Chiến tranh bắt đầu
Ngày thứ Bảy ấy vẫn sống động trong trí tôi, một ngày hồi hộp chờ đợi. Hôm ấy cũng là một ngày mệt mỏi, nóng bức và ngột ngạt, tôi nghe nói phong vũ biểu lên xuống nhanh bất thường. Tôi ngủ ít và thức dậy sớm, tuy vợ tôi ngủ say. Trước khi ăn điểm tâm tôi ra vườn sau nhà đứng lắng nghe, nhưng phía bãi đất công chẳng có động tĩnh nào trừ tiếng con chim chiền chiện.
Ông giao sữa đến như thông lệ. Nghe tiếng quân xa của ông lách cách, tôi đi vòng ra cửa bên hông nhà để hỏi thăm tin tức mới nhất, ông kể cho tôi rằng trong đêm quân đội đã bao vây người Hỏa tinh, và súng đạn đã sẵn sàng. Khi ấy tôi nghe tiếng xe lửa chạy tới Woking, một âm thanh quen thuộc làm vững dạ.
Ông giao sữa nói: “Nếu có thể tránh được thì sẽ không giết chúng.”
Thấy người láng giềng đang làm vườn, tôi đến tán chuyện với ông ta một lát trước khi vào ăn điểm tâm. Sáng hôm ấy chẳng có gì bất thường. Người láng giềng của tôi cho là nội ngày hôm nay quân đội có thể sẽ bắt giữ hay tiêu diệt bọn người Hỏa tinh, và cho rằng đã xảy ra bàn cãi trong Đội kỵ binh. Lính công binh học cao hơn lính thường rất nhiều, họ bàn luận một cách sắc sảo về các tình huống đặc biệt của cuộc giao tranh có thể xảy ra. Tôi mô tả Tia Nhiệt cho họ, thế là họ khởi sự cãi nhau.
Một anh nói: “Tao nghĩ mình nên ngụy trang bò lên tấn công tụi nó.”
Một anh khác nói: “Đồ ngu! Ngụy trang nào mà được với tụi quỷ này hả? Mấy cây gậy đó nướng chín mày liền! Mình nên lẻn theo địa thế tới càng gần càng tốt, rồi đào hào.”
“Dẹp mấy cái hào của mày đi! Mày lúc nào cũng muốn đào hào, đáng lẽ mày sinh ra là con thỏ mới đúng, đồ nhãi ranh.”
Người thứ ba, một ông nhỏ bé, ngăm đen, trầm ngâm, hút tẩu thuốc, cắt ngang: “Tụi nó hổng có cái cổ nào hả?”
Tôi lặp lại mô tả của mình.
Ông ta nói: “Đúng là thứ bạch tuộc. Người ta nói giáo sĩ lưới người, lần này là binh sĩ lưới cá!”[1]
Người đầu tiên nói: “Giết bọn thú như vậy đâu có phải là sát nhân.”
Người đàn ông ngăm đen nhỏ bé nói: “Tại sao không nã pháo cho tiêu tùng tụi khốn khiếp đó cho rồi? Mày đâu có biết tụi nó có thể làm trò gì.”
Người đầu tiên nói: “Pháo của mày đâu? Hổng kịp. Mưu của tao là làm chớp nhoáng, và làm tức khắc.”
Họ cứ thế bàn cãi. Một lát sau tôi bỏ đi tới ga xe lửa để mua hết mấy tờ báo buổi sáng tôi tìm được.
Nhưng tôi sẽ không tả mãi về cái buổi sáng dài lê thê đó và cái buổi chiều còn lê thê hơn để khiến cho người đọc chán. Tôi không có cách nào thấy được bãi đất công, vì ngay cả các tháp nhà thờ ở Horsell và Chobham cũng nằm trong tay giới chức quân sự rồi. Những người lính mà tôi nói chuyện chẳng biết chút gì, còn cánh sĩ quan thì vừa bí mật vừa bận rộn. Tôi thấy dân thị trấn lại hoàn toàn yên tâm vì có sự hiện diện của quân đội. Và tôi nghe lần đầu tiên từ Marshall, ông bán thuốc lá, rằng con trai ông là một trong những người chết trên bãi đất công. Binh lính đã bắt người dân ở ven làng Horsell khóa cửa nhà rồi di tản.
Tôi về ăn trưa lúc hai giờ, mệt nhoài, vì như đã nói hôm ấy rất nóng và ngột ngạt. Để tỉnh táo lại, chiều hôm đó tôi tắm nước lạnh. Khoảng bốn giờ rưỡi, tôi tới nhà ga xe lửa để mua một tờ báo buổi chiều, vì các tờ báo buổi sáng tường thuật hoàn toàn thiếu chính xác về vụ giết Stent, Henderson, Ogilvy và những người khác. Nhưng chẳng có gì mà tôi chưa biết. Người Hỏa tinh không ló ra một chút nào nữa. Chúng có vẻ bận rộn trong hố, tiếng búa nện và khói bốc lên hầu như liên tục. Hiển nhiên chúng đang bận chuẩn bị chiến đấu. Công thức rập khuôn của báo chí là: “Nhiều nỗ lực mới để bắt liên lạc, nhưng thất bại.” Một anh lính công binh bảo tôi là một người trong hào đã cố liên lạc bằng lá cờ gắn trên cây sào dài. Người Hỏa tinh chú ý tới đề nghị đó như chúng ta chú ý tới tiếng rống của con bò.
Phải thú nhận rằng tôi rất kích động khi nhìn các lực lượng vũ trang này, các chuẩn bị này. Trí tưởng tượng của tôi trở nên hiếu chiến, nghĩ tới hàng chục cách đánh bại kẻ xâm lăng, ước mơ tham chiến và thói anh hùng thời học trò của tôi trỗi dậy. Lúc đó đối với tôi hình như đây khó có thể là một cuộc giao chiến ngang sức. Họ có vẻ rất bất lực trong cái hố kia.
Khoảng ba giờ bắt đầu có tiếng súng gầm đều đặn từ Chertsey hay Addlestone. Tôi được biết người ta đang pháo kích khu rừng thông cháy âm ỉ nơi khối hình trụ thứ hai rơi xuống, với hy vọng tiêu diệt vật đó trước khi nó mở ra. Tuy nhiên, phải đến khoảng năm giờ mới có một khẩu pháo nhỏ tới được Chobham để đánh toán người Hỏa tinh đầu tiên.
Khoảng sáu giờ chiều, lúc đang ngồi uống trà với vợ trong nhà hóng mát, sôi nổi nói về trận chiến đang đe dọa chúng ta, tôi nghe tiếng nổ rền từ bãi đất công, và lập tức sau đó là một tràng súng. Ngay kế tiếp là tiếng loảng xoảng dữ dội, khá gần chúng tôi, làm rung chuyển mặt đất. Tôi chạy vội ra sân cỏ, thấy ngọn cây chung quanh Đại học Đông Phương cháy đỏ khói mù, và tháp nhà thờ nhỏ bên cạnh trường đổ xuống tan tành. Đỉnh nóc đền thờ Hồi giáo biến mất, và mái trường đại học như thể bị một khẩu đại bác một trăm tấn bắn trúng. Một ống khói nhà chúng tôi vỡ ra như bị trúng đạn, bay mất, một mảng ống khói lăn lách cách trên ngói rồi rơi xuống thành một đống mảnh vỡ đỏ rực trên luống hoa bên cạnh cửa sổ phòng làm việc của tôi.
Tôi và vợ đứng chết sững. Rồi tôi nhận ra rằng bây giờ, một khi không còn được trường đại học che khuất, đỉnh đồi Maybury chắc hẳn nằm trong tầm Tia Nhiệt của người Hỏa tinh.
Thấy thế tôi nắm tay vợ và chẳng cần kiểu cách kéo nàng chạy ra đường. Rồi tôi tìm cô người làm, bảo cô ta là tự tôi sẽ lên lầu lấy cái rương cô đang nằng nặc đòi mang theo.
Tôi nói: “Mình không ở lại đây được,” và trong khi tôi nói, tiếng súng lại nổ một hồi trên bãi đất công.
Vợ tôi kinh hoảng nói: “Nhưng mình đi đâu?”
Tôi bối rối suy nghĩ. Rồi tôi nhớ tới thân quyến của nàng ở Leatherhead.
“Leatherhead!” Tôi hét át tiếng ầm ĩ chợt đến.
Nàng nhìn xuống đồi. Thiên hạ đang ra khỏi nhà, sửng sốt.
Nàng nói: “Làm sao mình tới Leatherhead?”
Tôi thấy dưới đồi có một toán kỵ binh dưới cầu xe lửa, ba người phi nước đại qua các cánh cổng đang mở của Đại học Đông Phương, hai người khác xuống ngựa và bắt đầu chạy từ nhà này qua nhà khác. Mặt trời đỏ như máu chiếu qua đám khói bốc lên trên ngọn cây, tỏa ánh sáng ma mị lạ lùng trên vạn vật.
Tôi nói: “Chờ ở đây, ở đây em an toàn.” Rồi tôi lập tức chạy tới tiệm Chó Đốm, vì tôi biết người chủ tiệm có một con ngựa và cỗ xe độc mã nhẹ. Tôi chạy, vì tôi hiểu rằng chốc lát nữa thôi mọi người bên này ngọn đồi sẽ di chuyển. Tôi tìm thấy ông chủ trong quầy, không biết gì về chuyện đang xảy ra phía sau nhà mình. Một người đàn ông đứng xoay lưng lại tôi, đang nói chuyện với ông.
Ông chủ tiệm nói: “Tôi phải lấy ông một bảng Anh, nhưng tôi không có ai đánh xe chở nó cho ông đâu.”
Tôi nói qua vai người đàn ông lạ: “Tôi trả ông hai bảng.”
“Để làm gì?”
Tôi nói: “Và tôi sẽ trả lúc nửa đêm.”
Ông chủ tiệm nói: “Trời ơi! Làm cái gì mà vội thế? Tôi đang bán heo thôi mà. Hai bảng, rồi ông đem về trả? Chuyện gì vậy?”
Tôi vội giải thích rằng tôi phải rời nhà, vì thế tôi thuê được chiếc xe. Lúc ấy tôi thấy gần như chẳng có lý do gì mà ông chủ quán cũng phải rời nhà sớm. Tôi cẩn thận lấy chiếc xe ngay tại chỗ, đánh ra đường, để cho vợ tôi và cô người làm trông chừng, rồi chạy vội vào nhà gói ghém vài món quý giá mà chúng tôi có, như bộ đồ ăn bằng bạc, vân vân.
Hàng dẻ trắng bên dưới nhà bốc cháy trong lúc tôi gom đồ đạc, và hàng cọc rào ở đầu đường ửng đỏ. Trong lúc tôi tất tưởi, một trong hai anh kỵ binh đã xuống ngựa chạy bộ tới. Anh ta đi từ nhà này qua nhà khác, khuyến cáo mọi người rời nhà. Anh đi ngang lúc tôi đang ra cửa trước, lôi theo tài sản của mình gói trong tấm vải trải bàn. Tôi gọi với theo anh: “Có tin gì không?”
Anh ta quay lại, nhìn chăm chăm, nói oang oang đại khái là “bò ra, ở trong một cái giống như cái lồng bàn”, rồi chạy tiếp tới cổng căn nhà trên đỉnh đồi. Một cuộn khói đen bỗng lan qua đường che khuất anh một lát. Tôi chạy qua gõ cửa nhà người láng giềng, để kiểm tra cho chắc điều tôi vốn đã biết, rằng vợ chồng ông đã khóa cửa đi Luân Đôn rồi. Tôi lại vào nhà mình để lấy cái rương của cô người làm như đã hứa, lôi nó ra, ấn nó vào bên cạnh cô phía sau chiếc xe, rồi nắm dây cương nhảy lên ghế đánh xe bên cạnh vợ tôi. Một lát sau chúng tôi ra khỏi đám khói và đám ồn ào, thúc ngựa xuống sườn dốc bên kia Đồi Maybury về hướng Old Woking.
Phía trước là quang cảnh rực nắng yên tĩnh, cánh đồng lúa mì trải dài hai bên đường, và Quán trọ Maybury với tấm bảng hiệu lắc lư. Tôi thấy cỗ xe của ông bác sĩ đằng trước. Tới chân đồi, tôi ngoái lại nhìn sườn đồi vừa mới đi qua. Những dải khói đen đặc chen lẫn với những sợi lửa đỏ đang bốc lên trong không gian yên tĩnh, hắt bóng đen lên những ngọn cây xanh phía Đông. Khói đã lan xa theo hướng Đông-Tây, phía Đông tới rừng thông ở Byfleet, phía Tây thì tới Woking. Trên đường rải rác người chạy về phía chúng tôi. Lúc này nghe rất nhỏ, nhưng rất rõ, qua bầu không khí nóng và yên tĩnh, tiếng vút vút khẩu súng máy rất nhanh lại lặng đi và tiếng lốp bốp từng chặp của mấy khẩu súng trường. Hình như người Hỏa tinh đang đốt mọi thứ trong tầm Tia Nhiệt của chúng.
Tôi đánh xe không giỏi, nên lập tức phải quay sang chú ý đến con ngựa. Khi tôi ngoái nhìn lại thì ngọn đồi thứ hai đã che khuất khói đen. Tôi dùng roi quất ngựa, rồi thả lỏng dây cương cho tới khi Woking và Send nằm giữa chúng tôi và cảnh náo loạn dồn dập đó. Tôi bắt kịp và vượt qua ông bác sĩ ở đoạn đường giữa Woking và Send.
❀ ❀ ❀
[1] Một cách chơi chữ của tác giả ngụ ý nhắc lại một câu trong Thánh Kinh, Sách Matthew 4.19, khi Jesus nói với hai anh em Simon (Phê-rô) và Andrew làm nghề chài lưới hãy theo ngài để thành những kẻ lưới người thay vì lưới cá.