Điệp Viên Của Czar: Bí Ẩn Mối Tình Câm

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Trò Chơi Hai Mặt Và Hậu Quả

❊ ❊ ❊

Tôi đến nhà ga xe lửa, và qua bảng giờ tàu chạy, tôi biết rằng nếu rời Abo bằng đường sắt vào buổi trưa, tôi có thể tới Petersburg trước trưa ngày hôm sau một tiếng, tức sớm hơn chừng bốn giờ trước khi chiếc tàu hơi nước chở cô gái câm cùng bạn đồng hành của cô cập bến. Tôi quyết định sẽ đi chuyến đó, nhưng trước khi khởi hành, tôi ghé qua thăm bạn tôi, Boranski. Thật bất ngờ và vui mừng khôn xiết, ông ấy trao lại cho tôi chiếc ví tiền với bức thư của Sa hoàng vẫn còn nguyên vẹn, bảo rằng người ta vừa tìm thấy nó trên người một tên trộm người Đức bị bắt tại bến cảng đêm qua. Hẳn gã đó đã móc túi tôi vì đinh ninh tôi cất tiền giấy trong ngăn gập.

“Vụ cô nương người Anh quả là một chuyện vô cùng kỳ lạ,” viên Cảnh sát trưởng nhận xét, tay nghịch cây bút khi ngồi bên chiếc bàn lớn. “Có vẻ như cô ta gặp gã người Anh này ở tận Tammerfors, hoặc một nơi nào đó xa hơn về phía bắc, thế nhưng thật lạ là hộ chiếu của cô ta lại hoàn toàn hợp lệ, dẫu cho cô ta đã trốn chạy khỏi Kajana một cách vội vã như vậy. Việc cô ta biến mất khỏi căn lều của người tiều phu có một bí ẩn mà thú thật tôi không tài nào hiểu nổi.”

“Tôi cũng chịu,” tôi đáp. “Tôi biết người đàn ông đi cùng cô ấy, và không khỏi lo sợ rằng hắn chính là kẻ thù không đội trời chung của cô—rằng hắn đang thông đồng với viên Nam tước.”

“Vậy thì cớ sao hắn lại đưa cô ta tới thủ đô—vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn của ngài Tổng đốc?”

“Tôi đang đi thẳng tới Petersburg để làm sáng tỏ chuyện đó đây,” tôi nói. “Tôi chỉ ghé qua để cảm ơn lòng tốt của ông trong việc này. Thực lòng mà nói, tôi khá ngạc nhiên khi thấy ông lại bận tâm giúp đỡ tôi đến vậy,” tôi nói thêm, nhìn thẳng vào viên chức mặc sắc phục.

“Không phải vì cậu đâu, mà là vì cô ấy,” ông ta đáp, giọng có phần đầy ẩn ý. “Tôi biết đôi chút về sự vụ này, và bổn phận của một con người mách bảo tôi phải cứu giúp cô gái tội nghiệp ấy trốn thoát khỏi nơi kinh hoàng đó. Tôi biết cô ta bị kết án oan uổng vì tội mưu sát vợ một viên Tướng—tất nhiên là một bản án có chủ đích. Chuyện như thế chẳng phải là hiếm ở Phần Lan.”

“Thật ghê tởm!” tôi kêu lên. “Oberg đúng là một con quỷ dữ.”

Nhưng người đàn ông chỉ nhún vai, nói:

“Lệnh của ngài Tổng đốc thì phải tuân theo, bất kể đó là lệnh gì. Chúng tôi thường cảm thấy ân hận, nhưng chẳng dám cãi lời.”

“Sự cai trị của Nga là một nỗi sỉ nhục đối với nền văn minh hiện đại của chúng ta,” tôi bực tức tuyên bố. “Tôi hết lòng đồng cảm với những ai đang đấu tranh cho tự do.”

“À, cậu không đơn độc trong suy nghĩ đó đâu,” ông thở dài, thì thầm rất khẽ và đưa mắt nhìn quanh. “Bệ hạ hẳn sẽ ban lệnh cải cách và cải thiện đời sống thần dân, nếu như điều đó khả thi. Nhưng người, cũng như các quan chức của người, đều bất lực. Ở đây, chúng tôi chỉ dám nín thở nói về cuộc đại nổi dậy, nhưng than ôi, chúng tôi biết ngày ấy tất sẽ đến—rất sớm thôi—và Phần Lan sẽ là nơi đầu tiên vùng lên bẻ gãy xiềng xích—còn Nam tước Oberg sẽ là kẻ đầu tiên phải đền tội.”

Tôi ngồi lại với ông gần một tiếng đồng hồ, ngạc nhiên nhận ra rằng dù vẻ ngoài thô bạo và cộc cằn là thế, nhưng trái tim ông thực sự rỉ máu trước nỗi cơ hàn của những mảnh đời khốn khổ mà ông thường xuyên bị buộc phải đàn áp.

“Chính tay tôi đã hủy hoại thị trấn Abo này,” ông tuyên bố một cách hết sức thẳng thắn. “Theo chỗ tôi biết, có năm trăm người vô tội đã phải vào tù, và hai trăm người khác bị đày ải sang Siberia. Thế nhưng những việc tôi làm chỉ là chấp hành mệnh lệnh trực tiếp từ Helsingfors—những mệnh lệnh nghiệt ngã, tàn nhẫn và bất công. Đàn ông bị giật khỏi tay gia đình để tống vào các hầm mỏ, phụ nữ bị bắt giam vô cớ rồi đày biệt xứ tới Saghalien, còn những đứa trẻ con cũng bị tống ngục vì tội đồng lõa mưu phản chính trị với người lớn—tất cả chỉ cốt để Nga hóa xứ này! Có điều,” ông lo lắng nói thêm, “tôi mong cậu đừng bao giờ nhắc lại những gì tôi vừa nói. Cậu đã hỏi tại sao tôi lại giúp tiểu thư người Anh trốn thoát khỏi Kajana, và tôi đã giải thích lý do rồi đấy.”

Chúng tôi cùng nhau dùng một bữa ăn thịnh soạn tại Sampalinna, một nhà hàng xây theo kiểu nhà gỗ vùng Thụy Sĩ, và đúng giữa trưa, tôi bước lên tàu hỏa để bắt đầu chặng đầu tiên của cuộc hành trình chậm chạp, buồn tẻ qua những cánh rừng im lìm bạt ngàn và men theo bờ các hồ nước ở miền Nam Phần Lan, qua ngả Tavestehus và Viborg, để tới Petersburg.

Tôi ngồi một mình trong khoang, ủ rũ ngắm nhìn bức tranh toàn cảnh của rừng cây và sông nước khi con tàu chậm rãi uốn lượn leo lên những con dốc quanh co rồi lại lao xuống những triền dốc đứng. Tôi thậm chí không có lấy một tờ báo để giết thời gian, chỉ có những suy nghĩ đầy âu lo về việc người con gái tôi yêu trong cảnh bơ vơ không nơi nương tựa đang bị dẫn đi đâu.

Chắc hẳn chưa có người đàn ông nào từng phải đối mặt với một bài toán rắc rối đến thế như bài toán mà lúc này tôi đang dốc hết tâm lực tìm lời giải. Tôi yêu Elma Heath. Càng ngẫm nghĩ, gương mặt khả ái cùng vẻ duyên dáng dịu dàng của nàng càng khắc sâu vào trái tim tôi. Tôi yêu nàng, và bởi thế tôi phải gắng sức đuổi theo nàng.

Tôi được biết chiếc tàu hơi nước sẽ ghé qua Hango và Helsingfors. Liệu họ có lên bờ ở một trong hai nơi đó không? Liệu người đàn ông mà tôi từng biết dưới cái tên Hornby, chủ sở hữu con tàu Lola, có đang đưa nàng quay lại để đặt nàng vào bàn tay tàn độc của Xavier Oberg một lần nữa? Chỉ nghĩ đến điều đó thôi cũng đủ khiến tôi nghẹt thở.

Ánh ngày rốt cuộc cũng hé rạng, lạnh lẽo và xám xịt, trên những đầm lầy thê lương ngút tầm mắt, nơi các loài chim muông, đặc biệt là dẽ giun, dường như sinh sôi rất nhiều. Tại một ga nhỏ bên đầu hồ nước có tên Davidstadt, tôi uống ly trà buổi sáng; rồi chúng tôi tiếp tục hành trình xuôi về Viborg. Tại đây, một gã người Nga thấp đậm thuộc giới thương nhân, nhưng ăn vận có phần điệu đà, bước vào khoang của tôi, và con tàu tốc hành chuyển bánh hướng về Petersburg.

Chúng tôi đã đi qua một nhà ga nhỏ có tên Galitsina, gần đó có nhiều biệt thự mùa hè của các gia đình đến từ Petersburg, và đang lăn bánh qua những rừng thông rậm rạp u ám thì người bạn đồng hành của tôi, sau khi xin phép được hút thuốc, bắt đầu trò chuyện một cách cởi mở. Gã có vẻ là một người dễ mến, kể với tôi rằng gã là một thương nhân buôn len, vừa có một kỳ nghỉ thú vị đi câu cá hồi trên sông Vuoski phía trên thác Imatra, nơi các vũng nước giữa những ghềnh thác đầy ắp cá.

Gã kể rằng vì bờ sông quá nhiều cỏ dại và nước lại trong vắt nên việc câu cá từ trên bờ gần như là bất khả thi, và họ phải tập quen với việc thả mồi kéo từ một chiếc thuyền nhỏ hẹp chỉ đủ chỗ cho người chèo và người câu.

Rồi gã bất chợt nhận xét:

“Tôi đoán ngài là người Anh—chắc là đến từ Helsingfors?”

“Không,” tôi đáp. “Từ Abo. Tôi qua phà từ Stockholm sang, và đang trên đường đến Petersburg.”

“Tôi cũng vậy. Tôi sống ở Petersburg,” gã nói thêm. “Có lẽ một ngày nào đó chúng ta sẽ gặp lại. Ngài có biết thủ đô không?”

Tôi giải thích rằng mình đã từng đến đó một lần và đã đi tham quan hết những cảnh điểm thông thường. Cung cách của gã rất hoạt bát và dứt khoát, đúng kiểu người làm ăn, nhưng khi tàu dừng lại ở Bele-Ostrof, bên kia bờ con sông nhỏ uốn lượn ngăn cách Phần Lan với nước Nga thực thụ, viên chức hải quan đến khám hành lý của chúng tôi đã trao đổi với gã một ánh nhìn đầy ẩn ý kỳ lạ.

Người bạn đồng hành ngỡ rằng tôi không để ý, song lúc này tôi đang hết sức cảnh giác, đủ tinh tường để nhận ra từng dấu hiệu hay ánh mắt nhỏ nhất, và tôi lập tức hạ quyết tâm không hé răng thêm điều gì về chuyện riêng của mình với gã nữa. Hẳn gã là một mật thám của “Kẻ bóp nghẹt”, kẻ đã bám theo tôi suốt dọc đường từ Abo, và chỉ bước vào toa xe của tôi ở chặng cuối cùng của chuyến đi.

Phát hiện này khiến tôi có phần bất an, bởi dẫu tôi có cắt đuôi được gã khi đến Petersburg, gã vẫn có thể dễ dàng nắm được tung tích của tôi từ phía cảnh sát, nơi hộ chiếu của tôi bắt buộc phải nộp để kiểm tra. Tôi vờ chợp mắt, ngả lưng ra sau và khẽ khép mắt theo dõi gã. Thấy tôi không còn hứng thú trò chuyện, gã cầm tờ báo vừa mua lên và chăm chú đọc, trong khi về phần mình, tôi cố gắng vạch ra một kế hoạch để đánh lạc hướng và thoát khỏi sự rình rập của gã.

Tên này có ý đồ xấu—điều đó tôi biết chắc. Nếu Elma đang bí mật lẩn trốn mà gã lại theo dõi tôi, gã sẽ biết nàng đang ở Petersburg. Bằng mọi giá, vì sự an nguy của người tôi yêu cũng như của chính bản thân mình, tôi hiểu rằng tôi phải thoát khỏi gã. Sự quỷ quyệt và mưu mô của đám tay sai dưới trướng Oberg vốn đã khét tiếng khắp Phần Lan, do đó gã có thể không hành động đơn độc, hoặc trong bất kỳ trường hợp nào, khi tới Petersburg gã cũng sẽ có thêm tiếp viện để giám sát tôi. Tôi biết viên Nam tước muốn lấy mạng tôi, vì thế tôi không thể lơ là trước những cạm bẫy. Chiếc ghế tử thần được chuẩn bị hết sức xảo quyệt dành cho tôi ở Lambeth vẫn còn hiện rõ mồn một trong tâm trí.

Khi chúng tôi đi qua Lanskaya và chạy qua vùng ngoại vi của Petersburg, người bạn đồng hành bắt đầu dò hỏi xem tôi sẽ đi đâu, nhưng tôi tỏ ra khá thờ ơ và giả vờ bận rộn sắp xếp lại chiếc túi xách cho đến khi chúng tôi tiến vào ga cuối rộng lớn vang vọng tiếng động, từ nơi đó tôi có thể nhìn thấy dòng Neva lấp lánh dưới ánh nắng nhạt và thành phố trải dài phía bên kia. Gã chẳng hề có ý định bám theo tôi ngay—gã là một mật vụ quá khôn ngoan để làm cái việc lộ liễu ấy. Gã chỉ chúc tôi “sdravstvuite”, lịch sự nâng mũ chào rồi biến mất.

Một người khuân vác xách túi cho tôi ra khỏi nhà ga, và tôi đi xe ngựa qua cầu đến khách sạn lớn mà tôi từng trọ trước đây, khách sạn Europe, nằm ở góc đại lộ Nevski Prospect và phố Michael. Tại đó, tôi thuê một căn phòng phía trước nhìn xuống đại lộ Nevski thênh thang, rửa ráy qua loa rồi đứng bên cửa sổ canh chừng bóng dáng tên mật thám. Tôi vẫn còn hẳn bốn tiếng đồng hồ trước khi chuyến tàu hơi nước từ Abo cập bến, và tôi muốn biết chắc chắn liệu mình có đang bị theo dõi hay không.

Chưa đầy hai mươi phút sau, gã đã lảng vảng bước đi ở phía bên kia đường, đúng như tôi dự đoán. Gã đã thay quần áo, và mang một diện mạo khác đến nỗi thoạt nhìn tôi suýt nữa không nhận ra. Gã biết tôi đã đi xe ngựa đến đây, và định bụng sẽ bám theo nếu tôi bước ra ngoài. Tình thế của tôi vô cùng khó khăn, bởi nếu tôi đi xuống bến cảng, chắc chắn gã sẽ bám gót theo sau.

Sau khi quan sát mọi cử động của gã chừng mười phút, tôi đi xuống phòng ăn lớn và dùng bữa trưa ở đó, vừa ăn vừa trò chuyện với người bồi bàn người Pháp. Tôi cố tình ngồi trong một góc khuất để tách biệt khỏi những thực khách khác, ngõ hầu có thể nói chuyện với người bồi bàn mà không bị ai nghe lén.

Ngay khi tôi vừa dùng bữa xong và anh ta đưa hóa đơn cho tôi, tôi ghé sát về phía anh ta và hỏi:

“Anh có muốn kiếm hai mươi rúp không?”

“Ồ, thưa ngài,” anh ta đáp, nhìn tôi với vẻ hơi ngạc nhiên. “Có chứ ạ, tôi đã có gia đình rồi.”

“Chuyện là, tôi muốn rời khỏi nơi này mà không bị ai nhìn thấy. Tôi đang vướng vào một rắc rối nho nhỏ khó chịu liên quan đến một phụ nữ, và e rằng sẽ xảy ra xô xát với một gã đang chực chờ tôi bên ngoài đường Nevski.” Thấy anh ta có vẻ ngập ngừng, tôi liền đoan chắc rằng mình không hề phạm tội gì, và tối nay tôi sẽ quay lại lấy hành lý.

“Ngài có thể đi xuyên qua nhà bếp rồi ra bằng lối của người làm,” anh ta nói sau một thoáng ngẫm nghĩ. “Nếu ngài muốn, tôi sẽ dẫn ngài ra. Lối thoát đó nằm ở một con hẻm phía sau dẫn thẳng ra kênh Catherine.”

“Tuyệt lắm!” tôi bảo. “Đi thôi. Dĩ nhiên là anh sẽ giữ kín chuyện này chứ?”

“Không hé nửa lời đâu, thưa ngài,” anh ta thu những tờ tiền giấy cộng thêm hai mươi rúp tiền boa mà tôi trả cho hóa đơn, rồi tôi cầm mũ đi theo anh ta tới cuối phòng ăn, nấp sau một bức bình phong bằng gỗ cao, băng qua gian bếp khổng lồ, rồi đi qua một hành lang lát đá dài hun hút, nơi tận cùng có một lão gác cổng cộc cằn đang ngồi. Người dẫn đường nói nhỏ với lão một câu, cánh cửa mở ra và tôi thấy mình đã đứng trong một con ngõ hẹp phía sau, phía xa là dòng kênh đào.

Nơi đầu tiên tôi ghé vào là một tiệm may mặc, ở đó tôi mua và khoác ngay một chiếc áo măng-tô sáng màu, rồi tới một tiệm mũ để mua một chiếc mũ có kiểu dáng khác hẳn chiếc đang đội. Tôi mang chiếc mũ mới đến một con hẻm vắng mà tôi đã để mắt từ trước, nhanh chóng đổi mũ và vứt chiếc cũ vào một xó. Sau đó, tôi bước vào một quán cà phê để giết thời gian cho tới giờ con tàu từ Phần Lan cập bến.

Bốn giờ chiều, tôi đã có mặt trên bến cảng, căng mắt nhìn ra phía biển tìm kiếm một làn khói mỏng, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu. Mặt trời đang lặn dần, và dải nước mênh mông phía tây nhảy múa như vàng lỏng rực rỡ. Ánh sáng lịm dần, nhường chỗ cho sắc xám lạnh lẽo của màn đêm đang bò tới. Một cơn gió lạnh thấu xương nổi lên quét qua cầu cảng khiến tôi rùng mình. Tôi hỏi một người phu bến tàu xem con tàu có hay đến muộn không, anh ta liền cho biết nó thường trễ tới năm hoặc sáu tiếng, tùy thuộc vào việc bị trễ nải ở Helsingfors.

Hoàng hôn chìm hẳn vào đêm đen, mưa bắt đầu trút hạt nặng trĩu, vậy mà tôi vẫn kiên nhẫn rảo bước trên những phiến đá ướt sũng, mắt không ngừng hướng về phía biển để ngóng tìm ánh đèn của con tàu mà tôi hy vọng đang chở người tôi yêu. Tôi nghĩ sự hiện diện của mình ở đó đã gợi lên mối tò mò cho mấy kẻ nhàn rỗi quanh bến cảng; dẫu vậy, tôi vẫn đứng đợi trong nỗi âu lo tột cùng rằng liệu có khi nào Elma và Hornby đã lên bờ ở Helsingfors rồi chăng.

Hơn mười giờ đêm một chút, một đốm sáng le lói từ đằng xa, và sự xôn xao của đám cảnh sát cùng phu khuân vác trên bến báo cho tôi biết con tàu đã tới. Rồi sau mười lăm phút thắc thỏm nữa, giữa những tiếng la hét huyên náo và những lời nguyền rủa qua lại, con tàu từ từ áp sát vào bờ, và các hành khách cuối cùng cũng bắt đầu lục tục lên bờ dưới cơn mưa như trút.

Từng người một bước lên cầu tàu, nối đuôi nhau vào phòng kiểm tra hộ chiếu rồi sang phòng Hải quan, đủ mọi hạng người thuộc mọi tầng lớp—người Thụy Điển, người Đức, người Phần Lan và người Nga—cho đến khi tôi chợt bắt gặp hai bóng hình: một người đàn ông mặc áo khoác du lịch bằng vải tweed dày cộm đội mũ nồi đánh golf, và người kia là vóc dáng mảnh mai của một phụ nữ khoác chiếc áo choàng sẫm màu dài cùng chiếc mũ len tam-o'-shanter. Ánh đèn điện rọi thẳng vào họ khi họ cùng nhau bước lên cầu tàu ướt sũng, và ở đó, một lần nữa tôi lại được nhìn thấy gương mặt thanh tú của người phụ nữ câm lặng mà tôi đã đem lòng yêu thương tha thiết đến tuyệt vọng. Người đàn ông đi sau nàng chính là kẻ từng tiếp đãi tôi trên chiếc Lola—kẻ được cho là người tình của kẻ đào tẩu Muriel Leithcourt.

Không để lộ sự hiện diện của mình, tôi dõi theo họ đi qua phòng kiểm tra hộ chiếu và phòng Hải quan, rồi sau khi nghe lỏm được địa chỉ mà Martin Woodroffe nói với người đánh xe isvoshtchik, tôi đứng nép sang một bên, người ướt sũng như chuột lột, nhìn họ lăn bánh rời đi.

Mười một giờ trưa ngày hôm sau, tôi đã yên vị tại khách sạn De Paris, một quán trọ tiện nghi trên phố Little Morskaya, sau khi đã cắt đuôi thành công sự theo dõi gắt gao của tên mật thám bám theo tôi từ Abo, và đã xoay xở mang được chiếc vali từ khách sạn Europe về đây.

Tôi đang ở chung dưới một mái nhà với Elma, dẫu nàng không hề hay biết có sự hiện diện của tôi. Nôn nóng muốn liên lạc với nàng mà không để Woodroffe phát hiện, tôi đang kiên nhẫn chờ thời cơ. Có vẻ như hắn đã thuê cho nàng một căn phòng thoáng đãng ở phía trước kèm một phòng khách liền kề trên tầng hai, trong khi bản thân hắn ở một phòng trên tầng bốn. Những căn phòng hắn thuê cho nàng thuộc loại đắt đỏ nhất trong khách sạn, và theo như những gì tôi dò la được từ người bồi bàn người Pháp sau khi đã hào phóng thưởng tiền cho anh ta, hắn dường như đối xử với nàng hết sức ân cần và chu đáo.

“Ôi, cô tiểu thư tội nghiệp!” người bồi bàn thốt lên khi đứng trong phòng tôi trả lời những câu hỏi. “Thật là một nỗi bất hạnh! Mọi yêu cầu cô ấy đều phải viết ra giấy—bởi cô ấy chẳng thể thốt nên lời.”

“Gã người Anh có tiếp vị khách nào không?” tôi hỏi.

“Có một người đàn ông—người Nga—tôi nghĩ là một quan chức cảnh sát.”

“Nếu hắn tiếp ai khác nữa, hãy báo cho tôi biết,” tôi dặn. “Và tôi muốn anh bí mật chuyển cho tiểu thư một bức thư của tôi.”

“Vâng, thưa ngài.”

Tôi quay lại chiếc bàn viết nhỏ, vội vã nguệch ngoạc mấy dòng gửi tới người tôi yêu, báo cho nàng biết sự có mặt của tôi, và xin nàng cho tôi một cuộc gặp bí mật ngay khi Woodroffe vắng mặt. Tôi cũng cảnh báo nàng về cuộc lùng sục do viên Nam tước xúi giục, và giục nàng gửi lại cho tôi đôi dòng hồi âm.

Bức thư đã được trao tận tay nàng, nhưng dẫu tôi thấp thỏm chờ đợi gần như suốt cả ngày, nàng vẫn không gửi thư trả lời. Khi Woodroffe còn ở trong khách sạn, tôi không dám lộ diện vì sợ hắn nhận ra mình, do đó tôi đành phải giả vờ ốm mệt và dùng bữa một mình trong phòng.

Cả cách thức nàng gặp gỡ Martin Woodroffe lẫn động cơ của việc ấy đều là một điều bí ẩn. Qua bức thư nàng viết cho cô bạn cùng trường, rõ ràng là nàng đang nắm giữ một bí mật nào đó của hắn, bởi chẳng phải nàng từng muốn gửi cho hắn một lời nhắn để trấn an rằng mình chưa hề tiết lộ điều gì đó sao? Điều này dường như cho thấy họ là bạn thân thiết; song mặt khác, linh tính lại mách bảo tôi rằng hắn đang giở trò lừa dối, và thực chất là tay chân của viên Nam tước.

Tại sao hắn lại đưa nàng tới Petersburg? Nếu hắn muốn cứu nàng, lẽ ra hắn phải đưa nàng đi theo hướng ngược lại—tới Stockholm, nơi nàng sẽ được tự do—đằng này hắn lại đưa nàng, một tù nhân vượt ngục, dấn thân vào ngay giữa miệng cọp. Đúng là hộ chiếu của nàng hợp lệ, nhưng tôi nhớ rằng đã có một lệnh phát vãng lưu đày nàng tới Saghalien, và một khi bị bắt lại lúc này, nàng sẽ vĩnh viễn vuột khỏi tầm tay tôi. Ý nghĩ đó khiến tôi ngập tràn nỗi lo âu thắt ruột. Nàng đang ở Petersburg, thành phố lúc nhúc mật thám cảnh sát, nơi mọi kẻ mới đến đều bị ghi nhận và điều tra kỹ lưỡng về lai lịch. Người ta chẳng hề có động thái nào để che giấu thân phận của nàng, bởi vậy chẳng mấy chốc cảnh sát chắc chắn sẽ ập đến bắt nàng với tư cách là phạm nhân trốn thoát khỏi Kajana.

Suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn dòng người qua lại tấp nập dưới phố, lòng đầy những nỗi băn khoăn và linh cảm đen tối. Liệu có phải Martin Woodroffe đang lừa gạt nàng?

Vừa quá sáu giờ rưỡi, người bồi bàn bước vào, đặt một bức thư lên khay bạc trao cho tôi và nói:

“Tôi nghĩ tiểu thư vừa mới có cơ hội viết thư trong bí mật lúc nãy thôi ạ.”

Tôi xé phong bì và đọc những dòng sau:

BẠN YÊU QUÝ.—Em ngạc nhiên quá đỗi. Em cứ ngỡ anh vẫn còn ở Abo. Woodroffe có một cuộc hẹn lúc tám giờ ở phía bên kia thành phố, vì vậy hãy đến gặp em lúc 8 giờ 15. Em nhất định phải gặp anh, ngay lập tức. Em đang gặp nguy hiểm.—ELMA HEATH.

Người tôi yêu đang gặp nguy hiểm! Đúng như tôi từng lo sợ. Tôi thầm tạ ơn Trời Phật đã đưa đẩy tôi tới đây để giúp nàng và giải thoát nàng khỏi số phận hãi hùng mà “Kẻ bóp nghẹt Phần Lan” đã định đoạt cho nàng.

Đúng giờ nàng hẹn, sau khi người bồi bàn lên báo cho tôi biết gã người Anh đã rời đi, tôi bước xuống phòng khách của nàng và mở cửa bước vào mà không gõ, bởi dẫu tôi có gõ, than ôi, nàng cũng chẳng thể nào nghe thấy.

Căn phòng rộng rãi và tiện nghi, trải thảm dày, đồ đạc nặng nề thếp vàng lộng lẫy. Trước khung cửa sổ dài là tấm rèm nhung màu xanh lá thẫm buông rủ, bên một góc là chiếc lò sưởi bằng sứ trắng cao vút với những dải đồng sáng loáng. Từ chiếc ghế bành thấp, một bóng hình mảnh mai, xanh xao vội vã đứng bật dậy bước tới đón tôi, giang cả hai tay ra và mỉm cười hạnh phúc.

Tôi nắm chặt lấy đôi bàn tay nàng và giữ chặt trong yên lặng hồi lâu, đăm đắm nhìn vào đôi mắt sáng ngời tuyệt đẹp của nàng. Nàng cười khúc khích rồi quay đi, đôi má ửng hồng vì ngượng ngùng. Đoạn nàng dẫn tôi tới một chiếc ghế, ra hiệu bảo tôi ngồi xuống.

Cuộc hội ngộ của chúng tôi diễn ra trong thinh lặng, nhưng những cử chỉ và ánh mắt của nàng chắc chắn còn chan chứa bao điều hơn vạn lời nói. Tôi hiểu rõ cuộc tương phùng này mang lại cho nàng niềm vui sướng lớn lao nhường nào—niềm vui chẳng hề kém cạnh niềm hạnh phúc đang trào dâng trong lòng tôi.

Cho tới giây phút ấy, tôi chưa từng thực sự yêu ai. Tôi từng ngưỡng mộ và tán tỉnh phụ nữ. Có người đàn ông nào lại không cơ chứ? Quả thực, tôi từng ngưỡng mộ Muriel Leithcourt. Nhưng chưa bao giờ cho tới tận lúc này, ngọn lửa của mối tình si chân thành, cháy bỏng mới bùng lên trong tim tôi. Nét mặt ngọt ngào, sự vuốt ve dịu dàng của đôi bàn tay mềm mại thon thả, vẻ sâu thẳm đầy bí ẩn trong đôi mắt tuyệt mỹ, cùng nét duyên dáng vô song trong từng cử chỉ của nàng, tất cả hòa quyện lại để tạo nên một người phụ nữ hoàn hảo nhất mà tôi từng gặp—hoàn hảo về mọi mặt, chỉ trừ, ôi than ôi, khả năng nói và nghe, những thứ đã bị tước đoạt một cách hèn hạ và tàn nhẫn khôn cùng.

Nàng đặt đầu ngón tay trỏ lên bờ môi đỏ thắm, xòe hai bàn tay ra rồi khẽ nhún vai với một cử chỉ buồn bã tiếc nuối. Rồi nàng nhanh nhẹn quay sang xấp giấy trên chiếc bàn nhỏ cạnh chỗ ngồi, dùng chiếc bút chì vàng viết vài dòng rồi đưa cho tôi. Những dòng chữ viết:

“Chắc chắn Thượng đế đã phái anh tới đây! Ông Woodroffe hẳn đã theo chân anh từ nước Anh sang. Hắn là kẻ thù của em. Anh phải đưa em rời khỏi nơi này và giấu em đi. Bọn chúng định đày ải em. Anh đã từng tới Petersburg bao giờ chưa? Anh có quen ai ở đây không?”

Đọc xong, nàng đưa cây bút chì cho tôi và tôi viết tiếp xuống bên dưới:

“Anh sẽ làm hết sức mình, em yêu quý. Anh từng tới Petersburg một lần. Nhưng chẳng phải tốt nhất là chúng ta nên trốn khỏi nước Nga ngay lập tức sao?”

“Lúc này thì không thể,” nàng viết. “Cả hai chúng ta sẽ bị bắt ngay tại biên giới. Tốt nhất là nên trốn ở ngay Petersburg này. Em từng tin Woodroffe là bạn, nhưng mãi đến hôm nay em mới vỡ lẽ hắn chính là kẻ thù. Hắn biết em ở Kajana, và đã ở Abo khi hay tin em trốn thoát. Hắn đã cùng hai gã đàn ông khác đi lùng sục chúng ta, và phát hiện ra chúng ta vào cái đêm chúng ta vào trú tạm trong căn lều của người tiều phu. Hắn không để lộ tung tích mà nấp bên ngoài đợi cho anh ngủ say, rồi đến nhìn qua cửa sổ phòng em. Ban đầu em hoảng sợ, nhưng rất nhanh sau đó em ngỡ hắn là bạn. Hắn bảo với em rằng cảnh sát đang ở gần đó và sắp ập vào lục soát căn lều, vì vậy em đã trốn đi cùng hắn, thoạt đầu xuôi về Tammerfors rồi tới Abo, và đến tận đây. Khi ấy em không nhìn ra cái bẫy đê hèn mà hắn giăng ra nhằm kéo em ra khỏi nanh vuốt của viên Nam tước để moi bằng được bí mật của em. Nếu em thú nhận, hắn định sẽ giao nộp em cho cảnh sát, và họ sẽ tống em vào các hầm mỏ.”

“Bí mật của em có liên quan đến hắn không?” tôi viết hỏi.

“Có,” nàng viết câu trả lời. “Sẽ có lợi cho cả hắn lẫn Nam tước Oberg nếu em bị đày tới Saghalien và bị xóa sổ thân phận. Em là thần dân Nga, như em đã nói với anh, vì vậy với một lệnh từ Bộ nhắm vào em, em đang ở trong mối nguy hiểm chết người.”

“Hãy tin ở anh,” tôi vội vã nguệch ngoạc. “Em bảo sao anh cũng sẽ làm theo. Em có người bạn gái nào đáng tin cậy để giấu em cho tới khi cơn nguy khốn này qua đi không?”

“Có một người—một người bạn chân thành. Anh sẽ mang một bức thư tới cho cô ấy chứ?” nàng viết, và tôi lập tức gật đầu đồng ý.

Đoạn nàng đứng dậy, lấy mực cùng bút rồi viết một phong thư, nội dung bên trong nàng không cho tôi xem trước khi dán kín. Tôi ngồi ngắm nhìn mái đầu kiều diễm của nàng cúi xuống dưới ánh đèn chụp mờ ảo, bắt gặp góc nghiêng gương mặt và nhận thấy nó thanh tú đến nhường nào, một vẻ đẹp lộng lẫy và không tì vết của thời xuân sắc.

Tôi nhìn nàng viết địa chỉ bên ngoài phong bì: “Bà Olga Stassulevitch, thợ may y phục, số 231 Scredni Prospect, Vasili Ostroff.” Tôi biết khu vực đó nằm ở phía bên kia thành phố, sát ngay dòng Neva Nhỏ.

“Anh hãy đón một chiếc xe drosky ngay lập tức, gặp cô ấy và đợi thư trả lời. Trong lúc đó, em sẽ chuẩn bị sẵn sàng khi anh quay lại,” nàng viết. “Nếu Olga không có nhà, hãy xin gặp Giáo sĩ Đỏ—tiếng Nga gọi là 'Krasny-pastor'. Hãy về nhanh nhé, em sợ Woodroffe có thể quay lại. Nếu thế, em sẽ mất mạng.”

Tôi đoan chắc với nàng rằng mình sẽ không lãng phí dù chỉ một tích tắc, và năm phút sau, tôi đã lao vun vút trên phố Morskaya trên một cỗ xe drosky, dọc theo dòng kênh và qua cầu Nicholas để tới địa chỉ ghi trên phong bì.

Tôi thấy ngôi nhà đó có phần nhỏ hơn những nhà lân cận, nhưng không chia thành các căn hộ cho thuê như những nơi khác. Trên cửa có một tấm biển đồng lớn mang dòng chữ: “Olga Stassulevitch: tiệm may thời trang.” Tôi bấm chuông điện, và đáp lại, một gia nhân người Nga cao lớn, mày râu nhẵn nhụi ra mở cửa.

“Bà chủ không có nhà,” gã cộc lốc trả lời câu hỏi của tôi.

“Vậy thì tôi muốn gặp Giáo sĩ Đỏ,” tôi hạ giọng nói. “Tôi do Elma Heath phái đến.” Nghe vậy, không nói thêm nửa lời, gã đàn ông liền dẫn tôi vào gian tiền sảnh dài và tối tăm rồi khép cửa lại, kèm theo một lời cáo lỗi rằng đèn ga chưa được thắp. Nhưng gã quẹt một que diêm dẫn tôi bước lên cầu thang rộng và vào một căn phòng nhỏ ấm cúng, bài trí trang nhã trên tầng ba, rõ ràng là phòng khách của một người ham học hỏi, xét qua đống sách vở cùng các tạp chí phê bình nằm rải rác xung quanh.

Tôi đợi ở đó vài phút cho đến khi cánh cửa mở ra lần nữa, và một người đàn ông có vóc dáng tầm thước bước vào. Ông có mái tóc dài trắng như cước bù xù và chòm râu gần như của bậc tộc trưởng; đôi mắt đen sẫm mà năm tháng đã làm mờ đục chợt ánh lên nhìn tôi với vẻ dò hỏi đầy tò mò, và cử chỉ của ông lộ rõ vẻ của một người không hoàn toàn thấy an lòng.

“Tôi thay mặt Tiểu thư Elma Heath tới đây để trao bức thư này cho bà Stassulevitch, hoặc nếu bà ấy vắng mặt thì xin được chuyển tận tay Giáo sĩ Đỏ,” tôi giải thích bằng vốn tiếng Nga tốt nhất của mình.

“Được rồi, thưa ngài,” ông lão đáp lại bằng thứ tiếng Anh khá chuẩn mực. “Tôi chính là người ngài tìm đây,” rồi đón lấy bức thư, ông mở ra và đọc hết một lượt.

Qua nét mặt hằn sâu nếp nhăn của ông, tôi nhận thấy nội dung bức thư đã khiến ông vô cùng bàng hoàng. Sắc mặt vốn dĩ đã nhợt nhạt của ông nay tái mét đến tận môi, trong khi ánh mắt ông lóe lên tia lửa của nỗi âu lo thảng thốt. Bàn tay gầy guộc, gần như trong suốt đang cầm bức thư khẽ run rẩy thấy rõ.

“Cậu biết Tiểu thư sao—hả?” ông hỏi bằng một giọng khàn đặc, căng thẳng khi quay sang tôi. “Cậu sẽ giúp cô ấy trốn thoát chứ?”

“Tôi sẵn sàng liều cả mạng sống của mình để cứu cô ấy,” tôi quả quyết.

“Và điều gì thôi thúc cậu tận tụy với cô ấy đến vậy?” ông nghi ngại dò hỏi.

Tôi im lặng một thoáng. Rồi tôi thú nhận sự thật.

“Tình yêu của tôi.”

“À!” ông thở dài một tiếng thật sâu. “Tội nghiệp cô gái trẻ! Xung quanh toàn là kẻ thù, cô ấy thực sự rất cần một người bạn. Nhưng liệu chúng tôi có thể tin cậu được không—cậu không sợ sao?”

“Sợ gì cơ chứ?”

“Sợ bị liên lụy vào cuộc cách mạng sắp tới ở Nga? Hãy nhớ rằng tôi là Giáo sĩ Đỏ. Cậu chưa từng nghe nói về tôi sao? Tên tôi là Otto Kampf.”

Otto Kampf!

Tôi đứng sững trước mặt ông, miệng há hốc kinh ngạc. Ở nước Nga này, có ai mà chưa từng nghe danh con người bí ẩn vô danh, kẻ đã chỉ đạo hàng trăm âm mưu chống lại kẻ chuyên quyền tối cao của Đế chế, vậy mà cảnh sát chưa một lần lần ra tung tích. Người ta tin rằng Kampf từng là giáo sư hóa học tại Đại học Moscow, và chính ông là người đã phát minh ra loại chất nổ khủng khiếp và có sức tàn phá ghê gớm nhất mà phe cách mạng sử dụng. Thành phần của hợp chất cực mạnh ấy cùng cách thức kích nổ nó là bí mật độc quyền của những người theo chủ nghĩa Hư vô—và Otto Kampf, thủ lĩnh đầy bí ẩn, người mà diện mạo thậm chí ngay cả những kẻ đồng mưu cũng không hề hay biết, đã chỉ đạo những vụ mưu sát liên miên khiến Hoàng đế cùng Chính phủ của người phải sống trong nỗi kinh hoàng từng giờ từng khắc.

Bộ Nội vụ đã treo vô số giải thưởng để lấy đầu và bắt giữ con người giấu mặt ấy, kẻ mà quyền lực ở Nga lan tỏa khắp mọi tầng lớp, còn lớn hơn cả quyền lực của chính Hoàng đế—kẻ mà chỉ cần một lời phát ra, vào một ngày nào đó, muôn dân sẽ đồng loạt đứng lên tiêu diệt những kẻ áp bức mình.

Hoàng đế, các Bộ trưởng, cảnh sát và đám quan chức lộng quyền đều biết điều đó, nhưng họ hoàn toàn bất lực—họ biết rằng vị giáo sư bí ẩn đã biến mất khỏi Moscow mười lăm năm trước và chưa từng xuất hiện lại chỉ đang chờ đợi thời cơ để giáng một đòn sấm sét làm rúng động và đè bẹp Đế chế từ đầu này đến đầu kia—vậy nhưng về nơi ẩn náu của ông, họ hoàn toàn mù tịt.

“Cậu ngạc nhiên lắm phải không,” ông lão bật cười khi nhận thấy sự kinh ngạc của tôi. “Phải rồi, cậu đâu thuộc về phe chúng tôi, nhưng tôi chẳng cần phải nhấn mạnh với cậu về sự cần thiết tuyệt đối, vì sự an nguy của Tiểu thư, phải giữ kín bí mật về sự tồn tại của tôi. Chính vì cậu không phải là thành viên của tổ chức 'Ý dân' nên cậu mới chưa bao giờ nghe nói tới 'Giáo sĩ Đỏ'—gọi là Đỏ bởi vì tôi đã viết tối hậu thư gửi Sa hoàng bằng chính máu của một nạn nhân bị người của ông ta dùng roi da đánh đập trong pháo đài Peter và Paul, và gọi là Giáo sĩ bởi vì tôi rao giảng phúc âm về tự do và công lý.”

“Tôi sẽ không hé răng nửa lời,” tôi nói, đăm đăm nhìn nhân vật kỳ lạ đầy ấn tượng trước mặt—con người vô danh đang chỉ đạo cuộc biến động long trời lở đất sắp làm đảo lộn cả nước Nga. “Mong muốn duy nhất của tôi là cứu Tiểu thư Heath.”

“Và cậu sẵn sàng làm điều đó dẫu phải đánh đổi bằng chính tự do—bằng chính mạng sống của mình sao? À! Cậu bảo cậu yêu cô ấy. Đây chẳng phải sẽ là một phép thử cho tình cảm của cậu sao?”

“Tôi sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách, miễn là cô ấy thoát khỏi cái bẫy mà kẻ thù đã giăng sẵn. Tôi đã thành công cứu cô ấy thoát khỏi Kajana, và giờ tôi cũng quyết tâm cứu cô ấy.”

“Chính cậu là người đã thực sự đột nhập vào Kajana và giật cô ấy ra khỏi nấm mồ đó ư!” ông thốt lên, rồi nhiệt thành nắm lấy tay tôi và nói thêm: “Tôi chẳng còn lý do gì để nghi ngờ cậu nữa.” Đoạn quay lại bàn, ông viết một địa chỉ lên một mẩu giấy rồi nói: “Hãy đưa Tiểu thư tới đó. Cô ấy sẽ tìm được một nơi ẩn náu an toàn. Nhưng hãy đi nhanh lên, bởi mỗi giây trôi qua đều đẩy cả hai người vào mối nguy hiểm chết người hơn. Cậu cũng hãy trốn ở đó luôn đi.”

Tôi cảm ơn ông rồi lập tức rời đi, nhưng vừa bước chân ra khỏi nhà và bước lên cỗ xe drosky, tôi đã nhìn thấy ngay gần đó, đang rình rập trong bóng tối, chính là tên mật thám của “Kẻ bóp nghẹt Phần Lan”, kẻ đã đi cùng tàu với tôi từ Abo.

Ánh mắt chúng tôi chạm nhau, và gã đã nhận ra tôi, bất chấp chiếc áo măng-tô sáng màu cùng chiếc mũ mới toanh của tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.