Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Chương 8

❊ ❊ ❊

Luân Đôn chết chóc

Sau khi rời bỏ người lính pháo binh, tôi xuống đồi, theo Phố Chính để băng qua cầu tới quận Fulham. Cỏ dại đỏ lúc đó mọc hỗn độn khiến đường qua cầu gần như tắc nghẽn, nhưng lá cỏ đã trắng bợt từng mảng vì căn bệnh lan tràn lập tức diệt trừ chúng rất nhanh.

Ở góc hẻm tới nhà ga cầu Putney tôi gặp một ông đang nằm. Ông ta đen như anh thợ thông ống khói bám bụi đen, còn sống, nhưng quá say không nói nổi. Tôi không hỏi ông được gì mà chỉ nhận được vào mặt lời nguyền rủa và những cái xua đuổi thịnh nộ. Tôi nghĩ mình chắc đã ở lại bên ông nếu như vẻ mặt ông đừng hung ác thế.

Trên đường từ cầu trở đi có bụi đen, và ở Fulham bụi càng dày hơn. Phố xá im lặng khủng khiếp. Tôi tìm được thức ăn trong một tiệm bánh mì ở đây - chua, cứng, mốc, nhưng ăn tạm được. Giữa đường tới Công viên Walham, phố xá trở nên sạch bụi, tôi đi ngang một dãy nhà trắng đang cháy; tiếng lửa cháy mang lại cảm giác vô cùng nhẹ nhõm. Đi tiếp tới Brompton, phố xá lại yên tĩnh.

Ở đây tôi lại gặp bụi đen trên đường và trên xác chết. Tôi gặp tổng cộng hơn một chục xác trên suốt dọc Đường Fulham. Họ chết đã nhiều ngày, vì thế tôi vội vàng đi qua. Bụi đen phủ kín họ, làm mềm mại bớt hình dáng họ. Một hai xác đã bị đàn chó quấy rầy.

Nơi nào không có bụi đen thì giống như thủ đô ngày Chủ nhật đến lạ lùng, hàng quán đóng, nhà nhà khóa cửa kéo màn, hoang vắng và tĩnh mịch. Một số nơi đã bị cướp, nhưng thường là ở các cửa hàng thực phẩm và rượu vang. Cửa kính một tiệm kim hoàn bị vỡ toang ở một chỗ, nhưng rõ ràng kẻ trộm đã bị chặn lại, vài sợi dây chuyền vàng và một chiếc đồng hồ nằm vương vãi trên vỉa hè. Tôi không buồn đụng tới chúng. Xa hơn, một phụ nữ rách rưới nằm một đống nơi bậc cửa, bàn tay bị đứt sâu lơ lửng trên đầu gối, nhỏ máu xuống chiếc váy nâu hoen đỏ của bà, và một chai sâm banh lớn bị vỡ làm thành vũng loang trên vỉa hè. Bà ta có vẻ như đang ngủ, nhưng bà đã chết.

Càng đi sâu vào Luân Đôn, sự tĩnh mịch càng thăm thẳm. Nhưng nó không hẳn là sự tĩnh mịch của chết chóc, mà là sự tĩnh mịch của chờ đợi, của mong chờ. Vùng Tây Bắc ven thủ đô đã bị cháy sém, Ealing và Kilburn đã bị tiêu hủy, bất cứ lúc nào kẻ tàn phá các vùng ấy cũng có thể giáng đòn xuống khu nhà này rồi để cho nó cháy thành những đống hoang tàn. Một thành phố bị kết án và vô chủ…

Ở South Kensington đường phố không có xác chết hay bụi đen. Chỉ khi tới gần South Kensington lần đầu tiên tôi mới nghe tiếng tru. Nó khiến tôi sởn gáy khôn tả. Nó là tiếng nức nở trầm bổng hai nốt “Ulla, ulla, ulla, ulla” kéo dài vô tận. Khi tôi đi qua khu phố chạy về hướng Bắc, tiếng nức nở nghe lớn hơn, song các căn nhà và dinh thự dường như lại làm nó dịu đi và ngắt tiếng. Nó trở nên lớn tột bực ở cuối Đường Exhibition. Tôi dừng lại, nhìn chăm chú về phía Công viên Kensington, ngạc nhiên vì tiếng than khóc xa xôi, lạ lùng này. Dường như cảnh hoang vắng ghê hồn của khu nhà đã tìm thấy tiếng nói cho nỗi sợ hãi và cô đơn của nó.

“Ulla, ulla, ulla, ulla,” điệu siêu nhiên ấy rền rĩ - âm thanh đổ từng đợt sóng lớn xuống lòng đường rộng ngập nắng giữa các cao ốc hai bên. Tôi kinh ngạc quay về hướng Bắc tới cổng sắt của Công viên Hyde. Tôi do dự muốn đột nhập vào Viện bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên, rồi tìm cách lên đỉnh tháp để nhìn qua công viên. Nhưng tôi quyết định ở dưới đất, nơi có thể ẩn nấp nhanh, vì thế tôi tiếp tục đi trên Đường Exhibition. Tất cả dinh thự lớn hai bên đường trống trơn và yên tĩnh, tiếng chân tôi vang dội trên vách các tòa nhà. Ở đầu đường, gần cổng công viên, tôi chợt thấy một cảnh lạ - một chiếc xe khách lật ngược, và một bộ xương ngựa bị rỉa sạch. Tôi bàng hoàng trước cảnh này một lúc, rồi tiếp tục đi tới chiếc cầu trên hồ Serpentine. Tiếng khóc càng lúc càng lớn, tuy tôi không thấy gì trên các nóc nhà ở mạn Bắc công viên, trừ một làn khói mờ phía Tây Bắc.

“Ulla, ulla, ulla, ulla,” tiếng khóc hình như đến từ khu vực quanh Công viên Regent. Tiếng khóc sầu não len lỏi vào tâm trí tôi. Tâm trạng giữ tôi đứng vững đã tan biến. Tiếng than van chế ngự tôi. Tôi thấy cực kỳ mệt mỏi, đau chân, và lại đói khát.

Trời đã quá trưa. Tại sao tôi lang thang một mình trong thành phố chết chóc này? Tại sao tôi đơn độc khi cả Luân Đôn đang yên nghỉ, dưới tấm vải liệm đen của nó? Tôi cảm thấy cô đơn không thể chịu nổi. Tâm trí liên tục nhớ tới các bạn cũ mà tôi đã quên từ lâu. Tôi nghĩ đến thuốc độc trong các hiệu dược phẩm, đến rượu trong kho của người bán rượu. Tôi nhớ lại hai sinh vật đờ đẫn tuyệt vọng, mà tôi biết cho tới lúc này đang chia sẻ thành phố này với tôi…

Tôi đến phố Oxford qua đài kỷ niệm Marble Arch. Nơi đây lại có bụi đen và vài xác chết, mùi hôi ghê khiếp bốc ra từ song sắt tầng hầm của vài căn nhà nào đó. Tôi rất khát vì nóng sau chuyến đi bộ dài. Khó khăn khôn xiết, tôi cố phá cửa vào một tiệm rượu để lấy thức ăn và đồ uống. Mệt mỏi sau khi ăn xong, tôi liền đi vào căn phòng phía sau quầy, nằm ngủ trên chiếc ghế xô pha lông ngựa đen tôi tìm thấy ở đó.

Tôi thức dậy nghe tiếng tru u uất ấy vẫn văng vẳng trong tai mình, “Ulla, ulla, ulla, ulla”. Trời đã nhá nhem, và sau khi ăn sạch mấy miếng bánh quy và pho mát trong quầy - có một tủ thịt, nhưng chẳng còn gì ngoài giòi - tôi tiếp tục lang thang qua các khu dân cư tĩnh mịch tới phố Baker - tôi chỉ nhớ được tên khu quảng trường Portman - và rốt cuộc ra tới Công viên Regent. Khi ra khỏi đầu phố Baker, tôi thấy xa xa trên ngọn cây cái mui của gã Hỏa tinh khổng lồ đang phát ra tiếng tru này dưới ánh hoàng hôn trong trẻo. Tôi không hoảng sợ. Tôi chợt thấy đấy là chuyện tất nhiên. Tôi nhìn hắn một hồi, nhưng hắn không cử động. Hắn có vẻ đang đứng gào thét, vì lý do gì tôi không thể biết.

Tôi cố nghĩ một kế hoạch hành động. Tiếng ‘“Ulla, ulla, ulla, ulla” vô tận làm tôi rối trí. Có lẽ tôi quá mệt không còn hoảng sợ được nữa. Hẳn nhiên tôi tò mò muốn biết lý do của tiếng than đơn điệu này hơn là sợ. Tôi đi ngược ra khỏi công viên vào Đường Park, định đi vòng công viên, men dưới các mái hiên, rồi tìm cách nhìn gã Hỏa tinh tru tréo bất động này từ phía St. John’s Wood. Ra khỏi phố Baker hai trăm mét, tôi nghe một tràng tiếng ăng ẳng, và thấy trước tiên một con chó ngậm miếng thịt đỏ thối đang cắm đầu chạy về phía tôi, rồi tới một đàn chó đói đuổi theo nó. Nó chạy một vòng lớn để tránh tôi, như thể nó sợ tôi có thể là một đối thủ mới. Khi tiếng ăng ẳng lắng dần dưới con phố vắng, giọng than vãn ”Ulla, ulla, ulla, ulla” lại lớn hơn.

Nửa đường tới nhà ga St. John’s Wood tôi chợt gặp một xác máy điều khiển. Thoạt tiên tôi nghĩ đó là căn nhà đổ ngang đường. Chỉ sau khi leo vào đống đổ nát tôi mới giật mình thấy gã Samson[1] máy này nằm giữa tàn tích mà hắn gây ra, các tua cong giập và vặn vẹo. Phần trước của hắn bị vỡ. Có vẻ như hắn đã mù mắt đâm thẳng vào căn nhà và bị ngã không gượng dậy nổi. Lúc ấy tôi nghĩ điều này có thể xảy ra vì người Hỏa tinh mất kiểm soát một máy điều khiển. Tôi không thể leo vào chỗ đổ nát để xem, và ánh nhá nhem bây giờ đã tối thẫm tới nỗi tôi không thể thấy vết máu vấy bẩn chỗ ngồi của hắn, và xương sụn bị gặm của người Hỏa tinh mà đàn chó đã để lại.

Tự hỏi còn gì nữa sau những điều mình đã thấy, tôi dấn bước tới Đồi Primrose. Xa xa, thấp thoáng giữa cành lá, tôi thấy một tên Hỏa tinh thứ hai, bất động như tên đầu tiên, đang đứng im trong công viên dẫn tới Vườn Bách thú. Quá khỏi chỗ đổ nát chung quanh cỗ máy điều khiển bị vỡ, tôi lại chợt gặp cỏ dại đỏ, và thấy kênh Regent là một mảng lốm đốm cây cỏ đỏ thẫm.

Khi tôi băng qua cầu, tiếng “Ulla, ulla, ulla, ulla” ngưng bặt, như bị cắt ngang một cách phi thực. Im lặng chợt đến đột ngột.

Các căn nhà tối tăm quanh tôi nhạt nhòa, cao và mờ; hàng cây dẫn tới công viên trở nên đen đúa. Khắp chung quanh cỏ dại đỏ bò giữa đống đổ nát, vặn vẹo vươn cao quá đầu tôi trong ánh mờ. Đêm, nguồn gốc của sợ hãi và bí ẩn, đang phủ trùm lên tôi. Nhưng một khi tiếng khóc ấy còn cất lên, thì sự hiu quạnh, sự hoang tàn còn có thể chịu đựng được; vì nó mà Luân Đôn vẫn có vẻ còn sống, và cảm giác về sự sống chung quanh còn nâng cao tinh thần tôi. Rồi thình lình biến đổi, một điều gì thoáng qua - tôi không biết là gì - bỏ lại sự thinh lặng có thể sờ thấy được. Không còn gì ngoài sự lặng lẽ thê lương này.

Luân Đôn bao quanh chằm chằm nhìn tôi một cách ma quái. Cửa sổ các ngôi nhà trắng tựa như những hốc mắt trên đầu lâu. Tôi tưởng tượng thấy quanh mình có hàng ngàn kẻ thù lặng lẽ đang di chuyển. Tôi kinh hoảng, khiếp sợ vì sự liều lĩnh của mình. Trước mặt tôi con đường trở nên tối mịt như thể bị bôi hắc ín, và tôi thấy một thân hình nằm vặn vẹo ngang lối đi. Tôi không thể tiếp tục được nữa. Tôi rẽ xuống Đường St. John’s Wood, và cắm đầu chạy khỏi sự thinh lặng khôn kham này tới Kilburn. Tôi trốn đêm tối và sự yên lắng, nấp trong chỗ trú của mã phu trên Đường Harrow cho tới sau nửa đêm rất lâu. Nhưng trước rạng đông tôi có lại can đảm, và khi sao trời còn sáng, tôi lại đi về hướng Công viên Regent. Tôi lạc giữa các phố, và chẳng bao lâu trong ánh bình minh nhá nhem tôi thấy đường cong của Đồi Primrose ở cuối một đại lộ dài. Trên đỉnh đồi, lừng lững lên tới các vì sao mờ, là tên Hỏa tinh thứ ba, đứng thẳng và bất động như hai tên trước.

Một quyết tâm điên rồ chế ngự tôi. Tôi sẽ chết và chấm dứt tất cả. Và thậm chí tôi sẽ khỏi phải nhọc công tự sát. Tôi liều lĩnh bước tới gã khổng lồ này. Khi tới gần hơn thì trời sáng, tôi thấy một đàn chim đen đang lượn tròn và tụ tập quanh cái mui của gã. Thấy thế tim tôi đập mạnh, và tôi bắt đầu chạy dọc theo đường.

Tôi vội vàng đi qua đám cỏ dại đỏ bịt kín ngõ St. Edmund (tôi lội tới ngực qua dòng nước lũ từ nhà máy nước chảy xuống tới Đường Albert), và tiến ra bãi cỏ trước khi mặt trời lên. Các gò lớn ngổn ngang quanh đỉnh đồi làm thành một đồn phòng thủ khổng lồ - đó là chỗ cuối cùng và lớn nhất do người Hỏa tinh làm - và từ phía sau những gò đống này một làn khói mỏng bốc lên nền trời. Nơi chân trời một con chó hăm hở chạy rồi biến mất. Ý nghĩ thoáng qua tâm trí tôi càng trở nên thật, càng đáng tin. Khi chạy lên đồi tới chỗ con quái vật bất động, tôi không thấy sợ, chỉ thấy một nỗi hân hoan man dại run rẩy. Đàn chim đói đang mổ và giằng xé những miếng nâu dài lủng lẳng bên ngoài mui.

Một lát sau tôi đã bò lên lũy đất và đứng trên đỉnh, bên dưới tôi là mặt trong của thành lũy. Đó là một khoảng đất rất rộng, đây đó bên trong là các bộ máy khổng lồ, nhiều đống lớn vật liệu và những chỗ ẩn náu kỳ lạ. Rải rác khắp nơi, trong các máy chiến đấu đổ nhào, trong các máy điều khiển giờ đã cứng đờ, và cả chục tên trơ trụi lặng lẽ nằm thành một hàng, bọn Hỏa tinh - đã chết! - chết vì vi khuẩn bệnh và thối rữa tấn công cơ thể thiếu chuẩn bị của chúng; chết như cỏ dại đỏ bị giết chết; chết vì những thứ tầm thường nhất mà Chúa, bằng sự minh triết của ngài, đã đặt để trên thế giới này, sau khi mọi phương kế của loài người đã thất bại.

Vì sự việc đã hóa ra như thế, như thật ra tôi và nhiều người đáng lẽ đã tiên đoán được nếu như sự khiếp sợ và thảm họa không làm mê mụ đầu óc mình. Những mầm bệnh này đã gây hại cho nhân loại từ buổi ban đầu - gây hại cho các loài sơ khai trước khi có loài người từ ngày sự sống bắt đầu ở đây. Nhưng nhờ giống loài chúng ta trải qua sự chọn lọc tự nhiên, chúng ta đã phát triển sức đề kháng. Chúng ta không khuất phục loại vi trùng nào mà không kháng cự, và cơ thể sống của chúng ta hoàn toàn miễn nhiễm đối với nhiều loại vi trùng, chẳng hạn, loại gây thối rữa trên xác chết. Nhưng trên Hỏa tinh không có vi khuẩn, và những kẻ xâm lăng này đến thẳng đây, chúng ăn uống trực tiếp thức ăn ở đây, thế là các đồng minh cực nhỏ của chúng ta bắt đầu làm công việc lật đổ. Khi tôi nhìn chúng, chúng đã tận số không sao cứu vãn, hấp hối và thối rữa ngay giữa khi chúng đang đi tới đi lui. Điều ấy không thể tránh khỏi. Nhân loại đã trả cho quyền thừa kế Trái đất của mình bằng giá hàng tỉ người chết, và quyền này không dành cho mọi kẻ bên ngoài; Trái đất vẫn là của loài người, dù cho bọn Hỏa tinh mạnh hơn gấp mười lần như thế. Vì nhân loại sống hay chết cũng không vô ích.

Chúng rải rác đây đó, tổng cộng gần năm chục xác, trong cái hố lớn chúng đã làm, gục ngã vì cái chết hẳn là không thể hiểu đối với chúng như bất cứ cái chết nào. Lúc đó cái chết này đối với tôi cũng khó hiểu. Tôi chỉ biết những kẻ này đã sống và gieo rắc nỗi kinh sợ cho loài người, song nay chúng đã chết. Trong giây lát tôi tin rằng sự tàn phá của Sennacherib[2] đã tái diễn, rằng Chúa đã hối tiếc, rằng Thần Chết đã giết chúng trong đêm.

Tôi đứng nhìn đăm đăm vào cái hố, và tâm tôi rực sáng, ngay cả khi mặt trời mọc giáng những tia nắng cháy xuống thế giới quanh tôi. Hố vẫn nằm trong bóng tối; những bộ máy đồ sộ, sức mạnh và sự phức tạp của chúng thật lớn thật diệu kỳ, hình dáng vặn vẹo của chúng thật bí hiểm, vươn lên quái dị mơ hồ và lạ lùng khỏi bóng râm ra tới ánh sáng. Tôi có thể nghe đàn chó đang tranh nhau những cái xác nằm tối tăm sâu trong hố, xa bên dưới tôi. Bên kia mép hố, phẳng lì, khổng lồ và kỳ lạ, là chiếc máy bay lớn mà chúng đã thí nghiệm trong bầu khí quyển đậm đặc hơn của chúng ta, khi sự thối rữa và cái chết tấn công chúng. Thần chết đã đến đúng lúc. Nghe tiếng quạ trên đầu, tôi ngước nhìn cỗ máy chiến đấu khổng lồ sẽ không bao giờ chiến đấu nữa, nhìn những miếng thịt đỏ tả tơi thõng xuống trên những cái ghế lật nhào ở đỉnh Đồi Primrose.

Tôi quay lại nhìn xuống sườn đồi lúc này chim chóc đã phủ kín, nơi tôi đã thấy hai gã Hỏa tinh khác đứng suốt đêm khi thần chết chợt đến với chúng. Một đã chết, giữa lúc hắn khóc cho bạn đồng hành của hắn. Có lẽ hắn là kẻ chết sau cùng, và giọng hắn cất lên không ngớt cho tới khi sức máy của hắn kiệt quệ. Giờ đây chúng lấp lánh, những cái tháp ba chân kim loại sáng ngời vô hại, dưới ánh rực rỡ của hừng đông.

Chung quanh hố, như thể nhờ phép lạ cứu khỏi bị hủy diệt đời đời, thủ đô vĩ đại của mọi thành phố trải dài. Ai chỉ thấy Luân Đôn phủ trong bức màn khói u ám sẽ khó có thể tưởng tượng vẻ trong sáng trần trụi và vẻ đẹp hoang dã lặng lẽ của các căn nhà.

Về hướng Đông, trên đống đổ nát đen đúa của ngõ Albert và ngọn tháp nhọn tả tơi của nhà thờ, mặt trời chói lòa trên bầu trời trong sáng, và đây đó một mái nhà trong biển mái nhà bắt nắng, sáng trắng rực rỡ.

Phía Bắc là Kilburn và Hampstead, xanh và nhà cửa đông đúc; phía Tây là thành phố vĩ đại mờ mờ. Và phía Nam, qua khỏi chỗ bọn Hỏa tinh, những gợn xanh của Công viên Regent, khách sạn Langham, vòm Hí viện Albert Hall, Học viện Imperial, và các dinh thự khổng lồ trên Đường Brompton hiện rõ và nhỏ trong hừng đông, những tàn tích lởm chởm của khu Westminster vươn cao nhạt nhòa đằng xa. Xa hơn nữa là dãy đồi xanh ở Surrey, và các ngọn tháp của điện Crystal Palace lấp lánh như hai thanh bạc. Vòm nhà thờ Thánh Paul sẫm màu dưới ánh bình minh, đã hư hại, lần đầu tiên tôi thấy, một lỗ thủng khổng lồ há hốc bên phía Tây.

Và khi nhìn dải đất rộng này mang trên mình nhà cửa, xưởng máy và nhà thờ, lặng lẽ hoang phế, khi nghĩ đến biết bao hy vọng và nỗ lực, đến vô số cuộc đời đã đi xây dựng mạch đất con người này, đến sự hủy diệt chớp nhoáng và tàn bạo đã treo lơ lửng trên đầu nó, khi nhận thức được rằng bóng tối đã lui, con người có thể vẫn còn sống trong các khu phố, và thành phố chết rộng lớn thân yêu của tôi một lần nữa sẽ sinh động và cường tráng, tôi cảm thấy nỗi xúc động dâng tràn đến gần như bật khóc.

Đau khổ đã qua. Ngay từ hôm ấy vết thương đã bắt đầu lành lại. Người sống sót rải rác khắp nước - không ai lãnh đạo, không pháp luật, không thực phẩm, như đàn cừu không người chăn - hàng ngàn người đã trốn đi bằng đường biển, họ sẽ bắt đầu quay về. Mạch sống sẽ đập lại ngày càng mạnh hơn trên các phố vắng và chảy qua các quảng trường trống trải. Bất kể tàn phá gì đã xảy ra, bàn tay của kẻ phá hoại đã bị ngưng lại. Tất cả những đổ nát thê lương, những khung nhà cháy đen ảm đạm nhìn đăm đăm bãi cỏ rực nắng trên đồi, chẳng mấy chốc sẽ vang lên tiếng búa tiếng bay của người tái thiết. Nghĩ đến đó tôi giơ tay lên trời tạ ơn Chúa. Trong một năm, tôi nghĩ - trong một năm…

Và mãnh liệt tràn về trong tôi suy nghĩ về bản thân, về vợ tôi, về cuộc sống cũ chan chứa hy vọng và dịu dàng đã chấm dứt vĩnh viễn.

❀ ❀ ❀

[1] Nhân vật trong Cựu ước, Sách Phán quan 13:1-16:31, Samson được Chúa cho sức mạnh phi thường để chống lại kẻ thù và lập nhiều kỳ công.

[2] Vua xứ Assyria (704-681 TCN), xâm lăng Judea, chinh phục Babylon, và tái thiết Nineveh. Năm 1815, Lord Byron sáng tác bài thơ rất được ca ngợi, “The Destruction of Sennacherib”, với nhịp điệu dồn dập đáng sợ của móng ngựa như đạo quân Assyria xung trận.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.