Đại quân từ Tự Lãnh vượt biển đến cảng Kỳ Thành của Hán Châu, rồi đi thẳng đến thành Sương Hoàn. Hơn ba trăm năm trước, khi thành Sương Hoàn còn mang tên Bắc Đô, các thương nhân từ Lôi Châu tới phương bắc đã đem lụa hỏa tằm bán ở đây, dùng trọng kim thuê mợ thợ Đông Lục, nhân tiết trời hoang vu khô hạn ngắn ngủi chỉ ba mươi ngày vào tháng bảy hằng năm, dệt lụa hỏa tằm thành gấm vóc dày dặn. Nghe nói cho dù là ở chốn cực bắc Thương Châu nơi giáp trụ bị băng giá, một lớp áo đơn làm bằng thứ gấm này cũng không thể bị khí lạnh xâm thực, người đời gọi là Sương Hoàn cẩm, vô cùng quý giá. Dần dần, đất lấy theo tên vật, cương thổ của Trịnh triều cũng từ từ tiến về phía bắc. Sau khi các bộ tộc man rũ lùi về phương bắc, người Đông Lục liền dứt khoát đổi Bắc Đô thành thành Sương Hoàn, trở thành thủ phủ lãnh thổ Hán Châu của Đại Trưng.
Từ Sương Hoàn đi dần về phía tây, cảnh vật liền khác hẳn Đông Lục. Dọc đường hễ nơi nào có nguồn nước, thì cỏ cây tươi tốt, trâu dê khắp đồng, thành quách phú thịnh, ngoài ra toàn là sa mạc cát sỏi. Khí hậu đất bắc khắc nghiệt, mỗi khi đến mùa đông, bộ lạc Hộc Khố của người man rũ lại vượt qua khe núi Tỳ La để di cư về phía nam, cướp bóc bãi cỏ súc vật. Do đó cứ cách năm năm vào mùa thu đổi gác, bảy vạn lão binh cùng ba vạn tân binh trong bản doanh lại cùng đồn trú tại Hoàng Tuyền Quan, đợi đến mùa xuân lại phái ba vạn lão binh rút về Đông Lục.
Khi Tiên hoàng tại vị, tiếm vương Trữ Phụng Nghi chính là nhân lúc việc đổi gác mùa thu đông khiến phòng vệ Đế đô suy yếu mà khởi binh tự lập, các tướng phản loạn như Vương Diên Năm, Tào Quang, La Tư Viễn v.v. cũng nổi dậy cắt cứ làm loạn, Đông Lục chìm trong khói lửa chia lìa. Niên thiếu mới mười bảy tuổi khi ấy là Húc vương Trữ Trọng Húc thống lĩnh Cận Gì doanh cùng các đường binh mã Cần Vương chiến đấu cực khổ suốt tám năm, thống nhất thiên hạ, đăng cơ xưng đế, hiệu là "Đế Húc", định niên hiệu là "Thiên Hưởng", tính đến nay đã là năm Thiên Hưởng thứ mười ba. Trong đợt đổi gác của ba đại doanh mùa thu năm nay, ngoài ba vạn người theo định lệ của mỗi doanh ra, lại còn phái tăng thêm ba vạn tân đinh mỗi nơi, binh phú và lao dịch bỗng chốc trở nên nặng nề. Triều đình đối với chuyện này ít nhiều có điều bàn tán, không phải là so đo chín vạn người mới trưng thu củi mục năm nay, mà là vì số nhân mã này vốn là để sung vào Cận Vệ Vũ Lâm và hai mươi vạn Cận Gì doanh. Binh lực Kinh Gì một khi có sự suy yếu, những kẻ đứng ra phản đối phần lớn là các lão thần, cuộc phản loạn của tiếm vương Trữ Phụng Nghi hai mươi mốt năm trước quả thực đã để lại vết sẹo đau đớn khôn cùng trong trí nhớ của họ.
"Lạ thật..." Trương Thừa Khiêm đón ngọn gió bấc lẫn cát vàng, hơi nheo mắt lại.
Hải Thị từ phía sau đuổi lên, hỏi: "Sao thế?" "Chúng ta đi từ đông nam hướng về phía tây, hằng năm trước khi tuyết phong sơn vào tháng mười, ít nhiều cũng có thể gặp vài tốp thương nhân Lôi Châu không sợ chết hái hồng hoa, cát bối và xạ hương tiến vào Già Mãn. Theo lẽ năm nay Hoàng Tuyền Quan có tổng cộng mười ba vạn nhân mã qua đông, người Hộc Khố cũng sẽ không chọn lúc này đến gặm xương cứng, đường sá Hán Châu đáng lẽ phải an toàn hơn mới phải." Nói xong, vị biên tướng hào sảng chuyển ánh mắt lên bàn tay đang cầm cương của mình, lẩm bẩm lầm bầm, vừa giống như đang giải thích cho Hải Thị, vừa giống như đang lẩm bẩm một mình, "Thế mà dọc đường lại yên tĩnh đến kỳ lạ, người Nam Tỳ, người Chú Niễn, người Ni Hoa Lô, một bóng người cũng không có. Mẹ kiếp, lạnh thật đấy." "Ý anh là người Hộc Khố đã đến Hoàng Tuyền Quan..." Hải Thị nhìn về phía tây bắc.
Gò cát phẳng lặng hoang vu, bầu trời xám xịt lại mai phục mười bề, biến ảo khôn lường.
"Bọn chúng mà đánh Hoàng Tuyền Quan, lúc chúng ta qua Sương Hoàn thì đã phải có tin tức rồi. Nhưng vào tiết trời này, tất cả các mùa nước trong sa mạc đều phải khô cạn rồi, ngoài vùng ven sông khe núi Tỳ La ra còn có nước và cỏ, mấy nơi khác đều trơ trọi, lại hiểm trở không đường, bọn chúng không xông vào Hoàng Tuyền Quan thì còn có thể đi đâu được chứ?" Cơn gió dữ cuốn theo một mảnh bóng trắng xẹt qua trước mắt Hải Thị, rơi xuống mu bàn tay nàng, nhìn kỹ lại thì vật giống như chiếc lông vũ ấy vậy mà hóa thành một giọt nước đục ngầu lạnh băng. Nàng giật mình, ngẩng đầu nhìn trời, tầng mây như chì cuồn cuộn không dấy định, lất phất rơi xuống từng điểm trắng đục ngầu, gió chợt trở nên khô lạnh thấu xương.
Mới cuối tháng chín, vậy mà tuyết đã rơi.
Bông tuyết dần dày đặc, mới qua một khắc, vậy mà đã không còn nhìn rõ đường đi phía trước cách đó mấy dặm. Trong chớp mắt, trong đội ngũ dài dằng dặc đã nổi lên một trận hỗn loạn nhẹ, Hải Thị vừa định ra lệnh cho các đội thiên kỵ trấn an binh lính dưới quyền, lại bị Trương Thừa Khiêm bất ngờ bóp chặt lấy bả vai.
"Sông băng, bọn chúng đi vào từ sông băng!" "Sông băng nào? Phù Sơn băng sơn? Nơi đó căn bản không thể qua lại được mà!" Hải Thị đau đớn, nhíu chặt mày.
"Mấy năm nay, thời tiết ấm lên một cách kỳ quặc, sông băng ít nhiều gì cũng có sự tan chảy, những khe sâu trượng rộng giữa lưỡi băng và vách đá dần dần bị nước cuốn bùn cát bồi lấp, mùa đông lại đóng băng vào, sẽ phẳng phiu hơn nhiều. Nhưng mà, như thế thì sông băng rất dễ trượt lở, căn bản không thể đi lại, nếu chấn động quá lớn, còn sẽ dẫn động lở tuyết trên núi, thế nên chúng ta trước sông băng Phù Sơn chỉ để lại chưa đầy hai nghìn nhân mã ở đồn Thủy Tỉnh. Thế nhưng năm nay trên đường Hán Châu cuối tháng chín đã đổ tuyết, phía người Hộc Khố e rằng từ tháng chín, không, cuối tháng tám đã bị tuyết vùi lấp bãi cỏ rồi!" Trên bộ râu của Trương Thừa Khiêm đọng đầy tuyết, hắn đột ngột quay phắt đầu lại, những bông tuyết liền run rẩy rơi xuống, "Thời tiết băng giá mấy chục năm có một thế này, sông băng đều bị đông cứng đến kiên cố, ngoài việc đi khe núi Tỳ La để đến Hoàng Tuyền Quan ra, con sông băng này chính là con đường lớn tốt nhất rồi, thêm vào đó địa thế gồ ghề, dễ che giấu nhân mã, đổi lại là ta là người Hộc Khố, ta cũng thà đi sông băng!" "Bọn chúng mang theo không nhiều lương thảo, vậy thì nhất định là muốn đi cướp bóc rồi?" Hải Thị vội hỏi.
Trương Thừa Khiêm cắn chặt răng, cơ bắp trên má hằn lên đầy kiên cường, "Đúng vậy, đi khỏi sông băng hai mươi dặm chính là đồn Thủy Tỉnh. Đồn trú ở đó chưa đầy hai nghìn quân, dân chúng khai hoang cũng chỉ hơn hai nghìn người, thương lữ qua lại đều bổ cấp ở đó. Bây giờ chúng ta cách Hoàng Tuyền Quan năm trăm năm mươi dặm, cách đồn Thủy Tỉnh hai trăm mười dặm, lại còn đang áp tải lương thực mùa đông cho mười ba vạn người, không thể hành động tùy tiện, đồn Thủy Tỉnh này, e rằng đã..." "Trương huynh, anh áp tải lương thảo về bản doanh, để tôi đến đồn Thủy Tỉnh cho!" Hải Thị đột nhiên lên tiếng.
Trương Thừa Khiêm không kìm được mà tỉ mỉ quan sát vị đồng liêu thiếu niên này một phen. Từng nghe đồn tân tham tướng Phương Hải Thị là Thám hoa võ cử khoa mới, trước khi xuất kinh Trương Thừa Khiêm chỉ gặp cậu ta có hai lần. Dưới cửa Chu Tước, Phương Hải Thị khi ấy mặc triều phục đại điển, vóc dáng thiếu niên anh khí ngời ngời, nước da vàng mật, mi mày xinh đẹp tựa nữ nhi, lại nghe nói là con nuôi của một tên thái giám đắc thế, khiến Trương Thừa Khiêm nhìn mà thấy lòng nguội lạnh. Quan thiếu gia gặp qua không ít, chẳng có một kẻ nào nên hồn, hắn đã chẳng ôm chút hy vọng nào, chỉ cầu cậu ta đừng chết ở biên quan khiến bọn họ khó xử, thế là tốt lắm rồi. Dọc đường đi tới nay, ngược lại cảm thấy tâm tính thiếu niên này kiên định, khổ nào cũng chịu được, giống như mượn vỏ thể xác của người khác để hoàn hồn vậy, hoàn toàn không thương tiếc bản thân, lúc này nghe Hải Thị nói vậy, lại càng thêm lo lắng.
"Cậu đây là trận chiến đầu tiên, lại không có ai dẫn dắt, cái này..." "Trương huynh, lương đông của mười ba vạn người đều đặt cả lên người anh, đương nhiên không thể phân tâm, nhưng đồn Thủy Tỉnh này, chúng ta cũng không thể thấy chết mà không cứu. Bằng không chuyện này truyền ra ngoài, sau này còn ai dám đến khai hoang nữa?" Trương Thừa Khiêm thừa hiểu cậu ta nói có lý, nhưng lại sợ cậu ta là một tên nghé con không biết độ sâu cạn của chiến trường, đành phải gọi mấy tên thiên kỵ lão luyện tới, phân phái cho cậu ta tám nghìn tinh binh, nhìn một cờ hiệu nhân mã này trong gió tuyết cuồn cuộn, lao đi nhanh như cỏ lăn về hướng đồn Thủy Tỉnh. Trương Thừa Khiêm phủi đi những mạt tuyết trên râu, quay đầu lại, nhìn đại đội phía sau, quát lên: "Đứng ngẩn ra đó làm gì? Nhanh lên! Trước khi trời tối ngày mai nhất định phải đến được bản doanh!" Gần chiều ngày hôm sau, đại đội năm vạn hai nghìn người áp tải lương thảo qua đông đã đến doanh Hoàng Tuyền dưới chân núi Tỳ La. Qua bàn bạc, quyết định hạ lệnh cho hai vị ngũ khỉ dẫn dắt bộ chúng của họ Trì Viện đồn Thủy Tỉnh. Khi đêm xuống, trên con đường phía tây nam tiếng người hò hét tiếng ngựa phi nước đại, Trương Thừa Khiêm nhảy vụt khỏi lều đại doanh, chỉ thấy trời đã tối mịt, dọc đường đuốc tùng ngoằn ngoèo tiến lại, thiếu niên dẫn đầu trên người đẫm máu tươi, sắc mặt tái nhợt như chết, từ xa nhìn thấy Trương Thừa Khiêm, liền phóng ngựa chạy về phía hắn.
"Thế nào rồi?" Trương Thừa Khiêm thấy lúc Hải Thị xuống ngựa có chút loạng choạng, vội vàng xách tay kéo cậu một cái.
Hải Thị nuốt nước bọt, hé đôi môi khô khốc nói: "Đến muộn rồi, người ở đồn Thủy Tỉnh... mất đi hơn nửa." Hán tử thô lỗ cắn chặt răng, chốc lát sau lại hỏi: "Người Hộc Khố đâu?" Gương mặt thiếu niên phản chiếu ánh lửa, ánh mắt rực lửa đốt người, "Ba nghìn hai trăm người Hộc Khố, chạy thoát bảy trăm, số còn lại không chịu đầu hàng, mãi mới giữ lại được hơn hai mươi người sống sót. Hiện đang vội vã đào hào ở lối ra sông băng, thủ bị không đủ, nghĩ bụng quay về kiếm thêm ít nhân thủ, vừa hay trên đường đụng độ Lộc thiên kỵ và Trần thiên kỵ, bèn thỉnh bọn họ đi chi viện đồn Thủy Tỉnh trước, còn tôi quay về báo tin." "Có Lộc thiên kỵ và Trần thiên kỵ là đủ rồi," một người đàn ông khoác chiếc áo choàng màu thanh thiên, không biết đã đứng sau lưng bọn họ từ lúc nào, lúc này cất tiếng nói. "Cậu không cần phải đến đồn Thủy Tỉnh nữa, cứ ở lại trong doanh đi. Đợi cho đến khi hào được đào xong, con đường sông băng này coi như cũng bị chặn lại rồi, giữ lại ít người thôi. Sợ là bọn chúng cũng đánh lạc hướng đông tây, trong quan đang là lúc cần người." Trương Thừa Khiêm cung kính vái chào, "Thang tướng quân." Hải Thị thầm biết đây chắc chắn là chủ tướng doanh Hoàng Tuyền Thang Càn Tự, liền hành lễ theo nghi thức. Thang Càn Tự trạc tuổi ba mươi, đồn trú Hoàng Tuyền Quan chưa đầy sáu năm, nhưng thanh danh lại vang dội bên ngoài, là một kẻ cực kỳ cường hãn. Người Hộc Khố quấy nhiễu nhiều năm, dân đồn trú biên tái có rất nhiều nam đinh bị giết, thê tử bị nhục, súc vật bị cướp đoạt đủ loại cừu hận. Thế nên mỗi khi bắt được thám tử Hộc Khố, Thang Càn Tự liền lệnh cho quăng thám tử đó cho dân đồn trú tùy ý xử trí, đợi đến khi tù binh chịu đủ tra tấn mà chết, lại hạ lệnh cho binh sĩ treo những cái xác có tướng chết thê thảm khó tả đó lên cửa quan. Khi người Hộc Khố lại một lần nữa xâm phạm, những người dân đồn trú này đã không còn đường thoái lui, tất yếu sẽ liều chết phản kháng. Không ngờ một nhân vật lợi hại như vậy hóa ra chỉ có vóc người tầm trung, dung mạo có thể coi là tú nhã, không giống chủ tướng một quân, ngược lại giống một vị mưu sĩ mạc liêu hơn.
Thang Càn Tự gật đầu, nói: "Nói với đầu bếp, mau chóng sắp xếp cho người từ đồn Thủy Tỉnh trở về ăn cơm. Phương tham tướng tối nay ở lại cùng chúng ta." Đồn Thủy Tỉnh tổn thất gần hai nghìn thủ quân, Thang Càn Tự và vài vị tham tướng tâm tình đều không hề thoải mái, thế nên bữa cơm trong đại doanh này ăn vô cùng yên tĩnh. Thức ăn không có gì là trân tu mỹ vị đặc biệt, cùng binh lính ăn lương thực thô như kê mạch, thịt trâu dê, chỉ là được làm kỹ lưỡng hơn một chút. Thân binh bưng ra một chiếc đĩa lớn, là thịt cừu nướng món ăn gia đình của dân biên ải, rút dao ra cắt thành từng miếng lớn, mỗi người dâng lên một phần, mỡ vẫn còn xèo xèo bọt nhỏ, mỗi người tự dùng dao cắt nhỏ để ăn.
Hải Thị rút bội đao, cắt một góc, thịt cừu có màu đỏ nhạt, máu tươi lập tức trào ra, thoạt nhìn y hệt cảm giác lưỡi dao chém nát máu thịt người Hộc Khố. Nàng không khỏi biến sắc trắng bệch, lồng ngực buồn nôn muốn ọe.
Trương Thừa Khiêm nghiêng đầu nhìn vị đồng liêu thiếu niên bên cạnh, ân cần hỏi: "Sao thế, không khỏe à?" Hải Thị miễn cưỡng cười, không muốn người ta xem thường, nên không giải thích.
Thang Càn Tự nói: "Phương tham tướng tuổi trẻ ra trận lần đầu, tình hình chiến trận lại thảm liệt như vậy, chốc lát phản vịnh cũng là khó tránh, năm xưa mọi người đều có cái bộ dạng này, lâu dần tự nhiên sẽ quen thôi. Chỉ sợ bị oán khí xung phạm, chi bằng đến từ đường bái lạy một phen." Trương Thừa Khiêm phịch một tiếng vỗ đầu mình, "Sơ suất quá sơ suất quá, đáng lẽ phải sớm dẫn cậu đến quân từ rồi." Cái gọi là quân từ, chẳng qua chỉ là một gian phòng ở phía tây doanh phòng của chủ tướng, thắp đèn dầu sáng trưng, đằng sau ánh đèn mờ ảo thờ một cuộn họa trục. Màu giấy tuy không mới, nhưng bảo quản lại cực kỳ sạch sẽ, nghĩ là qua nhiều bận lang bạt khói lửa, không biết đã qua tay bao nhiêu người.
Trương Thừa Khiêm bảo Hải Thị thắp ba nén hương, cung kính quỳ lạy, tiến lên cắm nén hương đó vào lư hương trước họa trục. Hải Thị bất chợt ngẩng đầu lên, đối diện ngay với một đôi mắt phượng hẹp dài, thần quang thu liễm, tựa như có chiều sâu không đáy. Đôi tay nàng run lên, tro hương lẫn với đốm lửa rụng xuống, rơi trên vết đao ở mu bàn tay, phỏng ra mấy nốt đỏ. Nhìn kỹ lại lần nữa, thiếu niên mặc nhung trang trong tranh vai vác cung dài, một tay khẽ ấn đao vòng long lính tím giắt eo, cùng mọi người cúng vái bao quanh nam thanh niên mặc trang phục hoàng tộc ở chính giữa — sẽ không sai đâu, trên gương mặt đoan chính ôn hòa của thiếu niên nhung trang, vết đao cũ dài nửa tấc khẽ nhếch lên, vẫn mang theo nụ cười có vẻ như đúng mà lại không phải.
"Đây là, đây là..." Nàng lẩm bẩm một mình.
Trương Thừa Khiêm gật đầu nói: "Không sai, đây chính là vào năm đó, khi hoàng thượng vẫn còn là Húc vương, trong khoảng thời gian tám năm từ biến loạn cửa Thừa Tịch đến trận chiến hợp chiến Hồng Dược Nguyên, sáu vị đại tướng từng phò tá hoàng thượng bình định phản nghịch, lục dực tướng lừng lẫy thiên hạ đấy." Thang Càn Tự đăm đăm nhìn bảy người thần thái bay bổng trên họa trục, lần lượt đếm: "Cố Đại Thành, vốn là đại khấu ở Kỳ Xã; Quách Trí Hành, vốn là một viên lại nhỏ ở kho lương Việt Châu; Cúc Thất Thất, xuất thân là nha hoàn sai vặt thô kịch ở phường ca kỹ; Tô Minh, con trai thứ do vợ lẽ sinh của danh tướng Tô Tĩnh Phi; A Ma Lam, thân thế bất minh, vượt biển trốn vong từ nước Chân Lạp đến. Hai người ở chính giữa này, một người là Húc vương — cũng chính là hoàng thượng Đại Trưng ta hiện nay, Đế Húc. Còn người này," ngón tay Thang Càn Tự dịch chuyển sang thiếu niên nhung trang đó, khẽ thở dài một tiếng không nghe rõ tiếng, "Là đại thế tử của Thanh Hải công quá cố, Phương Giám Minh." Sâu trong giọng nói của Hải Thị, mang theo một sự run rẩy nhẹ nhàng, "Nhưng mà, lục dực tướng bình loạn, chẳng phải đều đã không còn trên đời nữa sao?" "Đúng vậy... Mã của Quách Trí Hành phát cuồng hất văng hắn xuống, ngã gãy cổ. Cúc Thất Thất mang thai khi đã gần ba mươi, khó sinh mà chết. Nửa năm sau, một tử tù tố giác, hóa ra A Ma Lam vốn không hòa hợp với Quách Trí Hành, sai người bỏ tật lê tử đặc sản Chân Lạp vào giữa yên ngựa và lưng ngựa, trên bàn đạp lại bôi keo côn trùng, mưu hại Quách Trí Hành. A Ma Lam sự phát trốn vong, giữa đường thì chết vì loạn tiễn. Phương Giám Minh ngay sau đó bạo bệnh đột tử." Lời nói này, câu nào cũng chưa từng vượt qua bổn phận, thế nhưng lại ẩn chứa một thứ khí tức cực kỳ nguy hiểm. Một luồng hàn khí lạnh ngắt, theo giọng điệu đạm mạc của Thang Càn Tự chui vào sống lưng Hải Thị, từng tấc quấn quanh đi sâu vào, giống như muốn đóng băng cả tủy cốt của nàng.
Không phải vậy, trong lòng Hải Thị rành mạch biết rõ không phải. Lục dực tướng, ít nhất vẫn còn một người còn sống. Thế mà Phương Giám Minh, một trong lục dực tướng đáng lẽ ra phải bạo bệnh đột tử đó, tại sao lại ẩn tên giấu họ, ở ẩn trong thâm cung, làm Phượng Đình Tổng Quản Phương Thư? Lại là thứ gì đã khiến cho một vị võ tướng niên thiếu tung hoành chiến trường, tiêu sái bất quần từ mười mấy năm trước thu lại phong mang, cuối cùng trở thành con người mặc áo xanh ôn hòa hiền hòa nuôi nấng nàng mười năm qua? "Tiếp đó, Cố Đại Thành phóng túng bộ hạ cướp bóc, bị du hiệp dân gian giết chết. Tô Minh đi sứ Thương Châu, còn chưa xuất cảnh, ở Tây Nam Hán Châu thì gặp gió cát, mất tích trong sa mạc giữa Cư Tư và Đô Mục Lan. Khai quốc chưa đầy năm năm, lục dực tướng, vậy mà đã không còn sót một ai. Thật là, mây mưa trở lật, thiên mệnh khó lường mà." Câu phán quyết cuối cùng kia, phảng phốt như một vật thể có hình có chất, lạnh lùng trượt qua làn da của Hải Thị.
Hải Thị quay đầu lại, nhìn vị chủ tướng doanh Hoàng Tuyền đang ẩn mình trong bóng tối mờ mịt, hồi tưởng lại đêm trước khi xuất chinh, dưới bầu trời đêm Thiên Khải diễm lệ làm nền, những lời Phương Thư dặn dò nàng, vẫn bình tĩnh như mọi khi, giọng điệu cực kỳ bình thường, phảng phốt như chỉ muốn nàng đóng cửa sổ giúp hắn, hoặc mài mực giúp hắn, "Ta muốn em bảo vệ Thang Càn Tự, giống như em bảo vệ ta vậy. Thế nhưng một khi ta từ kinh trung gửi thư cho em, bất kể nội dung là gì, đều phải nhanh chóng giết hắn." Thế nên, vị tân tham tướng tuấn tú hệt như thiếu nữ này liền gật đầu, ra vẻ không thèm để ý mà nói với chủ tướng: "Thiên mệnh khó lường, chẳng phải sao." Ba mùa xuân hạ thu của Hoàng Tuyền Quan cực kỳ ngắn ngủi, thay phiên rõ rệt, chỉ có mùa đông là lê thê dài đằng đẵng, mịt mờ không thấy mặt trời. Tuyết hễ rơi xuống là không tài nào dứt được, lớp tuyết phủ trên đỉnh núi cứ thế lan rộng dần về phía sườn núi xanh thẳm, nhìn từ xa trông giống như những bông hoa trắng vội vã nở rộ trên dãy núi. Mùa đông năm nay đến vừa vội vã vừa khắc nghiệt, có thể thấy băng tuyết tan vào đầu xuân cũng sẽ đặc biệt chậm trễ hơn.
"Chim di trú của biển Minh Mông năm nay, e rằng phải đến tháng tư tháng năm mới bay qua quan ải." Trương Thừa Khiêm nói. Chim di trú mỗi năm xuân thu đi lại, đều phải đi qua Hoàng Tuyền Quan.
Lúc đó trên con đường từ Sương Hoàn đi Hoàng Tuyền Quan, Trương Thừa Khiêm từng chỉ biển Minh Mông cho Hải Thị xem. Người Đông Lục gọi nó là biển Minh Mông, chẳng qua chỉ vì nơi này ban đêm sương mù nổi lên, mờ ảo không rõ, người biên ải lại chẳng phân biệt hồ nước ngọt hay nước mặn, thảy đều gọi là "biển", cho nên mới đặt cho nó một cái tên đơn giản như vậy. Thương nhân Ni Hoa La gọi hồ này là Thố Ngạc Mục Bác, "Thố Ngạc" tức là hồ biển, còn "Mu Bác" nghĩa là màu xanh biếc. Người Hộc Khố gọi nó là Khố Khố Nột Nhĩ, "Biển màu xanh".
Trên đồng hoang sa mạc, chuyện nhìn núi chạy gãy chân không phải là không có, biển Minh Mông nhìn có vẻ chỉ cách độ ba năm dặm đường, nhưng thực sự muốn đến gần, e là phải thả ngựa chạy mất nửa buổi, Hải Thị thản nhiên nói: "Tôi không thích nước." Cho nên không đi. Chỉ thấy từ xa trong khói bụi, một vũng nước xám xịt, cũng không biết đã đóng băng chưa. Kể từ năm bảy tuổi, liền không còn nhìn thấy biển nữa. Nước phương bắc, dù cho có tráng lệ mênh mông đến đâu, cũng luôn có bờ bến, còn biển thì không. Làn nước mặn chát xanh biếc vô tận vô biên đè nặng lên ký ức trong lồng ngực, khiến nàng thường xuyên giật mình tỉnh giấc giữa đêm khuya, nếm được vị mặn mồ hôi lạnh đọng bên khóe môi mình, đó là vị của nước biển.
Tương truyền qua khỏi núi Tỳ La, đi về phía tây thêm ba nghìn bảy trăm dặm, sâu trong đồng bằng đất đóng băng vĩnh cửu của Thương Châu, ở nơi cực bắc còn bắc hơn cả băng viêm địa hải, dưới núi Thiên Trì, có một hồ nước còn lớn hơn cả biển Minh Mông, gọi là Bắc Khát Nhi Hải, là nơi tụ tập vào mùa hè của chim di trú, cũng là nơi cư ngụ ẩn mình của long thần. Tương truyền triều trước từng có bình dân Lãm Châu bị cuồng phong cuốn đi, mãi cho đến tận Bắc Khát Nhi Hải. Người đó lúc bị cuốn đi mới chỉ mười chín tuổi, lúc trốn về thì đã là một lão già gần bảy tuổi, các ngón tay đều bị cóng rụng sạch, chỉ còn trơ lại một đốt hai đốt, giống như những ngón tay của con rối bị tháo rời. Thế nhưng trong tưởng tượng của người Đông Lục, cái gọi là chốn cực bắc ấy, cũng chỉ là Hoàng Tuyền Quan mà thôi.
Dãy núi Tỳ La đến Hoàng Tuyền Quan thì đột ngột tách làm hai đoạn, thành dãy núi Đông Tỳ La và dãy núi Tây Tỳ La. Dãy núi Tây Tỳ La vị trí hơi lệch về phía bắc, trên sườn phía nam của nó có một dòng suối không đông, sông Tỳ La liền phát nguyên từ đó, chảy về phía nam, cuối cùng đổ vào biển Minh Mông. Thế nên, giữa hai ngọn tuyết phong cao chọc trời đan xen vào nhau, liền xói mòn ra một khe núi hẹp hình chữ "chi", mà từ hướng Bắc của nguồn suối không đông, có một con sơn uy hiểm trở đi thẳng đến Hồng Dược Nguyên ngoài cửa khẩu. Đây chính là con đường duy nhất có thể qua lại nam bắc trên dãy núi Tỳ La dài gần hai nghìn dặm. Tuy nói là thung lũng và khe núi, nhưng vẫn cao hơn đất bằng ba trăm trượng, nếu có hướng dẫn viên đi quen đường, thì chỉ một ngày một đêm là có thể vượt qua. Sông Tỳ La đến thung lũng dãy núi Đông Tỳ La hơi về phía nam, liền đổi dòng chìm xuống lòng đất, đến chân núi lại trồi lên mặt đất, chỉ để lại một đoạn lòng sông khô cạn dài bốn mươi dặm bị xói mòn từ hàng ngàn vạn năm trước trên mặt đất. Hoàng Tuyền Quan tọa lạc ngay trên đoạn lòng sông khô cạn này, chặn đứng yếu đạo này, trở thành một cửa ải khó đánh không thể phá ở Tây Bắc Trưng triều. Sau khi qua khỏi dãy núi Tỳ La, Hán Châu chính là một dải đồng bằng phẳng lặng, sau khi đi thuyền vượt sông về phía nam, hướng về phía Đế đô hơn hai nghìn hai trăm dặm ít có thiên hiểm làm bình phong, Hoàng Tuyền Quan một khi thất thủ, Tây Bắc Hán Châu sẽ phải mở rộng cổng thành, tình thế các quận Đông Lục nguy khốn, sự quan trọng của Hoàng Tuyền Quan có thể tưởng tượng được.
Hải Thị đứng trước đại doanh dưới chân núi, ngẩng đầu nhìn lên. Uốn lượn ngoằn ngoèo hướng lên theo thung lũng, trong màn đêm thắp lên mấy chục đốm lửa sáng như minh châu. Theo lời Trương Thừa Khiêm, cứ mỗi ba canh giờ là có hai trăm binh sĩ phiên luân trực ban chờ lệnh ở cửa khẩu, ngoài ra còn có mấy trạm quan sát, phân bố trên con đường thông hướng phía bắc.
"Người Hộc Khố nếu gặp năm cỏ cây tươi tốt, có dùng roi quất thì bọn chúng cũng không chịu dịch chuyển nửa bước về phía nam. Thế nhưng, nếu năm nào hạn hán, băng giá, súc vật dịch bệnh, bọn chúng... liền như châu chấu tràn tới." Trương Thừa Khiêm lắc đầu.
Mấy đứa trẻ rách rưới cười đùa đánh nhau chạy vụt qua người Hải Thị, vây quanh đùi tên lính canh gác cửa đại doanh kéo giật cào cấu, ép tên lính gác kẹp ở giữa, xô đẩy đến mức đứng gần như không vững. Tên lính canh đầy mặt nụ cười, quát mắng lũ trẻ dơ dáy, mỗi đứa nhẹ nhàng cho một cước. Hải Thị nghe thấy lũ trẻ đó nói một thứ ngôn ngữ man rũ xa lạ, vô cùng kinh ngạc, "Trong quân doanh nửa đêm sao lại có tiểu man tử thế này?" Trương Thừa Khiêm chỉ lắc đầu. "Mấy đứa tóc đen mắt đen đó đều là người Già Mãn, nói là năm nay tai ương tuyết rơi, đói rét đan xen, liều chết trốn đến chỗ chúng ta, mấy ngày nay đã đến mấy tốp rồi." "Cứ nuôi trong quân doanh thế này á?" "Làm gì có chuyện đó, bây giờ tuyết dày thế này, đành phải giữ bọn chúng lại trước, đợi đến khi được ngàn người, liền cùng đưa đến đồn Thủy Tỉnh dạy bọn chúng mưu sinh." Đang lúc nói chuyện, trên quan ải tiếng hô hoán vang lên, trên đỉnh núi có người khua đuốc. Trương Thừa Khiêm nheo mắt nhìn nhìn, "Đang nói thì lại đến một bầy. Cậu nhìn ngọn đuốc kia xem, một ngọn dựng đứng ở đằng trước, người đến không phải địch, sáu ngọn nằm ngang ở đằng sau, người đến là sáu trăm người." Hải Thị lại nhíu chặt mày bước chậm lại, đăm đăm nhìn con sông Tỳ La chạy vòng vèo trước doanh. Đầu bếp mang theo đám phụ bếp đục thủng lớp băng bên bờ sông, thả xô múc nước, lúc này không hiểu sao lại huyên náo cả lên.
"Sao thế?" Trương Thừa Khiêm nhận ra Hải Thị không đi theo sau, quay đầu lại thấy cậu đang ngồi xổm bên cạnh đám phụ bếp.
Vị đồng liêu thiếu niên của hắn vội vã chạy lên, đem thứ ướt sũng trong lòng bàn tay trái bày ra cho hắn xem. Đó là nửa tấm thẻ gỗ, vì sử dụng lâu năm, đã bị ma sát đến bóng loáng đen nhánh, vốn là khắc chữ, hiện giờ chỉ phân biệt được là nửa chữ "Tuyền".
"Trương huynh, đây là..." Sắc mặt Trương Thừa Khiêm chợt biến đổi, "Đây là lệnh bài của người phiên luân canh giữ suối nước!" "Lên đường đến quan ải, nhất định phải đi qua suối Không Đống chứ nhỉ?" "Đó là... con đường bắt buộc phải đi." Trương Thừa Khiêm quay đầu hạ lệnh với binh sĩ gác cửa, "Đốt đuốc làm hiệu, bảo người bên trên không được mở cổng xả người." "Tôi dẫn vài người lên trước!" Hải Thị nói xong quay đầu chạy về hướng doanh trướng của mình.
"Khoan đã!" Trương Thừa Khiêm gọi thiếu niên lại, "Cậu dẫn mấy kẻ chân tay nhanh nhẹn lại lão luyện, đến lầu treo chờ trước, mang theo nhiều tên vào." "Vâng!" Hải Thị đã chạy đi xa, tiếng nói trong trẻo như bạc của thiếu niên xuyên thủng màn đêm.
"Cẩn thận đừng có cứ thế mà chết đấy nhé." Trương Thừa Khiêm vừa chạy về hướng trung quân, vừa thầm nghĩ trong lòng.
Hải Thị vừa chạy vừa lặng lẽ lau khô bàn tay phải vào vạt áo, thứ ánh sáng trắng ngọc trong lòng bàn tay lúc này mới dần nhạt bớt, cuối cùng tan biến hoàn toàn.
Hải Thị và những người khác chạy điên cuồng dọc đường, chưa đầy nửa canh giờ đã đến quan ải. Tham tướng phiên trực Phù Ý là một hán tử gầy gò da ngăm đen độ chừng bốn mươi tuổi. Nghe Hải Thị vội vã thông báo tình trạng bất thường một lượt, chỉ thấy đôi mày của Phù Ý càng lúc càng nhíu chặt lại, trầm mặc không nói.
"Phù đại nhân?" Hải Thị hơi nhíu mày, một đôi nước mắt trong trẻo diễm lệ ngưng tụ nhìn Phù Ý từ dưới chiến giôi.
"Phương đại nhân, ngài xin mời nhìn về phía đó." Phù Ý vừa nói, liền có binh sĩ nhường bọn họ đến bên lỗ châu mai.
Hải Thị nhìn trộm xuống dưới qua lỗ châu mai to bằng bàn tay, không khỏi khẽ hít một hơi.
Hoàng Tuyền Quan được xây dựng dựa theo địa hình núi, mặt tiền cực kỳ hẹp, lại vô cùng cao ngất, trông y hệt như một cánh cửa trên con đường thông hình chữ "chi". Ra khỏi cửa quan phía bắc, đông là Già Mãn, tây là Hộc Khố, phóng tầm mắt ra xa không phân biệt được biên giới hai nước, toàn là hoang mạc, Trưng triều kể từ khi lập quốc đến nay sáu trăm bảy mươi bốn năm cũng chưa từng đánh về phía bắc. Xây dựng cửa ải này, vốn dĩ là để thông thương, bề ngang cổng còn hơi rộng một chút, cũng chỉ vừa đủ cho hai con ngựa song hành.
Hộc Khố lập quốc, cũng chỉ là chuyện vào thời gian trị thế của hai vị tiên đế Đế Trang, Đế Mẫu từ hơn ba trăm năm trước. Vào thời Đoan triều, khí hậu phía bắc núi Đồng Vân ở Hán Châu gần ranh giới Ninh Châu biến đổi bất thường, một bộ tộc man rũ tự xưng là Hộc Khố bị buộc phải rời khỏi quê hương mà tổ tiên họ sinh sống, từ đó lưu lạc du mục trên thảo nguyên Hán Châu. Trong truyền thuyết của Hộc Khố, bộ tộc của họ do thiên mã sinh ra, mà thiên mã là con gái của rồng, "Hộc Khố" trong tiếng man rũ tức là ý nghĩa "Long Tôn". Còn các bộ tộc khác trên thảo nguyên thì khinh miệt gọi họ là "Bốc Bột Lạc" — giống ngựa lai tạp. Bởi vì vóc dáng của người Hộc Khố cao hơn người man rũ bình thường một chút, lại thêm tóc vàng mắt xanh, mọi người đều nói bọn họ là giống lai tạp giữa người man rũ với người Khoa Phu và người Vũ Tộc qua nhiều lần pha trộn, thậm chí không thể tính là một nhánh của người man rũ. Thế nhưng bộ tộc lang thang khắp nơi này lại giống như một con sói cô độc tách đàn, âm thầm lớn lên. Bốn trăm năm sau khi họ rời khỏi quê hương, Hộc Khố dưới sự thống lĩnh của Ba Lan Vương, đã trở thành một trong những bộ tộc cường thịnh đếm trên đầu ngón tay trên thảo nguyên. Có người nói, trong huyết quản của Ba Lan Vương chảy dòng máu đồng xanh của nhà Pasuer, dòng máu Cốc Huyền, hắn giáng lâm nhân thế chính là để thu gặt mạng người, giống như người nông dân ở Đông Lục thu gặt lúa gạo. Đương nhiên đây rốt cuộc cũng chỉ là lời đồn, thị tộc Pasuer của Thanh Dương từ sau khi Chiêu Vũ công Lữ Quy Trần qua đời thì đã bắt đầu suy sụp, đến thời Đoan triều, lại càng lụi tàn đến mức không biết trôi dạt về đâu. Trong thời đại của Ba Lan Vương, cương thổ của Trưng triều Đông Lục đã tiến đến dãy núi Tỳ La phía nam. Bộ tộc Hộc Khố càn quét Hán Bắc, thôn tính bộ Hữu Kim, bộ Thuần Chi, sau đó tiếp tục cất binh nam hạ, nhiều lần tấn công vào Hoàng Tuyền Quan. Kể từ đó, để tiện thủ khó công, Hoàng Tuyền Quan lại càng sửa sang của ải cửa khẩu thành cửa kéo chỉ vừa một người dắt ngựa đi qua.
Mà ngay lúc đó, trên con đường tích tuyết chật hẹp kia, từng đám bóng đen đục ngầu còng lưng, lặng lẽ chen chúc sát cạnh nhau, đội ngũ kéo dài mãi đến tận chốn sâu thẳm tối đen không thấy tận cùng ở đằng xa. Trong đám người thỉnh thoảng có một hai gương mặt ngẩng lên, nét mặt trắng bệch, nhìn lên lầu thành một cái, cũng như chẳng ôm chút hy vọng nào, rồi lại cúi xuống chìm nghỉm vào bóng đêm.
"Những người đó, thực sự là tị nạn Già Mãn, tóc đen mắt đen. Người Hộc Khố tóc vàng mắt xanh, là một nhánh đặc biệt trong người man rũ, liếc mắt là có thể phân biệt được, chính vì thế mới uy hiếp kéo người Già Mãn làm lá chắn thịt." Phù Ý nói xong, đứng dậy, cầm lấy chiếc chiến giôi cạnh tay.
Trên cầu thang nghe thấy tiếng bước chân, lại có thêm mấy tên hiệu úy đuổi theo sau, truyền lệnh của Thang tướng quân, "Mở cửa quan tiến về phía bắc, đẩy bọn chúng ra." "Mở cửa quan tiến về phía bắc à..." Gương mặt Phù Ý đen kịt một màu, rất khó nhìn ra biểu cảm. "Đại đội khi nào thì đến?" "Bẩm Phù đại nhân, Đại vương thiên kỵ và Tiểu vương thiên kỵ mỗi người thống lĩnh bốn nghìn người, ba khắc nữa là đến." Phù Ý thở ra một hơi dài, đưa tay đấm đấm thắt lưng, các khớp xương phát ra tiếng động lách cách. "Mười ba năm không lên Hồng Dược Nguyên, xương cốt đều già cả rồi." Một tiếng nói nhỏ nhạt vang lên va đập vào vách núi tạo thành từng tầng âm hưởng vang vọng, Hải Thị trừng lớn mắt nhìn, dưới lầu thành, từ trong chiếc áo choàng nỉ rách rưới của thiếu nữ Già Mãn mắt đen, thò ra một cái đầu cừu non nhỏ xíu.
"Phương đại nhân, nghe nói ngài thông thạo các loại võ nghệ, trong đó tinh thông nhất chính là cưỡi ngựa và bắn cung. Kỳ thi võ cử năm nay đỗ Thám hoa, bài thi cưỡi ngựa và bắn cung lại đỗ đầu áp đảo quần hùng, cả trường reo hò khen ngợi." Phù Ý đi được mấy bước, chợt quay đầu lại nói.
Hải Thị đáp: "Phù đại nhân quá khen, đó là do các đồng khoa nhường nhịn thôi." "Vậy thì, lầu treo liền giao phó cho Phương đại nhân. Gọi vài thiện xạ đi theo Phương đại nhân." "Vâng." Hải Thị hành lễ, đứng dậy nhanh nhẹn chạy đi.
Lầu treo kỳ thực không phải là lầu gì cả, chẳng qua chỉ là mấy cái hang động tự nhiên trên vách núi phía đông cách cửa khẩu Hoàng Tuyền Quan chừng hai ba dặm, chỉ có thể đi từ con đường vách đá dốc đứng mang tên "thằn lằn bò" trong quan mới đến được, chiếm vị trí cao nhìn xuống thấp. Nói là dùng làm lầu tên, kỳ thực trên quan lâu nay không có chiến tranh, căn bản chưa từng sử dụng qua, bên trong tích trữ tên, nỉ thô, dầu trẩu và một ít lương nước, chẳng khác nào đồ bỏ đi.
Hải Thị dẫn hai mươi cung binh trèo lên lầu treo, liền ẩn mình trong hang động, nín thở chờ thời cơ. Trong khe suối phía nam dần dần có chút âm thanh nhỏ nhoi, vòng ra một cỗ nhân mã, đều là áo trắng ngựa trắng, lặng lẽ phi nước đại trên nền tuyết sáng ngời như gương, chừng một trăm năm mươi kỵ.
"Giỏi thật, lôi gần nửa doanh Kỳ Lân ra rồi đấy." Cung binh nằm phục bên cạnh vừa dùng mỡ bò lau dây cung, vừa hạ thấp giọng nói. "Đám người Già Mãn kia coi như không có đường sống rồi." "Chúng ta có thể làm gì chứ," người đáp lại lắc đầu, "Mùa đông năm nay man tử Hộc Khố e là đều đói điên lên rồi, cửa khẩu này hễ mở ra thì sợ là không đóng lại được nữa. Sách binh thư xưa nay chỉ dạy dùng trận trâu lửa, chứ chưa từng dạy dùng người sống làm lá chắn thịt. Vì để cướp được lương thảo trong đại doanh chúng ta, chuyện thất đức như vậy mà cũng làm ra được, suy cho cùng không thể trách chúng ta được đâu." Từ lầu treo đã có thể lén nhìn thấy bóng dáng kỵ binh Hộc Khố thầm lặng quay ngựa đi về phía nam, mà doanh Kỳ Lân đã xếp thành hàng trước cửa khẩu, hơn bảy nghìn nhân mã theo sau cách doanh Kỳ Lân tám trượng, dọc theo khe suối quanh co hiểm trở xếp thành đội dài năm dặm. Kẹp giữa hai dòng thiết lưu nguy nga đang chực chờ bùng nổ ở phía trước và phía sau, sáu trăm người Già Mãn rách rưới kia chỉ lặng lẽ co ro lại với nhau.
"Man tử Hộc Khố năm nay đói đến phát hoảng, biết trong quan chúng ta có lương thực, giống như sói ngửi thấy mùi máu tanh, tiến vào đồn Thủy Tỉnh bị tiêu diệt toàn bộ, bây giờ ngay cả Hoàng Tuyền Quan cũng dám tấn công — nhưng mà, nếu từ phía tây vòng vèo ba nghìn dặm đến đây tìm lương thực, e là còn chưa tìm thấy lương đã chết đói hết rồi ấy chứ." "Nhìn trận thế đó kìa, lần này xem ra là đến liều mạng rồi." Trong hang động lạnh ngắt tối tăm, tiếng người xì xào giống như vô số đôi bàn tay vô hình quấn lấy. Hải Thị bỗng nhiên cảm thấy chiếc giáp khóa bạc trước ngực cài quá chặt, ngột ngạt đến mức không thở nổi.
Cửa khóa bằng sắt đen của Hoàng Tuyền Quan cực kỳ dày nặng, mười sáu cái bản lề bằng đồng thau đều to bằng miệng bát, lúc quay chuyển lại tĩnh mịch không một tiếng động.
Trong đám người Già Mãn nổi lên một trận hỗn loạn nhẹ, con cừu non trong ngực thiếu nữ bỗng giãy giụa thoát ra, bốn cái móng nhỏ mảnh khảnh vang lên lanh lảnh nhẹ nhàng, bước lên nền tuyết. Con cừu non trắng muốt toàn thân, từ trán đến mũi có một đường lông nhung đen nhánh, vóc dáng nhẹ nhàng, tròng mắt đen láy, khoảng chừng là con cừu non chuẩn bị làm cừu giống khi tái thiết lập bãi chăn thả, mới được ôm trong ngực mang theo dọc đường. Con cừu non tò mò bước lên phía trước hai bước, nhìn những đôi chân ngựa trắng xếp san sát lộ ra phía sau cửa khẩu kéo. Cửa càng thu về phía cao, hàng trăm bộ câm giáp bạc lấp lánh chói mắt trong ánh tuyết.
Con cừu non vươn chiếc cổ mềm mại, kêu "be" một tiếng. Một luồng kình phong từ trên trời giáng xuống xuyên thủng cơ thể non nớt của nó, bắn một vũng máu lên nền tuyết trắng tựa tờ giấy. Từ trên đầu thành và lỗ châu mai của Hoàng Tuyền Quan, cung nỗ thủ bắn ra vô số mũi tên như châu chấu. Một bàn tay đẫm máu vươn về phía con cừu non, lại bị một mũi tên đang rít gió ghim chặt xuống nền tuyết.
Một tiếng huýt sáo, một trăm năm mươi kỵ binh doanh Kỳ Lân tựa giao long bạc ùa ra, giẫm qua bùn tuyết bừa bãi và thây phơi, lao như sóng dữ về phía tốp kỵ binh Hộc Khố đang xông tới ở hàng đầu. Người Hộc Khố một tay dùng đao hoàn thủ, một tay cầm mọc, trên mọc lại tua ra chóp nhọn, linh hoạt có lực, vào thời trị thế của hai vị tiên đế Đế Trang, Đế Mẫu, thủ quân Hoàng Tuyền Quan đã chịu không ít thiệt thòi vì thứ này. Sau đó ty vũ khí đã đặc chế cho Hoàng Tuyền Quan thương năm thước năm, vừa vặn tương đương với chiều cao của một nam tử lùn, ở con đường núi chật hẹp cũng có thể thi triển tự nhiên, lại thêm sắc bén lanh lẹ, có thể tấn công thẳng vào khoảng trống nhỏ giữa mọc và đao của người Hộc Khố. Doanh Kỳ Lân lao tới mãnh liệt, từ xa nhìn thấy bụi tuyết bay mù mịt, một dải trắng bạc tiến về phía bắc, ánh trắng đi qua, trên đường núi chất đống thây người thây ngựa Hộc Khố, chưa đầy nửa khắc, trận kỵ binh Hộc Khố thứ nhất phần lớn đã bị đánh tan và giẫm đạp đến chết. Người Hộc Khố phía sau lớn tiếng la hét, trận thứ hai nghênh đón tiến lên, trong doanh Kỳ Lân lại vang lên một tiếng huýt sáo, hơn một trăm ngọn thương năm thước năm đẫm máu đồng loạt đâm về phía trước, đột nhập vào trong trận, quần chiến thành một mảnh.
Lầu treo nằm ở phía bắc cửa quan, đối diện trực diện với sau lưng binh sĩ tiền phong Hộc Khố, tạo thành thế gọng kìm với cung nỗ trên thành.
Hải Thị quỳ một gối ở cửa hang lầu treo, từ bên eo sờ ra một chiếc nhẫn vàng cẩn ngọc lưu ly xanh nước biển, tỉ mỉ ngắm nghía một hồi, rồi lại đeo vào ngón cái. Chiếc nhẫn đó vốn là đồ của nam nhân, nàng đeo thì thấy to, bèn dùng sợi tơ xanh quấn nó lại như kiểu đeo nhẫn thông thường của nữ nhi khuê phòng.
"Tên xuyên giáp." Hải Thị vừa nói, vừa hà hơi vào dây cung, một tay rút ra ba mũi tên xuyên giáp lông ưng, kẹp giữa bốn ngón tay, ngón cái vững vàng kéo căng một chiếc cung sáu thạch, nhắm thẳng về phía sau lưng trận thứ ba của Hộc Khố. "Bắn." Mũi tên rơi xuống trận thứ ba của Hộc Khố như đàn châu chấu. Người Hộc Khố không ngờ sau lưng lại bị tấn công, chốc lát chen chúc giẫm đạp lẫn nhau, thế nhưng lại bị hai trận trước sau kẹp ở giữa không tài nào nhúc nhích được. Trận thứ hai của người Hộc Khố nghe thấy phía sau náo loạn xô đẩy, tưởng là đã trúng mai phục, trong lòng hoảng hốt, hai tên tiểu thủ lĩnh câm ghét cất tiếng hô quát, chỉnh đốn lại đội hình, dẫn chúng liều chết xông vào trong trận của doanh Kỳ Lân. Binh sĩ trước trận doanh Kỳ Lân đan chéo đâm ra thương năm thước năm, xoắn thành một đường thẳng chặn lấy mọc của người Hộc Khố, lần lượt rút đao hoàn thủ lưỡi hẹp ra chém giết.
"Bắn ngã trận thứ sáu, chúng ta mở con đường này thay cho doanh Kỳ Lân. Luân phiên ba phát liên tiếp, ta không hô dừng, không ai được phép dừng." Tướng quân thiếu niên trầm giọng nói, hai mươi mốt cây cung sáu thạch lặng lẽ giương đến tròn căng.
"Bắn!" Tiếng dây cung kêu keng keng như mưa rào xé toạc không trung, người Hộc Khố bị mắc kẹt trên đường núi không thể né tránh, hơn một trăm người ở trận thứ ba thứ tư thứ năm phía trước ở cực nam đã bị làn mưa tên mãnh liệt cắt đứt khỏi bản doanh ở phía phương bắc, gánh chịu sự công kích tựa sóng thủy triều bạc của doanh Kỳ Lân, đội hình ngày càng mỏng đi, mà làn mưa tên kia vẫn không chịu dừng lại.
Đợi đến khi Hải Thị hô lên một tiếng "Dừng", hơn một trăm tên người Hộc Khố đó vừa hay chỉ còn lại hàng cuối cùng, ngay sau đó bị tiền phong doanh Kỳ Lân gặt ngã như hoa màu cuối thu.
Bên tai Hải Thị bỗng lạnh buốt, một tên cung thủ cạnh bên ôm lấy bả vai, trên mặt đất rơi xuống một mũi tên lông hải đông thanh quen dùng của người Hộc Khố, rõ ràng là đã bị mũi tên sượt qua.
Con đường dưới lầu treo sớm đã bị loạn tiễn và thây phơi phủ kín, còn đi tiếp về phía bắc nữa, thì do lầu treo giới hạn tầm nhìn, nên không thể nhìn thấy được nữa. Nàng mạo hiểm thò người ra khỏi cửa hang lầu treo nhìn về phía bắc, thấy trong bản doanh của người Hộc Khố, mấy tên cung thủ đang loạn xạ bắn tên lên lầu treo, mà thêm mười mấy tên cung thủ khác đã xếp trận ở phía trước, giương cung nhắm về phía doanh Kỳ Lân đang từng bước tiến lên. Mà doanh Kỳ Lân lần này là vì xông trận cận chiến mà đến, hoàn toàn không được trang bị mọc, thấy rõ là sắp chịu tổn thất nặng nề.
"Hai người các ngươi, giữ chặt chân ta." Hải Thị cắn răng, rụt người lại, ngồi quay lưng về phía cửa hang, nói với hai cung thủ ở gần bên. Bản thân nàng lại ngậm ba mũi tên trong miệng, giữa các ngón tay lại cài thêm ba mũi nữa, tay trái cầm cung, ngửa người một cái treo ngược nửa thân trên ra ngoài vách đá ngoài hang, vừa treo ngược vừa liên hoàn ba mũi tên nhắm vào các cung thủ trong bản doanh Hộc Khố, mũi nào mũi nấy đều trúng đích không trượt phát nào. Trong lúc đó, nàng sớm liếc thấy trong trận có một tên cung thủ vóc dáng cao lớn vạm vỡ, giáp trụ cũng có vẻ nổi bật hơn chút, đoán chừng là thủ lĩnh cung thủ, bèn tháo ba mũi tên đang ngậm trong kẽ răng ra, thế như lưu tinh một hơi bắn thẳng về phía kẻ đó. Tên dùng của Hải Thị có phần đặc biệt, trước là hai mũi xuyên giáp, tiếp theo là một mũi phóng máu, ý định là đâm thủng chỗ nối của giáp trụ cho mỏng yếu, sau đó dùng đầu mũi tên có rãnh phóng máu gây trọng thương cho kẻ địch. Nàng vừa ngồi dậy, liền nghe thấy mấy tiếng lách cách đập liên hồi, tên của người Hộc Khố nối tiếp nhau đập vào vách đá. Hải Thị quay đầu nhìn lại, chỉ thấy tên cung thủ cao lớn đó nắm lấy ba mũi tên cắm chồng chất lên nhau ở cổ họng, gầm lên một tiếng rồi rút ra, trong ánh tuyết đằng xa nhìn không rõ lắm, chỉ thấy những kẻ bu quanh hắn lùi lại hai bước, quẹt mặt một cái, nghĩ là bị phun đầy mặt máu.
Hải Thị nhân lúc hỗn loạn lại treo ngược người xuống dưới, mặc kệ mưa tên bay tứ tung, soàn soạt liên tiếp bắn ra, các cung thủ trong trận Hộc Khố lần lượt ngã lăn ra đất theo tiếng ứng tiếng.
"Phương đại nhân!" Binh sĩ trên lầu treo hô hoán lên, giọng điệu hốt hoảng đến mức vỡ cả tiếng.
Tầm mắt nàng chuyển một cái, một mũi tên đang xé gió lao tới, chớp mắt đã đến trước mắt, không thể né tránh, ngay cả rãnh máu chôn vùi trong đầu mũi tên hình tam giác cũng rõ mồn một.
Nàng trừng trừng mở to đôi mắt diễm lệ.
Các cung thủ trên lầu treo nhìn từ trên cao xuống, chỉ có thể nhìn thấy chiếc cằm nhọn hoắt của Hải Thị ngẩng lên, mũi tên kia lại cắm chặt vào gương mặt đang treo ngược của nàng, thân tên ong ong chấn động không thôi.
Lúc này tiền phong doanh Kỳ Lân đã xông vào bản doanh Hộc Khố, bộ binh theo sau ùa ra, trên con đường rộng chừng một trượng lập tức quần chiến lẫn lộn người ngựa, mà nam thanh niên bắn tên trong trận, vẫn đạp bàn đạp đứng thẳng người trên yên ngựa, nhìn lên lầu treo một cái, rồi mới tung người xuống ngựa, lập tức có người khiêng thây của thủ lĩnh cung thủ đã chết lúc trước tới. Thanh niên kia đưa tay giật lấy chiến giôi của người chết, nắm lấy mái tóc vàng của người chết, rút bội dao chém đứt đầu xuống, đưa chiếc đầu đó lên trước mắt, hôn đi hôn lại nhiều lần, nhưng lại nghe thấy thân cận bên cạnh hét lên, liếc mắt nhìn qua, thấy một mũi tên dài phóng vút tới, sắc mặt chợt biến. Đúng vào khoảnh khắc này, một nam tử trang phục áo trắng bên cạnh vội vã chắn trước mặt thanh niên đó, đưa tay gạt ra như không cần mạng sống, đầu mũi tên lông hải đông thanh sượt qua lòng bàn tay hắn, kêu leng keng như tiếng kim loại va chạm, ngay sau đó rơi xuống mặt đất. Trong đội hình của người Hộc Khố, nổi lên một trận hỗn loạn nhỏ, nam tử áo trắng đó lại hoàn toàn vô sự, thản nhiên lùi lại một bước, đứng hầu bên cạnh ngựa thanh niên. Thanh niên ngẩng đầu nhìn xa xa, trên vách núi gương mặt của vị cung thủ Đại Trưng đang treo ngược kia đã không thấy mũi tên đâu nữa, lại nhìn kỹ mũi tên vừa gạt ra lúc nãy, chính là mũi tên mà bản thân hắn đã bắn ra trước đó. Chắc là vị cung thủ Đại Trưng đó đã dùng răng sống sừng sược cắn lấy mũi tên lao tới, rồi nhân lúc hắn không đề phòng, lén lút bắn trả lại.
Trên khóe môi đẫm máu của thanh niên Hộc Khố hiện lên một nụ cười, khinh mạn ngoắc ngoắc ngón tay về phía vách núi, ngay sau đó treo thủ cấp phía sau yên ngựa, quát lệnh binh sĩ yểm hộ, một mặt quay ngựa dẫn đội quay đầu, biến mất ở khúc cua của con đường núi phía bắc.
Hải Thị liếm liếm hàm răng trước, khẽ nhổ ra một búng máu, nói: "Tên nam nhân này có điều kỳ lạ, giống như đã dùng thứ bí thuật gì vậy. Chúng ta phải nhanh chóng đuổi theo." "Phương, Phương đại nhân..." Một tiểu cung binh tuổi xấp xỉ Hải Thị run rẩy đôi môi, đứt quãng nói.
"Gì thế?" Hải Thị đeo sừng cung sau lưng, miệng đáp lời.
"Người Hộc Khố đã giương cờ đen, cờ đen báo hiệu vương giả tử trận... Tôi nghe nói, bọn họ đều không chôn cất, thi thể vứt bừa bãi cho linh cẩu kền kền ăn, chỉ có các phiên vương của bọn họ chết trên chiến trường, mới đem đầu đưa về, chắp lại với thân thể đúc bằng vàng để chôn cất..." Tiểu cung binh không nhịn được mà nhe răng cười, đôi môi khô nẻ rớm máu nứt toác ra từng đường rách tươm.
"Phương đại nhân, người mà ngài bắn chết là một vị vương, là một vương đấy!" Người Hộc Khố dường như không ham chiến, rầm rộ đến tấn công, lúc rút lui lại cũng nhanh chóng tựa thủy triều. Hải Thị từ lầu treo phi thân lao xuống, cướp lấy một con ngựa, phi thẳng về phía bắc đuổi theo. Kẹp trong đại đội đuổi ra hơn hai mươi dặm, con đường trước mắt đã tận, duy chỉ có lội ngược dòng suối mà lên, rẽ qua chân núi Đông Tỳ La, trèo lên núi Tây Tỳ La, qua suốt ba mươi hai dặm khe núi, đến được suối Không Đống đầu nguồn sông Tỳ La. Từ đầu nguồn suối đi về phía bắc, mới là một con đường tiểu đạo sơn uy. Gần trưa ngày hôm sau, Hải Thị cuối cùng cũng đuổi kịp bộ đội Phù Ý dẫn đầu truy kích. Người Hộc Khố tuy rút lui rất nhanh, nhưng trong chốc lát cũng không thể cắt đuôi được bộ đội Phù Ý, đành để bọn họ bám theo không nhanh không chậm.
"Phương đại nhân mắt tinh thật đấy, người Hộc Khố vốn không dùng nghi vệ, Tả Bồ Đôn vương đó lẫn trong đám đông, không ai phân biệt ra được cả." Phù Ý chậm rãi nói. "Tả Bồ Đôn vương này tính tình hiếu chiến càn quấy, ba nghìn người tập kích đồn Thủy Tỉnh cũng là bộ hạ của hắn, ban đầu nói là để bọn họ đánh tiên phong dọn đường, đại quân sẽ theo sau đến ngay. Không ngờ hắn tự mình quay đầu đến Hoàng Tuyền Quan, lại bỏ mặc ba nghìn người không biết gì ở đồn Thủy Tỉnh làm đội hình nghi binh, hiện nay hắn đã chết, Tả Bồ Đôn vương mới này là em cùng cha khác mẹ với lão vương, nghe thám tử nói vốn dĩ quan hệ đã không được thân thiết cho lắm, liền lập tức hạ lệnh rút quân." Trong trận Hộc Khố đã không còn nhìn thấy cờ xí màu xanh nhạt ban nãy nữa, ở đầu mỗi đội phấp phới tung bay, toàn là vải gai thô màu tang tóc toàn tập.
"Đó chính là Tả Bồ Đôn vương mới." Phù Ý chỉ vào một tên thanh niên được vây quanh trùng điệp ở đuôi đội ngũ Hộc Khố. Bóng dáng thanh niên đó bị cờ tang bay phấp phới che khuất, nhìn không rõ lắm, điều nổi bật là một cái đầu người, toàn bộ mái tóc vàng bện lại thành một bím treo lủng lẳng sau yên ngựa, lắc la lắc lư theo bước đi của con Ô Vân Đạp Tuyết đó.
Hải Thị hơi nhíu chân mày, giục ngựa đi nhanh hai bước. Lúc này người Hộc Khố đã đi đến lối ra khe núi, đã thấp thoáng nhìn thấy đồng tuyết cực bắc rộng lớn mênh mông bên dưới, vừa rẽ qua eo gió, cơn gió lớn cuốn theo cát tuyết quét tới, cờ tang phần phật bay thẳng lên bầu trời. Khoảnh khắc đó, tên kia vừa vặn nghiêng mặt sang một bên, lộ ra một đường nét cao ráo thanh tú. Hải Thị phảng phốt như bị nhét một vắng tuyết vào lồng ngực, giật mình hoảng hốt. Đó là dáng vẻ mà nàng đã nhìn suốt mười năm, tuyệt đối không có khả năng nhận nhầm.
"Trác Anh —!" Nàng thốt lên lẩm bẩm.
Tên kia dường như nghe thấy tiếng Hải Thị, quay đầu lại, mang theo một nụ cười khiêu khích, lại một lần nữa ngoắc ngoắc ngón tay. Sống mũi cao, mắt sâu, lông mày rậm, khuôn mặt vóc dáng y hệt Trác Anh, duy chỉ có đôi mắt là xanh biếc ngời ngời. Thanh niên mắt xanh giật phăng chiến giôi xuống, xõa tung mái đầu tóc vàng óng ả, cất giọng bằng tiếng man rũ hạ lệnh, người Hộc Khố đồng thanh đáp lời, bỗng nhiên toàn thể quất roi đánh ngựa, phóng nhanh di chuyển xuống chân núi. Mấy đội xông ra khỏi khe núi trước tiên bày trận trái phải trên đồng tuyết, chặn lấy khe núi làm vật yểm hộ, số còn lại không màng gì nữa phi thẳng về phía bắc, sau khi toàn bộ nhân mã thoát khỏi khe núi, mấy đội yểm hộ hình cánh cung ban nãy lập tức biến trận, hòa vào bản doanh, mấy ngàn nhân mã cuốn lên cuồn cuộn bụi tuyết, cực kỳ nhanh chóng biến mất ở chân trời phương bắc.
"Đó chính là Hồng Dược Nguyên." Phù Ý kìm ngựa lại, vẽ một vòng roi trên không trung, khoanh vùng đồng tuyết ở phía bắc khe núi vào trong đó.
Hồng Dược Nguyên mùa đông tích tuyết, mùa hè hoang vu, chưa từng nở một bông hoa hồng dược nào, cái tên này có được là do Hồng Dược Đế Hắc Cơ mà ra. Hồng Dược vốn là tông thất nữ, cũng là người chị cùng cha khác mẹ của tiếm vương Trữ Phụng Nghi cất binh phản loạn, những năm đầu hòa thân sang Hộc Khố, đến năm ba mươi hai tuổi thì đã trải qua ba đời phiên vương, vô cùng có thế lực. Mười bốn năm trước Trữ Phụng Nghi bại trận trốn về phương bắc, đi qua Hoàng Tuyền Quan tiến vào lãnh thổ Hộc Khố, Hồng Dược Đế Hắc Cơ phái quân ra nghênh đón, Đế Húc lúc đó chưa đăng cơ cũng dẫn quân đuổi giết đến tận đây, kịch chiến bốn ngày năm đêm, tiêu diệt hơn năm vạn quân địch, phản quân bị tiêu diệt toàn bộ, quân Hộc Khố tổn thất nặng nề, Cố Đại Thành trong lục dực tướng chém được đầu của Trữ Phụng Nghi, còn Hồng Dược Đế Hắc Cơ thì bị giày vò đến chết trong loạn quân, chỉ nhặt lại được vài mẩu thi thể không trọn vẹn. Sau trận chiến này, đồng hoang dài hai mươi dặm bùn tuyết máu thịt đỏ đen lẫn lộn, năm sau vừa vặn gặp thời tiết ấm áp bất thường, trên Hồng Dược Nguyên vậy mà lại lún phún mọc lên một lớp cỏ xuân mỏng manh, súc vật không ăn, thứ mà người già gọi là cỏ thây thối chính là cái này.
Thời thế năm đó, tựa như dòng lũ sóng lớn tráng lệ vô tình, dưới ngòi bút của sử quan vô thanh vô tức tóe lên một ngôi sóng nhỏ, chính là mấy ngàn mấy vạn sinh mạng con người.
"Mỗi khi đến tiết Thanh Minh, trên Hồng Dược Nguyên dài hai mươi dặm, toàn là phụ nữ và trẻ em đến cúng tế." Phù Ý dừng lại một chút, nói: "Mười bốn năm rồi, phụ nữ cũng thấy rõ đã già đi, trẻ con cũng thấy rõ đã lớn lên. Thời buổi này, cũng nên bình yên rồi chứ." Lúc trở lại doanh trại, đã không còn nhìn thấy một đứa trẻ Già Mãn nào chạy nhảy nữa. Đêm hôm đó, người Già Mãn trong doanh mãi không thấy đồng bào vào quan, rồi sau đó phát hiện đại quân lên núi, liền náo loạn lên, cuối cùng toàn bộ đều mất mạng. Thế nhưng, cho dù có không náo loạn, bọn họ cũng không có đường sống.
"Rốt cuộc không thể thả bọn họ ra ngoài loan truyền khắp nơi, nói rằng chúng ta thấy chết mà không cứu." Gương mặt Phù Ý đen ngăm, vẫn như cũ không nhìn ra lấy một nửa biểu cảm.