Ba Ngày Ở Nhà Mẹ

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 7 -

❊ ❊ ❊

Mồng 4 tháng Ba năm 2003, Mardi gras, Thứ Ba ăn mặn, ngày cuối cùng của lễ hội các-na-van, nhưng hội các-na-van có còn như trước không? “Mardi gras”, có phải tên một nhóm nhạc pop của Anh hồi đầu thập kỷ bảy mươi không? Hình như tôi cũng có một cái đĩa 45 của họ, nếu không phải thì có lẽ là tên bài hát chăng? Tôi có nhiều thứ đồ linh tinh quá, thành ra không sao nhớ được mình cất ở đâu nữa. Chỉ có trong trí nhớ là đồ gì cũng được cất giữ kỹ nhất, những thứ đồ biến thành câu, chẳng hạn như: “Mấy lễ hội các-na-van cuối cùng không còn náo nhiệt như xưa.”

Thỉnh thoảng, tôi lại có cảm giác như mình đóng vai nhân vật nghĩ một cách không được bình thường lắm về nhóm nhiếc, nhạc nhiếc mà tâm lý học xã hội gọi là một người kỳ quặc. Thế mà những gì tôi làm không theo các tập quán mà mình tiếp thu có nhiều nhặn gì cho cam.

Tôi muốn chết càng muộn càng tốt, khi sức lực còn sung mãn. Tôi nói đến cái chết bởi vì một cuốn sách mà không nói đến cái chết thì ít được coi trọng hơn. Các tác giả viết tự truyện đều được hưởng đặc quyền: bao giờ họ cũng có nhiều cái chết để kể. Viết về người chết thì có ích gì cơ chứ? Chẳng phải như vậy là chôn cất họ lần thứ hai sao? Cái chết của người khác làm cho chúng ta yên trí rằng sự sống của mình thật là quý báu, quan trọng, cần thiết và duy nhất. Những người đã chết làm cho cuộc sống của chúng ta có giá trị hơn nhiều. Chúng ta được sống lâu hơn họ, đổi lại, chúng ta chỉ cần hứa mãi mãi nhớ đến họ, như vậy thì đâu phải là một cái giá quá đắt nếu tính tới món quà mà họ tặng chúng ta tức là cho phép chúng ta sống lâu hơn họ. Tất nhiên, trên đường từ nghĩa trang về, chúng ta cũng tự trách mình đã mừng thầm là lần này chưa đến lượt mình. Từ lâu, tôi đã thiết tha mong ước được mặc pi-gia-ma đi dạo phố. Trước kia, khi có pi-gia-ma thì tôi lại không dám thực hiện mong ước đó, còn bây giờ thì tôi không mặc pi-gi-ma nữa. Tôi muốn các hiệu đồ cổ mà tôi đến ngắm một cái bàn hay một cái ghế bành tự nguyện tặng tôi, và nếu họ còn nói thêm là họ rất thích sách của tôi nữa thì tôi sẽ sung sướng hơn nhiều. Tôi muốn bỏ tiền ra thuê cả năm một loạt phòng liền ngay trong độ hai chục khách sạn sang trọng rải rác ở khắp nơi trên thế giới, có sân thượng riêng nhìn ra một cái hồ, một đại dương, một dãy núi, một đường lớn náo nhiệt hai bên trồng cây xanh,ở thành phố Zanzibar, Madrid, London, Lugano, tại Akasaka Prince Hotel ở Tokyo, Métropole ở Bruxelles, Hôtel de Russie ở Roma, Duchessa Isabella ở Ferrare, Bosphorus Pasha ở Istanbul, Vier Jahreszeiten ở Hambourg, tại Cung điện Lausanne, khách sạn ở Elephant ở Weimar, Mexico, New York, Bombay, Madras, khắp nơi, khắp chốn. Tôi muốn những người đàn bà ngoài đường mà tôi thấy hấp dẫn lao đến với tôi, nhưng không được bất ngờ lắm để tôi khỏi giật mình hoảng hốt, rồi, bỏ mặc ý trung nhân hoặc xe nôi đấy, rời hẳn chiếc ô-tô nằm giữa một ngã tư, để cho đồ đông lạnh tan chảy trên xe đẩy hàng, họ hôn tôi tới tấp, say đắm, mãnh liệt, và nói với tôi rằng… nhưng họ đâu cần tôi dạy nên làm thế này hoặc thế kia. Cho đến nay, họ vẫn biết cách xoay xở trong quan hệ với tôi, bằng cách này hay cách khác, chẳng hạn như cô gái điếm xinh đẹp và ăn mặc khá tiết kiệm vải đã bắt chuyện với tôi trên đường vào quảng trường Champs-Elysées : “Anh yêu, anh có đi với em không?” mà tôi đã mỉm cười khi lượn qua lượn lại trước mặt, trong lòng thì thèm đi với cô ta đến chết đi được nhưng lại cứ đắn đo, ngại ngần không biết mình có đủ tiền trả cô ta không. Một tiếng sau, tôi lại gặp cô ta trong một lối đi dưới ga tàu điện ngầm ở Franklin-Roosevelt. Cô ta đã nghỉ việc, cô ta đi giầy đế bằng và mặc áo mưa, cô ta nhận ra tôi và, vẻ mặt khinh khỉnh, buông xõng môt câu : “Đồ ngốc!” Hồi ấy tôi mười chín, đôi mươi gì đó, có lẽ cô ta cũng chỉ khoảng ấy. Từ đó trở đi, mỗi khi có gái điếm mời chào, tôi đều dừng lại nói chuyện đàng hoàng với họ.

Hôm nay, thứ Hai mồng 4 tháng Tám năm 2003, sinh nhật tôi. Tôi ra đời vào ngày lễ thánh cha xứ làng Ars. Bốn mươi tám tiếng sau là Lễ biến thân của Đức Chúa Jesus, một ngày hội được xếp hạng khác hẳn. Đáng lẽ tôi phải xoay xở để ra đời đúng vào ngày hôm ấy. Chúng tôi có quan tâm đến việc hơn kém hai ngày đâu, mẹ tôi và tôi ấy. Mẹ tôi nằm trên bàn đẻ suốt một ngày, và đến mười chín giờ tôi mới chịu ra. Bác sĩ đỡ đẻ phải dùng cặp thai lôi tôi ra,một dụng cụ mà khi mười lăm tuổi tôi sẽ tìm được tên bằng tiếng La-tinh trong quá trình dịch Virgíle, đúng năm tôi được Mẹ dẫn đi xem phim của đạo diễn Đức Helmit Kautner kể về vua Louis II xứ Bavière, một cuốn phim làm tôi bối rối bởi bệnh điên của nhân vật đức vua do OWFischer đóng rất nhập vai thì ít, bởi cảnh tượng quay quá gần một người đàn bà nằm ngửa trên giường mà tôi lờ mờ đoán thấy vú thì nhiều – hai bầu vú phập phồng theo nhịp thở gấp! - một cảnh tượng không sao quên được vì tôi đã không quên được, và tôi cũng không quên được một điều nữa: tôi sợ người đàn bà ngồi bên cạnh nhận thấy hình ảnh ấy đã làm tôi choáng đến thế nào. Tôi vẫn muốn biết nữ diễn viên ấy là ai. Tuần trước, mẹ tôi gọi điện báo tin Katharine Hepburn đã mất, bà quả là một trong những người đàn bà đẹp nhất và tài hoa nhất trong lịch sử điện ảnh. Bà thọ chín mươi sau tuổi. Nhân tiện, Mẹ cũng nhắc tôi bà đã sắp chín mươi.

Mấy năm gần đây, bà đã bị mổ cả hai bên đầu gối. Lớp sụn ở chỗ ấy càng ngày càng mỏng đi vì đi lại bao nhiêu năm đã mòn. Đó là một sụn khớp. Từ khi được biết, tuổi càng cao thì lớp sụn ở một số ít chỗ khác như tai, mũi càng phì đại, tôi nhìn mình trong gương thấy là lạ thế nào ấy. Cả hai lần mẹ tôi phải làm phẫu thuật, tôi đều về thăm, tôi nhìn thấy bà bị luồn ống thông vào đùi, và mỗi lần y tá làm vệ sinh, cả mẹ lẫn con đều lo ngay ngáy chỉ sợ tuột. Bà phàn nàn: “Ở bệnh viện này, người ta phải chịu đựng mọi thứ khổ, chỉ thiếu có mỗi sự yên thân thôi. Cửa phòng mẹ mở mở đóng đóng suốt ngày. Chẳng vì lý do gì quan trọng, một cô y tá cũng đến hỏi mẹ có sao không. Trái lại, khi mẹ bấm chuông thì lại chẳng có ai đến. Đến một giới hạn nào đó thì khách đến thăm, mẹ cũng khó chịu, nhưng mẹ không nói con đâu đấy. Bạn bè qua ngồi chơi một chút, mẹ chỉ thấy phiền, mình đã phải tiếp đón lại còn phải nghe họ kể lể chuyện riêng nữa, trong khi bản thân mình cũng có khối vấn đề.” Còn viên bác sĩ khám cho bà buổi sáng nữa, đáng lẽ phải an ủi bằng một vài câu sáo rỗng để bà yên tâm, ông ta lại đao to búa lơn, hết nói về sự phá huỷ từng bước của cấu tạo khớp lại dùng những từ như “cơ xương”. Tôi đỡ bà tập đi ngoài hành lang bệnh viện. Bà đang chuẩn bị chống người định đứng lên khỏi giường thì đôi nạng tuột khỏi tay như hai con lươn: “Muốn với được đôi nạng, chắc mẹ phải vặn vẹo người theo những tư thế giống như trong sách Kama Sutra[1] mất! Như thể chúng tồn tại độc lập với mình ấy.”

Mấy năm trước, khi bà bị bệnh đục thủy tinh thể và phải phẫu thuật, người ta đã lắp mắt giả bằng nhựa cho bà, việc này khiến tôi nghe mà rùng mình, nhưng bà chỉ bình luận đúng một câu: “Điều làm mẹ chán nhất là phát hiện bao nhiêu nếp nhăn mà trước đây mẹ không nhìn thấy!” Tôi phải giải thích cho bà,việc phẫu thuật đục thủy tinh thể (tôi đã đi tìm hiểu trước khi tới) đã được đề cập trong Luật Harmmourabi[2] từ hai mươi thế kỷ trước và đã được nhiều bản văn Phật giáo cổ coi là tượng trưng cho sự biến mất của tình trạng dốt nát. Tôi đã gửi cho bà tấm ảnh đôi đũa quyền nghi Tây Tạng bằng vàng dùng để gắp tượng trưng thủy tinh thể ra và mở lối vào cho nhận thức cao hơn, không liên quan gì đến việc phát hiện nếp nhăn cả. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như ông Frédéric Trubert mất vào thời gian bị mổ lần thứ nhất vì bệnh đục thủy tinh thể thì phải. Bà đã giữ kín nỗi buồn vô biên ấy trong nhiều tháng liền. Rất lâu sau đó, bà mới tâm sự với tôi: “Mẹ thích giọng nói của ông ấy. Bây giờ thì ông ấy không bao giờ gọi điện cho mẹ nữa. Cuối cùng ông ấy lại ra đi trước bà vợ ốm đau quặt quẹo trong bao nhiêu năm. Cầu xin Chúa tha thứ vì con mong bà ấy chết trước ông chồng.” Rốt cuộc, vừa thuyết phục được Mẹ cùng đi Kenya, đến một bãi tắm thần tiên ở phía nam Mombasa, thì ông Frédéric đột ngột qua đời vì bệnh ung thư ruột kết. Vé máy bay đã đặt và thanh toán xong đâu đấy thì ông phải nhập viện và mất luôn tại đó mà bà chưa kịp cả đến thăm lẫn theo dõi tiến triển của bệnh tật và nói chuyện qua điện thoại một lần chót. Bà chỉ nhận được giấy cáo phó mà người con trai cả của ông gửi đến.

Mồng 4 tháng Tám. Sắp đến giờ ăn trưa thì có tiếng chuông cửa. Tôi đã đứng bật dậy, chả là tôi đang chờ người giao hàng mang đến một bó hoa mà cô Madeleine đã báo trước qua tin nhắn. Tôi lao ra mở cửa, hóa ra là tay nhân viên Kho bạc. Sinh nhật của tôi thì mọi người ở Sở Ngân khố còn lạ gì nữa, đáng lẽ họ phải chọn một ngày khác mới phải chứ. Vẫn là nhân viên Kho bạc ấy, rồi thế nào tôi cũng sẽ cậu cậu tớ tớ với ông ta hay gọi tên riêng thôi, Jean-Baptise. Trong bản fax tiếp theo, thay vì nâng ông ta lên “Thưa Ngài” với hy vọng ông ta hài lòng, tôi sẽ bắt đầu như thế này: “Anh bạn Jibé thân mến, sao tự nhiên cậu lại viết cho tớ là ông Kế toán Kho bạc giao cho cậu đến tịch biên đồ đạc nhà tớ? Cậu không định chơi khăm ông bạn thân Frankie của cậu đấy chứ?” Tôi chưa kịp thực hiện ý định vừa nói thì ông ta đã lù lù ở cửa nhà, nét mặt hơi ngượng ngùng, và giọng điệu đều đều vô cảm, ông ta nói rành rọt từng tiếng như thể ông ta và tôi không quen gì nhau: “Tôi là nhân viên thì hành thuộc Kho bạc.” Ông ta vẫn đứng ì ở ngưỡng cửa. Có lẽ một văn bản luật nào đó quy định cấm nhân viên chấp hành bước qua ngưỡng cửa vào nhà người ta mà không được mời. Tôi có ý thêm giấm thêm ớt vào: “Xin mời ông tự nhiên như ở nhà mình.” Tôi đã gửi cho ông ta một bản fax: “Thưa Luật sư trong nhà tôi không còn gì để tịch biên nữa, tôi vốn ghét tiện nghi và đồ đạc, tôi sẵn sàng bố trí một buổi khám xét căn hộ có hướng dẫn đàng hoàng để phục vụ ông, tôi nói như vậy trên tinh thần rất thiện ý, ông đến thì sẽ thấy”, vì vậy, vừa bước vào và khép cửa lại, ông ta đã nói một cách hóm hỉnh, trong nghề nghiệp ông ta thì hiện tượng này quả là khác thường, thậm chí bất thường: “Tôi đến vì buổi khám xét có hướng dẫn đàng hoàng.” Ngày mồng 4 tháng Tám mà lại đến khám nhà, đáng lẽ ông ta nên nghỉ mới phải, nhưng thôi, việc ai người ấy lo, và tôi định thêm một câu: “Việc ai người ấy lo, cứt ai vừa mũi người ấy”, như Woglinde từng kết luận vào một buổi tối u sầu năm nó hai mươi tuổi,với giọng chán chường mà tôi luôn nhớ lại mỗi khi tuyệt vọng tới mức tưởng rằng chẳng ai giúp được ai nữa.

Từ khi tôi bị đe dọa tịch biên để đem bán đấu giá, hay tịch biên để buộc phải thực hiện cam kết khác nhau thế nào, tôi không phân biệt nổi, tôi đã sắp xếp hai gian thành căn hộ một phòng độc lập để mỗi khi có nhân viên chấp hành đến điều tra, tôi sẽ giới thiệu là nơi ở của tôi, trong đó toàn những đồ không thể tịch biên được. Một tấm đệm mỏng, một cái chăn lông và một cái gối, thế là đủ. Sách vở của tôi nhiều đến thế thì có bị mất tính chất đồ dùng cần thiết không? “Cậu đừng lo, nhân viên chấp hành không ham đọc sách đâu”, một anh bạn luật sư nói với tôi như vậy. Một mặt thì anh bạn khuyên tôi, dù sao cũng nên gửi những gì mà tôi quý nhất ở nhà người thân cho yên ổn, chẳng hạn như bộ sưu tập mặt nạ Châu Phi, mặt khác lại giải thích cho tôi hay việc tổ chức trốn nợ cũng là một tấm bìa bristrol bằng băng dính để bạn bè đến chơi cái mà đặt dấu hỏi về thần kinh của tôi: “Nơi đây là chỗ ở của François Weyergraf.” Nhân viên chấp hành Kho bạc có bị mắc lừa không? Trông võng mạc sáng ngời, thủy tinh thể bình thường, mí mắt bám vào nhãn cầu thế kia thì chắc chắn ông ta không mắc bệnh đục thủy tinh thể và không cần phải phẫu thuật mới thấy là gia đình chúng tôi kê ở ngay cửa vào một chiếc tràng kỷ mua hạ giá ở cửa hàng Samaritaine. Đáng lẽ người ta phải nói, tinh như mắt nhân viên chấp hành chứ không phải như mắt cú vọ mới đúng. Vẻ như không, ông ta đi qua tất cả các phòng mà theo kịch bản của tôi coi như chỉ có một mình Delphine sử dụng, và tôi thừa biết ông ta đã để ý thấy mấy bộ đèn chùm, rèm hai lớp ở tất cả cửa rả, quầy rượu kiêm bàn ăn, chiếc bàn chân lùn bằng gỗ quý, bộ ghế bành do Harry Bertoiak thiết kế, bộ ghế tựa do Eero Saarinen vẽ kiểu không còn nữa. Tôi đưa ông ta vào hang ổ của mình và thấy ông ta ngẩn người đứng nhìn cảnh bừa bãi không tả nổi “ngự trị” trong phòng làm việc của tôi. Ông ta ngần ngại không muốn bước chân vào. Chắc các tế bào thần kinh thị giác của ông ta đang rối loạn lắm. Tôi nghĩ thầm, Howard Carter khám phá ra kho báu của vua Ai Cập Toutankhamon trong Thung lũng Các Vua cũng không đến nỗi sững sờ như ông ta, mặc dù vì những nguyên nhân trái ngược hẳn. Ông ta nhón chân tránh không giẫm lên đám giấy má kín đặc chữ viết tay nằm rải rác dưới đất. Chỉ cần hai giây đồng hồ, ông ta đã đánh giá hết tình hình “Bàn viết hình trụ của ông không còn mới nữa nhưng vẫn đánh giá khoảng mười nghìn ơ-rô, nhưng tôi không ghi gì vào biên bản đâu. Chúng ta sẽ nói là tôi chưa đến, nếu không chuyến khám xét của tôi lại dẫn đến việc ông phải mất thêm một số tiền lệ phí nữa.” Có phải đó là món quà mừng sinh nhật ông ta tặng tôi không? Ông ta có tưởng tác phẩm nghệ thuật di động của Calder là một thứ đồ chơi trẻ con, bộ sưu tập bình thủy tinh do Andries Copier thổi là bình đựng đá không? Ông ta có phát hiện ra bức tranh giấy đây là một tác phẩm của Braque hay giả vờ không nhận thấy vì muốn chiếu cố nhân dịp sinh nhật tôi? Dù thế nào chăng nữa thì tôi cũng đã gặp được một tay bản lĩnh cao cường. Tôi rất nể trọng và ngưỡng mộ những người mà tôi cho là có bản lĩnh cao cường. Mong ước bấy lâu nay của tôi là trở thành một người như vậy. Tại Bizen, cách Osaka khoảng một trăm cây số về phía đông, một nơi mà tay nghề làm đồ gốm Nhật Bản ở mức cao nhất, tôi đã được ngồi nói chuyện suốt cả một buổi tối với một ông thợ gốm mà người ta vừa tôn vinh là Tài sản quốc gia sống, Ông ta đã đọc mấy trang sách của tôi dịch sang tiếng Nhật trong một tạp chí sinh viên và lấy từ trong tay áo Kimono ra cho tôi xem. Vừa rót mời tôi một thứ rượu sake quý hiếm được giữ lâu năm trong thùng gỗ, ông ta vừa xin thứ lỗi vì muốn hỏi một câu khó trả lời “Weyergraf-San, ông từng viết là trong năm năm ông không viết xong được một tác phẩm và năm năm ấy là thời gian tồi tệ nhất trong đời ông, vậy thì câu hỏi của tôi là: bây giờ đã thấy khá hơn chưa?” Tôi đành đáp cho qua chuyện rằng việc được ngồi làm đạo với ông ta đã làm tôi khá hơn hẳn. Ông ta hay rượu sake? Tôi phải thú nhận với ông ta dù có viết lách hay không, lúc nào tôi thấy bức bối. Sau một lát im lặng, ông ta chợt bật cười, rồi đưa tay lên che miệng và nói với tôi: “Tôi cũng vậy! Cả tôi nữa, lúc nào tôi cũng thấy bức bối.”

Tôi có bức bối như vừa nói không? Chẳng có gì là chắc chắn cả. Tôi bằng lòng được là mình và tôi thích sống như mình đang sống. Không ai biết đánh giá hết sự may mắn mà mình được hưởng là mình được bản thân mình cả. Giả dụ như đột nhiên mình biến thành người khác thì chắc là kinh khủng lắm. Đối với tôi, thà bị đày xuống địa ngục còn hơn là hóa kiếp.

Madeleine, cô em cô độc nhất sống ở Paris, bận không đến dự sinh nhật tôi được. Tôi gọi điện thoại cảm ơn cô ấy đã gửi hoa chúc mừng. Nhân tiện, hai anh em có trao đổi vài câu về Đêm ngày mồng 4 tháng Tám. Cô ấy thì cho rằng đó là tên một bức tranh của Goya, còn tôi thì nhắc cho cô ấy nhớ, đó là đêm mà pháp chế năm 1789 bãi bỏ đặc quyền đặc lợi của gia cấp quý tộc và tăng lữ, tức là bãi bỏ những đặc quyền tìm bạn, tôi nghĩ vậy, và cũng là đêm mà thuế thu nhập ra đời. Hai anh em hẹn gặp nhau tối thứ Bảy mồng 9, và lại đó cũng là lễ thánh Amour – ông này là ai nhỉ? Tôi chỉ biết, đó là một nhãn hiệu rượu beaujolais có mùi quả, tên một nơi khi họ cò gáy ở vùng mới Jura và một dòng sông ở vùng Mãn Châu. Lại là và vẫn là sự lười biếng của nhà sản xuất lịch từ năm này sang năm khác cứ chép tên các thánh mà chẳng ai biết.

Ngày thứ Bảy mồng 9, sau khi Madeleine, Delphine và tôi uống hai chai Billecart-Salmon màu phớt hồng coi như rượu khai vị ngoài sân thượng quán Wine and Bubbles, với thức nhắm là thịt lợn ướp và gan ngỗng vỗ béo, chúng tôi trở về nhà để dùng thêm món gì nóng. Tôi đề xuất, cả ba người nên gọi điện nói chuyện với Mẹ. Lần nào được biết con cái quây quần vui vẻ với nhau và nghĩ đến mẹ, bà cũng rất mừng. Đầu dây bên kia không có ai cầm máy. “Mẹ đi chơi rồi, dấu hiệu tốt đấy”, Madelein bảo tôi và gần đến mười hai giờ, cô ấy lại bấm số lần nữa. Mẹ vẫn chưa về. Đến một giờ sáng, tôi vào phòng riêng gọi lại cho Mẹ ở máy điện thoại-fax của mình. Tôi để chuông reo khoảng ba mươi lần. Chắc là Mẹ ngủ say lắm rồi. Chúng tôi uống nhiều rượu quá nên chưa thấy lo lắng lắm. Đến bốn giờ sáng, chúng tôi lại không dám gọi nữa, sợ đánh thức Mẹ dậy. Tôi xuống đường tiễn Madelein và đứng chờ taxi cùng cô ấy. Rồi tôi lên nhà gắng làm việc một lúc và hai giờ sau mới ngủ được. Quá trưa ngày Chủ nhật, tôi mới mở mắt. Máy nhắn tin và trả lời tự động đang nhấp nháy. Tôi nghĩ ngay là Mẹ gọi. Chắc bà được dịch vụ 31.31 thông báo là khuya hôm trước chúng tôi đã gọi nhiều lần. Nhưng tôi lại nhận ra giọng của Olivier, chú em rể cũ, người chồng thứ nhất của cô Madeleine. Chú ấy vẫn đi lại gần gũi với gia đình chúng tôi, nhất là với Mẹ vì chú ấy sống ở một làng nằm sát bên ngôi nhà thờ cũ và lúc nào cũng sẵn lòng giúp bà bất cứ việc gì. “Anh François, lần này thì gay go rồi. Anh về ngay đi.” Tôi phải nghe tin nhắn hai lần mới hiểu việc gì xảy ra. Mẹ được hàng xóm phát hiện nằm bất tỉnh ngoài vườn, hai ngày vừa qua không nhìn thấy bà nên họ lo lắng và sang xem sao. Bà đã được đưa đến bệnh viện Manosque. Đang dự một hội nghị bác sĩ nhi khoa ở Toulouse, Claire, bà chị cả của tôi, đã thuê một chiếc xe và lên đường ngay. Sau này, tôi được đọc phiếu khám của ông bác sĩ đội trưởng đội cứu hỏa: “Bà Marie, họ thời con gái là Lapidès, mang họ chồng là Weyergraf. Ngã ngoài vườn từ độ cao 1 mét. Đã nằm ít nhất một đêm ngoài vườn. Da lạnh. Lẫn. Ngẩn ngơ. Bất tỉnh. Nghi xương đùi phải.”

Trong lúc chúng tôi gọi cho bà và, do ảnh hưởng của rượu sâm banh, đã vội trách bà không chịu nghe điện thoại thì bà đang nằm bất tỉnh ngoài vườn, nơi mà bà thường ra tưới hoa vào buổi tối, xương hông gãy, lại thêm nguy cơ nghẽn mạch phổi nữa. Trong lúc bà rất cần thuốc chống đông máu và vac-fa-rin thì chúng tôi lại thưởng thức một bụng gan ngỗng vỗ béo và sâm banh! Sau này, bà sẽ kể với chúng tôi rằng, khi nằm dưới đất, bà có nghe thấy từng tiếng chuông điện thoại nhưng bà không bò vào nhà được. Bà còn nghe thấy tiếng chó và cáo sủa, tiếng cú rúc, bà rất sợ nhưng không sao cử động được.

Tôi gọi điện đến bệnh viện Manosque nhưng không ai biết bà cả. Điện thoại di động của chị Claira lại được đặt ở chế độ trả lời tự động. Cả chú Olivier cũng không nắm được diễn biến mới nhất. Mẹ tôi đang nằm ở đâu? Tôi lại gọi đi Manosque một lần nữa và cuối cùng mới nhận được tin người ta đang chuẩn bị chuyển bà bằng xe cứu thương đến một bệnh viện tư ở Aix-en-Provence: “Thưa ông, Mẹ của ông thì bệnh viện chúng tôi không có đủ điều kiện chăm sóc đến nơi đên chốn. “Thế thì tại sao họ lại không chuyển bà thẳng đến một CHU[3] ở Marselle? Việc chuyển đến bệnh viện tư ở Aix là thế nào? Một sự thỏa thuận giữa hai giám đốc tài chính chăng? Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà cuối cùng tôi cũng gặp được bà ở đầu dây bên kia, nhưng mới được vài câu, tôi đã hiểu ngay rằng bà không biết mình đang nói chuyện với ai. Bà gọi tôi là ông và hỏi tôi có thích rau cải soong không. Bà nói liền một mạch bốn mươi lăm phút. Bà nói lảm nhảm, đang chuyện nọ lại xọ chuyện kia, bà muốn người ta đưa lũ hà mã đến sở thú vì chúng làm bẩn vườn nhà mình, bà kể về cái mũ sê-si-a của lính bộ binh ở Algérie mà ông cha xứ đội khi đứng làm chú rể cưới bà, bà khẳng định mình là con gái một người lính cận vệ thời Napoléon, bà cầu xin mọi người không được quên. “không bao giờ” được quên, rằng bà là mẹ của sáu đứa trẻ (kèm theo là mấy tên riêng tưởng tượng). Bà mới nói khoảng độ nửa tiếng, một cô y tá đã cầm lấy điện thoại để kiểm tra xem có thật bà đang chuyện trò với một người ở đầu dây bên kia không. Tôi giải thích cho cô biết, tôi là con trai của bệnh nhân, và cô đã nói lại với mẹ tôi. Bà bèn cầm lấy điện thoại và tiếp tục nói ngay: “Cô y tá muốn mẹ gác ống nghe nhưng các con mà gọi thì mẹ nói chuyện không bao giờ biết mệt cả. - Nhưng Mẹ ơi, mẹ có biết mẹ là mẹ đang ở bệnh viện và mẹ bị gẫy cổ xương đùi không? – Con nói gì mà lạ thế, mẹ đang ở phòng đợi của bác sĩ liệu pháp vận động đấy chứ, con có biết không, ông ấy đã bán du thuyền của mình ở một cảng Đan Mạch, một chiếc du thuyền tuyệt đẹp, và ông ấy đã tậu một căn hộ. Ông ấy còn hỏi bao giờ con ra sách mới đấy. Mẹ bảo sắp rồi, hình như tối nay họ mổ cho mẹ thì phải, nhưng mẹ đã bị mổ cả hai bên đầu gối rồi còn gì, họ sẽ không mổ lại đầu gối của mẹ lần nữa chứ, con bảo họ một câu hộ mẹ nhé? – Mẹ ơi, mẹ bị ngã ngoài vườn đấy chứ, và… – Con biết là người ta không thay thuốc chống đông máu cho bệnh nhân hơn bảy mươi lăm tuổi chứ, khắp thế giới đâu đâu cũng quy định như vậy mà. – Mẹ có biết rằng Mẹ đang ở bện viện Manosque không? – Thôi đi, François, con đừng bịa! Lẽ nào tại thế, mẹ biết thừa là bác sĩ liệu pháp vận động của mẹ đang ở Forcalquier mà. - Mẹ ơi, Mẹ nói cho con biết xem Mẹ đang ở đâu nào. –Trong phòng đợi của bác sĩ liệu pháp vận động chứ còn gì nữa, sau khi bán du thuyền ông ấy đã sắm đồ đạc mới và tối nay thì mẹ phải đi chơi bài brit. Sẽ có vợ chồng nhà Lareau này, nhà Franck này, con biết họ rồi đấy, nhớ tên những người ấy cũng chẳng có ích gì đâu, chỉ chứng minh được là mình chưa đến nỗi lẫn thôi.”

Tối hôm ấy, bà được chuyển đến Aix. Chị Claire báo cho tôi biết tình trạng của bà rất nguy ngập. Madeleine và tôi đáp chuyến tàu sớm nhất và hôm sau mới đến nơi. Tất cả các chị em tôi đều đã có mặt. Mẹ tôi lại tập trung được đông đủ cả sáu con một lần nữa, Claire, François, Bénédicte, Madeleine, Agathe và Blandine.

Người bà đầy độc tố không thải trừ được. Két quả xét nghiệm máu không được tốt. Hôm qua, mới đầu các bác sĩ ở bệnh viện Manosque còn cho là không thể chuyển bà đi đâu được. Bà nằm trong phòng cấp cứu hồi sức và chúng tôi chỉ được vào thăm bà vài phút, lần lượt từng người một. Các chị em tôi đi ra đều nước mắt ngắn nước mắt dài cả, và đến lượt tôi cũng vậy. Bà không nhận ra chúng tôi nữa. Chắc là não bị tổn thương. Chúng tôi đối chiếu nhiều nguồn thông tin mới đoán được bà đã nằm hai đêm ngoài vườn. Bà bị ngã từ chiều tối hôm thứ Sáu, thế mà mãi đến Chủ nhật, người ta mới phát hiện ra. Một bác sĩ bảo với chúng tôi, thế còn may, nếu là mùa đông thì bà đã đi rồi.

“Ông đừng ở đây lâu”, cô y tá đưa tôi đến bên giường và nhắc khẽ. Cố kìm nén không bật khóc, tôi đứng im nhìn bà, khuôn mặt đã hốc hác mất hết thần sắc, đôi mắt không còn long lanh nữa, nước da đã trắng bệch như sáp. Vừa thấy tôi, bà dã báo cho biết là bọn gián điệp đang rình mò, chúng ghi âm tất cả nhưng gì hai mẹ con nói với nhau, thần kinh bà rất căng thẳng: “Suỵt! Con đừng lên tiếng! Để mẹ nghe xem bọn gián điệp đang nói với nhau những gì đã.” Ai đến lượt vào khoa cấp cứu hồi sức đều phải xỏ giày vải, đội mũ trùm và khoác áo may bằng một loại ni- lông trong suốt màu xanh nhạt sờ vào thấy ghê tay. Buổi sáng ngày thứ ba, khi tôi hỏi bà tôi là ai, lần đầu tiên tôi thấy bà phản ứng khá sắc sảo: “Con đừng coi mẹ như người bị thần kinh nhé, con là con trai mẹ chứ gì! Con mặc một cái áo rất trang nhã để đến thăm mẹ, đáng khen đấy.” Nhưng đến tôi thì bà lại nói lảm nhảm chuyện gián điệp. Tôi cứ ngong ngóng chờ ngoài cửa xem bà chị hay cô em vào thăm bà đã sắp ra chưa. Chúng tôi muốn trao đổi nhận xét, hy vọng là sẽ có một người trong mấy chị em báo tin bà đã đỡ hơn.

Thay vì vào khách sạn nghỉ, các chị em tôi lại quyết đinh, mỗi tối tất cả mọi người sẽ về ngôi nhà thờ cũ. Lái xe thì họ không ngại, mà nếu chạy theo đường trục thì ngôi nhà thờ cũ chỉ cách Aix có một giờ đường thôi. Chị em chúng tôi có tất cả ba xe. Buổi tối thứ nhất, khi tôi đi cùng cô Madeliene, tâm trí hai anh em bấn loạn quá đến nỗi khi đến thành phố Sisteron và dừng trước tấm biển quảng cáo một viện bảo tàng về Baden-Powell[4], chúng tôi tự nhiên lại phá lên cười vô cớ, một tràng cười nghiêng ngả cứ phải bật tung ra, như người ta vẫn cười trong nhưng giờ phút nghiêm trọng và lo lắng thắt ruột. Cả hai chúng tôi cũng đã có một trận cười điên dại không sao kìm hãm được như vây, đêm mà chúng tôi túc trực bên xác Cha, đêm trước lễ tang. Người sáng lập tổ chức hướng đạo đến chân thành Sisteron để làm gì nhỉ? Tôi lại nhớ đến hồi tôi còn là một chú sói con: “Sói con, hãy thật lòng rèn luyện ý thức giúp đỡ mẹ bạn và hãy thể hiện cho mẹ biết. Mẹ bạn sẽ làm nốt tất cả những việc còn lại.”

Chú Olivier đã chờ chúng tôi và làm sẵn bữa tối. Chú ấy đã cất công đi đến tận thị trấn Banon để mua ở hiệu Boutin – hay hiệu Sauveur, thú thật là tôi không nhớ nữa – một miếng thịt rất ngon mà chúng tôi hầu như không đụng dao đĩa. Toàn bộ ổ cắm ở tầng một đều được sử dụng vào việc sạc pin sáu chiếc điện thoại di động để mấy chị em thông báo cho họ hàng biết tình hình của mẹ chúng tôi. Tôi vô tình mở ngăn kéo tủ và tìm được một cặp kính râm gãy, một bộ bài xếp chữ Scrabble cũ rích, vài cái đèn pin, một lô kẹp quần áo bằng gỗ.

Ba ngày ở nhà mẹ ấy, cuối cùng thì tôi cũng sắp được sống thật rồi. Ở nhà mẹ nhưng không có mẹ ở nhà, rồi ba ngày thành năm ngày, mà ngày nào cũng thế, cứ tối tối về đến đó là chị em chúng tôi lại xác định với nhau là sẽ không bao giờ trở lại sống ở ngôi nhà thờ cũ này được nữa. Lần này thì chắc là bà khó qua khỏi, và trong trường hợp tốt nhất, bà cụ nhỏ bé nhưng không đến nỗi yếu ớt như người ta tưởng, bà cụ vừa sống sót sau hai đêm mà nếu là người khác thì đã chết từ lâu rồi, bà cụ ấy không thể sống một mình trong ngôi nhà nằm chơ vơ, cách biệt với hàng xóm láng giềng được nữa. Có lẽ bà còn không thể tự ăn uống, tự mặc quần áo được nữa. Nhưng ai trong sáu chị em chúng tôi dám đưa vào viện dưỡng lão một người đàn bà vẫn thường tuyên bố với chúng tôi: “Thà mẹ tự vẫn còn hơn vào viễn dưỡng lão.” Chúng tôi có thể phân công nhau lần lượt đưa bà về nhà mình trông nom. Bàn tính mãi rồi chúng tôi cũng phải đi ngủ, nhưng người nào người nấy đều hy vọng bà sẽ bình phục.

Không ai ngủ được cả. Đêm nào tôi cũng ra vườn thơ thẩn một mình. Mẹ đã kể với tôi, hôm xảy ra tai nạn, bà muốn phun thuốc sâu cho mấy cây hồng bị rệp phá: “Hoa hồng nhiều gai quá, chính vì muốn đi vòng quanh khóm cây nên mẹ, mới bị trượt chân.” Bà vừa trải qua cuộc phẫu thuật khớp háng xong, thế mà còn than mình bị xước tay vì lúc ngã chót bíu vào cành hồng. Một người ở gần đó, bà Girard, đã lên Aix thăm mẹ chúng tôi và ôm mặt nghẹn ngào nói: “Thế mà tôi cứ tưởng sẽ không được gặp lại cụ nữa.”

Ba giờ sáng, tôi vẫn còn lò mò ngoài vườn soi đèn pin vào từng cây hồng, đúng là chúng bị rệp cắn thật. Bà đã nhờ một nhân viên tòa thị chính mà bà gọi là “Người làm vườn của mẹ” đến cắt xén giúp cỏ dại ở cuối vườn. Giá mà lúc này tôi được nói chuyện với Delphine có phải hay không, nhưng ngoài vườn không có sóng, mà Agathe lại nghỉ trong căn phòng khách, nơi đặt điện thoại cố định. Vừa căng mắt cố phân biệt ánh sao nhấp nháy và ánh sáng ổn định ở các hành tinh, tôi vừa hít thở ni-tơ và ô-xy, đi-ô-xit cac-bon do loài thú và loài người thải ra. Tôi nhận ra những chòm sao mùa hè, chòm Thiên Ưng nằm giữa hai nhánh của Dải ngân hà. Tôi đã viết những từ như “chứng tăng trạng thái bồn chồn” hay “bối rối” mà không ngờ rằng, một ngày kia mình sẽ là một người con trai lo sợ mẹ qua đời. Tôi tự nhủ rằng người ta viết chỉ để cho mẹ mình đọc, rằng việc viết lách và mẹ đẻ liên quan chặt chẽ với nhau, rằng một nhà văn để tặng tác phẩm của mình không phải cho bà mẹ đã già đi khi bản thân mình đến tuổi viết văn và xuất bản mà cho thiếu phụ đã sinh ra mình ra khỏi lòng trong ngày chào đời. Không khí thật trong lành và khô ráo, tôi nghĩ đến toàn bộ những cuốn sách đã đọc trong đời, những cuốn sách đã đưa đường chỉ lố cho tôi đến nơi này, đến khu vườn mà ban đêm cáo hay mò vào làm mẹ tôi hoảng sợ. Khi Mẹ đỡ ít nhiều, tôi mới dám nhận xét là bà đã nói lẫn một câu, bà liền đáp: “Con biết rõ là mẹ vẫn nói nhầm máy ghi âm từ tính thành máy ghi hình từ tính mà!” Ngày cuối cùng ở bệnh viện, trong lúc chúng tôi chờ xe cứu thương đến đưa bà vào trung tâm hồi phục chức năng xa hơn Nice một chút, bà cười rất tươi và bảo tôi: “Mẹ không cho con một đoạn kết để con hoàn thành tác phẩm của mình, những mẹ lại cho con tư liệu về một cú ngã.” Vừa mới bình phục, bà đã lại lo cho tôi rồi! Có một lần, Madeline nói riêng với tôi, trước khi bị ngã rất lâu, bà đã luôn lo nghĩ cho tôi: “Mẹ sợ anh không bao giờ viết được nữa, lúc nào Mẹ cũng bồn chồn vì anh.”

Thời gian nằm ở bệnh viện Aix, bà đã được chăm sóc rất chu đáo, mặc dù những lúc nóng ruột đến phát điên chúng tôi cũng có nói xằng nói bậy xúc phạm bác sĩ và y tá. Chúng tôi rất lo ngại, nhỡ bộ phận y bác sĩ có nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân lại cho rằng số mệnh con người đã được định sẵn không thể cưỡng lại được, và dù sao thì người già trên tám mươi tám tuổi qua đời cũng là thọ lắm rồi. Khi nói về bệnh viện tư ở Aix, Mẹ tỏ ra tiếc không được nằm ở đó nữa: “Trong ký ức, mẹ vẫn tưởng tượng nơi ấy là một thiên đường nhỏ. Thiên đường ấy sẽ ở trong lòng mẹ mãi mãi như nước tắm cải lão hoàn đồng ấy. Mẹ được thấy tất cả các con ở đó mà.” Bà thích nghe chúng tôi kể bà nói những gì trong lúc mê sảng. Thỉnh thoảng, bà lại băn khoăn: “Nhưng ít ra thì mẹ cũng không nói xấu ai đấy chứ?” Và khi chỉ có một mình tôi ở bên bà: “Con có chắc làm mẹ không chê bai gì mấy thằng rể không?”

Một hôm khác, bà lại đứng lên kể những gì đã diễn ra ngoài vườn: “Hai đêm nằm ngoài vườn ấy, mẹ không thể tả rõ ràng cho con hiểu được… Trong cái rủi cũng có cái may. Mẹ được thấy mặt trời mọc hai lần trên nền trời rộng bao la màu tím nhạt và vàng cam, mẹ được nghe đủ mọi thứ tiếng xào xạc, tiếng chuông ngân. Mẹ ú ớ gọi người đến giúp. Nhưng chỉ có loài vật nghe thấy thôi. Mẹ được thấy tất cả chó nhà trong vùng lần lượt diễu qua. Mẹ không ngờ rằng có bấy nhiêu con vật mò lại gần mình đến thế, có cả một con thằn lằn bé xíu màu xám nữa, mẹ chợt nghĩ đến con, mẹ đã nói chuyện với nó, mẹ không nhớ đã kể cho nó nghe những gì nữa. Khi tiếng chuông điện thoại reo, là các con, nhưng mẹ không sao đứng lên được, ngay cả bò lết, mẹ cũng chịu.”

Bà lại về sống ở ngôi nhà thờ cũ. Tuy chỉ vắng nhà có một thời gian ngắn để phục hồi chức năng, nhưng cũng có lúc bà vừa cười vừa nói đùa là bà mong được đưa đi cấp cứu một lần nữa: “Có thế thì cả sáu con mẹ mới về thăm mẹ ngay lập tức chứ! Các con mà có mặt đông đủ, mẹ sẽ thú nhận là mẹ chỉ giả vờ ốm để cho các con về thôi. Mẹ con mình sẽ cùng nhau rời khỏi bệnh viện, sẽ vào một quán ăn ngon cùng nhau một bữa.” Tôi không nhớ có phải trong cùng một cuộc nói chuyện qua điện thoại lần ấy bà đã phàn nàn riêng với tôi câu này không: “Mẹ con mình đã một năm không gặp nhau rồi đấy nhỉ. Con sẽ thấy mẹ già đi nhiều.” Và một câu nữa bi quan hơn: “Mẹ sắp trăm tuổi rồi, mẹ không muốn đến đó đâu.” Tôi không được chết trước bà, nhưng tôi cũng không muốn bà chết trước tôi. Cha mẹ đã chơi khăm con cái không biết bao nhiêu vố rồi, thế mà sinh ra người con nào là lại bắt buộc người con ấy phải đi sau quan tâm mình một ngày nào đó, chỉ là vấn đề trước hay sau thôi, chỉ miễn trừ cho con nào chết non thôi.

Hai ngày cuối cùng trước khi mẹ tôi ra viện, chỉ còn một mình tôi ở lại Aix- en- Provence thôi. Các chị em tôi đã đi trước rồi, ai cũng có công việc của mình cả. Tôi thuê phòng ở khách sạn. Cậu nhân viên trực đêm, một sinh viên đi làm thêm, đã nhận ra tôi. Cậu ta đọc cuốn sách cuối của tôi và muốn hỏi bao giờ thì cuốn sau sẽ ra mắt. Còn lâu! Cứ làm như người ta chỉ lo có mỗi việc ấy không bằng! Tôi dậy rất sớm và đi bộ đến bệnh viện, tôi mang cá hồi hun khói cho Mẹ nhưng bà không đụng đến. Buổi tối thì tôi đi vơ vẩn ngoài phố. Tôi chẳng thiết gì đến các khách du lịch nữ trông hay hay mà tôi gặp cả. Ban ngày thì tôi lại chẳng buồn vào các thư viện nổi tiếng là tuyệt vời ở Aix để tìm kiếm sách cũ, từ xưa tới nay tôi chưa bao giờ có tâm trạng như vây. Mẹ tôi yêu cầu: “Con vào cửa hàng Monoprix ở đường Mirabeau và mua cho mẹ một con dao nhé ở đây mẹ phải làm vất vả lắm mới cắt thịt được.” Không khí điều hòa dưới tầng hầm cửa hàng Monoprix khiến tôi thấy dễ chịu hơn. Khi tôi mang dao về, bà lại bảo không cần nữa. Tôi vẫn còn giữ con dao ấy, nó nằm trên bàn, trong cái hộp bìa xanh da trời để bảo vệ cho lưỡi khỏi sứt mẻ. Mẹ tôi khuyên tôi đi xem xưởng họa của Cézanne, tôi chưa có dịp đến đó bao giờ. Bà đã đến thăm quan cùng với ông Frédéric lần cuối cùng hai người gặp nhau. Ở tầng trên, nơi mà xưởng họa được khôi phục lại một cách thành kính, tôi dừng lại trước những hộp sọ mà Cézanne dùng làm mẫu để vẽ bức tranh nổi tiếng toàn đầu người chết. Cuối cùng, một buổi sáng, tôi đến bệnh viện thì thấy Mẹ đã ngồi trên ghế. Bà để chân trần, tôi mới thấy chúng gầy như que củi trông thật tội nghiệp. Bà mặc bộ váy áo của bệnh viện màu hồng tay dài, trông y như con búp bê sứ để bày tủ kính. Người ta đã chuyển bà sang phòng khác. Bà không nằm một mình một phòng nữa và tôi thấy bà đang chuyện trò sôi nổi với chủ một hiệu giặt là ở Manosque. Bà hứa đi thăm bà bạn cùng phòng và mang quần áo đến giặt. Bà lại bắt đầu có quan hệ xã giao bình thường với mọi người rồi. Sau khi trở lại Paris, tôi thường xuyên gửi cho bà những bản fax thật dài, mỗi lần hai hay ba trang. Buổi tối thì tôi gọi cho bà ở trung tâm phục hồi chức năng, tôi hỏi bà xem người ta có chuyển đều đặn fax của tôi cho bà không: “François, bản mới nhất con viết tình cảm quá, mẹ xúc động đến nỗi suýt chảy nước mắt đấy.”

Bà nhất định không bằng lòng cho các con mua tặng máy fax, máy điện thoại trả lời tự động, còn đầu đọc DVD thì bà dứt khoát từ chối, nói chung tất cả những máy móc mà bà gọi là “đồ hiện đại”, mẹ không biết cách sử dụng”. Đôi lúc, bà còn nổi nóng: “Mọi người cứ khuyên mẹ bán ngồi nhà thờ đi rồi thuê một căn hộ nhỏ ở Manosque. Họ bảo, có thế thì mẹ mới đỡ vất vả. Ai khiến người ta nghĩ thay mẹ! Dù sao thì mẹ vẫn quyết định được mình nên sống như thế nào chứ?” Hôm nọ, bà vui vẻ bằng lòng để người ta đưa đến dự ngày lễ mừng vị thánh bảo hộ xứ đạo: “Lễ hội thôn quê không còn như ngày xưa nữa. Khói nướng xúc xích ớt vương vào mọi thứ khét lẹt. Hồi mẹ còn phụ trách, đàn bà chúng tôi tự làm đồ ăn lấy. Lại còn tiếng loa nữa chứ! Cách đây không lâu, người ta còn thuê dàn nhạc hẳn hoi, chứ bây giờ thì… Mẹ chỉ ở đó chưa đến mười phút. Bệnh hư khớp lại hành hạ mẹ rồi. Mẹ đã cho gọi bác sĩ đến. Mẹ không còn nhanh nhẹn như cách đây mười lăm ngày nữa. Ôi dào, mẹ đã đến tuổi mà bệnh gì cũng vô phương cứu chữa rồi, cú hết bệnh này lại đến tật kia ấy mà. Chỉ có chết thì mới hết bệnh.”

Tối nay, tôi muốn gửi cho bà một bản fax, tôi muốn báo cho bà mừng là tôi vừa đặt dấu chấm hết cho cuốn sách mà tôi đã quyết hoàn thành từ khi được sống ba ngày ở nhà mẹ, sau lần mẹ bị ngã.

Từ manstupration ở tập 16, trang 95, được giải thích là sự bài xuất tinh dịch bắt buộc bằng cách sờ mó, mơn trớn và cọ sát… Trong tiếng la-tinh, manus là tay, stupran là trụy lạc, đáng khinh, dâm đãng.

Amstellodamienne / Amstellodamoise: Người đàn bà sống ở Amsterdam. Đây là cách nói khôi hài của tác giả, vì mienne và amoise là của tôi, damoiselle là cô tiểu thư.

Có chuyện tình của tôi với Katlijne ở Bruxelles, một chuyện tình đã chấm dứt từ lâu khiến cho tôi có tư liệu để viết sống động hơn, thì mới có nhân vật Juliette Chavoz. Tôi đã phác ra bố cục như sau:

Graffenberg đến với Juliette mà không mang gì theo, cả máy chữ, cả sách vở tham khảo, cả đoạn đầu cuốn tiểu thuyết của mình, cả quần áo. Ngày nào ông cũng tự nhủ, mai mình phải về nhưng rồi ông lại không về. Ông gửi fax cho bà Daphné ghi rõ số điện thoại di động của mình nhưng bà tuyệt nhiên không có phản ứng gì cả. Bà Daphné hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Ông cứ tiếp tục gửi fax, gần như mỗi tuần một bản, “càng ngày càng gay gắt”, sau này bà Daphné sẽ nhận xét với ông như vậy. Ông thấy mình có lỗi. Lỗi đối với bà Daphné ư? Hay là lỗi vì không viết tiếp cuốn tiểu thuyết? Ngay cả với hai con gái, với bạn bè, với mẹ, ông cũng không liên lạc gì cả. Đọc giả hiếu kỳ sẽ muốn biết điều gì diễn ra trong lòng ông: không tham con diếc tiếc con rô, kể những gì diễn ra trong đó mà ông thích, những vướng mắc không giải quyết được và cả tình trạng đắm đuối quá mức trong tình dục đến mức nghiện ngập nữa. Sau hai tháng rưỡi biệt tăm trong khi chỉ tính đi vài ngày, ông trở về Paris, bà Daphné đã biến đâu mất, phải, bà Daphné, người đã từng nói với ông Francois: “Bây giờ mà còn cắt đứt với ông thì dơ lắm, đang lẽ tôi phải làm sớm hơn mới phải.” Ông đã hứa với Juliette sẽ quay lại ngay. Chờ mãi phát chán, cô ta bất thần lên Paris, thuê căn hộ một phòng nhỏ xíu và tồi tàn cách nhà ông không xa. Hai người lại làm tình liên tục nhưng đầu óc ông chỉ nghĩ đến bà Daphné. Bà ấy ở đâu, bà ấy đang làm gì…Ông bảo Juliette ông không muốn cưới, thế là cô ta tìm cách tự vẫn. Cô ta thiếp đi trong vòng tay ông, ông thấy người cô ta lạnh dần, mãi cô ta mới chịu thú nhaận là đã uống thuốc, ông vội gọi xe cấp cứu tuyên bố: “Tôi ấy à, bạn gái tôi mà tự tử thì tôi sẽ bỏ ngay lập tức.” (ông François “Ai thèm hỏi ý kiến cậu.” Juliette: “Ông để em chết đi.”) Sau khâu rửa dạ dày là đến cuộc nói chuyện bất đắc dĩ với bác sĩ tâm lý. Ông ta bảo Juliette: “Cô tìm cách tự giết mình thay vì mình giết mẹ mình (theo nguyên văn). Hai người vẫn tiếp tục ngủ với nhau. Juliette: “Quan hệ của chúng ta sắp kết thúc không được tốt đẹp lắm, thật tiếc cho những gì mà chúng ta đã từng được hưởng.” Tôi có rất nhiều ghi chép về chuyện này. Katlijne bảo tôi: “Em không thể nặng lòng mãi với một của nợ như ông được. Em xấu hổ với người con gái từng là em ngày xưa lắm, người con gái ấy không đời nào lại muốn cặp với một người đã có vợ.” (Cô ta ảo tưởng những gì khi lao vào vòng tay một người đàn ông năm chục tuổi cơ chứ?)

Cách ngôn về tình yêu do triết gia Ấn Độ M. (khoảng giữa thế kỷ 5 và 6) viết.

❀ ❀ ❀

[1] Kama Sutra: Tác phẩm viết về nghệ thuật tình yêu trong một chương bằng tiếng Pháp được gọi là Vana Kama Sure tive.

[2] Harmmourabi: (1793-1750) trước CN) Người sáng lập vương triều A-mô-rít đầu tiên của Vương quốc cổ Babylon ở Lưỡng Hà, người cho soạn thảo “Luật Harmmourabi” gồm 262 điều.

[3] CHU: Trung tâm Cấp cứu thuộc Đại học Y khoa.

[4] Huân tước Robert Baden-Powell: (1857-1941) Tướng Anh, người sáng lập tổ chức hướng đạo năm 1907 ở Anh, các em dưới 12 tuổi được tổ chức thành đội “ Sói con”.

À MẸ Nguyên tác: Trois jours chez ma mere ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.