Điềm Báo Tai Ương

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Illustrated By Van Dongen

❊ ❊ ❊

Một sơ suất rất nhỏ, ở đúng sai lầm vị trí, có thể tàn phá bất kỳ dự án nào. Một tranzito nhỏ bé có thể hỏng... và làm tiêu tan một quả tên lửa trị giá hàng triệu đô-la. Đó cũng là một cách để chặn đứng các tên lửa....

"Chúng ta phải nhớ không được phán xét bất kỳ công bộc nào qua một hành động đơn lẻ, và đặc biệt chúng ta phải cảnh giác với việc tấn công những kẻ vốn chỉ là hoàn cảnh đưa đẩy chứ không phải nguyên nhân gây ra thảm họa."

Theodore Roosevelt

Năm 1914, đó là những kẻ ngoại kiều thù địch.

Năm 1930, đó là những kẻ phá hoại Wobblies.

Năm 1957, đó là những kẻ cộng sản đồng hành.

Năm 1971, đó là những kẻ đọc suy nghĩ điên loạn.

Và, vào năm 1973:

"Chúng tôi không biết đó là cái gì," Andrew J. Burris, Giám đốc FBI nói. Ông vung tay lên trời với vẻ mặt bối rối và hoang mang.

Kenneth J. Malone cố gắng tỏ ra cảm thông. "Cái gì là cái gì ạ?"

Burris cau mày và gõ ngón tay lên chiếc bàn làm việc lớn của mình. "Malone," ông nói, "nói năng cho cẩn thận xem nào. Và đừng có lắp bắp."

"Lắp bắp ạ?" Malone nói. "Chính ngài vừa bảo là ngài không biết đó là cái gì cơ mà. Và tôi chỉ muốn biết đó là cái gì thôi."

"Đó chính là vấn đề đấy," Burris nói. "Tôi không biết."

Malone thở dài và nén lại một cơn muốn thét lên. "Giờ thì, chờ một phút đã, Sếp—" anh bắt đầu.

Burris lại cau mày. "Đừng gọi tôi là Sếp," ông nói.

Malone gật đầu. "Được thôi," anh nói. "Nhưng—nếu ngài không biết đó là cái gì, thì ít ra ngài phải có chút hình dung về cái mà ngài không biết chứ. Ý tôi là, nó lớn hơn cái hộp đựng bánh mì không? Nó có làm những việc hữu ích không? Nó tự kinh doanh à?"

Burris thở dài, "Malone, cậu nên đi làm truyền hình đi thì hơn."

"Nhưng—"

Burris nói: "Để tôi giải thích cho." Giờ đây giọng ông bình tĩnh hơn, và ông nói cứ như thể mình đang diễn đạt những chân lý hiển nhiên và trường tồn nhất trên đời. "Đất nước này," ông nói, "đang trượt dốc không phanh rồi."

Malone lại gật đầu. "À, suy cho cùng thì, Sếp—" anh bắt đầu.

Burris mệt mỏi nói: "Đừng gọi tôi là Sếp."

Malone ôn hòa đồng ý: "Sao cũng được." Anh thận trọng liếc nhìn Giám đốc FBI. "Suy cho cùng, đó có phải chuyện gì mới mẻ đâu," anh nói tiếp. "Đất nước này lúc nào chẳng trượt dốc theo cách này hay cách khác. Nhìn La Mã mà xem."

Burris nói: "La Mã?"

Malone nói: "Chứ sao nữa. La Mã lúc nào chẳng suy đồi, và cuối cùng thì nó—" Anh khựng lại. "Cuối cùng thì nó cũng sụp đổ, tôi đoán thế," anh nói.

Burris nói: "Chính xác. Và chúng ta cũng vậy. Cuối cùng rồi sẽ thế." Ông đưa tay lên trán và đăm đăm nhìn vào một điểm trên tường qua vai Malone. Malone quay lại nhìn theo điểm đó, nhưng chẳng thấy có gì thú vị cả. "Malone," Burris gọi, và điệp viên FBI lại quay phắt người lại.

Anh đáp: "Vâng, S—Vâng ạ?"

Burris nói: "Lần này thì hoàn toàn không phải cái câu chuyện cũ rích đó đâu. Lần này mọi thứ khác hẳn."

Malone nói: "Khác ạ?"

Burris gật đầu. "Cậu hãy nhìn nhận theo cách này nhé," ông nói. Ánh mắt ông hướng trở lại viên điệp viên FBI. "Giả sử cậu là một nghị sĩ," ông nói tiếp, "và cậu tìm thấy bằng chứng về sự yếu kém trong bộ máy chính phủ."

Malone vui vẻ đáp: "Được thôi." Anh có cảm giác rằng nếu mình cứ chờ đợi thêm một chút nữa thì mọi chuyện sẽ đâu vào đấy, và anh sẵn sàng chờ đợi. Dù sao thì lúc này anh cũng đâu có nhận nhiệm vụ nào, và chẳng có việc gì cấp bách đang chờ anh cả. Tình duyên của anh thậm chí còn đang trong khoảng thời gian trống.

Tự nhủ lòng, nếu anh chờ đủ lâu, Andrew J. Burris có lẽ sẽ nói ra điều gì đó đáng nghe. Anh ra điều chăm chú và háo hức. Anh cân nhắc việcồm người về phía trước một chút trông cho ra vẻ háo hức hơn nữa, nhưng rồi lại thôi; Burris có thể nghĩ là anh đang ra oai đe dọa thì sao. Chẳng biết đường nào mà lần.

Burris nói: "Cậu là một nghị sĩ, và chính phủ thì kém hiệu quả. Cậu tìm thấy bằng chứng về chuyện đó. Cậu sẽ làm gì?"

Malone chớp mắt và suy nghĩ trong một giây. Chẳng mất quá nhiều thời gian để đưa ra câu trả lời xưa như diễm. Anh nói: "Tôi bắt đầu một cuộc điều tra. Tôi lập một ủy ban và tôi nói chuyện với tá lả các biên tập viên báo chí rồi biên tập viên tạp chí, và có lẽ tôi sẽ lên TV để ba hoa thêm vài câu, và ủy ban của tôi sẽ tổ chức vô số buổi họp—"

Burris nói: "Chính xác."

Bị cuốn theo câu chuyện, Malone nói tiếp: "Và chúng tôi nói nhảm rất nhiều trong các cuộc họp, thu hút đủ thứ tiếng tăm đình đám, rồi chúng tôi trát đòi hầu tòa những nhân vật nổi tiếng nhất có thể, nổi tiếng hết mức luôn, trừ các thống đốc hay tổng thống ra, bởi vì cậu không thể làm thế—họ đã thử trò đó hồi thập niên 50 rồi, và nó chẳng mang lại kết quả khả quan cho lắm—và điều đó mang lại cho chúng tôi thêm chút tiếng tăm nữa, rồi đến khi chúng tôi đã có đủ mọi thứ tiếng tăm trên đời—"

Burris vội vã cắt ngang: "Cậu dừng lại."

Malone nói: "Đúng thế. Chúng tôi dừng lại. Và đó là những gì tôi sẽ làm."

Burris nói: "Dĩ nhiên, vấn đề kém hiệu quả vẫn y nguyên ở cái chỗ vốn có của nó. Chẳng có gì được giải quyết cả."

Malone nói: "Đương nhiên rồi. Nhưng hãy nghĩ đến ngần ấy thứ tiếng tăm ngọt ngào xem. Rồi cả tá lời hay ý đẹp nữa chứ. Rồi giấy triệu tập rồi ủy ban các thứ."

Burris mệt mỏi đáp: "Chắc chắn rồi. Chuyện đó xảy ra cả ngàn lần rồi. Nhưng, Malone, đó chính là điểm khác biệt. Lần này thì không như thế."

Có một khoảng lặng ngắn. Cuối cùng Malone cũng cất lời: "Ý ngài là sao?"

Burris nói, với giọng điệu gần như kinh ngạc: "Lần này, bọn họ muốn giữ kín chuyện đó."

Malone chớp mắt: "Giữ kín ư? Nhưng thế thì... thế thì đâu phải phong cách Mỹ."

Burris nhún vai. "Dù sao thì điều đó cũng phi nghị sĩ tính. Nhưng bọn họ đã làm thế đấy. Lón tởn đến chỗ tôi và thì thầm nho nhỏ rằng vụ việc này cần phải được điều tra trong âm thầm. Dĩ nhiên, bọn họ chẳng ra lệnh cho tôi điều gì cả—nhưng chỉ vì bọn họ biết rằng mình chẳng thể ép buộc được tôi. Họ chỉ gợi ý một cách khá kiên quyết thôi."

Malone hỏi: "Có lý do gì không?" Toàn bộ ý tưởng đó khiến anh thấy tò mò một cách kỳ lạ. Thật kỳ quặc—và gần đây anh nhận ra mình lại đâm ra thích những vụ án kỳ quặc. Ý anh là, anh vội vã đính chính, miễn là chúng không quá kỳ quặc.

Burris nói: "Ồ, họ có lý do chứ, chắc chắn rồi. Phải nài nỉ đôi chút, nhưng cuối cùng tôi cũng cạy ra được vài điều. Cậu thấy đấy, mỗi người trong số họ đều phát hiện ra sự kém hiệu quả trong chính bộ phận của mình. Và ai cũng biết rằng những người khác cũng đang điều tra về sự kém hiệu quả."

Malone nói: "Ồ."

Burris nói: "Đúng thế. Mọi người đều đến gặp tôi để nhờ tôi chứng minh rằng những vụ bê bối trong bộ phận riêng của họ không phải lỗi của họ. Điều đó giúp họ thủ sẵn đường lỡ như một trong số kia lỡ chọc gậy bánh xe vào bộ phận đó."

Malone nói: "Chà, thế thì thế nào cũng phải là lỗi của ai đó chứ."

Burris mệt mỏi đáp: "Không phải lỗi của họ. Tôi phải biết chứ. Chính họ đã nói với tôi thế. Nói dài lê thê luôn đấy, Malone."

Malone cảm thấy nhói lên một niềm thương cảm chân thành. Anh hỏi: "Tính đến giờ thì có mấy người rồi?"

Burris nói: "Sáu. Bốn hạ nghị sĩ, và hai thượng nghị sĩ."

Malone nói: "Chỉ có hai người thôi sao?"

Burris nói: "Chà, Thượng viện ít người hơn nhiều mà. Và ngoài ra, chúng ta có thể sẽ tóm được thêm. Thực ra thì, Thượng nghị sĩ Lefferts tính ra còn có giá trị hơn cả sáu vị hạ nghị sĩ gộp lại ấy chứ."

Malone ngơ ngác hỏi: "Thật ạ?" Thượng nghị sĩ Lefferts không phải là một trong những nhân vật mà anh ưa thích cho lắm. Và theo như anh biết, vị thượng nghị sĩ có phần dễ kích động này cũng chẳng chiếm giữ vị trí danh dự nào trong trái tim của Andrew J. Burris cả.

Burris nói: "Ý tôi là câu chuyện của lão ta ấy. Tôi chưa từng nghe thấy điều gì giống thế bao giờ—ít ra là từ thời của Bilbo tới nay. Và tôi cũng chỉ nghe kể lại về thời đó thôi," ông vội vã nói thêm.

Malone nói: "Câu chuyện gì cơ? Lão ta nói về sự kém hiệu quả..."

Burris cẩn thận đáp: "Không hẳn thế. Lão ta bảo rằng có kẻ đang nhăm nhe hạ bệ lão—hạ bệ cá nhân lão ấy. Lão ta bảo có kẻ đang cố gắng bôi nhọ danh dự của lão bằng cách phá hoại tất cả các kế hoạch lập pháp của lão."

Cảm thấy cần phải đưa ra bình luận gì đó, Malone nói: "Chà, xin ba lần hoan hô."

Burris cáu kỉnh đáp: "Vấn đề không nằm ở chỗ đó. Dù chúng ta cảm nhận thế nào về Thượng nghị sĩ Lefferts hay các kế hoạch lập pháp của lão đi nữa, chúng ta vẫn tuyên thệ phải bảo vệ lão. Và lão ta thì khẳng định 'bọn chúng' đang lùng bắt lão."

Malone hỏi: "Bọn chúng?"

Burris nhún vai nói: "Cậu biết đấy. Cái đám 'bọn chúng' vĩ đại ấy. Những kẻ thù vô hình quanh quẩn khắp nơi, đang tìm cách chống lại lão."

Malone nói: "Ồ. Bệnh hoang tưởng à?" Anh vẫn luôn nghĩ Thượng nghị sĩ Lefferts có hơi hướm dở hơi, và ý tưởng về một chứng hoang tưởng thực thụ cũng không đến nỗi quá bất ngờ đối với anh. Xét cho cùng, khi một kẻ đã dở hơi sẵn từ đầu... mà lão ta trông lại còn giống như ma cà rồng nữa chứ, Malone bối rối nghĩ.

Burris nói: "Về khoản hoang tưởng thì tôi đã kiểm tra với một chuyên gia tâm lý của chúng ta rồi, và hắn ta sẽ xác nhận điều đó. Hắn bảo Lefferts có xu hướng hoang tưởng rõ rệt."

Malone nói: "Thế thì rõ rồi nhé."

Burris lắc đầu. "Mọi chuyện không đơn giản thế đâu," ông nói. "Cậu thấy đấy, Malone, có một số bằng chứng cho thấy thực sự có kẻ đang chống lại lão."

Malone nói: "Công chúng Mỹ đấy, nếu chúng ta gặp chút may mắn."

Burris nói: "Không. Một kẻ thù hẳn hoi. Có kẻ đang phá hoại các kế hoạch của lão. Thực sự luôn ấy chứ."

Malone lắc đầu. "Ngài điên mất rồi," anh nói.

Burris tỏ ra bị xúc phạm. "Malone, tôi là Giám đốc FBI đấy," ông nói. "Và nếu cậu cứ khăng khăng tỏ thái độ hỗn xược..."

Malone lẩm bẩm: "Xin lỗi ngài. Nhưng mà—"

Burris chậm rãi nói: "Tôi hoàn toàn tỉnh táo. Chính Thượng nghị sĩ Lefferts mới là kẻ điên. Rắc rối duy nhất là, lão ta có bằng chứng để chứng minh rằng mình không điên."

Malone nghĩ về những vụ án kỳ quặc, và chợt ước gì mình đang ở một nơi nào đó khác. Bất cứ nơi nào cũng được. Vụ này đang cho thấy những dấu hiệu đột ngột biến thành một thứ gì đó vô cùng kỳ dị. Anh nói: "Tôi hiểu rồi," dù tự hỏi liệu mình có thực sự hiểu không.

Burris nói, bằng một giọng cố ra vẻ hợp lý: "Suy cho cùng, một kẻ hoang tưởng cũng có quyền bị bức hại giống như bất kỳ ai khác chứ, phải không?"

Malone đáp: "Chắc chắn rồi. Ai cũng có quyền của mình cả. Nhưng ngài muốn tôi làm gì về chuyện đó cơ chứ?"

Burris nói: "Về quyền lợi của họ á? Không gì cả, Malone. Không gì sất."

Malone kiên nhẫn nói: "Ý tôi là, về bất cứ cái quái gì đang diễn ra ấy."

Burris hít một hơi thật sâu. Hai tay đan sau gáy, ông ngước nhìn lên trần nhà. Trông ông hoàn toàn thư thái. Malone thừa biết đó là một điềm gở. Điều đó có nghĩa là sắp có một công việc bẩn thỉu giáng xuống đầu, một việc chẳng ai muốn làm, và Burris thì quyết tâm đùn đẩy nó cho anh. Anh thở dài và cố gắng ra vẻ phó mặc cho số phận.

Giám đốc FBI cất giọng: "Chà, rắc rối thực tế duy nhất mà chúng ta có thể chỉ ra là dường như có rất nhiều lỗi đang xuất hiện trong hệ thống giấy tờ—nhiều hơn bình thường."

Malone ướm hỏi: "Con người ta thì có lúc mệt mỏi mà."

Burris đáp: "Nhưng mấy cỗ máy tính kiêm thư ký tính toán thì không mệt. Và lỗi xuất hiện chính ở đó—trong những cỗ máy tính kiêm thư ký ở Tòa nhà Văn phòng Thượng viện. Tôi nghĩ tốt hơn là cậu nên bắt đầu điều tra từ ngoài đó."

Malone buồn bã nói: "Vâng."

Burris dặn: "Hãy xem có lỗi cơ khí hay điện đóm nào trong số những cỗ máy tính đó không. Nói chuyện với các kỹ thuật viên máy tính. Tìm xem cái quái gì đang gây ra tất cả những lỗi lầm này."

Malone đáp: "Tuân lệnh ngài." Anh vẫn đang cố gắng ra vẻ phó mặc, nhưng xem chừng chẳng thành công cho lắm.

Burris bắt đầu: "Và nếu cậu không tìm ra cái gì—"

Malone lập tức tiếp lời: "Tôi sẽ quay lại đây ngay lập tức."

Burris nói: "Không. Cậu cứ tiếp tục tìm kiếm."

"Tôi á?"

Burris nói: "Cậu chứ ai. Suy cho cùng, thế nào cũng phải có gì đó bất ổn chứ."

Malone nói: "Chắc chắn rồi, nếu ngài đã nói thế. Nhưng mà—"

Burris nói: "Vẫn còn những cuộn băng phỏng vấn, và các báo cáo mà mấy vị nghị sĩ mang đến. Cậu có thể xem qua những thứ đó."

Malone thở dài. "Chắc phải thế thôi," anh nói.

Burris nói: "Và chắc chắn còn hàng ngàn việc khác phải làm nữa."

Malone thận trọng bắt đầu: "Chà—"

Burris hào hứng nói: "Cậu sẽ nghĩ ra được khối việc thôi. Tôi biết là cậu sẽ nghĩ ra mà. Tôi đặt niềm tin ở cậu, Malone. Tin tưởng tuyệt đối."

Malone buồn bã nói: "Cảm ơn ngài."

Burris nói: "Cậu cứ thỉnh thoảng cập nhật cho tôi về những việc cậu đang làm, và những ý tưởng cậu thu lượm được nhé. Tôi phó thác toàn bộ vụ này vào tay cậu đấy, Malone, và tôi chắc chắn cậu sẽ không làm tôi thất vọng đâu."

Malone nói: "Tôi sẽ cố gắng."

Burris niềm nở đáp: "Tôi biết cậu sẽ làm được mà. Và dù mất bao lâu đi nữa—tôi biết cậu sẽ thành công."

Malone ngập ngừng hỏi: "Dù mất bao lâu cơ á?"

Burris nói: "Đúng thế! Cậu làm được mà, Malone! Cậu thừa sức làm được."

Malone chậm rãi gật đầu. Anh nói: "Hy vọng là thế. Chà, tôi... chà, vậy tôi sẽ bắt đầu ngay đây."

Anh quay người định đi. Trước khi anh kịp nhúc nhích thêm bước nữa, Burris đã lên tiếng: "Đợi đã!"

Malone quay lại, trong mắt ánh lên tia hy vọng. Anh hỏi: "Vâng, thưa ngài?"

Burris bắt đầu: "Khi cậu rời khỏi đây—" và tia hy vọng liền vụt tắt, "làm ơn hãy làm cho tôi một ơn nhỏ. Chỉ một ơn nhỏ này thôi, bởi vì tôi là một lão già mệt mỏi và chẳng còn quen với mấy chuyện này nữa rồi."

Malone đáp: "Chắc chắn rồi. Gì cũng được, Sếp ạ."

"Đừng có gọi tôi là—"

Malone nói: "Xin lỗi ngài."

Burris thở hắt ra một hơi nặng nhọc. Ông nói: "Khi cậu đi, xin cậu đấy, hãy làm ơn dùng cái cửa."

"Nhưng mà—"

Burris nói: "Malone, tôi đã cố gắng rồi. Tôi thực sự đã cố gắng đấy. Tin tôi đi. Tôi đã cố tập làm quen với việc cậu có khả năng dịch chuyển tức thời. Nhưng mà—"

Malone nói: "Nó rất có ích, trong công việc của tôi."

Burris nói: "Tôi thấy rõ điều đó chứ. Và tôi không muốn cậu... à, phải ngừng làm việc đó. Không đời nào. Chỉ là nó cứ làm tôi thấy chồn chồn ở gan ruột, nếu cậu hiểu ý tôi. Dù việc FBI có một điệp viên khả năng di chuyển tức thời từ nơi này sang nơi khác tiện lợi đến đâu đi nữa, thì nó vẫn cứ làm tôi phát hoảng." Ông thở dài. "Tôi không thể quen nổi với cảnh cậu biến mất cứ như một cục xà phòng đã khô quắt lại, Malone ạ. Nó gây cho tôi một cảm giác kỳ quặc lắm—ở đây này." Ông đặt một bàn tay thẳng lên vùng xương ức của mình và lại thở dài.

Malone nói: "Tôi có thể hiểu được điều đó. Bản thân tôi cũng phát hoảng trong lần đầu tiên nhìn thấy nó. Tôi cứ tưởng mình sắp điên đến nơi khi mà đứa nhóc đó—Mike Fueyo—biến mất tăm nhanh như một ánh chớp. Nhưng rồi chúng tôi đã tóm được nó, và một số điệp viên FBI ngoài tôi ra cũng học được ngón nghề đó." Anh dừng lại ở đây, tự hỏi liệu mình có đang kém tế nhị không. Suy cho cùng, việc học dịch chuyển tức thời đòi hỏi một năng lực tiềm ẩn, và một số người có sẵn khả năng đó, trong khi số khác thì không. Malone, cùng với một vài điệp viên khác, là có sẵn. Burris rõ ràng là không có—thế nên ông chẳng thể dịch chuyển tức thời nổi, cho dù có cố gắng đến mấy hay tham gia bao nhiêu lớp học đi chăng nữa.

Burris nói: "Chà, tôi vẫn thấy phát hoảng. Thế nên... làm ơn đi, Malone... khi cậu bước vào đây, hay đi ra ngoài, hãy dùng cửa. Được chứ?"

Malone đáp: "Vâng, thưa ngài." Anh quay người và bước ra ngoài. Khi vừa mở cửa ra, anh suýt nghe thấy tiếng thở phào nhẹ nhõm của Burris. Sau đó, anh đập sập cửa lại phía sau, và với cảm giác rằng mình cứ tiếp tục sống cuộc đời gắn liền với không gian ba chiều thì hơn, anh đi bộ suốt một mạch đến thang máy, rồi bấm nút xuống tầng dưới cùng để đến các phòng thí nghiệm của FBI.

Các phòng thí nghiệm, cực kỳ hiệu quả và được chia thành hàng chục bộ phận, chiếm trọn vài tầng lầu. Malone đi qua khu vực Dấu vân tay, nơi đầy ắp các kỹ thuật viên đang làm những việc kỳ lạ với những biểu đồ và phiến kính khổng lồ, đồng thời cau mày trước những mảnh vật liệu và bức ảnh nhỏ xíu. Tiếp theo là khu vực Phát hiện Giả mạo, liên quan đến nhiều kỹ thuật viên hơn nữa, nhiều phiến kính, biểu đồ, mảnh vật liệu nhỏ xíu và ảnh ọt hơn nữa, thậm chí có cả một hoặc hai nhân chứng đang ngồi trên chiếc ghế băng màu trắng ở một bên với vẻ mặt lạc lõng và có phần dân sự thế nào ấy. Kế đó là Phòng Nhận dạng Mật, một căn phòng rộng lớn như cái kho chứa đầy các tệp chỉ mục. Chỉ mục thực sự nằm ở tầng hầm phụ; ở đây, trên các cuộn vi phim, chỉ có các phân khu cơ bản. Một người đàn ông đang đứng trước một trong các tủ hồ sơ, cau mày nhìn nó. Malone cứ thế đi thẳng qua mà không dừng lại.

Kế tiếp là khu Phân loại Phẫu thuật Thẩm mỹ. Ở đây có nhiều chỉ mục hơn, và cũng có cả biểu đồ lẫn phiến kính. Có một điệp viên FBI đang ngồi trên băng ghế với vẻ mặt chán chường trong khi hai nữ kỹ thuật viên—mà trong tâm trí Malone được xếp vào loại O&U tức Già và Xấu (Old and Ugly)—đang lượn lờ xung quanh anh ta, bàn tính xem có những lớp cải trang nào khả thi, và cái nào trong số đó phù hợp cho công việc cụ thể đang tiến hành. Malone vẫy tay chào viên điệp viên nọ, người mà anh chỉ quen sơ sài, rồi đi tiếp. Anh cảm thấy hơi tiếc nuối vì FBI không thể tuyển những cô gái xinh xắn hơn cho Phân Vụ Phẫu thuật Thẩm mỹ, ngặt một nỗi là các cô gái xinh đẹp thường đem lòng cảm mến các điệp viên—và ngược lại—điều này dẫn đến một xu hướng đáng tiếc là chỉ toàn tạo ra những lớp cải trang bảnh bao và nam tính. Anh kết luận rằng Phân khu O&U thật đáng tiếc, nhưng lại là một sự cần thiết.

Tiếp theo là khu Phân tích Hóa học (III). Bộ phận Phân tích Hóa học nằm rải rác trên vài tầng lầu, với các công đoạn đầu tiên ở các tầng trên. Malone nhớ rằng Phân khu III chuyên về các chất không độc hại—như đất sét hoặc cát dính trong giày hay gấu quần, tàn thuốc lá và những thứ tương tự. Chúng được bố trí cùng tầng với khu Dấu vân tay để cho phép việc qua lại tự do và thường xuyên giữa các bộ phận nhằm giải quyết các vấn đề về vết hằn dẻ—được tạo ra trong đất sét hoặc các chất tương tự—và vết hằn có thể nhìn thấy được, xuất hiện khi bàn tay dính một chất có thể nhìn thấy như máu, sốt cà chua hoặc keo dán.

Malone tìm thấy thứ mình đang cần ở tận cùng dãy hành lang của tầng đó. Đó là Phòng Máy tính, một căn phòng lớn tràn ngập tiếng vo ve, lách cách và rì rầm của những cỗ máy đời cổ, đang lầm bầm với chính mình khi làm việc, cùng với những cỗ máy mới hơn, nhỏ gọn và tĩnh lặng hơn. Đèn đang chớp sáng và chuông reo nhè nhẹ, các rơ-le đang đóng ngắt và toàn bộ căn phòng là một mê cung khổng lồ gồm các cỗ máy tính toán và điều khiển. Không gian nào không bị chiếm bởi chính những cỗ máy thì được lấp đầy bởi các bàn làm việc, tất cả đều ngổn ngang đủ loại bánh răng, ống điện tử, rơ-le dự phòng, tranzito, dây điện, thanh kim loại, bu-lông, điện trở và tất cả các trang thiết bị phụ trợ khác dùng để chế tạo và sửa chữa máy móc. Phía sau căn phòng chính là những căn phòng nhỏ hơn, mỗi phòng được giao phó một loại công việc máy tính cụ thể.

Những lối đi hẹp thỉnh thoảng lại bị tắc nghẽn bởi những người đàn ông ngẩng đầu lên nhìn khi Malone đi ngang qua, nhưng hầu hết bọn họ chỉ liếc nhanh một cái rồi lại cắm cúi làm việc tiếp. Một số ít thậm chí còn chẳng buồn làm thế, mà tiếp tục tập trung vào công việc của mình. Malone tiến thẳng về phía một người đàn ông đang làm việc một mình trước chiếc bàn làm việc, cau mày nhìn xuống một cơ cấu phức tạp trông chẳng rõ đầu đuôi ra sao, và đang dùng một chiếc tuốc-nơ-vít dài, mảnh chọc ngoáy vào nó. Người đàn ông này cũng gầy, nhưng không dài cho lắm; anh ta hơi thấp hơn chiều cao trung bình, có mái tóc đen thẳng, cặp kính dày cộp và vẻ mặt mọt sách, ngay cả khi đang cau mày. Trông anh ta cứ như thể cơ cấu kia là một học sinh cúp học quá nhiều, và anh ta đang tỏ ra vừa ân cần vừa cứng rắn với nó.

Malone rướn người đến bên cạnh người đàn ông nọ, rồi hắng giọng kín đáo. Không có phản hồi.

"Fred?" anh gọi.

Cây tuốc-nơ-vít nhúc nhích một chút. Malone không chắc lắm là người đàn ông này có đang thở hay không.

"Fred Mitchell," anh gọi tiếp.

Mitchell không ngẩng đầu lên. Thêm một giây trôi qua.

"Này," Malone gọi. Sau đó anh nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. "Fred," anh nói với một giọng to rõ, nghe rất có lý có lẽ, "bộ dịch thuật của Bộ Ngoại giao vừa bắt đầu nói tiếng Latinh lóng rồi kìa."

Mitchell đứng bật dậy như thể vừa bị ai đó châm kim vào người. Cây tuốc-nơ-vít quơ loạn xạ trong không khí một giây, rồi chĩa thẳng vào Malone. Mitchell nói bằng một giọng đều đều, chuẩn xác: "Điều đó là bất khả thi. Đơn giản là bất khả thi. Nó không có mạch dịch tiếng Latinh lóng. Nó hoàn toàn không thể—" Anh chớp mắt và có vẻ như bây giờ mới nhìn thấy Malone. "Ồ," anh nói. "Chào Malone. Tôi có thể giúp gì cho anh?"

Malone mỉm cười, cảm thấy có chút đắc thắng vì đã phá vỡ được lớp giáp của Mitchell—thứ gần như không thể xuyên thủng mỗi khi anh ta đang bận việc. "Tôi đã đứng đây nói chuyện với anh nãy giờ đấy."

"Ồ, vậy à?" Mitchell nói. "Tôi bận." Rõ ràng là câu trả lời đó đã giải thích tất cả. Malone nhún vai.

"Tôi muốn anh giúp tôi kiểm tra vài cỗ máy tính, Fred," anh nói. "Chúng tôi nhận được một số báo cáo rằng một vài cỗ máy của chính phủ đang hỏng hóc, và tôi muốn anh kiểm tra giúp tôi."

Fred Mitchell nói: "Hỏng hóc á? Không, anh có thể quên chuyện đó đi. Hoàn toàn không cần thiết phải kiểm tra đâu—tin tôi đi. Tuyệt đối không. Quên nó đi." Anh chợt mỉm cười. "Chắc đây là trò đùa nào đó phải không?" anh nói, với một chút hoài nghi. Malone biết rằng thế giới của Fred Mitchell, dẫu dễ chịu, nhưng lại chẳng có mấy chỗ cho sự hài hước. Anh nói bằng chính cái giọng đều đều, chuẩn xác ấy: "Chắc là người ta cố tình pha trò đấy."

Malone nói: "Chẳng có gì buồn cười cả."

Fred thở dài. "Thế thì rõ ràng là bọn chúng đang nói dối," anh nói, "và thế là hết chuyện. Sao cứ phải làm phiền tôi với mấy thứ đó cơ chứ?"

Fred nói: "Chắc chắn rồi." Anh thèm thuồng nhìn đống máy móc.

Malone hít một hơi. "Sao anh biết chắc thế?" anh hỏi.

Fred thở dài. Với một giọng điệu kiên nhẫn, anh nói: "Rõ mười mươi còn gì. Vì bộ dịch thuật của Bộ Ngoại giao không có mạch tiếng Latinh lóng, nên nó đời nào nói được tiếng Latinh lóng. Tôi thừa nhận rằng việc chế tạo một mạch như vậy là tương đối dễ dàng, dù nó chẳng có mấy tiện ích gì sất theo như tôi thấy. Trừ phi, tất nhiên là dùng để pha trò." Anh khựng lại. Với một giọng điệu hơi bất an, anh hỏi: "Trò đùa á?"

Malone nói: "Chắc chắn rồi. Trò đùa."

Mitchell trông có vẻ nhẹ nhõm. Anh bắt đầu: "Vậy thì tốt thôi. Vì—"

Malone nói: "Khoan đã. Chuyện tiếng Latinh lóng chỉ là một trò đùa. Đúng thế. Nhưng tôi không đang nói về tiếng Latinh lóng."

Mitchell ngạc nhiên hỏi: "Anh không nói về cái đó à?"

Malone đáp: "Không."

Mitchell cau mày. Anh bắt đầu: "Nhưng anh vừa nói là—"

Malone nói: "Một trò đùa. Anh nói hoàn toàn chính xác. Vụ tiếng Latinh lóng chỉ là trò đùa." Anh đợi cho nét mặt Fred giãn ra, rồi bồi thêm: "Nhưng điều tôi muốn nói với anh thì không phải trò đùa."

Sau một khoảng lặng, Fred nói: "Nghe có vẻ lú lẫn quá nhỉ. Hoàn toàn chẳng giống cái kiểu... cái kiểu vẫn hay xảy ra thường ngày chút nào."

Malone nói: "Anh chẳng thể tượng tượng nổi đâu. Vụ này dính đến mấy cỗ máy chính trị đấy, đúng thế, nhưng chẳng có gì đơn giản như tiếng Latinh lóng đâu." Anh giải thích, thong thả kể đầu đuôi mọi chuyện.

Khi anh dứt lời, Fred đã chầm chậm gật đầu. Anh nói: "Tôi hiểu rồi. Tôi hiểu chính xác những gì anh muốn tôi làm."

Malone nói: "Tốt lắm."

Fred nói: "Tôi sẽ dẫn một đội sang Tòa nhà Văn phòng Thượng viện, và kiểm tra mấy cỗ máy tính kiêm thư ký ở đó. Bằng cách đó, anh thấy đấy, tôi có thể tiến hành kiểm tra vận hành toàn diện trên chúng mà không phải tháo rời bất kỳ cỗ máy nào ra quá lâu."

Malone nói: "Chắc chắn rồi."

Fred nói tiếp: "Và sẽ không mất nhiều thời gian để tìm ra nguyên nhân gây rắc rối đâu." Trông anh ta rất tự tin.

Malone hỏi: "Mất bao lâu?"

Fred nhún vai. Anh đáp: "Ồ, năm hoặc sáu ngày."

Malone nén lại một cơn muốn thét lên. Anh kêu lên: "Ngày á? Ý tôi là... này Fred, vụ này quan trọng lắm. Cực kỳ quan trọng. Anh không thể làm nhanh hơn được chút nào sao?"

Fred khẽ thở dài. Anh nói: "Việc kiểm tra và sửa chữa tất cả những cỗ máy đó là một công việc cực kỳ phức tạp. Đôi khi, Malone ạ, tôi nghĩ anh không nhận thức được công việc xử lý một cỗ máy cấp cao như thế này phức tạp và tinh vi đến mức nào đâu. Tại vì—"

Malone nói: "Khoan đã. Kiểm tra và sửa chữa cơ à?"

Fred nói: "Dĩ nhiên rồi."

Malone nói: "Nhưng tôi có bảo sửa chúng đâu." Thấy vẻ mặt hoảng hốt của Fred, anh vội vã đính chính: "Tôi chỉ muốn anh làm báo cáo cho tôi xem có gì hỏng hóc, liệu chúng có thực sự đang gây lỗi hay không thôi. Và nếu chúng gây lỗi, thì chính xác cái gì khiến chúng làm thế. Rồi chúng gây ra những loại lỗi gì nữa. Hiểu chứ?"

Fred gật đầu rất chậm. Anh ta thảm thiết nói: "Nhưng tôi đâu thể cứ... cứ bỏ mặc chúng ở đó chứ. Trong tình trạng... tháo tung tóe các thứ thế kia. Thế là không được đâu, Malone. Không thể làm thế được."

Malone hừng hực khí thế đáp: "Chà, thế thì," anh nói, "anh cứ việc tiến hành sửa chữa chúng đi, nếu anh muốn. Sửa hết tất cả luôn. Nhưng anh có thể làm việc đó sau khi nộp báo cáo cho tôi cơ mà, phải không?"

Fred ngập ngừng: "Tôi—tôi đã định kiểm tra và sửa chữa từng cỗ máy một—"

Malone nói: "Quốc hội có thể châm chước cho việc tạm ngưng hoạt động trong thời gian ngắn. Dù sao thì họ cũng có thể làm thế lúc này—hoặc ngay khi tôi chuyển thông báo đến họ. Hay là anh cứ kiểm tra tất cả các cỗ máy trước đi, rồi quay lại làm phần việc sửa chữa sau."

Fred phản đối: "Đó không phải là cách tối ưu."

Malone chợt nhận ra đến lượt mình phải thở dài. Anh hỏi: "Đó có phải là cách nhanh nhất không?"

Fred gật đầu.

Malone phán: "Thế thì đó là cách tối ưu. Mất bao lâu?"

Fred đảo mắt lên trần nhà, thầm tính toán trong một giây. Dời ánh mắt trở lại phía Malone, anh ta tuyên bố: "Sáng mai."

Malone nói: "Tuyệt. Quá tuyệt."

"Nhưng mà—"

Malone vội vã cắt ngang: "Khỏi cần nhưng nhị gì hết. Tôi sẽ chờ tin anh vào sáng mai đấy."

Fred đáp: "Ồ—được thôi."

Malone nói thêm: "Và nếu trông có vẻ như bị phá hoại—nếu mấy lỗi đó không phải do hao mòn thông thường gây ra—anh hãy báo cho tôi ngay lập tức. Gọi điện cho tôi. Đừng lãng phí dù chỉ một giây."

Fred nặng nề đáp: "Tôi... tôi sẽ bắt đầu ngay đây." Anh buồn bã nhìn cỗ máy mà mình vừa thao tác nãy giờ, rồi đặt chiếc tuốc-nơ-vít xuống bên cạnh nó. Trong mắt Malone, trông anh ta chẳng khác nào đang đặt hoa lên ngôi mộ của một người thân vừa qua đời. Fred nói thêm: "Tôi sẽ tập hợp một đội." Anh lưu luyến liếc cỗ máy và chiếc tuốc-nơ-vít lần cuối.

Malone đứng nhìn theo anh ta một giây, đầu óc chẳng nghĩ ngợi gì cụ thể, rồi quay ngoắt lại hướng ngược lại để đi về phía thang máy. Vừa bước đi, anh vừa cảm thấy vô cùng đắc ý với bản thân. Suy cho cùng, anh đã khơi mào được cuộc điều tra rồi còn gì?

Và giờ tất cả những gì anh phải làm là quay về văn phòng, đọc vài bản báo cáo cùng mấy cuộn băng phỏng vấn, rồi sau đó là có thể về nhà.

Malone thầm nghĩ, mấy bản báo cáo với băng phỏng vấn nghe chừng chẳng có vẻ gì là vui thú cho lắm, nhưng đồng thời chúng cũng khá vô hại. Anh sẽ nghiến răng nghiến lợi xử lý cho xong đợt việc đó, và có lẽ anh sẽ tự thưởng cho mình bằng cách phá lệ thói quen ngầm giấu giếm—hút một hoặc hai điếu xì-gà cho công việc trôi chảy hơn. Anh tự nhủ, chẳng mấy chốc là xong xuôi hết thôi.

Tuy nhiên, đôi lúc anh vẫn thấy hối hận vì cái tiếng tăm mà mình vừa vớ lấy. Thời gian trước đã đủ tệ lắm rồi—những ngày trước năm 1971 khi Malone còn tưởng mình chỉ gặp may. Lúc ấy Burris từng gọi anh là Thần đồng khi anh liên tiếp phá giải ba vụ án khó nhằn. Việc chỉ gặp may khiến anh cảm thấy hơi khó sống chung với cái mác Thần đồng—suy cho cùng, Malone nghĩ, thực tế trông anh có làm được cái quái gì đâu.

Nhưng kể từ năm 1971 với vụ Gián điệp Đọc suy nghĩ, mọi chuyện ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Tồi tệ hơn rất nhiều. Giờ đây Malone không còn đơn thuần là gặp may nữa. Thay vào đó, anh có thể dịch chuyển tức thời và thậm chí còn có thể tiên tri tương lai một chút, theo một cách mơ hồ nào đó. Anh đã tóm gọn Gián điệp Đọc suy nghĩ bằng cách đó, và khi vụ Lũ Thiếu niên Dịch chuyển Tức thời xảy ra, anh cũng được giao phó trọng trách và đã phá án thành công. Giờ đây Burris dường như coi anh như một vị thần thánh nào đó, và cứ trút hết mấy công việc xương xẩu khó nhằn lên đầu anh.

Và nếu như anh không còn chỉ là kẻ ăn may nữa, thì Malone cũng chẳng thể tự coi mình là một Điệp viên FBI Anh hùng, Bất khuất được. Anh hoàn toàn không phải cái tuýp người đó. Anh chỉ là—à thì, có tài năng. Anh tự nhủ, đó chính là từ ngữ chính xác: tài năng. Anh sở hữu tất cả những tài năng này và chúng khiến anh trông có vẻ thật phi thường trong mắt Burris cùng các điệp viên FBI khác. Nhưng thực ra anh đâu có thế. Anh chẳng làm gì quá gian khổ để có được những tài năng đó; chúng cứ thế tự giáng xuống đời anh thôi.

Thế nhưng, chẳng có ai tin điều đó cả. Anh thở dài một hơi nhẹ rồi bước vào chiếc thang máy đang chờ sẵn.

Suy cho cùng, anh nghĩ, lúc nào cũng có những sự bù đắp xứng đáng. Anh đã có những khoảng thời gian tuyệt vời, và những tài năng đó quả thực rất hữu dụng. Gần đây anh còn được quyền ưu tiên lựa chọn lịch nghỉ mát nữa chứ. Và anh đã gặp gỡ được một vài cô gái đáng yêu—

Và ngoài ra, anh dữ tợn tự nhủ khi chiếc thang máy phóng vút lên cao, anh sẽ chẳng làm gì sất ngoài việc quay về văn phòng, đọc vài bản báo cáo và nghe dăm cuộn băng ghi âm. Sau đó anh sẽ về nhà và đánh một giấc bình yên suốt cả đêm. Đến sáng mai Mitchell sẽ gọi điện cho anh và thông báo rằng mấy cỗ máy tính kiêm thư ký chẳng hỏng hóc gì ghê gớm ngoài việc cần sửa chữa đôi chút. Anh ta sẽ bảo chúng đang dần trở nên già cỗi, và sẽ tỏ ra hơi bi ai một cách tội nghiệp; nhưng chẳng có gì nghiêm trọng cả. Malone sẽ ban hành lệnh sửa chữa máy móc, và thế là xong chuyện. Rồi vụ án tiếp theo sẽ là một thứ gì đó vừa bình thường vừa kích thích, chẳng hạn như một vụ cướp ngân hàng hoặc một vụ bắt cóc liên quan đến một ả tóc vàng tuyệt mỹ—người sẽ vô cùng biết ơn Malone đến mức mà—

Anh đã bước ra khỏi thang máy và đi dọc hành hành lang từ lúc nào mà chẳng hề hay biết. Anh đẩy cửa phòng làm việc của mình và bước vào căn phòng ngoài. Trò đời thật lắm mộng mơ, anh tự nhủ, dòng suy nghĩ mà anh vừa thả trôi thật tuyệt vời và nghe vô cùng hấp dẫn.

Đáng tiếc là, anh chẳng tin vào nó chút nào.

Năng lực tiên tri của anh, vẫn vận hành với vẻ tự tin hiệu quả thường lệ, mách bảo Malone rằng mọi chuyện sẽ không hề khá khẩm hơn, hay đơn giản hơn vào buổi sáng ngày mai. Chúng sẽ tồi tệ hơn, và rắc rối hơn.

Chúng sẽ còn tệ hơn rất nhiều.

Và, cũng như mọi khi, khả năng tiên tri đó hoàn toàn chính xác.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Randall Garrett And Laurence M. Janifer

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.