất nhiên. Chẳng gì thì cậu bé to xác của chúng ta cũng đã năm mươi tuổi rồi. Cũng có lần ông ta được thỏa mãn, mặc dù không phải thường nhật. Tôi muốn nhắc khéo ông ta: cuộc đời không đáng để ông cứ phải nghĩ ngợi liên miên về nó như vậy. Ông có phân tích rượu bã nho của Ý mà tôi thấy ông uống không? Ông uống ừng ực và sau đó ông ngủ tít đi, có thế thôi.
Tôi chẳng muốn nhớ hết các cuốn tiểu thuyết của mình làm gì. Cả những cuốn trước lẫn những cuốn sau này. Tôi nhận được thư của những sinh viên đang viết luận văn về tôi và xin tôi đến cứu giúp. Tôi từ chối gặp mặt tất cả những sinh viên và giáo viên có ý định để tôi làm việc thay họ, chỉ trừ một lần. Cô ta tên là Cordula, cô ta từ Munich đến. Cô ta đã lừa được tôi chỉ vì cái tên ấy. Lên tầng hai quán Flore, tôi nhìn thấy ngay một cô gái xứ Ba-vi-e rất xinh, một nhà giáo tương lai. Cô ta giở ra ngay trước mặt tôi toàn bộ sách của tôi, theo thứ tự năm xuất bản, hầu như trang nào cũng chi chít mũi tên đánh dấu không thương tiếc xung động dục tình của tác giả. Những cuốn sách ấy, tôi đã cố tình gọi một chai rượu để che bớt đi nhưng hầu như không che nổi, tôi chỉ muốn chúng biến mất ngay tức khắc thôi. Thấy chúng ở đó, tôi ngượng lắm. Tôi còn tự nhủ, may mà mình không xuất bản thêm.
- Thưa ông Weyergraf! Nhà phân tích tâm lý Melanie Klein đã chứng minh, những ức chế ở tuổi trưởng thành xuất phát từ ý muốn rất trẻ con là ngăn cản và phá bỏ khả năng sinh sản của người mẹ. Ông nghĩ sao về vấn đề này?
Đề tài luận văn của cô ta là Sự có mặt và vắng mặt của nhân vật bà mẹ trong tiểu thuyết của François Weyergraf. Cô ta còn muốn khai thác xem tiểu thuyết tiếp theo của tôi sẽ bàn về vấn đề gì, tôi phải nói lảng sang tiểu sử Charlemagne. Cô ta tưởng mình là thám tử tư chắc. Giả sử như cô ta có hỏi xin thù lao và tiền chi phí tạm ứng, tôi cũng thấy chẳng có gì bất ngờ cả. Nhưng không, cô ta lại yêu cầu: “Xin ông kể cho tôi nghe tất cả mọi việc, từ lúc ông còn nhỏ đến giờ.” Tôi định nói với cô ta rằng hồi bé tôi được cái may là rất say mê hai cảnh tượng: nhà thờ và rạp xiếc. Nhưng cô ấy có để ý nghe tôi kể đâu, nếu không tôi đã có thể nói bằng tiếng Đức: “In meiner Kindheit hatte ich das Glück, serh oft in den Zirkus und zum Gottesdienst zu gehen[11].” Tôi chỉ muốn kể chuyện này chứ đâu có phải về mẹ tôi. Nhưng rồi cuối cùng thể nào tôi cũng sẽ đề cập đến mẹ tôi, nhưng chỉ là việc bà hay đưa tôi đi xem xiếc và dự lễ ở nhà thờ thôi. Tôi còn nhớ, giữa khung cảnh mùa đông rét mướt, hai mẹ con vội vã ra khỏi nhà trong khi cả gia đình vẫn còn yên giấc để kịp buổi cầu nguyện bảy giờ sáng vì tôi phải hầu lễ. Đến lúc làm lễ ban thánh thể, ông linh mục vừa lấy bánh thánh ra khỏi bình, tôi đã đặt ngay đĩa dâng dưới cằm mẹ tôi, rồi bà há miệng và nhắm mắt chờ đợi. Bây giờ bà không còn coi trọng những việc ấy nữa nhưng dù sao thì đó cũng là kỷ niệm mà chỉ hai mẹ con chúng tôi biết với nhau. Còn về rạp xiếc, gần đây bà có nhắc nhở tôi: “Con nhớ đừng đưa hề rạp xiếc vào cuốn sách tiếp theo đấy, con mà làm như vậy thì chỉ tổ để cho người ta bảo con là thiếu nghiêm túc thôi.” Mẹ ơi, chuyện mà con muốn viết lại là ngày thứ Sáu đặc biệt ấy cơ, mẹ còn nhớ không? Năm đó, hình như lễ Phục sinh tới muộn thì phải, vì vậy trời khá nóng, nếu cần con có thể xem lại ngày tháng, con khoảng mười tuổi gì đó. Chị em con đã ra biển ở chơi nhà bạn bè. Con tong tong đi trước, còn Cha và Mẹ sẽ đi sau và gặp con ở nhà thờ. Trên đường đi, con gặp một chiếc xe bán kem lưu động trang trí sặc sỡ rất vui mắt. Ngày kỷ niệm cái chết của Chúa Cứu thế, con có chiến thắng được kiểu dụ dỗ phạm tội tham ăn ấy không? Với số tiền mà mẹ vừa giao cho con để bỏ vào thùng quyên góp, con đã mua một cái bánh quế hình ốc trong đó có hai viên kem, một viên nhân đào lạc và một viên dâu. Con chỉ cần bỏ ra thêm một chút tiền túi nữa là sẽ mua được ba viên, nhưng dù sao thì cũng là thứ Sáu trước lễ Phục sinh, ngày nhịn ăn nghiêm ngặt nhất. Trước khi đẩy cánh cửa xoay vào nhà thờ, con đã gặm được một phần vỏ ốc quế, kem bắt đầu chảy cho nên con phải chú ý không để mất một giọt nào. Đúng lúc ấy, con nhìn thấy Cha và Mẹ xuất hiện. Con đã mắc tội, theo ý con thì là tội vi phạm điều kiêng kỵ, còn theo ý cha mẹ thì là tội tày đình. Cha không thèm nói chuyện với con trong nhiều ngày và hủy bỏ hợp đồng đặt mua tờ báoTintin cho con nữa. Thế là, cứ đến thứ Năm, con chưa mở miệng xin, mẹ đã dúi tiền vào tay con để mua lẻ một số báo Tintin. Sau đó rất lâu, khi con tìm thấy từ “xérophagies[12]” trong một cuốn sách của Cha, từ này có nghĩa là sáu ngày nhịn ăn trong Tuần lễ thánh mà người ta chỉ được cầm hơi bằng bánh mì, muối và nước lã, con mới hiểu rằng vụ kem ốc quế của đứa con trai đã làm tinh thần cha bị tổn thương như thế nào.
Nếu tôi đi gặp một nhà phân tích tâm lý, nếu tôi quyết định tìm một vị để hỏi ý kiến – việc này sẽ không thành hiện thực, nếu thành thì đã thành rồi -, nếu tôi lại đắm chìm trong thế giới đó, thế giới mà một nửa là cảnh Ngày tận thế, một nửa là Hội chợ Trône[13], thế giới mà tôi biết khá rõ hồi tôi mới hơn hai mươi tuổi một chút và vẫn còn đủ cả răng, nếu tôi lại sa vào thói hư mà mọi người gọi là “ăn chơi xả láng một chút[14]”, như các bà chủ nhà vẫn thường động viên chồng con cố ăn nốt cái đùi cừu cho hết, “một lát nhỏ nữa thôi”, thì đây là những gì không ít thì nhiều tôi sẽ trình bày với vị bác sĩ ấy, những gì tôi tin rằng mình sẽ trình bày, mặc dù đã giữ gìn ý tứ nhưng hầu như không thể dự kiến được điều mình sẽ nói ra lẫn việc rắc rối nào đang rình rập mình trong một buổi phân tích tâm lý… Tôi sẽ mở đầu bằng cách nói gì nhỉ? Tôi sẽ nhắc đến việc mình không xuất bản được nhiều sách lắm. Chứng thần kinh bị ức chế, việc này thì họ hiểu quá đi rồi. Léonard de Vinci là một điển hình đấy thôi… Tôi muốn được một người đàn bà trẻ hơn mình phân tích tâm lý, như trong Lovesick, một bộ phim bị lãng quên mà Marshall Brickman làm đạo diễn, và ông cũng là đồng tác giả kịch bản Annie Hall (khi Annie Hall ra mắt, một số bạn bè đã nhận xét, bộ phim làm họ nhớ đến cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi phát hành mấy năm trước), phải, một nữ bác sĩ phân tích tâm lý phải lòng tôi như trong Lovesick mà nội dung là một bác sĩ phân tích tâm lý đâm ra si mê nữ bệnh nhân của mình, trường hợp của tôi thì ngược lại, tôi chỉ mong bác sĩ phân tích tâm lý tương lai của tôi giống nữ diễn viên đóng vai người bệnh trong Lovesick, cô Elizabeth McGovern đẹp mê hồn, dù rằng cô ta hoàn toàn không phải kiểu người tôi thích, một bộ phim mà hồn ma của Freud do Alec Guinness đóng và John Huston xuất hiện trong vai bác sĩ phân tích tâm lý vỡ mộng để báo hiệu những mối nguy cơ của một love affair with a patient, một bộ phim mà bác sĩ phân tích tâm lý và bệnh nhân promptly go to bed[15] sau một cảnh tắm vòi hương sen đã trở nên mờ nhạt trong ký ức tôi, nhưng tôi, tôi sẽ không khách sáo mà nói luôn với nữ bác sĩ phân tích tâm lý tương lai của mình rằng tôi thích vòi hương sen hơn đi-văng.
Tôi thức dậy vào lúc nửa đêm, thế mà tôi cứ tưởng là bảy giờ sang. Tôi lắng nghe một vở opera của Donizetti[16], Maria Stuarda. Tôi mà quen ông có phải hay không, Gaetano Donizetti! Chúng ta có thể gặp nhau ở Paris, nơi ông từng quản lý một rạp hát. Ông có nhờ tôi viết một kịch bản opera không? Trên đường phố Bergame, thành phố quê hương ông, nơi mà thị dân địa phương cho là ông không được bình thường lắm (trên một túi bao đĩa, tôi đã thấy dòng chữ: “mắc bệnh tâm thần”), khách dạo chơi đều nghiêng người cúi chào khi ông đi qua. Tôi sẽ đến đó với ông. Tôi sẽ đi bằng tàu hỏa. Ông cứ nhất định đòi ra ga đón tôi, thế là chúng ta lên một chiếc xe ngựa thuê. Ông đội cái mũ bằng lụa, và mỗi lần tôi giới thiệu tên những người vỗ tay chào mừng ông dọc đường, ông lại nhấc lên đáp lễ: “Thế còn cô kia, cô có khuôn mặt bầu bĩnh ấy, tên cô ta là gì?”
- Đó là cô chủ trang trại trong vở Bùa yêu của ông, cô Adina.
- À phải rồi, Adina. Cô ấy vẫn còn sống sao? Sao ông kia cứ nhìn tôi chằm chằm thế?
- Ngài Henry Ashton de Lammermoor đấy.
- Thật không? Tôi tưởng ông ta ở Ai-len chứ. Này ông Francesco, đừng có lừa tôi đấy. Không phải Ngài Ashton mà là ông dược sĩ vẫn bán thuốc cho tôi đấy chứ, nhà thuốc của ông ta ở phía sau Piazza Vecchia ấy. Ông giễu tôi. Thế nào, ông mà cũng tưởng tôi khùng sao? À mà ông nói phải, đúng là Ngài Ashton rồi. Chúng ta chào đáp lễ ông ta đi. Greetings! Greetings![17] Tôi đã soạn không biết bao nhiêu vở opera rồi mà… Ba hay bốn vở một năm. Tôi làm sao nhớ hết các nhân vật được. Greetings, my Lord!
- Thưa nhà soạn nhạc bậc thày Donizetti, tôi thấy ông thật tuyệt khi được biết, ông đã nói gì về người bạn đồng nghiệp Rossini[18] mà người ta coi là kẻ nói dối không biết ngượng mồm bởi vì ông ta thề mình đã soạn vở Người thợ cạo thành Séville chỉ mất vẻn vẹn có mười ba ngày. Ông đã trả lời: “Mười ba ngày cơ à? Có thể lắm chứ. Ông ấy khá lười nhác mà.”
❀ ❀ ❀
[1] Armand Jean du Plessis Richelieu: (1585-1642) Nhà hoạt động chính trị thời vua Louis XIII. Tể tướng, thành viên Hội đồng Nhà Vua, thực hiện có hiệu quả một loạt chính sách cải cách.
[2] Potala: Lâu đài trên Đồi Đỏ ở Lhasa, tây tạng, được xây từ TK 7, là nơi làm việc của Đạt Lai Lạt Ma.
[3] The D. of R.: Tên tiếng Anh của một người đàn bà mà H. B. Stendhal (1783-1842) viết tắt có chủ ý. Câu này trích trong sổ Ghi chép riêng (Oeuvres intimes) theo thứ tự chữ cái, mục G (Graveleux, Chuyện tục).
[4] Homologatif: Trong từ điển chỉ có từ homologation (sự chính thức công nhận, sự xác nhận, sự phê chuẩn), homologuer (chính thức công nhận...), homologable (có thể chính thức công nhận...)
[5] Phlébite: Viêm tĩnh mạch.
[6] Thrombose: Chứng huyết khối.
[7] Denis Diderot: (1713-1784) Nhà triết học duy vật, nhà văn, nhà tư tưởng của Cách mạng tư sản Pháp TK XVIII, người tổ chức và biên soạn Bách khoa thư hoặc Từ điển Tường giải.
[8] Publius Vergilus Maro: (70-19 trước CN) Nhà thơ La-tinh, tác giả kiệt tác sử thi vĩ đại Enéude. Từ “complector” nằm ở khúc VI (xus sum complector) và được tác giả giải thích là ôm hôn, siết chặt.
[9] Dioegèn Le Cynique: (413-327 trước CN) Nhà triết học hy Lạp, s9ại diện tiêu biểu của phái Xi-nic. Câu “… để tự giải quyết nhu cầu cho mình theo cách của Le Cynique.” Là do bác sĩ Théophile Bordeu nói với cô Julie de Lespinasse trong tác phẩm triết học “Giấc mơ của D’Alembert” của Diderot. Jean Le Rond D’Alembert (1717-1783) là một nhà toán học, cơ học và triết học. Viện sĩ Hàn lâm Khoa học Pháp, đã cùng Diderot biên soạn Bách khoa thư, đã phát biểu nguyên lý D’Alembert để giải các bài toán động lực học bằng các phương pháp của tĩnh học, đã để lại nhiều công trình trong đó có tác phẩm triết học “Những nguyên lý triết học”. Ông hay xuất tinh trong giấc mơ, nhưng chính trong trạng thái lạc ý thức ấy, ông mới nhìn thấy, mới hiểu được toàn bộ những vấn đề lớn trong triết lý duy vật.
[10] Con tàu ma (Le Vaisseau fantôme, The Flying Dutchman): Vở opera của Richard Wagner (1813-1883). Senta là con gái Dalan, một thủy thủ Na Uy. Vừa mới nhìn thấy châu báu của Thuyền trưởng Người Hà Lan, Dlan đã bằng lòng gả con gái cho ông ta. Người Hà Lan bị một lời nguyền bắt phải đi lang thang, không được lên bờ. Cái nhìn của Senta đo thẳng vào tâm hồn ông ta như một tia chớp, nhưng cuối cùng, ông ta không muốn lôi kéo Senta vào số phận bi thảm của mình. Chính sự hy sinh ấy đã giải lời nguyền, khiến ông ta xứng đáng được cứu rỗi.
[11] Thời thơ ấu, tôi rất hạnh phúc, tôi hay được đi xem xiếc và dự lễ ở nhà thờ.
[12] Xérophagies: là một từ ghép. Trong tiếng Hy Lạp, xéros là khó, phagein là ăn, tiếng Pháp là xer(o) và phag(o).
[13] Hội chợ Trône (Faire de Trône): Lễ hội vui chơi hàng năm ở …. Rừng Vincennes, thường bắt đầu vào ngày lễ Phục sinh và kết thúc vào cuối tháng 5.
[14] Une petite tranche: Đây là cách chơi chữ của tác giả. Tranche có một số nghĩa: lát (bánh, thịt,…), ăn chơi xả láng…
[15] Love affair with a patient: Chuyện tình với một bệnh nhân. Promptly go to bed: Nhanh chóng lên giường.
[16] Gaetano Donizetti: (1797-1848) Nhà soạn nhạc Ý, tác giả hơn 60 vở opera, trong đó có vở Maria Stuarda, Lucia di Lammermoor (Lord Henry Ashton là anh của Lucia). L’Elisir d’amore (Bùa yêu)…
[17] Greeting, my Lord: (tiếng Anh) Xin kính chào Ngài!
[18] Gioachino Rossini: (1792-1868) Nhà soạn nhạc Ý, tác giả vở opera “Il barbierre di Siviglia” (Người thợ cạo thành Seville)…