Ngay khi Pahom cùng gia đình chuyển đến nơi ở mới, anh liền xin gia nhập Công xã của một ngôi làng lớn. Anhết lòng khoản đãi các bô lão và xin được các giấy tờ cần thiết. Năm phần đất công xã được cấp cho anh và các con sử dụng, nghĩa là khoảng một trăm hai mươi lăm mẫu Anh (không nằm liền một mảnh mà chia ở các cánh đồng khác nhau), chưa kể quyền sử dụng khu vực chăn thả chung của công xã. Pahom dựng những căn nhà cần thiết và mua sắm gia súc. Chỉ tính riêng phần đất công xã, anh đã có lượng đất gấp ba lần so với quê nhà cũ, và đó lại là đất trồng lúa mì rất tốt. Cuộc sống của anh khá giả hơn trước gấp mười lần. Anh có dư dả đất cày cấy lẫn đồng cỏ, và có thể nuôi bao nhiêu gia súc tùy thích.
Ban đầu, giữa bộn bề công việc xây dựng nhà cửa và ổn định cuộc sống, Pahom vô cùng hài lòng; nhưng khi đã quen dần, anh bắt đầu nghĩ rằng ngay cả ở đây, đất đai vẫn chưa đủ với mình. Năm đầu tiên, anh gieo lúa mì trên phần đất công xã của mình và thu được một vụ mùa bội thu. Anh muốn tiếp tục trồng lúa mì, nhưng phần đất công xã còn lại không đủ cho mục đích đó, và những mảnh đất anh đã dùng qua thì không thể trồng tiếp; bởi vì ở những vùng ấy, lúa mì chỉ được gieo trên đất hoang hoặc đất bỏ hóa. Người ta chỉ trồng một hoặc hai năm, rồi để đất nghỉ cho đến khi cỏ thảo nguyên mọc phủ kín trở lại. Có rất nhiều người muốn có những mảnh đất như vậy, trong khi số lượng lại không đủ cho tất cả, thế là mọi người tranh giành nhau. Những người khấm khá hơn thì muốn có đất để trồng lúa mì, còn những người nghèo thì muốn thuê lại cho các thương lái để kiếm tiền nộp thuế. Pahom muốn trồng thêm lúa mì, nên anh đã thuê đất của một thương lái trong thời gian một năm. Anh gieo trồng rất nhiều lúa mì và thu được một vụ mùa tuyệt đẹp, nhưng mảnh đất ấy lại nằm quá xa làng — lúa mì thu hoạch xong phải chở đi quãng đường dài hơn mười dặm. Một thời gian sau, Pahom nhận thấy một số nông dân kiêm thương lái đang sinh sống tại các trang trại riêng lẻ và trở nên giàu có, anh bấy giờ liền tự nhủ:
“Giá mà mình mua được một mảnh đất tư sở và lập cơ ngơ ở đó thì hoàn toàn khác hẳn. Khi ấy, mọi thứ sẽ thật gọn gàng và thuận tiện biết bao.”
Ý định mua đất tư sở cứ trở đi trở lại trong tâm trí anh mãi không thôi.
Anh cứ tiếp tục lối sống ấy suốt ba năm liền: đi thuê đất và trồng lúa mì. Thời tiết thuận hòa và mùa màng bội thu giúp anh bắt đầu tích cóp được tiền bạc. Lẽ ra anh đã có thể tiếp tục sống một cách mãn nguyện, nhưng anh đâm chán ngán cảnh năm nào cũng phải đi thuê đất của người khác và chen chúc giành giật khổ sở. Cứ hễ ở đâu có đất tốt là nông dân lại đổ xô tới tranh chiếm ngay lập tức, thế nên nếu không nhanh chân thì chẳng tới lượt mình. Đến năm thứ ba, có chuyện xảy ra là anh cùng một thương lái hợp tác thuê một mảnh đất chăn thả từ mấy người nông dân; họ đã cày xới xong xuôi thì giữa các bên nảy sinh tranh chấp, nông dân đem nhau ra tòa kiện cáo, rốt cuộc mọi công sức đều đổ sông đổ biển. “Nếu đó là đất của chính mình,” Pahom nghĩ, “thì mình đã được độc lập tự chủ và chẳng phải bực mình vì những chuyện thế này.”
Thế là Pahom bắt đầu dò la tìm mua đất. Anh tình cờ gặp một người nông dân đã mua tới một nghìn ba trăm mẫu Anh, nhưng do gặp khó khăn tài chính nên muốn bán lại với giá rẻ. Pahom kỳ kèo mặc cả, và cuối cùng họ chốt giá một nghìn năm trăm rúp, một phần trả bằng tiền mặt và phần còn lại trả chậm sau đó. Mọi việc tưởng như đã ngã ngũ thì một thương lái đi đường ghé qua nhà Pahom vào một ngày nọ để xin nước cho ngựa uống. Ông ta cùng uống trà và trò chuyện với Pahom. Người thương lái cho biết ông vừa trở về từ vùng đất của người Bashkir ở tận đằng xa, nơi ông đã mua tới mười ba nghìn mẫu Anh đất mà chỉ tốn vỏn vẹn một nghìn rúp. Pahom gặng hỏi thêm, và vị thương lái liền kể:
“Chẳng cần gì nhiều, chỉ cần làm thân với các tù trưởng là được. Tôi đã biếu khoảng một trăm rúp tiền áo choàng và thảm, kèm theo một hộp trà, lại khoản đãi rượu cho những ai muốn uống; thế là tôi có được mảnh đất với giá chưa đến hai xu một mẫu.” Nói rồi ông ta đưa giấy tờ sở hữu ra cho Pahom xem và bảo:
“Mảnh đất nằm gần một con sông, và toàn bộ thảo nguyên đều là đất hoang nguyên sơ.”
Pahom dồn dập hỏi thêm, và người thương lái nói tiếp:
“Ở đó đất đai rộng mênh mông, anh có đi bộ suốt một năm cũng không đi hết, và tất cả đều thuộc về người Bashkir. Họ thật thà ngây thơ như cừu vậy, đất đai có thể lấy được gần như không mất gì.”
“Thế thì,” Pahom thầm nghĩ, “với một nghìn rúp trong tay, hà cớ gì ta phải mua vỏn vẹn một nghìn ba trăm mẫu Anh để rồi rước thêm nợ nần vào người. Nếu ta ra tận ngoài đó, số tiền ấy sẽ mang lại cho ta lượng đất gấp mười lần là cái chắc.”