Biên niên sử Narnia 6: Pháp sư và đứa cháu

Biên Niên Sử Narnia 6: Pháp Sư Và Đứa Cháu

Lượt đọc: 21 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Cánh Cửa Mở Nhầm

❊ ❊ ❊

Câu chuyện diễn ra từ rất lâu về trước, khi ông của bạn vẫn còn là một đứa trẻ. Câu chuyện này vô cùng quan trọng, bởi vì nó kể cho chúng ta nghe mọi việc giữa thế giới của chính chúng ta và vương quốc Narnia ban đầu đã diễn ra như thế nào.

Vào thời đó, Sherlock Holmes vẫn sống ở phố Baker, gia đình Bastable vẫn đang đi tìm khoải báu trên đại lộ Lewisham. Vào thời đó, nếu bạn là một cậu bé, bạn sẽ phải đeo những chiếc cổ áo Eton cứng ngắc mỗi ngày, còn trường học thì thường tồi tệ hơn bây giờ. Tuy nhiên, đồ ăn lại ngon hơn bây giờ; còn nói đến kẹo, tôi không muốn nói cho bạn biết chúng rẻ và ngon đến mức nào, bởi điều đó chỉ làm bạn phí hoài nước bọt mà thôi. Vào thời đó, ở London sống một cô bé tên là Polly Plummer.

Ngôi nhà của gia đình con bé nối liền với những ngôi nhà khác thành một dãy dài. Một buổi sáng nọ, khi đang ở trong khu vườn phía sau, con bé nhìn thấy một cậu bé từ khu vườn bên cạnh trèo lên tường rào, chỉ lộ ra mỗi khuôn mặt. Polly cảm thấy vô cùng bất ngờ, bởi vì cho đến nay, ngôi nhà đó ngoài hai anh em là ông chú độc thân Ketterley và bà cô độc thân Ketterley ra thì không có đứa trẻ nào ở cả. Con bé tò mò ngẩng đầu lên, khuôn mặt của cậu bé lạ mặt kia bẩn thỉu đến mức, cho dù tay của cậu ta có phủi đất trước, rồi khóc một trận lớn, sau đó lại dùng bàn tay dính bùn để lau mặt, thì cũng không thể bẩn đến thế này. Thực ra, đây chính là việc mà cậu ta vừa mới làm xong.

“Chào cậu!” Polly nói.

“Chào cậu!” Cậu bé đáp, “Cậu tên là gì?”

“Polly.” Polly nói, “Còn cậu?”

“Digory.” Cậu bé đáp.

“Ái chà, cái tên này buồn cười quá đi!” Polly nói.

“Tên của Polly mới buồn cười hơn nhiều ấy.”

“Nó buồn cười thật mà.” Polly nói tiếp.

“Chẳng buồn cười tẹo nào.” Cậu bé phản bác.

“Dù sao thì tớ cũng đã rửa mặt,” Polly nói, “còn cậu thì bây giờ rất cần rửa mặt đấy, nhất là khi cậu…” Con bé khựng lại. Con bé vốn định nói “khi cậu gào khóc xong”, nhưng lại cảm thấy như thế thì không lịch sự cho lắm.

“Đúng thế đấy, tớ vừa mới khóc xong.” Digory nâng cao giọng hơn hẳn, giống như một cậu bé đang đau buồn tột độ và chẳng thèm bận tâm có ai biết mình đã khóc hay không. “Cậu cũng sẽ khóc thôi,” cậu ta nói tiếp, “nếu như trước đây cậu sống ở vùng quê, có một chú ngựa nhỏ, cuối vườn còn có một con suối nhỏ, rồi sau đó lại bị đưa đến cái tổ quạ tệ hại này để sống.”

“London không phải là cái tổ quạ tệ hại.” Polly bực bội nói. Nhưng cậu bé quá kích động nên hoàn toàn không để ý đến giọng điệu của con bé. Cậu ta nói tiếp:

“Nếu bố cậu ở tận Ấn Độ, cậu buộc phải đến sống cùng dì và một người chú điên khùng, liệu cậu có vui nổi không? Mà nguyên nhân là vì họ đang chăm sóc mẹ cậu, trong khi mẹ cậu đang ốm, sắp… sắp chết rồi.” Trên mặt cậu ta xuất hiện một biểu cảm kỳ dị muốn nhịn để không khóc.

“Tớ xin lỗi, tớ hoàn toàn không biết gì cả.” Polly hạ giọng xin lỗi. Tiếp theo, vì thực sự không biết phải nói gì, đồng thời cũng để giúp Digory chuyển sang một chủ đề vui vẻ hơn, con bé hỏi:

“Ông Ketterley thực sự bị điên à?”

“Hoặc là điên,” Digory đáp, “hoặc là có bí mật gì đó. Trên tầng thượng của ông ấy có một phòng làm việc, dì Letitia đã dặn đi dặn lại là tớ tuyệt đối không được đến đó. Điều này khiến người ta thấy rất đáng ngờ. Hơn nữa, ông ấy chưa từng nói chuyện với dì Letitia, và mỗi khi ông ấy muốn nói gì với tớ trong bữa ăn, dì ấy lại ngăn cản. Dì ấy sẽ nói, ‘Andrew, đừng làm phiền đứa trẻ này’, hoặc ‘Tớ chắc chắn Digory không muốn biết chuyện đó đâu’, hay ‘Digory, cậu không muốn ra ngoài vườn chơi à?’”

“Ông ấy muốn nói chuyện gì cơ chứ?”

“Tớ không biết. Ông ấy chẳng bao giờ nói nhiều. Ồ, còn nữa, có một đêm, chính là đêm qua, khi tớ đi ngang qua dưới cầu thang gác mái để lên đi ngủ (tớ rất không thích đi qua chỗ đó), tớ dám chắc là mình đã nghe thấy một tiếng thét.”

“Có lẽ ông ấy nhốt một người vợ bị điên ở trỏng chăng?”

“Tớ cũng nghĩ vậy.”

“Hoặc không thì ông ấy đang làm tiền giả.”

“Có lẽ trước đây ông ấy là cướp biển, giống như kẻ ở đầu truyện Đảo Giấu Vàng ấy, lúc nào cũng trốn tránh đồng bọn trên con tàu cũ.”

“Nghe kích thích thật đấy!” Polly nói, “Tớ chưa từng biết ngôi nhà của các cậu lại thú vị như vậy đấy.”

“Cậu có thể thấy thú vị,” Digory nói, “nhưng nếu cậu sống ở trong đó, cậu sẽ chẳng vui nổi đâu. Cậu chắc chắn sẽ không muốn lúc nửa tỉnh nửa mê mà nghe thấy tiếng bước chân của chú Andrew bước qua hành lang, lén lút tiến lại gần mình đâu nhỉ? Hơn nữa, ánh mắt của ông ấy thật đáng ghét làm sao.”

Kì nghỉ hè vừa mới bắt đầu, Polly và Digory cứ thế quen nhau. Họ gặp nhau gần như mỗi ngày, và năm đó chẳng ai ra biển cả.

Mùa hè năm ấy là một trong những mùa hè ẩm ướt và lạnh lẽo nhất trong nhiều năm trở lại đây, cuộc thám hiểm của họ vì thế mà mở màn, và họ cũng chỉ có thể hoạt động trong nhà, nói cách khác, đó là những cuộc thám hiểm trong nhà. Thắp một đoạn nến, lùng sục khắp một ngôi nhà lớn hoặc một dãy nhà thực sự là một việc tuyệt vời vô cùng. Từ rất lâu trước đây, Polly đã phát hiện ra rằng, mở cánh cửa nhỏ của căn gác mái chứa đồ nhà mình ra, sẽ nhìn thấy một khoảng tối thui ở phía sau bể nước, có thể cẩn thận chui vào trong. Bên trong giống như một đường hòng dài, một bên là tường gạch, một bên là mái nhà nghiêng. Giữa các phiến đá trên mái nhà có những khe hở, chiếu lọt ánh sáng vào. Trong đường hầm không có sàn nhà, bạn buộc phải bước đi từ rường nhà này sang rường nhà khác, giữa các rường nhà chỉ có lớp vữa trát. Nếu dẫm lên lớp vữa, bạn sẽ rơi xuống căn phòng phía dưới. Polly từng coi khoảng không gian của đường hầm gần phía bể nước ấy là “hang động của kẻ buôn lậu”. Con bé bê một số mảnh ván thùng hàng cũ và đệm ghế nhà bếp hỏng lên trên, bắc qua các rường nhà để lát thành sàn. Con bé còn giấu một chiếc hộp đựng tiền, bên trong đựng đủ mọi loại bảo bối, một cuốn tiểu thuyết mà con bé đang viết, và thường có cả mấy quả táo. Con bé hay lui vào đó để lén lút uống một chai bia gừng, những chiếc vỏ chai bỏ đi khiến nơi đó trông càng giống “hang động của kẻ buôn lậu” hơn.

Digory rất thích “hang động” đó (Polly sẽ không đời nào cho cậu ta xem cuốn tiểu thuyết kia), nhưng cậu ta lại càng muốn đi thám hiểm hơn.

“Ái chà, đường hầm này dài bao nhiêu vậy, ý tớ là, nó cứ dừng lại ở mép nhà cậu thôi sao?” Digory hỏi.

“Không,” Polly nói, “tường nhà không dừng lại ở chỗ mái nhà đâu. Tớ cũng không biết đường hầm dài bao nhiêu nữa.”

“Vậy thì, chúng ta có thể đi thông qua cả dãy nhà luôn.”

“Đúng vậy,” Polly nói, “Ái chà!”

“Sao thế?”

“Chúng ta có thể đi sang nhà người khác rồi còn gì!”

“Đúng thế, rồi sau đó lại bị tóm vì tội đột nhập ban đêm nhé! Chẳng vui chút nào đâu.”

“Đừng có mà khôn lỏi, lúc nãy tớ đang nghĩ đến ngôi nhà ở phía sau nhà cậu cơ.”

“Ý gì cơ?”

“Ừm, đó là một ngôi nhà trống. Bố nói rằng, kể từ khi chúng ta chuyển đến đây, nó vẫn luôn trống không.”

“Vậy chúng ta phải đi thám thính một chuyến mới được.” Digory nói. Nhìn cách cậu ta nói chuyện, bạn sẽ không thể nhận ra nội tâm của cậu ta đang kích động đến nhường nào. Đương nhiên, có lẽ cũng giống như bạn, cậu ta đang thắc mắc tại sao ngôi nhà đó lại trống không suốt một thời gian dài như vậy. Cậu ta đã nghĩ ra tất cả những lý do có thể xảy ra, Polly cũng đang nghĩ. Thế nhưng, chẳng ai nhắc đến hai chữ “ma ám” cả. Cả hai đều cảm thấy, một khi đã thốt thành lời, nếu không dám đi thì sẽ tỏ ra quá nhát gan.

“Chúng ta đi ngay bây giờ chứ?” Digory hỏi.

“Được chứ.” Polly nói.

“Nếu cậu không muốn thì không miễn cưỡng.”

“Chỉ cần cậu muốn, tớ cũng muốn.” Polly đáp.

“Nhưng làm sao chúng ta biết được khi nào thì vừa đúng lúc sang đến ngôi nhà bên cạnh?”

Họ quyết định trước tiên sẽ đi ra phòng chứa đồ, lấy khoảng cách giữa hai rường nhà làm một bước chân, cứ thế đi một lượt, như vậy sẽ biết được phải bước qua bao nhiêu rường nhà thì mới đi hết một căn phòng. Họ chừa ra khoảng cách lớn hơn bốn rường nhà một chút cho lối đi giữa hai căn gác mái nhà Polly, và tính số rường nhà cho phòng ngủ của người giúp việc bằng với phòng chứa đồ. Cộng lại, đó chính là tổng chiều dài của ngôi nhà ấy. Đi hết hai lần khoảng cách này, chính là điểm cuối của nhà Digory. Đi tiếp về phía trước, bất cứ cánh cửa nào mà họ đi đến cũng sẽ dẫn vào gác mái của ngôi nhà trống.

“Nhưng tớ không cho rằng ngôi nhà đó thực sự trống không đâu.” Digory nói.

“Vậy cậu nghĩ thế nào?”

“Tớ nghĩ, có người ẩn cư ở trong đó, trời tối rồi mới xách theo một chiếc đèn lồng lờ mờ đi ra đi vào. Chúng ta còn có thể phát hiện ra một băng tội phạm cùng đường, và nhờ đó mà nhận được tiền thưởng. Bảo rằng một ngôi nhà bỏ trống nhiều năm mà không có chút bí mật nào thì đúng là ngốc nghếch.”

“Bố nghĩ rằng, bên trong chắc chắn là cống ngầm.” Polly nói.

“Hừ! Suy nghĩ của người lớn lúc nào cũng nhạt nhẽo!” Digory nói. Bởi vì họ đang nói chuyện trong căn gác mái ban ngày, chứ không phải thắp nến trò chuyện trong “hang động của kẻ buôn lậu”, nên khả năng ngôi nhà trống có ma bỗng trở nên vô cùng nhỏ bé.

Sau khi đo xong chiều dài của gác mái, họ liền lấy bút chì ra để tính tổng chiều dài. Ban đầu, đáp án của hai người không khớp nhau, nhưng cho dù có ra cùng một kết quả đi nữa, tôi cũng hoài nghi không biết họ đã tính đúng chưa. Bởi vì cả hai đều đang vô cùng nóng lòng lên đường, để bắt đầu sự nghiệp thám hiểm vĩ đại của mình.

“Chúng ta tuyệt đối không được gây ra tiếng động.” Khi họ chui từ phía sau bể nước vào trong đường hầm một lần nữa, Polly nói. Mỗi người cầm một ngọn nến trên tay (Polly đã giấu rất nhiều trong “hang động” của mình).

Trong đường hầm tối tăm và lộng gió tích tụ một lớp bụi dày. Họ giẫm lên các rường nhà bước đi lặng lẽ, thỉnh thoảng lại thì thầm với nhau một câu như “Đến đối diện gác mái nhà cậu rồi”, hoặc “Đã đi đến giữa nhà tớ rồi”. Cả hai người đều chưa từng ngã lần nào, nến cũng không bị thổi tắt, cuối cùng, họ dừng lại và nhìn thấy một cánh cửa nhỏ trên bức tường gạch bên phải. Mặt này của cánh cửa hoàn toàn không có chốt lẫn tay nắm,

Hiển nhiên là cánh cửa đó được làm ra để cho người ta đi vào trong nhà, chứ không phải để cho người ta đi ra ngoài. Nhưng trên cửa có một chiếc móc cài (giống như loại thường thấy ở cửa tủ quần áo), họ cảm thấy hoàn toàn có thể mở ra được.

“Để tớ mở nhé?” Digory hỏi.

“Chỉ cần cậu muốn, tớ cũng muốn.” Polly lại lôi câu cửa miệng của mình ra dùng. Cả hai đều biết rằng họ đang ở vào thời khắc quan trọng, nhưng chẳng ai lùi bước cả. Digory phải tốn một hồi sức lực mới mở được chiếc móc cài ra. Cánh cửa vừa mở, ánh sáng tự nhiên bất chợt chiếu vào khiến họ không kìm được mà chớp mắt. Tiếp theo, họ vô cùng kinh ngạc khi phát hiện ra trước mặt mình không phải là một căn gác mái bỏ hoang, mà là một căn phòng được bài trí hoàn chỉnh. Nhưng dường như nó lại trống không và chìm trong một sự tĩnh mịch chết chóc. Dưới sự thôi thúc của trí tò mò, Polly thổi tắt nến, nhẹ nhàng bước vào căn phòng kỳ lạ ấy như một con chuột nhắt.

Hình dáng căn phòng rất giống gác mái, nhưng lại được trang hoàng như một phòng khách. Dọc theo bức tường bày đầy những chiếc kệ, trên kệ đặt kín sách. Trong lò sưởi đang bùng cháy ngọn lửa, (bạn còn nhớ mùa hè năm ấy vừa lạnh vừa ẩm chứ?) trước lò sưởi, một chiếc ghế bành lưng tựa cao đang xoay lưng về phía hai người họ. Chiếm phần lớn không gian giữa Polly và chiếc ghế là một chiếc bàn lớn bày đủ thứ đồ đạc — sách, sổ ghi chép, lọ mực, bút máy, sáp niêm phong và một chiếc kính hiển vi. Thế nhưng, thứ đầu tiên thu hút sự chú ý của con bé lại là một chiếc khay gỗ đỏ rực rỡ, bên trong có mấy chiếc nhẫn. Những chiếc nhẫn này được đặt thành từng đôi, một chiếc màu vàng và một chiếc màu xanh lục đặt sát cạnh nhau, cách một khoảng lại là một chiếc màu vàng và một chiếc màu xanh lục đặt sát cạnh nhau. Chúng cũng chỉ lớn bằng nhẫn bình thường, nhưng vì quá sáng bóng nên không ai là không nhìn thấy được. Những chiếc nhẫn nhỏ này lóe lên thứ ánh sắc tuyệt mỹ nhất mà bạn có thể tưởng tượng ra. Nếu Polly nhỏ tuổi hơn chút nữa, con bé rất có thể sẽ nhặt một chiếc bỏ vào miệng rồi.

Căn phòng vô cùng yên tĩnh, chẳng mấy chốc bạn đã có thể nghe rõ tiếng tích tắc của đồng hồ. Nhưng Polly lại phát hiện ra, bên trong hoàn toàn không phải tĩnh mịch tuyệt đối, có một tiếng vo ve nhè nhẹ. Giả sử lúc đó đã có máy hút bụi, Polly chắc chắn sẽ cho rằng đây là tiếng máy hút bụi phát ra khi đang hoạt động ở cách đó mấy căn phòng hoặc mấy tầng lầu. Nhưng âm thanh con bé nghe thấy dịu êm hơn, mang tính âm nhạc hơn, chỉ là nhỏ đến mức gần như không thể nghe thấy.

“Tuyệt thật, ở đây không có ai cả.” Polly nghiêng đầu, dùng âm lượng lớn hơn tiếng thì thầm một chút nói với Digory.

“Tuyệt cái nỗi gì?” Digory bước tới, chớp chớp mắt, “Đây căn bản không phải nhà trống, tốt nhất là chúng ta nên chuồn trước khi có ai đó vào đây.” Trông cậu ta bẩn thỉu hết chỗ nói, Polly cũng vậy.

“Cậu nói xem đó là cái gì thế?” Polly chỉ vào những chiếc nhẫn màu sắc hỏi.

“Lại đây, mau lên…” Digory vừa định nói tiếp thì một chuyện bất ngờ xảy ra. Chiếc ghế bành lưng tựa cao trước lò sưởi đột ngột dịch chuyển, giống như một tên hề trong kịch câm chui ra từ cửa sập trên sân khấu, dáng vẻ đáng sợ của chú Andrew xuất hiện trước mặt họ. Nơi họ đứng không phải là nhà trống, mà chính là phòng làm việc cấm vào trong nhà Digory! Hai đứa trẻ nhận thức được mình đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng, đều há hốc miệng, “Ô — ô —” không nói nên lời. Bọn chúng cảm thấy đáng lẽ ra mình phải nhận thức được từ sớm rằng bản thân đi chưa đủ xa.

Chú Andrew cao và gầy, một đầu tóc bạc rối bù, khuôn mặt dài được cạo sạch sẽ mọc một chiếc mũi nhọn hoắt cùng một đôi mắt sáng quắc.

Digory đến thở mạnh cũng không dám, bởi vì chú Andrew trông còn đáng sợ hơn gấp một nghìn lần so với trước đây. Ban đầu Polly không sợ lắm, nhưng rất nhanh sau đó thì sợ, bởi vì chú Andrew vừa đến liền bước tới cửa, đóng cửa lại, rồi khóa trái cửa. Sau đó, chú ta quay người lại, trừng trừng nhìn chằm chằm hai đứa trẻ, cười lên một tiếng, lộ ra toàn bộ hàm răng.

“Thế này thì hay rồi,” chú ta nói, “đứa cháu gái ngốc nghếch của tao không tìm thấy tụi mày nữa đâu.”

Đây nào phải việc mà người lớn nên làm! Tim của Polly như muốn nhảyọt lên cổ họng. Con bé và Digory bắt đầu lùi về phía cánh cửa nhỏ mà họ vừa bước vào. Nhưng chú Andrew nhanh hơn một bước lao ra sau lưng họ, đóng sập cánh cửa đó lại, rồi đứng chắn trước cửa. Chú ta xoa hai bàn tay vào nhau, làm các khớp ngón tay kêu răng rắc. Chú ta có những ngón tay trắng trẻo, thon dài.

“Rất vui được gặp các cháu,” chú ta nói, “ta đang cần hai đứa trẻ đây.”

“Ông Ketterley,” Polly nói, “cháu phải về nhà đây, xin ông thả chúng cháu ra, được không ạ?”

“Bây giờ thì không được, cơ hội tốt thế này không thể bỏ lỡ được. Ta cần hai đứa trẻ. Các cháu thấy đấy, thí nghiệm vĩ đại của ta mới chỉ làm được một nửa. Trước đây, ta từng dùng một con chuột lang, cũng tạm ổn, nhưng chuột lang thì không thể nói chuyện với cháu được, mà cháu cũng chẳng thể bảo nó cách quay về thế nào.”

“Chú Andrew,” Digory nói, “bây giờ là giờ ăn cơm rồi, chẳng mấy chốc họ sẽ đi tìm chúng cháu đâu. Chú bắt buộc phải thả chúng cháu ra.”

“Bắt buộc ư?” Chú Andrew nói.

Digory và Polly nhìn nhau. Hai đứa không dám mở miệng, nhưng ánh mắt lại đang nói, “Chuyện này đáng sợ quá phải không? Chúng ta đành phải dỗ dành ông ta vậy.”

“Nếu chú thả chúng cháu đi ăn cơm, ăn xong chúng cháu sẽ quay lại ngay ạ.” Polly nói.

“Nhưng mà, ta làm sao biết được các cháu có quay lại hay không?” Chú Andrew cười ranh mãnh, dường như sắp thay đổi ý định.

“Thôi được, thôi được,” chú ta nói, “nếu đã là không đi không được, ta nghĩ các cháu cũng nên đi thôi. Ta không mong đợi hai đứa trẻ lớn chừng này lại thích nói chuyện với một lão ngốc như ta.” Chú ta thở dài, nói tiếp: “Các cháu không hiểu được đâu, đôi khi ta cô đơn biết nhường nào. Nhưng không sao, cứ đi ăn cơm đi. Chỉ là trước khi các cháu đi, ta nhất định phải tặng các cháu một món quà. Không phải ngày nào ta cũng có thể gặp một cô bé trong căn phòng làm việc cũ kỹ bẩn thỉu này, đặc biệt là, nói thế nào nhỉ, một thiếu nữ hấp dẫn giống như cháu.”

Polly bắt đầu nghĩ rằng ông chú này có lẽ không bị điên thật.

“Cháu không thích nhẫn à, cục cưng?” Chú ta hỏi Polly.

“Ý chú là mấy chiếc nhẫn vàng với xanh lục ấy ạ, chúng đáng yêu lắm!” Polly vô cùng vui mừng.

“Không phải màu xanh lục,” chú Andrew nói, “ta nghĩ ta vẫn chưa thể đưa màu xanh lục cho người khác được. Nhưng ta rất thích tặng cháu một chiếc nhẫn vàng chứa đựng tình cảm của ta. Lại đây thử xem nào.”

Polly hoàn toàn không sợ hãi gì nữa, con bé hoàn toàn tin rằng vị lão gia này không hề bị điên, những chiếc nhẫn lấp lánh kia có một loại ma lực kỳ lạ, dụ dỗ con bé bước về phía chiếc khay.

“A, cháu biết rồi!” Polly nói, “Tiếng vo ve đó lớn hơn ở đây rồi, hình như chính là do mấy chiếc nhẫn này phát ra đấy.”

“Thật là một ảo tưởng thú vị, cục cưng à.” Chú Andrew cười lớn, nụ cười ấy nghe vô cùng tự nhiên, nhưng Digory lại nhìn ra từ trên mặt chú ta một sự sốt ruột, thậm chí là vẻ tham lam.

“Polly, đừng làm chuyện ngốc nghếch!” Cậu ta hét lớn, “Đừng chạm vào nhẫn!”

Thế nhưng, tất cả đã quá muộn, ngay trong lúc cậu ta đang nói, tay của Polly đã vươn ra, chạm vào một trong những chiếc nhẫn. Rất nhanh, không có ánh chớp, không có tiếng động, không có bất kỳ lời cảnh báo nào, Polly đã biến mất, trong phòng chỉ còn lại một mình Digory và chú Andrew của cậu ta.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.