[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: I
“Ta có sau lưng hai mươi tráng sĩ sẵn sàng chiến đấu đến cùng,” viên chiến binh nói với tay lính đánh thuê già.
“Và mặc thây chúng chứ, ta quan tâm gì,” tay lính đánh thuê già đáp lại. “Nhiều như sẻ ngoài đồng. Rẻ như bao thuốc lá. Hãy cho ta thấy hai mươi kẻ ngậm miệng bằng kẹp sắt, trong đầu trống rỗng chẳng còn chút ký ức, thì ta cần. Còn chỉ hai mươi kẻ dũng cảm đơn thuần ư? Ta thà có hai mươi củ hành dũng cảm còn hơn.”
Nói đoạn, viên chiến binh buồn bã bước đi, cảm thấy thời buổi xuất chúng vì cơ khí này chẳng mảy may đếm xỉa gì đến lòng dũng cảm.
Quả thực, lòng dũng cảm không phải là thứ tồi tệ khi tham gia những vụ bốc dương; nhưng sẽ có rất nhiều huân chương thuộc về kẻ không biết đến hai từ “họ hàng hang hốc” hay “bàn tán”, dù là trước hay sau sự việc. Hai mươi kẻ dũng cảm với chiếc lưỡi lỏng lẻo có thể khiến rắc rối mọc lên từ mặt đất như khói bốc lên từ thảm cỏ, bởi niềm kiêu hãnh hừng hực sau đó của chúng; trong khi đó, hai mươi kẻ đốn mạt với đôi mắt ngơ ngác như bò con, chịu đựng những cú đá bất công và vang dội như đón làn mưa từ trời rơi xuống, lại có thể tô điểm cho lịch sử cuối cùng của một cuộc viễn chinh bằng vàng son, làm rạng danh tên tuổi của mình, và giành lấy bốn mươi năm biết ơn từ những người ái quốc, chỉ bằng cách giữ im lặng. Còn về nguyên nhân, có lẽ đơn giản là vì chúng chẳng có lấy một người bạn hay món đồ tin cậy nào khác.
Nếu không vì lời nguyền cái lưỡi lém lỉnh, thì phải thừa nhận rằng ngành công nghiệp bốc dương, hiện đang nở rộ tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, sẽ dễ như ăn bánh. Dưới những điều kiện thuận lợi, đó chỉ là vấn đề đối đối phó với vài tên thám tử cỏ mà năng lực điều tra được những kẻ trả lương định giá ở mức mười hai hoặc hai mươi đô la mỗi tuần. Gần như là một chân lý hiển nhiên rằng một tên thám tử lương mười hai đô la một tuần không thể đánh bại nổi một chuyến viễn chinh bốc dương trị giá một trăm nghìn đô la. Đối với tội phạm, thám tử đại diện cho công chúng, nhưng trong trường hợp này, hắn đại diện cho mong muốn chứng minh lý do tại sao hắn xứng đáng nhận lương. Hắn chỉ đại diện cho chính mình, và giá trị chẳng hơn gì một tên nhân viên tiệm tạp hóa.
Nhưng sự kiêu hãnh của kẻ bốc dương thành công thường giáng xuống hắn và sự nghiệp của hắn như một nhát búa, và những kẻ vốn chưa từng tâm sự với cả mẹ ruột cũng phải ngã quỵ cùng hắn. Nó có thể làm mái vòm Tòa nhà Quốc hội rung chuyển và kích động các Thượng nghị sĩ đến mức lật tung cả ghế ngồi. Nó có thể làm tăng lương cho những tên thám tử đến vị trí cơn đau tức ngực ở đâu cũng không tìm nổi. Thật là một điều kỳ diệu, cái sự kiêu hãnh ấy.
Bốc dương ngày xưa từng là một trò chơi giản dị biết bao. Nó được điều hành một cách điềm đạm bởi những vị thuyền trưởng ôn hòa cùng những quý ông điềm tĩnh, lịch thiệp, những người vào thời điểm khác từng buôn bán luật pháp, xà phòng, thuốc men và chuối. Thật là một điều đáng tiếc khi bầy bồ câu nhỏ bé ở Washington lại buộc phải xôn xao về mặt công vụ, rồi những người lính hải quân bị quấy rầy giấc ngủ ban đêm, và đám nhân viên Sở Hải quan bị khiển trách, tất cả chỉ vì người hùng trở về lại lớn tiếng khoác lác trong niềm kiêu hãnh của mình. Một lá cờ vàng đỏ hẳn đã bị chôn vùi trong nỗi hổ thẹn của thất bại từ lâu nếu hợp đồng bốc dương được giao cho một tổ chức đáng ngưỡng mộ nào đó giống như các tập đoàn độc quyền của chúng ta.
Và dẫu vậy, trò chơi ấy vẫn chưa lỗi thời. Nó vẫn được điều khiển bởi những con người khôn ngoan và trầm lặng, những người mà tên tuổi không hề được in khổ lớn hay ra rả bô bô từ đầu này chí kia của đất nước.
Lúc này trong tâm trí tôi có hình ảnh một con người biết phân biệt rõ ràng hai phía của một hàng rào khi ông nheo mắt nhìn kỹ. Khi ấy, người ta đang lùng sục các thuyền trưởng để chỉ huy những con tàu đầu tiên của cái mà sau này đã trở thành một đội tàu nhỏ nổi tiếng. Một người được giới thiệu với nhân vật này, và ông ta bảo: “Hãy phái hắn xuống văn phòng tôi để tôi ngó qua xem thế nào.” Ông ta là một luật sư, và ông rất thích ngả người ra sau ghế, xoay xoay chiếc dao cắt giấy, rồi để cho kẻ kia nói chuyện.
Người đi biển bước vào, đứng đó và ra vẻ bối rối. Viên luật sư đặt câu hỏi mở đầu đầy hiểm hóc của một tay bốc dương dành cho người ứng tuyển. Ông ta hỏi: “Tại sao anh lại muốn đi?”
Viên thuyền trưởng trầm ngâm suy nghĩ, đổi tư thế ba lần, và cuối cùng quyết định rằng ông không biết. Ông có vẻ vô cùng hổ thẹn. Viên luật sư, nhìn ông, nhận ra rằng ông có đôi mắt giống hệt mắt cừu non.
“Vinh quang ư?” Viên luật sư cuối cùng cất lời.
“Không-o,” viên thuyền trưởng đáp.
“Tiền công?”
“Không-o. Không hẳn vì cái đó.”
“Tưởng họ sẽ cắt cho một mảnh đất khi chiến thắng chứ gì?”
“Không; chưa từng nghĩ tới.”
“Không vinh quang; không thù lao kếch xù; không được cấp đất. Thế thì anh đi vì cái gì?”
“Ồ, tôi không biết,” viên thuyền trưởng nói, mắt dán xuống sàn nhà và lại đổi tư thế. “Tôi không biết. Chắc là phần lớn chỉ vì vui thôi.” Viên luật sư liền mời ông ra ngoài làm một ly.
Khi đứng trên đài chỉ huy con tàu chuẩn bị khởi hành của mình, viên luật sư lại nhìn thấy ông. Vẻ hiền lành và bối rối trên bờ đã biến mất. Ông sáng mắt và cường tráng, bừng tỉnh như một con chó ngao trong đêm. Ông rút điếu xì gà khỏi miệng và quát lên vài câu trống không xuống boong tàu.
Con tàu này mang trên mình một vẻ tồi tàn, cổ lỗ sĩ đến kỳ lạ, thứ vốn thường được coi là đặc quyền hàng đầu của lực lượng Hải cảnh Hoa Kỳ. Có khối cái kho nước đá còn đủ điều kiện đi biển chán nếu nó là một con tàu tử tế. Nó lướt ì à ì ạch qua những con sóng một cách vui vẻ hệt như một chiếc đồng hồ gỗ cổ kính, chúc đầu xuống làn nước vốn chỉ ập đến như lũ trẻ đang chơi đùa, và ở trên tàu, việc di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác đồng nghĩa với việc sẽ bị ướt như chuột lột.
Viên thuyền trưởng từng chỉ huy những con tàu mà người trên bờ tưởng là tàu khách xuyên đại dương; nhưng khi một người bị con sâu khát vọng muốn-biết-mức-độ-ra-sao cắn rứt trong tim, hắn sẵn sàng lênh đênh ra biển trên một chiếc thùng múc nước. Điều đó vượt lên trên cả tình yêu của một người dành cho người tình. Chiếc tàu dầu vĩ đại Thunder-Voice từ lâu đã là người tình của Flanagan, nhưng ông còn cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều khi ở ngoài khơi quần đảo Hatteras, ngắm nhìn chiếc vali khốn khổ này nhồi nhổm lao xuống sườn sóng.
Thủy thủ đoàn dần dà làm quen với nhau. Cuối cùng, ai nấy đều hỏi người bên cạnh xem tai họa trớ trêu nào hay thói hư tật xấu di truyền nào đã xui khiến họ dấn thân vào chuyến hải trình này. Khi một kẻ bạo dạn, thẳng thắn nhìn thấy một kẻ bạo dạn, thẳng thắn khác trên tàu, họ mỉm cười và trở thành bạn bè. Trên tàu chẳng có cái đầu nào mà không vướng bận vào hiểm nguy nơi bờ biển Cuba, đồng thời vừa kinh ngạc trước viễn cảnh ấy vừa lấy làm thích thú. Thế nhưng, trong những phút giây vui vẻ, họ vẫn gọi nhau là lũ ngốc nghếch khốn kiếp.
Ban đầu, có chút rắc rối ở phòng máy, nơi có rất nhiều cỗ máy bằng thép, phần lớn được sơn đỏ và những chỗ khác thì sáng bóng lên — đầy vẻ bối rối, phức tạp, khó hiểu đối với bất kỳ ai không mưu tính gì, thường thì cứ thình thịch, thình thịch, thình thịch với âm điệu đơn điệu hệt như tiếng ngáy ngủ.
Có vẻ như cỗ máy này thất thường chẳng khác gì một cái đồng hồ đo khí đốt. Viên máy trưởng là một lão già tuyệt vời với bộ ria mép điểm bạc, nhưng cỗ máy lại bảo với lão rằng nó không có ý định nhúc nhích cho đến khi nào cảm thấy khá hơn. Lão bước lên đài chỉ huy và báo cáo: “Cái cỗ máy quái quỷ ấy vừa giở chứng nằm lì ra rồi thưa ngài.”
“Ai đang trực ca thế?” viên thuyền trưởng gầm lên.
“Thưa ngài, là máy phó.”
“Sao nó không gọi ông dậy?”
“Không biết thưa ngài.” Sau đó, đám thợ đốt lò đã có dịp tạ ơn trời phật vì họ không phải là những tay máy phó.
Con tàu The Foundling bị sóng đánh cho nhừ tử vì tội la cà trong lúc viên thuyền trưởng và các kỹ sư vật lộn với đám máy móc cứng đầu. Trong khoảng thời gian chờ đợi giữa biển khơi ấy, nét ảm đạm đầu tiên đã xuất hiện trên khuôn mặt của mọi người. Đại dương thì rộng lớn, chiếc tàu lại là một không gian chật hẹp cho đôi chân, và một con tàu ốm yếu thì chỉ chuốc lấy nỗi lo âu. Ngay cả khi tàu đã chạy trở lại, sự ảm đạm ấy vẫn bao trùm lên thủy thủ đoàn. Thỉnh thoảng, mấy người lại tiến đến các cửa phòng máy, nhìn xuống và muốn đặt câu hỏi với viên máy trưởng – người đang chậm rãi đi qua đi lại, ánh mắt đầy thận trọng giám sát những bí ẩn được sơn đỏ của mình. Chẳng ai muốn cho bạn đồng hành biết rằng mình đang lo lắng, thế nên những câu hỏi cứ nghẹn lại ở cửa miệng. Có lẽ chẳng ai lên tiếng bình luận ngoại trừ bác sĩ quan một, kẻ đã lẩm bẩm với viên thuyền trưởng rằng: “Không biết cái món đồ chết tiệt ngớ ngẩn ấy sẽ làm gì đây thưa ngài, khi chúng ta bị một tuần dương hạm Tây Ban Nha đuổi theo?”
Viên thuyền trưởng chỉ nhếch mép cười trừ. Lúc sau, ông nhìn qua mạn tàu và lầm bầm đầy khinh miệt với chính mình: “Mười sáu hải lý! Mười sáu hải lý! Mười sáu cái bản lề ở cổng trong của địa ngục! Mười sáu hải lý! Tốc độ của nó chỉ là bảy, và lên được chín nếu anh ép kiệt cùng lực lực của nó.”
Chẳng bao giờ có chuyện một vị thuyền trưởng mà thủy thủ đoàn lại không ngửi ra nổi những mối hoài nghi của hắn. Họ đánh hơi thấy điều đó chẳng khác nào bầy thú rừng đánh hơi thấy mối hiểm họa từ xa xuyên qua những tán cây và qua các sườn đồi. Một vị thuyền trưởng không biết rằng mình đang ở trên một con tàu sắp đắm đôi khi vẫn có thể dẫn đàn em đi uống trà ăn bánh mì phết bơ mười hai phút trước thảm họa, nhưng chỉ cần hắn lo lắng dù chỉ một thoáng trong sự cô độc của căn phòng mình, thì chẳng mấy chốc nó sẽ ảnh hưởng đến gan ruột của một người thủy thủ mẫn cảm ở mãi đằng xa. Ngay khi Flanagan đang trầm ngâm suy nghĩ về con tàu The Foundling dưới góc độ của một kẻ bốc dương, tin tức liền bay đến rằng một mùa đông bất mãn đã khởi sự tại phòng đốt lò.
Viên thuyền trưởng thừa hiểu rằng con người ta cần phải nhìn thấy bầu trời mới có được lòng dũng cảm. Ông cho gọi một tên thợ đốt lò lên đài chỉ huy và nói chuyện với hắn. Đứng dưới bầu trời khoáng đạt, gã thợ lập tức chối bay chối biến với vẻ hổ thẹn mọi hiểu biết về vụ việc; thế nhưng, chẳng mấy chốc hàm của gã cũng phải nát bét bởi một cú đấm chỉ vì The Foundling chỉ có thể lết đi với tốc độ chín hải lý, và bởi vì phòng đốt lò thì chẳng có bầu trời, chẳng có gió thổi, cũng chẳng có chân trời rực rỡ.
Khi The Foundling lững thững ở đâu đó ngoài khơi Savannah, một cơn giông từ hướng đông bắc ập đến, và chiếc tàu hơi nước, đầu hướng về đông nam, tròng trành như một củ khoai tây đang luộc sôi. Viên đại sỹ quan là một sĩ quan cừ khôi, thế nên một con sóng đã hất văng ông đập vào lán trên boong và làm gãy tay ông. Bếp trưởng là một đầu bếp giỏi, thế nên cú tròng trành của con tàu đã hất tung hắn lộn nhào với cả nồi nước sôi, khiến hắn mất hết hứng thú với mọi thứ trên đời ngoại trừ đôi chân của mình. “Nhân danh thánh thần,” Flanagan tự nhủ với bản thân, “cái nghề bốc dương này chẳng phải trò đùa cợt bài bạc gì cho cam.”
Lúc sau, rắc rối lại bùng lên ở phòng đốt lò. Toàn bộ đám thợ đốt lò đều tham gia, trừ gã bị gãy hàm vốn đã đâm nản chí. Viên thuyền trưởng có lồng ngực phát triển tuyệt vời. Khi hắn đi về phía sau, gầm rú lên, rõ mười mươi là người ta có thể đem thảm ra đánh với cái giọng vang như thế.
II
Vào một đêm nọ, The Foundling đang ở vùng biển ngoài khơi phía nam Florida, và chạy với nửa tốc độ hướng về bờ biển. Viên thuyền trưởng đang đứng trên đài chỉ huy. “Bốn ánh chớp cách nhau mỗi phút,” ông tự nhủ, mắt đăm đăm nhìn về phía bãi cát. Bất chợt, một con mắt màu vàng mở ra giữa khuôn mặt tối thầm của màn đêm, nhìn chằm chằm vào The Foundling rồi lại khép lại. Viên thuyền trưởng liếc nhìn đồng hồ rồi nhìn vào bờ biển. Thêm ba lần nữa, con mắt ấy lại mở ra, nhìn The Foundling rồi khép lại. Viên thuyền trưởng cất tiếng gọi những bóng đen mờ ảo trên boong tàu phía dưới. “Đáp lại nó đi.” Ánh chớp phát ra từ mũi tàu hơi nước trong chốc lát đã nhuộm sắc vàng rực cho những ngọn sóng đang cuồn cuộn xô vào.
The Foundling nằm chờ đợi. Những con sóng dài lững lờ tròng trành đưa đẩy con tàu một cách yểu điệu, và hai chiếc cột buồm cụt ngủn vươn vào bóng tối lắc lư vẻ uy nghiêm hệt như những chiếc gậy chỉ huy nhịp điệu của một khúc nhạc đưa đám. Khi con tàu rời Boston, nó đóng băng dày đặc như bộ râu của một kẻ đánh xe ngựa ở Dakota, nhưng giờ đây, ngọn gió dị dàng của miền Florida đang mơn man thổi nhẹ lọn tóc trên trán của một Flanagan trần trụi, và ông thản nhiên châm điếu xì gà mới mà chẳng buồn khum tay che gió.
Cuối cùng, một chiếc xuồng đen sì khua nước rẽ sóng tiến lại gần. Khi nó tới sát rạt, viên thuyền trưởng chồm người về phía trước và nhận ra rằng những kẻ ngồi trong xuồng chèo khéo như mấy bà thợ may, đồng thời một giọng nói cất lên chào hỏi bằng thứ tiếng Anh ngọng ngịu. “Mối liên lạc đã hoàn toàn chắc chắn rồi đây,” ông tự nhủ.
Giữa biển khơi, việc bốc xếp hai trăm ngàn viên đạn súng trường, bảy trăm rưỡi cây súng trường, hai khẩu đại bác dã chiến bắn nhanh kèm theo một trăm quả đạn pháo, bốn mươi bó mã tấu, cùng một trăm cân thuốc nổ từ những chiếc xuồng nhỏ, được thực hiện bởi những kẻ vốn chẳng sinh ra để làm nghề bốc vác, trong điều kiện sóng ngầm cuồn cuộn, và với ngọn đèn tìm kiếm của một chiếc tuần dương hạm Hoa Kỳ chốc chốc lại lóe lên như chớp xé bầu trời phía nam, tuyệt nhiên không phải là công việc dành cho một lớp học trường dòng. Khi rạng sáng, cuối cùng The Foundling cũng rẽ sóng băng băng ra vùng biển rộng trên mặt nước xám ngắt, thì chẳng còn một ai trong số bốn mươi kẻ từ bờ biển Florida bước lên tàu, hay trong số mười lăm kẻ giương buồm từ Boston, lại không cảm thấy hoan hỉ. Họ đứng đó, tóc bết chặt vào trán đầm đìa mồ hôi, mỉm cười nhìn vệt nước bọt đuôi dài phía sau The Foundling cùng vệt mờ mịt ở chân trời vốn chính là đất liền Florida.
Nhưng trên vùng biển này có một hướng la bàn mà người ta gọi là hướng đông bắc. Khi những trận gió dữ dội thổi đến từ hướng đó, chúng tạo ra một thứ hỗn độn chẳng tốt lành gì cho một con tàu The Foundling đang nhét đầy than đá và vật tư chiến tranh. Trong cơn cuồng phong ập tới, con tàu này chẳng khác nào một tên lính say rượu.
Viên thủ lĩnh người Cuba, đứng trên đài chỉ huy cùng viên thuyền trưởng, chẳng mấy chốc được thông báo rằng trong số quân của ông ta, ba mươi chín trên tổng số ba mươi chín người đều bị say sóng. Và quả thực họ đã say sóng. Bệnh này thì có nhiều cấp độ, nhưng điều đó đã được hai người bỏ qua không bàn tới. Họ đều say đến mức tột cùng. Họ nằm liệt trên boong trong đủ mọi tư thế quằn quại của kiếp người, và khi The Foundling chúi mũi xuống và nước từ trên mũi xối xả tràn xuống, họ cứ mặc cho nó xối. Họ mãn nguyện chỉ cần giữ được cái đầu không ngập trong dòng nước cuốn; còn nếu không giữ nổi đầu khỏi dòng nước ấy, thì họ cũng mặc kệ chẳng thèm quan tâm nữa. Chẳng mấy chốc, The Foundling bẻ lái hướng về đông nam, và những con sóng đập thình thịch vào mạn ngang tàu. Bọn họ lệnh cho tất cả những người ái quốc xuống dưới boong, và ở đó họ vừa tru tréo vừa đong đếm nỗi thống khổ của người này so với kẻ khác. Suốt cả ngày trời, The Foundling lúp búp và lầm lũi bò qua một thảm đại dương rực rỡ nắng chan hòa, nơi những bọt sóng trắng xóa trông tựa những đóa hoa.
Viên thuyền trưởng trên đài chỉ huy trầm ngâm ngắm nghía đường chân trời trơ trọi. “Mẹ kiếp!” ông thốt lên với chính mình, và từ đó thốt ra mang vẻ ngạc nhiên nhiều hơn là phẫn nộ hay buồn rầu. “Ba mươi chín hành khách say sóng, viên đại sỹ quan gãy tay, một thợ đốt lò gãy hàm, anh đầu bếp bỏng cả hai chân, và một cỗ máy có nguy cơ mắc trọn ngần ấy thứ bệnh, nếu không muốn nói là nhiều hơn! Nếu ta mà lết về được tới cảng nhà với một nan hoa vô lăng còn nắm chặt trong tay, thì đúng là phúc đức ba đời!”
Có một loại rượu ngô được chưng cất tại Florida mà người bản địa tuyên bố rằng nó mạnh đến mức cứ uống một ngụm là đánh nhau bảy bận. Một vài tình nguyện viên người Cuba đã có sự chu đáo mang theo một lượng nhỏ loại rượu này lên tàu, và giờ đây khi đang ở trong phòng đốt lò và bị say sóng, cảm thấy rằng trong hai hay ba năm tới họ chẳng thiết tha gì đến chuyện uống rượu nữa, họ liền rộng lượng nhường phần của mình cho đám thợ đốt lò.
Đám thợ đốt lò đón nhận những món quà ấy chẳng mấy thiết tha, nhưng với một vẻ đứng đắn nhất định.
Bởi vì họ là thợ đốt lò và đang phải lao động vất vả, nên cơn lốc cảm xúc có phần bị kìm lại, nhưng cuối cùng nó cũng bùng nổ, và với một sự dữ dội tột cùng. Một gã thợ đốt lò gọi gã thợ đốt lò khác bằng một cái tên kỳ quái, và kẻ sau, vì thấy lòng tự ái bị xúc phạm chính đáng, liền dùng chiếc xẻng sắt quật thẳng vào bạn mình, khiến gã kia ngã nhào đầu xuống đống than, làm đống than vỡ vụn lạo xạo từng mảnh lăn lóc rơi xuống sàn tàu.
Một gã thợ đốt lò thứ ba bỗng nhiên cảm thấy phẫn nộ trước cảnh tượng đó và lao vào tấn công gã thợ đốt lò thứ hai. Họ đánh nhau một hồi lâu, trong khi đám người Cuba say sóng nằm dài trên boong tàu, lờ đờ đảo mắt nhìn cảnh hỗn chiến hung túng này. Có kẻ thờ ơ đến mức chẳng thèm đếm xỉa gì đến vị trí chiến lược của chỗ mình đang nằm nên bị đá thẳng vào ống quyển.
Khi viên máy phó nhào tới để can ngăn cuộc đấu, anh ta đã dùng hết chân tình, suýt chút nữa thì tàn phế luôn cả đám đối thủ suốt quãng đời còn lại.
Viên thuyền trưởng lên tiếng: “Tao sẽ xuống dưới đó và——” Nhưng viên thủ lĩnh người Cuba đã ngăn ông lại. “Không, không,” anh ta kêu lên, “ngài không được làm thế. Chúng ta phải đối xử với họ như trẻ con, thật nhẹ nhàng, suốt mọi lúc, ngài hiểu chứ, bằng không khi chúng ta quay lại cảng Hoa Kỳ, họ sẽ — anh gọi là gì nhỉ? Làm lộ ư? Vâng, làm lộ hết mọi chuyện đấy. Chúng ta phải — nịnh bợ họ, ngài hiểu chứ?”
“Ý anh là,” viên thuyền trưởng trầm ngâm nói, “họ có khả năng nổi giận và bán đứng chuyến viễn chinh ngay khi chúng ta cập cảng trở lại nếu bây giờ chúng ta không ngọt nhạt với họ phải không?”
“Đúng thế, đúng thế,” viên thủ lĩnh người Cuba kêu lên, “nếu chúng ta không đối xử thật nhẹ nhàng với họ, sau này họ sẽ gây ra cho chúng ta vô vàn rắc rối trên mặt báo chí rồi lôi nhau ra tòa.”
“Ừ thì, nhưng tôi không đời nào để thủy thủ đoàn của mình——” viên thuyền trưởng bắt đầu.
“Nhưng ngài buộc phải thế,” viên người Cuba ngắt lời, “ngài phải thế. Đó là con đường duy nhất. Ngài giống như thuyền trưởng của một con tàu cướp biển vậy. Ngài thấy đấy? Chỉ có điều ngài không thể ném họ xuống biển như hắn được. Ngài hiểu chứ?”
“Hừm,” viên thuyền trưởng lẩm bẩm, “cái nghề bốc dương này lắm chuyện lằng nhằng thật đấy khi mà ngài ngẫm nghĩ kỹ về nó.”
Ông gọi đám thợ đốt lò đánh nhau lên đài chỉ huy, và cả ba gã lũ lượt kéo đến, ngoan ngoãn và bầm dập tơi tả. Ông đang giáo huấn họ một trận ra trò nhưng rất có lý có lẽ thì bỗng ngắc ngứ giữa câu và hét lên: “Này! Thế còn gã kia đâu? Sao lại thế nhỉ, sao gã không tham gia vụ đánh nhau này?”
Đám thợ đốt lò đồng thanh kêu lên đầy sốt sắng: “Hắn bị thương rồi thưa ngài. Hắn bị gãy hàm rồi thưa ngài ạ.”
“Ồ hóa ra là vậy; hóa ra là thế,” viên thuyền trưởng lẩm bẩm, vô cùng bối rối.
Và chính vì tất cả những rắc rối đó, The Foundling cứ thế lặc lè tiến về phía Cuba với thủy thủ đoàn bó bột khắp người, nếu người ta được phép ví von như vậy.
III
Đêm đến, The Foundling tiếp cận bờ biển như một tên trộm. Đèn đóm đều được che chắn cẩn thận, để rồi từ trên boong tàu, mặt biển tự tỏa ra thứ ánh sáng lung linh mờ ảo hệt như ánh lụa là nào đó. Những người trên boong nói chuyện bằng thứ âm thanh thì thầm, và thậm chí ngay dưới phòng đốt lò, đám thợ đốt lò ẩn mình làm việc trước những cánh cửa lò đỏ rực như máu cũng chẳng hé răng nửa lời và bước đi trên đầu ngón chân. Các vì sao lấp lánh trên bầu trời nhung xanh, và ánh sáng của chúng quyện với thứ ánh sáng dịu êm của mặt biển khiến bờ biển hiện lên đen kịt hệt như thành quan tài. Tiếng sóng vỗ ầm ì trầm đục như tiếng sấm từ bãi cát xa xôi.
Động cơ của The Foundling ngừng thình thịch trong chốc lát. Nó lướt êm ru về phía trước cho đến khi một tiếng chuông khẽ vang lên trong phòng máy. Kế đó, nó dừng lại giữa một vùng nước lân tinh cuồn cuộn.
“Phát tín hiệu đi,” viên thuyền trưởng lệnh. Ba lần một luồng ánh chớp lóe lên từ mũi tàu. Có một khoảng lặng chờ đợi. Rồi một con mắt hệt như con mắt ngoài khơi bờ biển Florida lại mở ra rồi khép lại, mở ra rồi khép lại, mở ra rồi khép lại. Bám lấy nhau thành một đám bóng đen trên boong, nhóm người Cuba vỡ òa trong những tiếng thì thầm rôm rả đầy phấn khích. Một tiếng xì từ viên thủ lĩnh lập tức bắt họ phải im bặt.
“Sao rồi?” viên thuyền trưởng hỏi.
“Ổn cả,” vị thủ lĩnh đáp.
Ngay khi lệnh được phát ra, chẳng còn dấu vết gì cho thấy có bất kỳ ai trên The Foundling từng bị say sóng. Những chiếc xuồng được hạ xuống nhanh chóng — thậm chí quá nhanh. Những thùng đạn được lôi hộc tốc từ hầm hàng ra và chuyền qua mạn tàu với tốc độ khiến những kẻ ngồi dưới xuồng phải la ó phản đối. Họ đang bị oanh tạc. Khi một chiếc xuồng hướng thẳng vào bờ, những tay chèo khua nước cuồng loạn như những kẻ phát cuồng. Viên thuyền trưởng thong thả đi qua đi lại trên đài chỉ huy. Dưới phòng máy, các kỹ sư đứng túc trực tại vị trí của mình, còn trong hầm đốt lò, đám thợ đốt lò thấp thỏm lặng lẽ xung quanh những cánh cửa lò.
Trên đài chỉ huy, Flanagan trầm ngâm suy ngẫm. “Ồ, ta chẳng biết nữa!” ông nhận xét. “Cái nghề bốc dương này cũng chẳng đến nỗi tệ. Chẳng mấy chốc lại được ra khơi trở lại, chẳng có việc gì làm ngoài dăm ba lời nói dối to tát khi tôi cập cảng.”
Trên một trong những chiếc xuồng từ bờ quay lại có mười hai sĩ quan Cuba, phần lớn bọn họ đang trong thời gian hồi phục sau những vết thương, trong khi hai hoặc ba người đã được điều động sang Mỹ theo nhiệm vụ của phe nổi dậy. Viên thuyền trưởng chào đón họ, đồng thời trấn an về một chuyến hải trình an toàn và nhanh chóng.
Chốc sau, ông lại quay trở lại đài chỉ huy và đảo mắt quét qua đường chân trời. Biển cả cô độc hệt như những khoảng không gian giữa các vì sao. Viên thuyền trưởng nheo mắt cười và khẽ đấm nhẹ vào ngực mình. “Dễ như ăn bánh,” ông nói.
Lô hàng đã vơi đi gần hết, và đám đàn ông thở hồng hộc như những con ngựa kéo kiệt sức, dẫu cho niềm hân hoan trong lòng họ mỗi lúc một dâng cao, thì thình lình một giọng nói vang lên từ trên không trung. Đó không phải là một giọng nói lớn, nhưng chất giọng ấy lại khiến mọi người trên boong khựng lại toàn tập và chết trân tại chỗ, hệt như thể tất cả đã bị hóa phép thành sáp. “Thưa thuyền trưởng,” người gác trên đỉnh cột buồm cất tiếng, “có một ánh đèn ở phía tây ạ. Nghĩ rằng đó là một chiếc tàu hơi nước thưa ngài.”
Có một khoảnh khắc tĩnh lặng cho đến khi viên thuyền trưởng cất giọng: “Được rồi, tiếp tục dán mắt theo dõi nó đi.” Nói với boong tàu, ông ra lệnh: “Tiếp tục việc bốc dỡ đi.”
Viên máy phó bước sang khu bếp để mượn cái cốc thiếc. “Nghe tin gì chưa, phó máy?” anh đầu bếp hỏi. “Có tàu hơi nước đang từ phía tây tiến lên kìa.”
“Trời ạ!” viên máy phó thốt lên. Dưới phòng máy, anh ta báo cáo với máy trưởng: “Thưa ngài, có tàu hơi nước đang từ phía tây tiến lên ạ.” Viên máy trưởng bắt đầu kiểm tra các loại máy móc nhỏ nhặt dùng để trang hoàng cho lãnh địa của mình. Cuối cùng, ông hướng về phía phòng đốt lò. “Này các cậu, tôi muốn các cậu tập trung cao độ vào. Có một chiếc tàu hơi nước đang tiến lên từ phía tây đấy.”
“Rõ thưa ngài,” phòng đốt lò đáp vọng lên.
Thỉnh thoảng viên thuyền trưởng lại gọi với lên đỉnh cột buồm. “Nó thế nào rồi?”
“Dường như đang lao về phía chúng ta rất nhanh thưa ngài.”
Viên thủ lĩnh người Cuba lo lắng bước đến tìm viên thuyền trưởng. “Ngài có nghĩ chúng ta sẽ vác hết được số hàng xuống không? Khá là nhạy cảm đấy. Không ư?”
“Cứ tiến hành đi,” Flanagan bảo. “Cứ nã đi! Tôi chờ.”
Tiếng chân bước xốn xao trên boong tàu vẫn tiếp diễn, cùng với những tiếng hô hào khẽ khàng của nhóm người đang dỡ hàng. Dưới phòng máy, máy trưởng và người phụ tá đang dán mắt vào chiếc cồng lệnh. Trong phòng đốt lò, đám thợ đốt lò thở hồng hộc qua kẽ răng. Một chiếc xẻng từ chỗ dựa vào vách ngã lăn xuống sàn kêu leng keng. Đám thợ đốt lò giật mình quay phắt lại nhìn.
Trèo lên lan can và bám vào một dây chằng, viên thuyền trưởng đăm đăm nhìn về hướng tây. Một ánh đèn vừa ngoi lên từ vực sâu thăm thẳm. Sau khi quan sát ánh đèn ấy một hồi, ông gọi viên thủ lĩnh người Cuba lại. “Được rồi, ngay khi các anh sẵn sàng xong xuôi, chúng ta cũng có thể chuồn lẹ được rồi đấy.”
Cuối cùng, viên thủ lĩnh người Cuba bảo ông: “Thôi được, đây là mẻ hàng cuối cùng rồi. Ngay khi mấy chiếc xuồng quay lại là ngài có thể khởi hành.”
“Không đợi hết mấy chiếc xuồng nữa đâu,” viên thuyền trưởng quả quyết. “Gã kia đến sát quá rồi đấy.” Khi chiếc xuồng thứ hai vừa cập tàu, The Foundling liền quay đầu, và tựa như một bóng đen lầm lũi rẽ sóng hướng ra khơi để cắt ngang mũi chiếc tàu hơi nước đang lao tới. “Đợi thêm tầm mười phút nữa là quá đà rồi,” viên thuyền trưởng tự nhủ.
Bất thình lình, ngọn đèn ở phía tây vụt tắt ngấm. “Hừm!” Flanagan thốt lên, “hắn lại đang giở trò đăm đay gì đây.” Mọi người ở khu vực bên ngoài phòng máy đều được cắt cử túc trực quan sát. The Foundling, lao đi với tốc độ tối đa về hướng đông bắc, rẽ sóng tạo nên một dải lụa bạc xanh tuyệt mỹ trên tấm ngực tối thầm của đại dương.
Một người trên boong hoảng hốt kêu lên: “Kìa nó kìa, thưa ngài.” Vô số ánh mắt rọi vào màn đêm u ám phía tây, và hết người này đến người khác, họ bắt gặp một bóng đen bé xíu giữa vực sâu kèm theo một vệt trắng toát ở phía chân. “Hắn không thể lao đến chuẩn xác hơn được nữa nếu hắn được cắm cọc nối dây thẳng tới chúng ta,” Flanagan lẩm bẩm.
Một tia chớp đỏ loé lên mỏng manh trong bóng tối. Nó dài và sắc nhọn hệt như một mũi kiếm lệnh màu đỏ máu. Một tiếng nổ đanh gọn vang lên, rồi một viên đạn rít vù vù qua không trung trước khi tóe nước tõm xuống biển. Viên thuyền trưởng vừa định đút một miếng thuốc lào nhai vào miệng khi sự việc bắt đầu, và cánh tay ông đang giơ lên. Ông bất động y hệt một bức tượng sáp trong lúc viên đạn rít gió, rồi khi nó cắm tõm xuống nước, tay ông mới đút vào miệng và cắn miếng thuốc lào. Ông mở trân trân đôi mắt nhìn cái bóng đen cùng vệt trắng dưới chân nó.
Viên sĩ quan cao cấp người Cuba hớt hải chạy lên đài chỉ huy. “Đầu hàng là vô ích đâu,” anh ta thét lên. “Chúng sẽ bắn hoặc treo cổ toàn bộ chúng ta mất.”
Lại một tia chớp đỏ mỏng manh nữa lóe lên cùng tiếng nổ. Một âm thanh rít gào chát chúa lướt qua phía trên con tàu.
“Tôi không có ý định đầu hàng đâu,” viên thuyền trưởng nói, đôi tay bám chặt lấy thanh lan can. Trông ông chẳng khác nào một con người có những truyền thống hòa bình đã được đóng đinh sâu vào tận đáy lòng. Ông ngạc nhiên hệt như thể chiếc mũ trên đầu mình vừa biến thành một con chó. Chẳng mấy chốc, ông quay ngoắt lại và hỏi — “Đó là loại súng gì thế?”
“Đó là pháo một pa-ao đấy,” viên sĩ quan Cuba hét lên. “Con tàu đó chính là một trong những chiếc pháo hạm nhỏ được hoán cải từ du thuyền. Ngài thấy chưa?”
“Ừ thì, dù có chỉ là một chiếc xuồng, hắn cũng sẽ đánh chìm chúng ta trong vòng năm phút nữa thôi,” Flanagan nói. Trong giây lát, ông ngẩn ngơ nhìn bất lực ra đường chân trời. Hàm dưới của ông trễ xuống. Nhưng chỉ một thoáng sau, điều gì đó chợt chạm vào ông, tựa như mũi kim nhọn của nguồn cảm hứng. Ông chồm tới buồng lái và gầm lên với kẻ đang giữ vô lăng. The Foundling đột ngột bẻ lái sang mạn phải, quay một vòng vụng về, và Flanagan đang rống lên qua ống thông hơi xuống phòng máy trước khi mọi người kịp nhận ra rằng cái giỏ tre già nua ấy đang lao thẳng đầu vào chiếc pháo hạm Tây Ban Nha. Con tàu lao về phía trước mạnh mẽ hệt như một cỗ mã lực đang phi nước đại.
Manh động kỳ lạ này của The Foundling thoạt đầu gây ra sự hoảng loạn tột độ ngay trên chính The Foundling. Mọi người theo bản năng cúi rạp người xuống trong tích tắc, rồi gầm lên những lời thề thốt ghê gớm nhất, thứ mà thậm chí tai họ cũng chẳng nghe thấy.
Chút xíu sau, động tác của The Foundling lại gieo rắc sự hoảng loạn trên pháo hạm địch. Nó đang hừng hực khí thế tiến lên với đôi mắt nhòa đi vì cơn cuồng nộ đuổi bắt. Thế rồi cái hình thù cao lớn đầy đe dọa này bỗng đột ngột lù lù hiện ra trước mặt nó hệt như một bóng ma khổng lồ.
Những người trên The Foundling nghe thấy những tiếng thét hoảng loạn, những mệnh lệnh khản đặc. Chiếc pháo hạm nhỏ bé tê liệt trong sự kinh hoàng.
Bất thình lình, Flanagan giận dữ gầm lên và lao tới chỗ vô lăng. Kẻ cầm lái đã lơ đễnh quay mặt đi chỗ khác. Khi viên thuyền trưởng quay gập vô lăng sang mạn phải, ông nghe thấy một tiếng răng rắc khi The Foundling, được một con sóng nhấc bổng lên, đập thẳng mạn sườn vào chiếc pháo hạm, và ông nhìn thấy lướt qua vù vù một thứ trông giống như chiếc xuồng máy nhỏ chở đầy những kẻ đang chạy nhốn nháo ngược xuôi. Các sĩ quan Cuba, hòa cùng anh đầu bếp và một thủy thủ, trút toàn bộ ổ đạn súng lục vào sự hoảng sợ tột độ của biển khơi.
Đương nhiên là chẳng có màn truy đuổi nào tiếp theo cả. Với tốc độ thoải mái, The Foundling tiến thẳng về hướng bắc.
Viên thuyền trưởng lui về phòng mình và tủm tỉm cười. “Thế đấy, thây kệ chứ!” ông lẩm bẩm. “Thế mới gọi là chứ!”
IV
Khi Flanagan quay trở lại boong tàu, viên đại sỹ quan với cánh tay bó bột đang rảo bước trên đài chỉ huy. Flanagan nở một nụ cười rạng rỡ rộng tới tận mang tai. Đài chỉ huy của The Foundling lúc chúc xuống sâu thẳm lúc lại vươn lên cao ngất. Theo mỗi cú nhào lộn của con tàu nhỏ bé, dòng nước lại sủi bọt ầm ầm dọc theo mạn tàu, và bọt nước tungóe trắng xóa, ào ạt.
“Nào,” Flanagan vừa nói vừa ưỡn ngực kiêu hãnh, “chúng ta đã trải qua khối chuyện, và chúng ta đã vượt qua tất cả một cách xuôn sẻ, ơn Trời là mọi chuyện đã qua rồi.”
Bầu trời ở hướng đông bắc mang một sắc đỏ gạch xỉn màu, bị che khuất rải rác ở chỗ này chỗ khác bởi những đám mây đen cuồn cuộn phồng rộp lên từ vòm trời phẳng lặng.
“Nhìn kìa,” viên đại sỹ quan nói.
“Hừm!” viên thuyền trưởng lẩm bẩm. “Trông có vẻ sắp có bão lớn đấy nhỉ?”
Chốc sau, mặt nước bắt đầu gợn sóng lăn tăn và lấp lánh dưới luồng gió tiền trạm. Biển chuyển sang một màu xì xám đặc quánh. Tiếng sóng nước vỗ ì oạp vào mạn The Foundling giờ đây mang theo một ý nghĩa điềm gở nào đó. Tiếng hô hoán của đám đàn ông bỗng trở nên khản đặc.
Một cơn cuồng phong quật ngã sườn phải của The Foundling, và nó nghiêng hẳn đi dưới sức mạnh của ngọn gió hệt như thể chẳng bao giờ có thể trở lại tư thế thăng bằng được nữa. “Tôi sẽ thấy mừng khôn tả khi chúng ta cập bến,” viên đại sỹ quan nói. “Tôi sắp sửa rửa tay gác kiếm rồi đây. Tôi chịu đủ lắm rồi.”
“Mẹ kiếp!” Flanagan tươi cười rạng rỡ thốt lên.
Con tàu lầm lũi bò đi trong hướng tây bắc. Dòng nước trắng xóa quét ra từ phía nó làm dịu bớt tiếng chug-chug-chug của khối động cơ già nua mệt mỏi.
Có lúc, khi con tàu chao nghiêng, nó áp hẳn mạn sườn xuống mặt biển và cứ thế nằm lì ở tư thế đó. Viên đại sỹ quan, nhìn xuống đài chỉ huy vốn còn dốc hơn cả máng trượt than, khẽ huýt sáo một mình. Một cách chậm chạp, nặng nề, The Foundling lại ngóc đầu dậy để đối mặt với một đợt sóng khác.
Đêm xuống, những ngọn sóng gầm thét dữ dội vào phần mũi tàu, và làn nước lấp lánh thứ ánh sáng lân tinh đẹp đến nao lòng sôi sùng sục tru tréo dọc theo mạn boong.
May mắn thay, viên máy trưởng đã lết được đến khu bếp để xin cà phê một cách an toàn dẫu ướt sũng từ đầu đến chân. “Nào, tình hình sao rồi máy trưởng?” anh đầu bếp cất lời, đứng đó với hai tay mập mạp khoanh trước ngực nhằm chứng minh rằng anh ta có thể giữ thăng bằng trong mọi điều kiện.
Viên kỹ sư lắc đầu chán nản. “Cái hộp bánh quy cũ kỹ này sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy cảng nữa đâu. Xừ ạ, nó sắp rã ra từng mảnh đến nơi rồi.”
Cuối cùng vào ban đêm, viên thuyền trưởng ra lệnh: “Hạ xuồng cứu sinh xuống đi.” Đám người Cuba xúm xít vây quanh ông. “Con tàu sắp chìm hả ngài?” Viên thuyền trưởng từ tốn lên tiếng trấn an họ. “Thưa các quý ông, chúng ta đang gặp rắc rối, nhưng tất cả những gì tôi yêu cầu các anh là hãy làm theo đúng những gì tôi bảo, và sẽ chẳng có tai họa nào giáng xuống đầu ai hết.”
Viên đại sỹ quan chỉ đạo việc hạ chiếc xuồng đầu tiên xuống, và đám đàn ông thực hiện nhiệm vụ này với đầy vẻ trang nghiêm, hệt như những người đang đứng bên mép huyệt mộ.
Một gã thợ tra dầu trẻ tuổi chạy đến tìm viên thuyền trưởng. “Thưa ngài, máy trưởng gửi lời nhắn rằng nước đã ngập gần tới các lò đốt rồi ạ.”
“Cứ cố mà duy trì chừng nào còn có thể.”
“Cố duy trì chừng nào bọn tôi còn có thể hả ngài?”
Flanagan kéo viên sĩ quan cao cấp người Cuba ra mạn lan and, và khi con tàu chao đảo vút cao trên đỉnh một con sóng lớn, ông chỉ cho anh ta thấy một đốm sáng màu vàng ở đường chân trời. Nó nhỏ hơn cả một chiếc kim khâu khi hướng mũi nhọn về phía bạn.
“Kìa,” viên thuyền trưởng nói. Những hạt nước mưa quất roi vào mặt ông rát buốt. “Đó chính là ngọn Hải đăng Jupiter trên bờ biển Florida. Hãy đưa người của anh xuống chiếc xuồng chúng ta vừa hạ, và viên đại sỹ quan sẽ đưa các anh tới ngọn hải đăng đó.”
Sau đó Flanagan quay sang viên máy trưởng. “Chúng ta không thể ủi vào bờ được nữa đâu,” lão già nói. “Đám thợ đốt lò sắp phải chịu thua trong một phút nữa thôi.” Trong mắt lão ngấn lệ.
The Foundling giờ đây chỉ là một thực thể bị thương nặng. Nó nằm lì trên mặt nước với động cơ thở hổn hển, và mỗi con sóng ập đến lại tựa như một đòn chí mạng giáng xuống đời nó.
Giờ thì, cung cách của một con tàu tử tế khi lướt trên sóng biển vốn dĩ còn tuyệt diệu hơn cả những màn đấu kiếm. Nhưng đó là khi nó còn sống. Nếu thời khắc con tàu phải chết điểm đến, thì cung cách của nó sẽ chẳng khác gì một chiếc găng tay cũ lềnh bềnh trên mặt nước, chẳng còn lấy nổi chút sinh khí, linh hồn hay sức sống nào nữa. Vào thời điểm này, rất nhiều người trên The Foundling bỗng nhận ra rằng họ đang bám víu vào một cái xác.
Viên thuyền trưởng bước xuống phòng đốt lò, và cảnh tượng đập vào mắt khi ông đu mình trượt xuống khoang tàu bỗng khiến ông khựng lại chần chừ và câm lặng. Nước đang xoáy tít ngược xuôi theo nhịp tròng trành của con tàu, sủi bọt nhờ nhờ xung quanh cỗ máy đang ngắc ngoải mà vẫn cố gắng thực hiện nhiệm vụ của mình. Hơi nước bốc lên từ dòng nước, và xuyên qua làn mây mù ấy là ánh đỏ quánh của những đợt lửa đang lịm dần. Còn về phần đám thợ đốt lò, tử thần dường như đang ngự trị cùng sự tĩnh lặng đến rợn người trong căn phòng này. Một gã nằm bẹp trên giường, hai tay kê dưới đầu, thẫn thờ nhìn chằm chằm lên vách. Một gã ngồi ngay chân lối xuống, mặt vùi vào hai tay. Một gã tựa lưng vào vách tàu và dán mắt vào dòng nước hung tợn đang dâng lên, cùng những dòng xoáy điên cuồng của nó giữa đám máy móc. Dưới ánh sáng đỏ quái đản và màn sương xám ngắt của cõi Địa ngục mờ mịt ngột ngạt ấy, họ hiện lên như những hình nhân kỳ dị với vẻ lặng ngâm và bất động. The Foundling khốn khổ rên siết trầm đục mỗi khi nhấc mình lên, và lại rên siết trầm đục khi chìm xuống trũng sóng, trong khi những đợt sóng cuồng cuộn sau đó lại ầm ầm trùm lên nó với âm thanh của những vụ lở đất. Cỗ máy hoảng loạn đang giãy giụa làm đủ mọi động tác.
Nhưng Flanagan chợt lấy lại được bình tĩnh. Sau đó, ông xốc lại tinh thần cho cả phòng đốt lò. Sự tĩnh lặng vừa rồi vốn mang màu sắc siêu thực đến mức ông không khỏi e dè trước những hành động kỳ quái và grim khi lao vào giữa họ; nhưng chính xác như cách họ đã khuất phục trước biển cả, họ cũng khuất phục trước Flanagan. Trong khoảnh khắc, họ đảo tròn đôi mắt hệt như những con bò bị thương, nhưng rồi họ vẫn tuân lệnh Giọng nói ấy. Tình huống này đơn giản là cần đến một Giọng nói.
Khi viên thuyền trưởng quay trở lại boong tàu, sắc thái của căn phòng đốt lò ấy vẫn hằn sâu trong tâm trí ông, và lúc đó ông mới thấu hiểu sự diệt vong cùng sức nặng và diện mạo của nó.
Đến khi The Foundling thực sự chìm xuống, nó xoay chuyển và chìm nghỉm điềm tĩnh hệt như một con thú đang cuộn mình nằm xuống đám cỏ bụi. Phía xa ngoài khơi, hai chiếc xuồng nhấp nhô dừng lại để chứng kiến cái chết lặng lẽ này. Đó là một quá trình chậm chạp, hoàn toàn thiếu vắng vẻ hoành tráng của sự ầm ĩ, nhưng nó đánh gục sắc hồng trên khuôn mặt của tất cả những ai chứng kiến, và họ rên rỉ thốt lên: “Nó chìm mất rồi kìa!” Chợt viên thuyền trưởng quay phắt người lại và đấm thình thịch bàn tay xuống mạn thuyền. Ông nức nở một hồi, rồi vừa nức nở vừa chửi rủa.
Có một buổi khiêu vũ đang diễn ra tại Khách sạn Imperial. Suốt buổi tối hôm đó, một vài thanh niên vô lo kéo đến từ bãi biển mang theo lời quả quyết rằng người ta vừa nhìn thấy vài chiếc xuồng chở người ở ngoài khơi xa. Đó là một buổi dạ vũ tuyệt vời, và chẳng ai buồn bận tâm tin vào câu chuyện nhảm nhí này. Đài phun nước trong sân trong róc rách tuôn trào, và từng cặp từng cặp rập rờn dạo bước qua những lối đi rợp bóng cọ, nơi những chiếc đèn lồng chụp đỏ hắt thứ ánh sáng hồng lên những tán lá óng ả. Ban nhạc tấu lên những khúc waltz ru ngủ, và âm nhạc văng vẳng dịu ngọt đến tai những con người đang dạo bước giữa hàng cọ.
Thỉnh thoảng lại có một người phụ nữ cất lời — “Ồ, không phải là thật đâu nhỉ, chuyện có một vụ đắm tàu ngoài khơi ấy?”
Một người đàn ông thường đáp lại — “Không, làm gì có chuyện đó chứ.”
Tuy nhiên, cuối cùng thì một thiếu niên cũng hớt hải chạy từ phía bãi biển lên. Hắn mang vẻ đắc thắng. “Họ ở ngoài kia kìa,” hắn thét lên. “Cả một xuồng đầy người!” Hắn thu hút được sự chú ý háo hức của tất cả mọi người, và hắn tuôn ra mọi điều mà mình đoán mò. Tin tức của hắn đã phá hỏng bữa tiệc khiêu vũ. Chẳng mấy chốc ban nhạc đành phải tấu nhạc cho không gian trống rỗng nghe. Các vị khách đã ùn ùn kéo hết ra bãi biển. Một bé gái khóc thét lên: “Ôi mẹ ơi, con cũng được ra đó chứ ạ?” Bị từ chối, con bé bĩu môi hờn dỗi.
Khi họ bước ra khỏi mái hiên của khách sạn lớn, ngọn gió thổi phần phật từ hướng biển, và chốc chốc một ngọn sóng bạc đầu lại lóe lên xanh lét. Những người phụ nữ rùng mình rẩy bẩy, và mấy gã đàn ông đi kèm chớp ngay lấy cơ hội để kéo những chiếc áo choàng xích lại gần hơn.
“Ôi trời!” một cô gái kêu lên; “lỡ như họ đang chết đuối ngoài kia trong lúc chúng ta đang nhảy múa thì sao!”
“Ôi, vớ vẩn!” đứa em trai của cô ta đáp; “chuyện đó làm gì xảy ra.”
“Ừ thì, biết đâu đấy hả Roger. Em làm sao mà đoán trước được?”
Một gã đàn ông không phải là anh trai cô ta bèn đăm đăm nhìn cô với vẻ ngưỡng mộ vô bờ bến. Lát sau, cô phàn nàn về bãi cát ẩm ướt, và rụt váy lại, ngước nhìn đôi bàn chân nhỏ nhắn của mình với vẻ mặt rầu rĩ.
Cậu con trai của một bà mẹ đang mải mê hưng phấn nên cứ liều lĩnh tiến ra sát mép nước. Đứng từ phía sau, chốc chốc bà mẹ lại phải cất giọng cảnh cáo và quở trách nó.
Ngoại trừ ánh lóa trắng xóa của những ngọn sóng bạc đầu, đại dương lúc này chỉ là một khoảng không gian trống trải lồng lộng gió. Từ đám đông những người phụ nữ kiều diễm tỏa ra hương thơm ngào ngạt của muôn loài hoa. Lát sau, sóng dạt vào bờ một tử thi với gương mặt bình thản mang nét đặc trưng của người Ireland. Cuộc viễn chinh của The Foundling sẽ chẳng bao giờ được lưu danh vào sử sách.