Trong khi sửa soạn tài liệu chúng tôi gọi là “bức thư chính yếu”, còn phải lo lắng về “người” mang lá thư ấy đi.
Câu hỏi đầu tiên của đối thủ chúng tôi bên Berlin hiển nhiên là: “Làm sao bức thư lại tới Huelva được”? Đồng ý, đúng là một lá thư giao cho một sĩ quan mang đi chứ không gửi theo lối chính thức, nhưng sĩ quan tình bảo Đức sẽ hỏi nữa: “Bức thư có thật do một sĩ quan mang đi? người đó có giống như một sĩ quan không?
Bởi vậy, trước hết chúng tôi phải làm thế nào cho xác chết đúng là thi hài một sĩ quan. Người chết không có bộ quân phục nào khả dĩ cho chúng tôi sử dụng, hơn nữa muốn đề phòng cẩn thận và giữ lời hứa không tiết lộ lý lịch, chúng tôi cần phải kiếm cho ông ta một bộ đồ mới!
Chúng tôi căn cứ vào nguyên tắc “xác chết, trong vai trò mới này, phải là của một sĩ quan lục quân”, vì tôi dựa vào sự kiện ông ta mang bức thư của Tổng Tham mưu phó gửi cho Tổng Tư lệnh một đạo quân và cũng vì trong thời chiến bộ binh có nhiều quân số, khó lòng mà dò xét ra được. Tuy nhiên sau đó tôi phải gạt bỏ ý định này vì lý do sau đây: Khi xác chết giạt vào bờ biển Tây Ban Nha, tùy viên quân sự Anh ở Madrid sẽ trao đổi báo cáo, chỉ thị với các cơ quan tại London.
Theo thường lệ, thư từ giấy má các nơi gửi về do phòng Công văn cơ quan liên hệ nhận, rồi tùy theo công vụ, tự động phân phát ngay cho các sĩ quan hoặc Nha sở có trách nhiệm giải quyết. Văn thư được phân phối theo những bản danh sách đã định sẵn, nên tất cả điện văn báo tin khám phá ra một thi hài đều được gửi thẳng đến một sở chuyên môn phụ trách việc đó và lập tức thông đạt cho nhiều người. Những công điện, giấy tờ bổ túc cho tin tức này cũng theo chu kỳ đó mà nhận rồi luân lưu đi!
Ngược lại, theo quy tắc hiện hành ở Bộ Hải quân, tôi có thể dàn xếp với ông Chánh Sở Mật trong bộ để tránh việc phân phối quá máy móc, và công văn giấy tờ liên quan tới chiến dịch “Thịt Ba-tê” sẽ giao thẳng cho một mình tôi. Việc dàn xếp này sẽ không gây ra bàn tán và cũng không cần giải thích lý do.
Với tổ chức của Bộ Lục quân, dễ gì người ta giao thẳng thư tín cho riêng tôi hoặc cho một đồng nghiệp của tôi trong bộ đó. Bởi thế, tôi quyết định xác chết thuộc về Hải quân chứ không ở Lục quân nữa, và lập tức một số vấn đề xảy ra. Vì việc chuyển cái xác đó không dễ dàng cho lắm. Một sĩ quan Bộ binh dùng phi cơ (như chúng tôi đã trù liệu) đi từ London đến Tổng hành dinh Bắc Phi, có thể mặc quần áo “dã chiến”, còn sĩ quan Hải quân phải bận đồng phục của binh chủng này. Nhưng nếu bộ đồ dã chiến không cần ăn khớp với tầm vóc người, thì trái lại đồng phục của Hải quân phải may theo đúng kích thước. Chúng tôi rùng mình nghĩ đến cảnh tượng anh chàng thợ may Gives được mời đến đo cắt, may khâu rồi thử quần áo cho một xác chết! Không được! Đành phải bỏ ý kiến này.
Chỉ còn mỗi một cách đặt ông “Sĩ quan” này dưới quyền kiểm soát của Bộ Hải quân, tức là cho ông ta vào binh chủng Thủy quân Lục chiến! Như thế giải quyết xong vấn đề đồng phục nhưng lại gây ra nhiều khó khăn khác. Trước đây chúng tôi đã nhắm vào việc Bộ binh trong thời chiến, quân số nhiều, các sĩ quan không thể biết nhau hết cả, trái lại Thủy quân Lục chiến là một binh chủng nhỏ, sĩ quan nếu không quen thì cũng biết tiếng nhau. Trở ngại thứ nhì: kiếm ra một tấm ảnh. Vì nhiều lý do không thể có được một tấm hình người chết để dán lên thẻ căn cước phù hợp với vai trò mới của ông ta. Các sĩ quan Bộ binh khi xuất ngoại không cần đem theo căn cước quân sự có dán hình, ngược lại sĩ quan Hải quân bắt buộc phải có.
Chúng tôi bàn cãi rất lâu về những vấn đề này. Sĩ quan Thủy quân Lục chiến không nhiều lắm, nếu người Tây Ban Nha bắt được thi hài rồi gửi về Gibraltar mai táng dọc đường dễ bị lộ tẩy hơn là một xác chết của sĩ quan Bộ binh. Đó là một mối lo nguy hại, nhưng không thể nào làm hơn được, chúng tôi đành chấp nhận, hy vọng vào quãng đường từ Huelva đến Gibraltar không xa lắm nên cứ liều cho “sĩ quan” ở trong Hải quân.
Chúng tôi bèn cố vượt trở ngại để kiếm ra một tấm hình, nhưng không ngờ lại khó khăn quá sức. Thoạt tiên, đã tính giải quyết bằng cách chụp ngay xác chết: lấy tấm hình căn cước, nhưng kết quả hoàn toàn thất bại. Người ta thường nói: một tấm ảnh trông như hình người chết, chẳng biết có đúng hay không, nhưng tôi dám thách bất cứ ai chụp được một người chết có vẻ người sống!
Chúng tôi đành chia nhau đi tìm kiếm xem có ai giống như đúc hoặc khá giống ông ta để xin một tấm ảnh dùng vào việc cần thiết. Một điều hơi ngạc nhiên: vẻ mặt ông ta không có điểm nào đặc biệt khác hẳn với mọi người trong đám đông, vậy mà trong đám đông chúng tôi không tài nào kiếm ra lấy một người hao hao giống ông ta! Ngày nọ qua ngày kia, chúng tôi lêu đêu phố phường trố mắt nhìn khách bộ hành xem có ai mặt mũi phảng phất như người chết để rồi kiếm cớ xin chụp ảnh, nhưng vô hiệu.
Cuối cùng tôi tìm một sĩ quan Hải quân trẻ tuổi - chẳng nhớ bịa ra lý do nào - yêu cầu anh ta khoác áo ngoài rồi chụp ảnh. Kết quả không tốt đẹp lắm, nhưng nghĩ rằng nhiếp ảnh gia của quân đội chụp cho binh sĩ, tấm hình bao giờ cũng thiểu não, nên nhất định cho là cũng tàm tạm được.
Thế rồi, trong một buổi họp về một công tác khác, tình cờ tôi ngồi đối diện với một chàng giống in hệt người chết, mới coi tưởng anh em song thai! Tôi yêu cầu chụp ảnh, anh ta vui lòng, thế là thoát được khó khăn thứ nhì.
Điểm sau cùng phải giải quyết là đặt cho “sĩ quan” của tôi một danh xưng và cấp bậc. Theo ý riêng, thật vô lý nếu ủy thác cho một sĩ quan cấp úy mang theo loại “thư tín chính yếu”. Và cũng không thể cho ông ta còn trẻ quá làm sao ở địa vị lớn mà các bạn đồng đội không biết rõ tiếng tăm? Tôi bèn cho ông làm Đại úy giữ nhiệm vụ Thiếu tá, rồi giở số danh bạ của Hải quân tra cứu tỉ mỉ tên tuổi các sĩ quan Thủy quân Lục chiến. Tới một trang gồm nhiều quân nhân cấp bậc sấp sỉ úy, tá và tất cả mang tên họ Martin (một họ rất thông thường ở bên Anh-Pháp như những họ Nguyễn, Trần bên Việt Nam), tôi mừng quá, thật là tuyệt: nếu trong những buổi mạn đàm ở câu lạc bộ có nêu ra cái chết của “Thiếu tá Martin” hy vọng rằng các sĩ quan hiện diện không phải tất cả đều quen biết những ông Martin trong Thủy quân Lục chiến. Ngược lại, nếu có ai lờ mờ nhớ ra, còn có những chữ tên và đệm viết tắt, làm người ta nghi ngờ do dự chưa chắc đã gửi thư chia buồn. (Nên nhớ: trái với người Việt Nam, người Âu châu viết tên rồi mới đến họ, thí dụ William Martin hay Jean Dupont. William và Jean là tên còn Martin và Dupont là họ. Trừ những trường hợp thân mật như vợ chồng, bạn thân… người ta gọi nhau bằng họ chứ không bằng tên).
Tôi cho thêm biệt danh William cũng rất thông thường, thế là vị sĩ quan của chúng tôi trở thành Đại úy kiêm nhiệm chức vụ Thiếu tá William Martin trong Thủy quân Lục chiến, với sự chấp thuận của Tướng chỉ huy trưởng T. Q. L. G cho gia nhập binh chủng này. Đoạn tôi làm các việc cần thiết để phòng sau này có khi phải nhờ đến Sở quân lương của T. Q. L. G. Tôi kiếm một tấm thẻ căn cước mới nguyên, chưa điền tên và suốt ngày mài vào ống quần cho cũ và bóng như đã đem xài từ lâu. Hì hục như vậy trong nhiều ngày, tấm thẻ coi tàm tạm được thì nay thêm ra ý nghĩ: Tại sao Thiếu tá Martin lại không đánh mất bản chính rồi có một phó bản? Tôi bèn lấy một tấm khác dán ảnh vào, điền tên họ ngày, nơi sinh vào chỗ trống rồi ký thay Thiếu tá Martin, đoạn xin các chữ ký chính thức cần thiết và ghi rõ ngày cấp mồng hai tháng Hai năm 1943 cùng với hàng chữ: “Bản sao thay thế cho bản chính số 09050 đã khai thất lạc”.
Những con số đó lấy trong tấm căn cước của chính tôi nên tiện quá, tránh được rắc rối nếu sau này có ai điều tra. Sau hết, tôi dán con niêm đóng dấu hẳn hoi và quyết định lấy “Tổng hành dinh Liên quân” làm “đơn vị gốc” cho Thiếu tá Martin, vì những lý do sẽ trình bày sau. Tôi đặt sinh quán cho ông ta ở Cardiff, và tiếp tục làm cho tấm thẻ già nua đúng tuổi bằng cách mài nó vào ống quần.
Lý lịch nhân vật Martin xong rồi, bất cứ người nào thấy xác chết, coi thẻ căn cước sẽ biết ông là ai. Nhưng tôi chắc điệp viên Đức ở Huelva, Madrid và Berlin đều muốn hiểu tại sao Thiếu tá Martin lại đi Bắc Phi? Nếu ta đưa thêm cho họ một yếu tố trả lời câu hỏi này, người Đức sẽ tin tưởng “lá thư chính yếu” nói trên hơn nữa.
Tại sao lại gửi một sĩ quan Thủy quân Lục chiến sang Bắc Phi bằng máy bay? Và trong trường hợp nào ông Tổng Tham mưu phó lại biết vụ đó để nhân cơ hội, ủy thác mang một lá thư quan trọng? Tại sao? Suy nghĩ mãi, mới tìm được một lý do tạm xuôi tai: Một chiến dịch đang được tổ chức để tấn công vào một bờ biển có đồn lũy phòng thủ kiên cố, cần phải biết cách sử dụng phương tiện đổ bộ. Rất có thể gặp khiếm khuyết, trở ngại trong lúc huấn luyện tập dượt nên bắt buộc phải kêu gọi đến kinh nghiệm của một chuyên viên lành nghề. Thiếu tá Martin sẽ là chuyên viên đó, và chúng tôi nhất định cấp cho ông ta một tài liệu chứng minh rõ rệt tài nghệ của ông ta.
Tôi bèn dự thảo một bức thư đề Huân tước Louis Mountbatten, chỉ huy các Chiến dịch Liên quân gửi cho Đô Đốc Andrew Cunningham Tổng Tư lệnh tại Địa Trung Hải.
Nội dung bức thư như sau:
Tổng Hành dinh
Các chiến dịch Liên quân.
Ngày 21 tháng 4 năm 1943
Kính gửi: Đô Đốc AB. Cunningham, Tổng Tư lệnh tại Địa Trung Hải.
Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh, Alger
Đô Đốc thân hữu!
Tôi đã hứa với ông Tổng Tham mưu phó rằng Thiếu tá Martin sẽ thu xếp với Đô đốc để chuyển giao cho Tướng Alexander một bức thư do Thiếu tá mang theo. Bức mật thư này thuộc loại tối khẩn có nhiều đoạn không để người khác trong Bộ Chiến tranh coi được nên không thể gửi theo lối chính thức. Tôi trông cậy Đô đốc cho chuyển thư đó đi ngay bằng phương tiện nào chắc chắn nhất.
Tôi tin Thiếu tá Martin là người được việc cho Đô đốc. Mới thoạt trông, y có vẻ khiêm nhượng rụt rè, nhưng thực ra y rất lành nghề. Y có thị giác xét nghiệm còn đúng hơn vài người chúng ta về các biến chuyển trong trận đánh Dieppe, và y đã theo sát các cuộc thí nghiệm ở Ecosse với thuyền bè dụng cụ đổ bộ tân kỳ nhất.
Xin Đô đốc vui lòng cho y về với tôi ngay sau khi mở cuộc tấn công. Khi về, y có thể mang cho chúng tôi vài con cá mòi, ở đây muốn mua phải có thẻ tiếp tế!
Thân ái chào Đô đốc
Lonis Mountbatten
Tôi khá thỏa mãn về lá thư này vì đã giải thích được lý do tại sao “bức thư chính yếu” lại nằm trong tay Thiếu tá Martin, và tại sao không được gửi theo lối chính thức, đồng thời tại sao Martin phải đi bằng phi cơ?
Và cũng vì ngài Thủ tướng bảo rằng dù chiến dịch thất bại có làm tiết lộ đảo Sicile hay không cũng chẳng lấy gì làm quan trọng, tôi đã có dịp nói bóng gió đến đảo Sardaigne, nhờ lối dùng động từ ám chỉ để lưu ý bọn Đức. Lối “chơi chữ” này tuy hơi ép gượng nhưng người Đức sẽ nhận ra và hiểu ngay. Và câu khôi hài chỉ định đảo Sardaigne sau này sẽ đóng một vai trò trong sự thành công của chúng tôi. Ngoài ra, bức thư còn chứa đựng một mưu thâm nữa. Tôi chắc chắn người Đức sẽ nắm được “thư chính yếu” hoặc ít ra là một bản sao. Nhưng lỡ ra họ chỉ vớ được một bản tóm lược các tài liệu bổ túc thì làm thế nào? Tôi muốn họ chiếm được toàn vẹn bức thư thứ nhì, muốn Berlin biết đoạn khôi hài ám chỉ đảo Sardaigne và cả những lý do tại sao sĩ quan, trái hẳn với thường lệ, lại đi bằng phi cơ và mang theo “lá thư chính yếu”.
Bởi thế tôi mới cài thêm đoạn nói về cuộc đổ bộ lên Dieppe, tin tưởng không một điệp viên Đức nào lại quên thông báo lên cấp trên những điều mà họ cho là ông chỉ huy Chiến dịch Liên quân thú nhận trận đánh lên Dieppe không được tốt đẹp như ta mong đợi.
Dù sao đi nữa, sau khi chiến tranh kết liễu mớ hồ sơ của phe bại trận, chúng tôi chỉ thấy, ngoài “bức thư chính yếu”, bản sao lá thư thứ nhì là tài liệu duy nhất của Martin mà thôi. Và được biết Sở Phản gián Đức ở Berlin đã nghiên cứu kỹ lưỡng tài liệu đó.
Bức thư được đánh máy ngay trong Bộ Tham mưu Chiến dịch Liên quân, do Huân tước Louis Mountballen ký tên, có vào sổ lấy số đàng hoàng. Sau cùng chúng tôi cho Thiếu tá Martin một bức thư bổ túc nữa, cùng với các giấy tờ, thư tín riêng của ông ta. Tại sao phải bổ túc? Vì có một điểm làm cho tôi băn khoăn: Một sĩ quan có thể bỏ hai phong bì cỡ thường vào túi áo hoặc vali riêng của mình, dù rằng thư mật. Nếu Thiếu tá Martin làm như vậy, rất có thể người Tây Ban Nha không tìm thấy trước khi trao trả xác chết. Chúng tôi không muốn rồi đây điệp viên Đức nguyền rủa bọn đàn em Tây Ban Nha sao không lục soát kỹ càng các túi Martin.
Vậy phải làm thế nào tìm ra duyên cớ buộc Martin phải mang thư trong chiếc cặp. May thay, đúng thời gian đó có một cuốn sách nhỏ do Hillary Saunders viết về các toán quân xung kích, sắp xuất bản tại Anh quốc, một ấn bản Hoa Kỳ cũng được phát hành đồng thời. Suy nghĩ kỹ xét ra rất có lý nếu Louis Mountbatten viết thư yêu cầu Tướng Eisenhower viết cho cuốn này một bài tựa. Vậy còn ngần ngại gì không thảo một lá thư nói về vụ đó, kèm theo các bản in thử với hình ảnh định đăng trong cuốn sách? Lợi dụng dịp này, tôi đưa nhẹ vài đoạn chứng tỏ Thiếu tá Martin là một sĩ quan đáng tín nhiệm.
Đây là nội dung lá thư bổ túc:
Bộ Tham mưu các Chiến dịch Liên quân
1A, Richémond Terrace.
Whitehall SWI
Ngày 22 tháng 4 năm 1913
Kính gửi: Đại tướng Dwight Eisenhower, Tổng Hành dinh lực lượng Đồng minh
Alger
Đại tướng thân hữu!
Tôi gửi theo đây hai ấn phẩm cuốn sách nói về hoạt động của những toán xung kích Anh-Mỹ, đính kèm một tập ảnh sẽ in vào trong đó.
Cuốn sách do Hillary St. Teorges Saunders viết. Hillary Saunders là người Anh tác giả cuốn “Chiến trận Anh quốc” và những cuốn khác từng vang danh ở nước Anh cũng như bên quý quốc. Ấn bản sắp phát hành bên Hoa Kỳ, trước khi in xong đã được mua trên 1.500.000 cuốn, và tôi biết nhà đương cục Mỹ sẽ cho phổ biến rộng rãi trong quân đội Hoa Kỳ.
Sở Thông tin Anh tại Washington cho hay đang muốn được Đại tướng viết cho một thông điệp để quảng cáo cuốn sách và hình như đã gửi lời thỉnh cầu Đại tướng việc đó qua trung gian chính quyền Mỹ.
Tôi gửi đến Đại tướng những bản in thử do một sĩ quan tham mưu của tôi mang đi, Thiếu tá Martin, trong Thủy quân Lục chiến.
Khỏi cần nói Đại tướng cũng hiểu chúng tôi rất cảm ơn ngài về lời tựa, tôi cũng biết lúc này Đại tướng bận rộn về những công việc quan trọng hơn, nhưng hy vọng Đại tướng bớt chút thì giờ để biểu thị tôn ý tán đồng cuốn nọ, cho sách được phổ biến rộng rãi, đó cũng là một cách dự phần vào sự hợp tác chặt chẽ giữa hai Quốc gia chúng ta.
Chúng tôi hân hoan khâm phục những thắng lợi vẻ vang của Đại tướng và tất cả đều mong mỏi được góp sức với ngài.
Đại tướng có thể phóng tâm thảo luận, khỏi cần dè dặt với Thiếu tá Martin về mọi vấn đề, vì Martin được tôi hoàn toàn tin cậy.
Thân ái chào Đại tướng
Louis Mountbatten
Thư này cũng được huân tước Louis ký, cho vào phong bì lớn cùng với các ấn bản và hình ảnh liên hệ, thư đó chứng minh hoàn toàn lý do Martin sử dụng chiếc cặp để mang tất cả những tài liệu chính thức.
Nội vụ vẫn chưa được giải quyết đầy đủ. Chúng tôi đã tìm được cách trình bày tài liệu chính thức cho người Tây Ban Nha tin tưởng, và chắc chắn tài liệu sẽ bị khám phá, nhưng liệu chúng tôi có tinh khôn láu lỉnh quá không?
Đang tự mãn khen ngợi lẫn nhau khéo léo thì sực nhớ ra một điều đảng lo: Làm thế nào để chắc chắn xác chết và chiếc cặp sẽ cùng tới Huelva? Dĩ nhiên có thể đặt quai cặp vào trong bàn tay Thiếu tá Martin. Thế nhưng việc này quan trọng quá, vả lại nhiều hậu quả bất ngờ, tôi không dám liều lĩnh, lỡ các ngón tay duỗi ra, chiếc cặp rớt khỏi trôi đi xa hoặc chìm xuống biển thì sao?
Tôi đi dò hỏi cho biết tình trạng cứng rắn của một xác chết, nhưng một thi hài được ướp lạnh cứng rồi lại để tan giá có nhiều hậu quả không biết thế nào lường được. Chúng tôi chỉ tìm ra được một phương pháp nhưng không hài lòng chút nào, vả lại là điểm duy nhất nghe ra quá ngụy tạo.
Chúng tôi độ chừng một sĩ quan mang giấy tờ tối mật và quan trọng có thể móc quai cặp vào loại giây “sên” bằng kim khí bọc da như những thâu ngân viên Ngân hàng vẫn dùng, luồn qua ống tay áo để bên ngoài thoạt trông không thấy được và để ngăn ngừa kẻ gian cướp giật. Thật ra thì vô lý, khó tin vì tôi biết sĩ quan Anh không có thói quen như vậy. Nhưng làm thế nào được, đành liều may rủi, hy vọng bọn Đức khờ khạo nhắm mắt bỏ qua điểm này. Rất có thể họ không biết: chẳng bao giờ một sĩ quan Anh lại dùng phương pháp đó để bảo vệ an ninh cho tài liệu mật.
Vậy nhất định liều sử dụng sợi giây “sên”. Như trên đã nói trong Huấn thị cho Đại úy Hải quân Je Weil, Thiếu tá Martin ngồi trên phi cơ không ôm chiếc cặp da kè kè bên nách suốt quãng đường trường, chỉ móc nó vào đầu giây cho yên trí khỏi thất lạc hoặc bỏ quên, và chiếc giây luồn vào thắt lưng áo mưa cho thoải mái. Như thế có lý hơn, và thực ra không còn cách nào khác nữa. Có lẽ chúng tôi lo lắng tỉ mỉ quá. Nhưng biết đâu người Đức ở Berlin lại chẳng nghi ngờ nếu có ai vạch ra chi tiết ấy? Tôi không dám tiên đoán rồi sẽ ra sao, nhưng chỉ biết một điều, tôi may mắn vô cùng vì chẳng có ai nêu vấn đề ấy lên cả.
Tuy nhiên, tôi vẫn muốn biết đánh liều như vậy có nguy hiểm quá không? Nhưng vẫn nhất quyết làm vì tin rằng người Tây Ban Nha trong bản báo cáo cho quân Đức sẽ nói rõ về điểm này, và người Đức thấy các tài liệu trong cặp quý báu và thực quả sẽ không nghi ngờ về chiếc giây “sên” nữa, vì thích thú quá, tối mắt lên rồi.
Sau hết, vì Thiếu tá Martin thuộc Bộ Tham mưu hành binh Liên quân, cần phải cấp cho ông ta một giấy lưu thông kiểm soát đặc biệt. Đến đây chúng tôi có ý nghĩ không tiện để cho Thiếu tá Martin làm một cá nhân gương mẫu có đầy đủ các đức tính, mà ông cần phải có vài nhược điểm của con người, thí dụ sơ xuất đánh mất giấy căn cước. Vì thế chúng tôi tạo ra (như sẽ trình bày ở chương sau) một nhân vật đôi chút lơ đễnh, chểnh mảng về chuyện riêng tư mặc dầu là một sĩ quan đầy khả năng. Ngoài ra còn phải tránh để các đặc tính của ông ta khỏi khác biệt quá với những tính tốt trong binh nghiệp.
Như sau sẽ thấy, trong đời ông ta có một biến cố làm ông quên hẳn những việc nhỏ nhặt như đổi giấy lưu thông kiểm soát quá hạn. Bởi thế mới quyết định cho ông ta quen không xin giấy mới (cũng như chính chúng tôi đôi khi quên đi). Thẻ của ông hết hạn ngày 31 tháng Ba 1943. Chắc chắn người Đức sẽ không ngạc nhiên (chúng tôi cũng vậy, nếu ở vào địa vị họ) khi thấy Thiếu tá Martin xài thẻ đó tới ngày lên đường tức là vào những tuần lễ cuối tháng Tư.
Còn phải kiếm cho ông một bộ đồng phục: một người trong bọn chúng tôi dáng dấp sấp sỉ như Martin, anh ta bèn lựa một bộ đồ dã chiến tươm tất nhất, gắn thêm phù hiệu Xung kích Thủy quân Lục chiến và một cấp hiệu Thiếu tá. Lại thêm một chiếc áo mưa đã cũ, trên cầu vai cũng gắn phù hiệu và cấp hiệu. Còn phải lo liệu cả những giày trận, ghệt vải, một sơ mi, áo thụng như thường lệ. Áo lót, quần đùi được lột hết nhãn hiệu cũ rồi đưa cho thợ giặt để lấy cùng một loại dấu vết của tiệm ủi. Chúng tôi mua sơ mi ở tiệm Gieves và nhét hóa đơn vào túi áo mưa, vì cho rằng Bill Martin (Bill: tên gọi thân mật của William Martin) phải làm như vậy. Đó là vụng về duy nhất của chúng tôi. Sĩ quan đi mua sơ mi không thuộc Hải quân nên trả tiền mặt, thật là vô lý. Nhưng xét cho kỹ, Thiếu tá Martin, một người vô hình làm sao mua chịu ở tiệm Gieves được mà chẳng phải trả bằng tiền mặt. Khi xác chết lên đường rồi chúng tôi chợt nhớ ra mới hối tiếc đã nhầm lẫn vì từ trước đến nay có sĩ quan Hải quân nào mua hàng trả tiền mặt ở tiệm Gieves đâu? Nhất là một sĩ quan từng bị Ngân hàng gửi giấy thúc nợ. Tôi đành tự an ủi rằng vốn dĩ chúng tôi muốn xí gạt người Đức. Họ không thể biết chắc sĩ quan động viên có được nhà hàng nọ cho hưởng đặc ân như sĩ quan Hải quân dịch hay không? Dù sao đó cũng là một lỗi lầm vụng về.
Như vậy, thi hài của “một người không bao giờ có ở trên đời trở thành thể xác của một sĩ quan: Thiếu tá Martin trong binh chủng Thủy quân Lục chiến. Kẻ nào tìm thấy ông ta sẽ biết ngay là ai và vì sao lại tới đó, do những dấu hiệu vết tích trong và ngoài thân thể. Nhưng vẫn mới chỉ là một “sĩ quan”. Chúng tôi cần phải kiếm thêm những vật tùy thân riêng tư và một “nhân chất cá biệt” để ai cũng phải thừa nhận Martin là một “thực thể”!