Điệp Viên Của Czar: Bí Ẩn Mối Tình Câm

Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
"Kẻ Siết Cổ"

❊ ❊ ❊

Elma đang ở đâu? Điều gì đã khiến nàng biến mất một cách khó hiểu vào khu rừng âm u trong lúc chúng tôi say ngủ?

Tôi quay trở lại khách sạn từng trọ khi mới đặt chân tới đây, một nơi tiện nghi mang tên Phoenix, rồi dùng bữa trưa một mình tại đó. Cả Felix, gã người Phần Lan, lẫn người tiều phu chủ nhà đều đã nhận tiền thù lao rồi rời đi; riêng người tiều phu, tôi đã dặn anh ta phải về nhà ngay lập tức và hễ có bất kỳ tin tức gì về người con gái tôi lạc mất thì phải đánh điện báo cho tôi hay.

Hàng ngàn ý nghĩ ngổn ngang giằng xé tâm can khi tôi ngồi trong phòng ăn đông đúc chật ních cánh thương nhân vùng Abo đang mải mê ngốn ngấu. Tôi nhận thức rõ rằng giờ đây mình phải đương đầu với kẻ quyền lực bậc nhất xứ này, và tôi chịu bất lợi thấy rõ khi hoàn toàn mù tịt về lý do hắn giam cầm người thiếu nữ Anh quốc dịu dàng ấy. Thảm kịch về cách thức đê hèn mà nàng bị tước đoạt thân thể một cách tàn nhẫn khiến máu trong người tôi sôi sục. Tôi chưa từng tin nổi giữa thế kỷ hai mươi văn minh này lại có thể dung dưỡng những chuyện dã man đến thế.

Michael Boranski đã hứa sẽ giúp tôi, dẫu vậy ông ta cũng đã bộc bạch hết sức rõ ràng những nỗi e sợ của mình. Viên Nam tước đang rắp tâm thâu tóm Elma vào tay một lần nữa. Liệu có phải chính theo lệnh hắn mà người con gái có gương mặt thanh tú kia đã bị cướp đi khả năng nói và nghe? Phải chăng nàng đã trở thành nạn nhân vô tội của những mưu đồ bất lương từ hắn?

Chung quanh tôi, người ta đang thưởng thức những món ăn kỳ lạ và trò chuyện bằng tiếng Phần Lan, số khác thì phì phèo thuốc lá và nhâm nhi rượu vodka; nhưng tôi chẳng còn bụng dạ nào mà quan sát. Tâm trí tôi chỉ hướng về nàng, người giờ đây đã biền biệt xa xôi.

Vì sao nàng lại biến mất không một lời báo trước, tôi hoàn toàn không tài nào đoán nổi, chỉ có thể phỏng đoán rằng chuyến chạy trốn ấy là do tình thế ép buộc. Vài người phụ nữ sở hữu một thứ trực giác thần bí, một khả năng kỳ lạ khôn tả giúp họ cảm nhận được hiểm nguy đang rình rập—thứ năng lực vốn là bài toán nan giải và kỳ bí đối với giới khoa học. Thật không thể giải thích nổi, vậy mà nhiều phụ nữ lại sở hữu nó ở mức độ vô cùng rõ rệt. Liệu có thể nào Elma đã bừng tỉnh, và khi linh cảm thấy mối nguy cận kề, nàng đã trốn đi mà không đánh thức chúng tôi? Giả thuyết ấy có thể xảy ra, song tôi e là khó lòng đúng sự thật.

Một điểm hết sức kỳ lạ khác trong sự việc này là cách thức Michael Boranski đột ngột đem quyền uy và ảnh hưởng của mình ra để giúp đỡ tôi. Ông ta đã thực sự mua chuộc lính gác ở Kajana, đã chỉ thị cho Felix trung thành, đã chuẩn bị thuyền cho chúng tôi, và đã hạ lệnh cho bà sơ mở cổng đường thủy đón tôi. Vì cớ gì chứ?

Tôi tin chắc rằng đằng sau sự thân thiện đột ngột và lộ liễu ấy ắt có uẩn khúc. Rằng ông ta thực lòng ghét bỏ người Anh là điều tôi đã thấy rõ mồn một trong lần đầu gặp gỡ; tôi chỉ có thể ép ông ta phục vụ mình bằng cách chìa ra tờ lệnh mang chữ ký của Hoàng đế, văn bản biến tôi thành khách danh dự của Ngài trên khắp cõi Nga cương. Ngay cả bức công văn đó cũng không đủ để giải thích việc ông ta dốc sức đến nhường ấy nhằm giải thoát cho người phụ nữ mà tôi đang thầm yêu trộm nhớ. Càng nghĩ ngợi, tôi lại càng thêm âu lo. Tôi chẳng thể nhìn ra động cơ nào cho thái độ vồ vập ấy, và thực bụng mà nói, tôi luôn ngờ vực những kẻ tỏ ra quá đỗi ân cần. Tôi nên chọn đường hướng hành động dứt khoát và thẳng thắn nào đây? Tôi cẩn thận rà soát lại mọi biến cố kỳ lạ từng xảy ra bên Anh, và dẫu nóng lòng tìm lời giải cho bài toán kinh ngạc này, tôi vẫn không đành lòng rời Phần Lan để mặc Elma rơi vào vuốt nanh của tên quan chức quyền cao chức trọng đang ráo riết dồn nàng vào chỗ chết. Không. Tôi sẽ đến gặp hắn và đối mặt với hắn. Tôi nôn nóng muốn xem "Kẻ siết cổ Phần Lan" rốt cuộc là hạng người như thế nào. Vì thế, ngay tối hôm ấy tôi rời Abo, đón tàu hỏa đến ga đầu mối Toijala, rồi sau sáu tiếng chờ đợi, tôi tiếp tục cuộc hành trình chậm chạp tới Helsingfors. Tôi nghỉ tại khách sạn Kamp, một nơi thanh lịch nằm trên đại lộ dài hướng ra bến cảng, và nhận thấy thành phố này, với những con phố khang trang và quảng trường rộng rãi, quả là tráng lệ hơn nhiều so với hình dung của tôi. Khi tôi hỏi người quản lý người Pháp của khách sạn về nơi ở của Quan Toàn quyền, ông ta nhìn tôi với vẻ đôi phần ngạc nhiên rồi bảo:

"Nam tước ngự trên Cung điện, thưa ngài—tòa nhà bề thế đối diện với Salutong đấy. Bác xà ích xe drosky sẽ chỉ đường cho ngài."

"Hiện tại Quan lớn có đang ở Helsingfors không?" tôi hỏi.

"Nam tước chẳng bao giờ rời khỏi Cung điện đâu, thưa ngài," người quản lý đáp. "Ngài biết đấy, xứ này lạ lùng lắm," ông ta nói thêm, nở một nụ cười toe toét. "Nghe đồn Quan lớn lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị ám sát từng giờ từng phút."

"Hẳn là cũng có căn nguyên cả thôi," tôi khẽ nhận xét, nghe vậy ông ta chỉ nhún vai mỉm cười.

Đúng ngọ, tôi bước xuống từ một cỗ xe drosky trước một tòa nhà đồ sộ, màu xám dài thượt, phía trên cánh cổng lớn có gắn huy hiệu khổng lồ mang quốc huy nước Nga thếp vàng rực rỡ; vừa bước qua hai bên cổng có lính bồng súng gác, một người quản gia vạm vỡ trong bộ đồng phục xanh lam viền vàng óng ả tiến lại đón tôi, cất giọng hỏi bằng tiếng Nga:

"Ngài muốn tìm ai?"

"Quan Toàn quyền."

"Ngài có hẹn trước không?"

"Không."

"Quan lớn không tiếp bất cứ ai nếu không có hẹn," gã đáp với vẻ khá cộc cằn.

"Tôi tới đây không phải vì công vụ mà là chuyện riêng tư," tôi giải thích. "Có lẽ tôi có thể gặp thư ký của Quan lớn chăng?"

"Tùy ngài, nhưng tôi xin nhắc lại là Quan lớn không tiếp ai mà không hẹn trước đâu."

Điều này tôi biết quá rõ, bởi "Kẻ siết cổ Phần Lan" vì nơm nớp sợ bị mưu sát nên khó tiếp cận chẳng khác nào chính Sa hoàng. Song lần theo chỉ dẫn của người quản gia, tôi băng qua một khoảng sân rộng thênh thang vắng lặng, bước lên cầu thang đá thênh thang và chạm mặt một người hầu; nghe xong lời thỉnh cầu của tôi, anh ta dẫn tôi vào phòng chờ rồi cầm danh thiếp của tôi đi tìm Đại tá Luganski, người mà anh ta cho biết là thư ký riêng của Nam tước.

Chừng mười phút sau, người hầu quay lại bảo:

"Mời ngài đi lối này, Đại tá sẽ tiếp ngài," rồi dẫn tôi bước vào những gian phòng riêng được bài trí xa hoa của Cung điện, đi qua một đại sảnh treo đầy tranh quý, rồi theo một hành lang dài trải thảm dày dẫn tới một căn phòng nhỏ trang nhã, nơi một người đàn ông dong dỏng cao mang đầu hói vận quân phục đang đứng đợi tôi.

"Ngài là Gregg," ông ta mở lời bằng thứ tiếng Pháp rất chuẩn, "và tôi hiểu rằng ngài muốn yết kiến Quan Toàn quyền. Tuy nhiên, tôi rất tiếc phải báo rằng ngài ấy không bao giờ tiếp người lạ."

"Vấn đề tôi muốn thưa với Quan Toàn quyền hoàn toàn mang tính riêng tư và cơ mật," tôi nói, bởi đã quá quen với lề lối của chốn quan trường ngoại quốc, tôi đáp lời bằng sự lịch thiệp nhưng cứng cỏi không kém gì ông ta.

"Tôi vô cùng lấy làm tiếc, thưa ngài, nhưng trong trường hợp đó tôi e rằng ngài buộc phải gửi thư cho Quan lớn và đề ngoài phong bì chữ 'thư riêng'. Bức thư khi ấy sẽ được chuyển tận tay ngài ấy."

"Những điều tôi cần nói không thể viết ra giấy được," tôi trả lời. "Tôi phải đích thân gặp Nam tước Oberg về một vấn đề liên quan trực tiếp đến bản thân ngài ấy, và chuyện này không thể trì hoãn."

Viên Đại tá liếc nhanh nhìn tôi, rồi hạ giọng hỏi:

"Có phải chuyện liên quan đến một... mưu đồ phản nghịch không?"

Câu hỏi của ông ta lập tức gợi cho tôi một mẹo, và tôi gật đầu xác nhận.

"Vậy thì ngài có thể trình bày sự tình với tôi mà không cần phải e ngại chút nào," ông ta nói, bước lại phía cửa rồi gài then chốt lại. "Bất cứ lời nào lọt vào tai tôi cũng chẳng khác gì lọt vào tai Quan lớn."

"Tôi lấy làm tiếc thưa Đại tá, nhưng tôi bắt buộc phải diện kiến đích thân Nam tước."

"Âm mưu đó nhằm mục đích ám sát—hay là nổi loạn?" ông ta gặng hỏi đầy ẩn ý.

"Điều đó tôi chỉ giãi bày riêng với Nam tước mà thôi."

"Nhưng tôi đã bảo ngài là ngài ấy sẽ không tiếp đâu. Chúng tôi đã nghe quá nhiều kẻ đến đây tố giác những mật mưu của người Phần Lan chống lại nền cai trị của nước Nga rồi. Kìa, nếu Quan lớn cứ gặp bất kỳ ai muốn gặp, ắt ngài ấy phải tiếp khách suốt hai mươi tư giờ mỗi ngày mất."

Chỉ cần liếc qua là tôi đã hiểu viên Đại tá bảnh bao này, kẻ dường như vô cùng tự mãn về diện mạo chải chuốt không tì vết và bộ quân phục phẳng phiu của mình, không hề có ý định cho tôi toại nguyện diện kiến viên chức bị căm thù bậc nhất của Sa hoàng. Kẻ kia vốn sợ dao găm, súng lục hay bom đạn, thành thử tự rào chắn quanh mình bằng những kẻ thuộc mẫu người như viên Đại tá—lịch thiệp, khéo léo nhưng sắt đá vô cùng. Sau một hồi tranh luận thêm, cuối cùng tôi nói bằng giọng kiên quyết:

"Tôi muốn nhấn mạnh với ngài tầm quan trọng tột bậc của tin tức mà tôi mang lại, và chỉ có thể nhắc lại rằng đây là chuyện can hệ riêng tư đến Quan Toàn quyền. Vậy ngài có thể vui lòng chuyển danh thiếp của tôi lên ngài ấy được chăng?"

"Quan lớn không muốn bị quấy rầy bởi tên tuổi của những kẻ xa lạ," ông ta lạnh lùng đáp, tay lật qua lật lại tấm danh thiếp của tôi.

"Nhưng nếu tôi ghi rõ mục đích của mình lên đó rồi bỏ vào phong bì dán kín, liệu ngài có chịu chuyển vào không?" tôi gợi ý.

Ông ta ngập ngừng một lát, vân vê ria mép, rồi miễn cưỡng đáp:

"Thôi được, nếu ngài đã quả quyết đến thế, ngài có thể ghi lý do vào danh thiếp."

Thế là tôi rút một tấm danh thiếp ra, và ở mặt sau, tôi viết bằng tiếng Pháp những dòng chữ mà tôi biết chắc sẽ mở toang cánh cửa diện kiến:

"Cung cấp tin tức về cô Elma Heath."

Tôi bỏ tấm danh thiếp vào chiếc phong bì ông ta đưa cho, đoạn ông ta rung chuông, trao lại cho người hầu vừa bước vào cùng lệnh đem trình lên Quan Toàn quyền và chờ hồi đáp. Câu trả lời đến chỉ sau vài phút ngắn ngủi.

"Quan Toàn quyền đồng ý tiếp quý ông người Anh."

Tôi đứng dậy cất bước theo sau người hầu qua nhiều dãy hành lang thênh thang rợp bóng cọ và hoa tươi nom như một khu vườn mùa đông, cho tới khi băng qua một phòng tiền sảnh trải thảm đỏ, nơi hai tên lính gác đứng nghiêm như tượng đá, rồi người dẫn đường gõ lên cánh cửa gỗ gụ bóng loáng của căn phòng bên trong.

Có tiếng đáp vọng ra, cánh cửa mở rộng, và tôi thấy mình đang đứng giữa một gian phòng trần cao, trang trí lộng lẫy; những ô cửa sổ dài buông rèm lụa màu xanh phấn viền tua rua vàng kim nặng trĩu, tấm thảm cũng mang sắc xanh phấn nhã nhặn, và trên bức tường đối diện là một bức trướng lộng lẫy bằng nhung tím thêu hình đại bàng hai đầu bằng chỉ vàng. Căn phòng được trang hoàng hết sức nguy nga, và ngay giữa sàn gỗ bóng loáng, đứng quay lưng về phía ánh sáng, là dáng người gầy guộc, quắt queo của một người đàn ông đứng tuổi vận chiếc áo frock-coat màu đen ảm đạm, trên ve áo cài dải ruy-băng đỏ vàng của Huân chương Thánh Anne. Hai tay chắp sau lưng, ông ta cố tình đứng ở vị trí khiến tôi khi vừa bước vào không thể nhìn rõ mặt ông ta trên nền ánh sáng xám xịt từ phía sau hắt tới.

Nhưng khi người hầu cúi chào rồi lui ra, chỉ còn lại hai người chúng tôi, ông ta hơi nghiêng mình, và lúc bấy giờ tôi mới thấy rõ khuôn mặt xương xẩu với đôi gò má nhô cao, chòm râu quai nón hoa râm mỏng, khóe miệng lạnh lùng cùng đôi mắt đen nằm sát nhau—một khuôn mặt hằn rõ dấu vết của sự tà ác, diện mạo sắc lạnh và hiểm độc của kẻ có thể ra tay tàn nhẫn mà chẳng mảy may cắn rứt hay hối hận. Quả thực, chẳng ai ngạc nhiên trước bất kỳ hành động dã man, đê hèn nào từ một kẻ mang gương mặt như thế—gương mặt của một kẻ áp bức.

"Sao?" hắn gắt gỏng bằng tiếng Pháp với chất giọng the the. "Mày muốn gặp tao vì con nhỏ người Anh điên rồ đó à? Mày định dệt nên những lời dối trá hoa mỹ nào về nó đây?"

"Tôi không hề có ý định nói bất kỳ điều gì sai sự thật về nàng," tôi đáp trả đanh thép, thẳng thắn nhìn thẳng vào mặt hắn. "Nàng đã kể cho tôi nghe đủ nhiều để—"

"Nó đã kể cho mày điều gì đó ư! À! Tao đoán ngay mà. Tao đã ngờ trước điều này!" Và tôi thấy khuôn mặt gầy gò, xảo quyệt của hắn thoắt cái tái nhợt đi, trong khi đôi mắt nhìn tôi đầy vẻ hung hiểm. Hắn tin chắc rằng nàng đã tiết lộ bí mật cho tôi. Hắn đặt tay lên lưng ghế, nơi có giấu một nút bấm điện, và ngay khoảnh khắc sau, một gã đàn ông lùn mập mạp vận đồ đen tồi tàn xuất hiện như có phép thuật qua một cánh cửa bí mật ẩn sau vách ốp gỗ tối màu của phòng tiếp kiến—đó chính là vệ sĩ riêng bảo vệ hắn trước những âm mưu ám sát.

Quan Toàn quyền cất lời, và những lời hắn thốt ra khiến tôi bàng hoàng. Tôi chết lặng tại chỗ.

"Bắt lấy thằng kia!" hắn hét lên, chỉ tay vào tôi. "Hắn có vũ khí! Hắn vừa đe dọa giết tao! Chính là kẻ mà gần đây chúng ta đã được cảnh báo—thằng người Anh đó!"

"A!" tôi thốt lên, đứng sững trước viên chức mặt sắt của Sa hoàng, kẻ tàn độc đã dùng gót sắt của nước Nga giẫm đạp Phần Lan, và giờ đây bằng lời vu khống trắng trợn đang muốn tóm gọn tôi vào tay. "Tôi hiểu mưu mô của ngài rồi, Nam tước Oberg! Ngài định bắt tôi như một kẻ mưu phản chứ gì!"

"Khám người nó đi. Nó giấu khẩu súng lục ở túi sau hông kìa," Quan Toàn quyền tuyên bố, và trong chớp mắt, gã đàn ông thấp bé có đôi mắt như mắt chồn đã luồn tay lục soát khắp người tôi và sờ thấy món vũ khí.

Tôi rút súng ra trao cho gã, bảo:

"Cứ tự nhiên lấy đi nếu các người sợ tôi đến đây với mưu đồ ám muội."

"Nó dùng quỷ kế để lọt vào đây," Nam tước giải thích với tên mật thám. "Rồi sau đó nó đe dọa tao."

"Ngậm máu phun người," tôi phản bác gay gắt. "Tôi tới đây chỉ để gặp ngài về chuyện tiểu thư người Anh, Elma Heath—người thiếu nữ bất hạnh mà ngài đã tống vào pháo đài Kajana."

"Ý mày là con điên đó chứ gì!" hắn cười khẩy.

"Nàng không điên," tôi quát lớn, "mà tỉnh táo chẳng kém gì ngài đâu. Chính ngài mới là kẻ muốn những nỗi kinh hoàng của tòa lâu đài khiến nàng hóa điên, để nhờ đó mà bí mật của ngài được chôn vùi mãi mãi!"

"Mày ám chỉ cái gì?" hắn gặng hỏi, bước tới gần tôi vài bước.

"Ý tôi là, hỡi Xavier Oberg, ngài sẵn sàng giết chết Elma Heath nếu ngài dám làm điều đó," tôi trả lời thẳng thừng, không hề chớp mắt trước mặt hắn.

"Mày thấy chưa?" hắn cười phá lên, quay sang gã mập đứng cạnh tôi. "Thằng này phát điên rồi. Nó chẳng biết mình đang lảm nhảm cái gì đâu. Ôi, Malkoff thân mến của ta, ta vừa thoát chết trong gang tấc đấy! Nó tới đây với ý định bắn chết ta."

"Tôi không hề," tôi cãi lại. "Tôi tới đây để đòi lại công lý cho cô Heath."

"Ồ!—vậy thì, nếu cô nàng chịu đích thân tới đây, ta sẵn lòng cho cô ta sự thỏa mãn mà cô ta muốn," hắn xảo quyệt đáp.

"Nàng đã thoát khỏi tay ngài rồi, và hẳn nàng chẳng dại gì mà tự nguyện quay lại Helsingfors đâu," tôi nói.

"Chính mày là kẻ đã xô lính gác xuống nước để cướp nó ra khỏi lâu đài," hắn nhận xét. "Nhưng," hắn cười khẩy đầy nham hiểm bồi thêm, "tao đồ rằng hành động nghĩa hiệp của mày là do lưới tình thúc đẩy—hử?"

"Đó là việc riêng của tôi."

"Một đứa câm điếc ắt chẳng phải là bạn đồng hành thú vị gì cho cam!"

"Và ai là kẻ đã gây ra tai ương đó cho nàng?" tôi phẫn nộ thét lên. "Khi còn ở Chichester, nàng vẫn nghe và nói được như bao cô gái khác. Thậm chí khi ở trên du thuyền Lola ngoài cảng Leghorn mới vài tháng trước, nàng cũng đâu có bị tật nguyền. Hẳn ngài còn nhớ vụ chiếc du thuyền suýt đắm trên bãi cạn Meloria chứ?"

Ánh mắt hắn chạm vào mắt tôi, và nhìn nét mặt co rúm cùng đôi mày nhíu lại của hắn, tôi biết những lời của mình đang khiến hắn kinh hoàng tột độ. Mục đích của tôi là làm cho hắn tin rằng tôi biết nhiều hơn thực tế—thực chất là để kìm kẹp hắn trong nỗi sợ hãi.

"Có lẽ người đàn ông mà vài người biết tới dưới cái tên Hornby, hay Woodroffe, có thể kể lại một câu chuyện ly kỳ đấy," tôi nói tiếp. "Không nghi ngờ gì nữa, ông ta sẽ kể khi gặp lại Elma Heath và nhận ra nỗi thống khổ tàn khốc mà nàng phải gánh chịu."

Khuôn mặt gầy gò, xương xẩu của hắn không còn một giọt máu, khóe miệng giật giật và đôi mày hoa râm cau chặt lại.

"Tao hoàn toàn chẳng hiểu mày đang nói cái quái gì, thưa ông bạn," hắn ấp úng. "Tất cả những điều mày nói đều như câu đố bí hiểm đối với tao. Mớ chuyện của con mụ người Anh điên khùng đó thì can hệ gì đến tao?"

"Bảo người này ra ngoài đi," tôi nói, chỉ tay vào viên mật thám Malkoff vừa bước ra từ sau vách gỗ. "Bảo gã ra ngoài, rồi tôi sẽ nói cho ngài hay."

Nhưng viên khâm sai của Sa hoàng, kẻ luôn nơm nớp sợ bị ám sát chẳng kém gì vị hoàng đế bạo chúa của mình, đã khước từ. Tôi nhận thấy những lời tôi vừa thốt ra đã khiến hắn chấn động, và hắn hoàn toàn không rõ tôi thực sự nắm được bao nhiêu phần sự thật.

Mối liên hệ giữa cây thập tự thu nhỏ của Huân chương Thánh Anne với dải ruy-băng đỏ vàng trên khuyết áo hắn lập tức ùa về trong tâm trí tôi, và tôi nói:

"Tôi chẳng muốn hé răng nửa lời trước mặt người thứ ba. Tôi đến đây để gặp riêng ngài, và tôi chỉ nói chuyện khi có hai người. Tôi nắm trong tay những tin tức mà tôi tin chắc rằng ngài sẽ cực kỳ hứng thú—về một người đàn bà khác, Armida Santini."

Môi hắn mím chặt, và tôi để ý thấy hắn giật thót mình khi tôi xướng lên cái tên của người phụ nữ mà tôi từng tìm thấy đã chết trong Rừng Rannoch, người mà thi thể sau đó đã biến mất một cách đầy bí ẩn.

"Thế thì con mụ đó trên đời này can hệ quái gì tới tao?" hắn hỏi, cố giữ vẻ bình tĩnh, vẫn nói bằng tiếng Pháp.

"Chỉ là ngài có quen biết ả mà thôi," tôi cộc lốc đáp. Rồi mắt vẫn nhìn xoáy vào mắt hắn, tôi hỏi: "Giờ thì ngài đã chịu mời quý ông này lui ra chưa?"

Hắn ngập ngừng trong giây lát, rồi phất tay cho gã tay sai vừa gọi tới lui ra. Ngay sau đó, viên cận vệ riêng của "Kẻ siết cổ" đã biến mất sau cánh cửa bí mật trên vách ốp gỗ nơi gã từng bước ra.

"Thế nào?" Nam tước hỏi, nhanh chóng quay lại nhìn tôi, đôi mắt đen hiểm ác cố dò xét xem tôi đang mưu tính điều gì.

"Thế nào ư?" tôi hỏi lại. "Và xin hỏi ngài được lợi lộc gì khi vu cho tôi là kẻ ám sát? Hãy nhớ lấy, thưa Nam tước, bí mật của ngài giờ cũng là bí mật của tôi," tôi dằn từng tiếng đầy ẩn ý.

"Và ý đồ của mày là tống tiền tao chứ gì—hử?" hắn gắt lên, rảo bước về phía cửa sổ rồi quay trở lại. "Mày muốn bao nhiêu?"

"Ý đồ của tôi tuyệt đối không phải như vậy. Mục đích của tôi là đòi lại công lý cho sự tàn hại tột cùng đối với Elma Heath."

"Dĩ nhiên rồi. Chuyện đó cũng dễ hiểu thôi, nếu ngài đã trót đem lòng yêu ả," hắn nói. "Nhưng chẳng phải ý định của ngài có phần thiếu khôn ngoan hay sao, khi xét đến thân phận một kẻ điên loạn phạm tội của ả?"

"Nàng chẳng điên cũng chẳng phạm tội," tôi phản bác ngay tức khắc.

"Được thôi. Ngài thì biết rõ hơn tôi rồi đấy," hắn cười mỉa. "Tội danh khiến ả bị tuyên án giam giữ trong pháo đài là mưu sát bà Vakuroff, phu nhân của Vị Tướng tư lệnh Quân khu Uleaborg."

"Ám sát ư!" tôi thốt lên. "Ngài dám tống nàng vào tù như một kẻ giết người thực sự sao?"

"Không phải tao. Tòa án Hình sự Abo phán quyết thế đấy," hắn lạnh lùng nói. "Tội trạng ấy từ đó đến nay đã được chứng minh là bắt nguồn từ một âm mưu chính trị, và Bộ trưởng Nội vụ tại Petersburg tuần trước đã ký lệnh đày phạm nhân ra đảo Sakhalin."

"A!" tôi nghiến răng nói. "Chỉ vì ngài sợ nàng sẽ viết ra bí mật của ngài."

"Mày đang xúc phạm tao đấy! Mày rõ ràng chẳng biết mình đang nói gì đâu," hắn phẫn nộ quát lên.

"Tôi biết rất rõ những gì mình nói. Ngài yêu cầu đày ải nàng đến Sakhalin cốt để sự thật vĩnh viễn bị chôn vùi. Nhưng Nam tước Oberg này," tôi nói thêm với vẻ lịch sự đầy mỉa mai, "ngài cứ việc làm những gì ngài muốn, ngài có thể đẩy Elma Heath xuống mồ, ngài có thể bắt giam tôi nếu ngài dám, nhưng những nhân chứng cho tội ác của ngài rồi sẽ đứng lên chống lại ngài."

Trong chớp mắt, mặt hắn xám ngoét như người chết, và tôi biết phát súng vu vơ của mình đã trúng đích. Kẻ đứng trước mặt tôi ắt đã nhúng tay vào tội ác nào đó, nhưng tội ác ấy là gì thì chỉ có Elma mới tỏ tường. Việc hắn bắt giữ nàng vì một vụ mưu sát chính trị chỉ chứng tỏ tay cầm quyền tàn bạo của xứ sở điêu tàn này đã dàn dựng mưu kế tinh vi và hiểm độc đến mức nào. Hắn sợ hãi Elma, và bởi thế đã cấu kết để đày đọa nàng đến hòn đảo lưu đày ảm đạm chốn Thái Bình Dương xa xôi.

"Ngài không sợ bị bắt giam sao, thưa ngài?" hắn hỏi, vẻ như có phần ngạc nhiên.

"Chẳng sợ chút nào—ít nhất là không sợ bị ngài bắt. Ngài có thể là khâm sai của Hoàng đế tại Phần Lan, nhưng ngay tại nơi đây, công lý cho người vô tội vẫn tồn tại."

Một nụ cười nham hiểm thoáng hiện trên đôi môi xám xịt, mỏng dính của kẻ mà ngay cả cái tên cũng bị cả đế chế Sa hoàng căm ghét tột cùng, cái tên đã trở thành hiện thân của sự áp bức, bất công và bạo quyền tàn nhẫn.

"Tất cả những gì tao có thể nhắc lại," hắn nói, "là nếu mày đưa được con nhỏ người Anh đó tới đây, tao sẽ hoàn toàn sẵn lòng lắng nghe lời thỉnh cầu của nó." Đoạn hắn cười khằng khặc.

"Ngài đòi hỏi thế vì ngài biết tỏng là điều đó bất khả thi," tôi đáp, nghe vậy hắn lại cười phá vào mặt tôi—một tràng cười khiến tôi tự hỏi liệu có phải Elma đã lại sa vào tay hắn rồi hay chăng. Số phận mịt mờ của nàng bóp nghẹt tim tôi trong nỗi âu lo tột cùng.

"Tao chỉ muốn nhấn mạnh với mày một sự thật là tao chẳng mảy may bận tâm đến con nhỏ đó," hắn lạnh lùng bảo. "Dường như mày đã nảy sinh một thứ tình cảm lãng mạn mù quáng đối với cái đứa đã mưu toan đầu độc phu nhân Vakuroff, rồi mày đã cứu thoát nó khỏi Kajana. Xong rồi mày phớt lờ luôn chuyện bản thân mày cũng có thể bị phạt tù mọt gông, lại còn to gan lớn mật đến mức dám xin yết kiến tao để buông ra đủ lời bóng gió, quy chụp rằng tao giam cầm con mụ đó vì mục đích riêng!"

"Tôi không chỉ nhắc lại điều đó đâu, thưa Nam tước Oberg," tôi đanh giọng. "Mà tôi còn khẳng định chính ngài đã xúi giục thực hiện cuộc phẫu thuật tại Siena trên cơ thể người thiếu nữ khốn khổ ấy, cướp đi khả năng nói và nghe của nàng."

"Do tao xúi giục ư?"

"Phải, chính do ngài!"

Hắn lại cười, nhưng vẻ bồn chồn lộ rõ trong tràng cười gượng gạo, rồi tựa người vào mép chiếc bàn làm việc lớn gần cửa sổ.

"Hừ, thế rồi sao nữa?" hắn hỏi, vờ như hứng thú với những cáo buộc của tôi. "Mày muốn gì ở tao?"

"Tôi muốn ngài trả lại tự do hoàn toàn cho tiểu thư Heath," tôi nói.

"Chỉ có thế thôi ư?"

"Thế thôi—vào lúc này."

"Nhưng tương lai của nó đâu có nằm trong tay tao. Bộ trưởng ở Petersburg đã ra sắc lệnh đày nó tới Sakhalin như một phần tử nguy hại cho Quốc gia rồi."

"Điều đó đồng nghĩa với việc nàng sẽ bị ngược đãi—thậm chí bị đánh bằng roi da đến chết."

"Nhà tù Nga ngày nay không dùng roi da nữa," hắn cộc lốc bảo. "Hoàng thượng đã ban chiếu bãi bỏ rồi."

"Nhưng thay vào đó các người lại áp dụng nhục hình ở Kajana và Schusselburg."

"Thời gian của tao quá quý báu để đôi co về chế độ lao tù với mày, thưa ngài," hắn bực bội thốt lên, trong khi tôi có thể thấy rõ hắn đang nóng lòng muốn thoái thác trước khi tôi tung thêm những cáo buộc khác nhằm vào hắn. Tôi đã cho hắn thấy Elma đã hé lộ mọi chuyện, và hắn lo sợ nàng đã nói ra sự thật. Dù điều này sẽ càng khiến hắn thêm căm ghét nàng và tìm mọi cách bịt miệng nàng bằng bất cứ giá nào, nhưng đối với tôi, việc hắn e sợ những bí mật tôi có thể phanh phui rõ ràng là một lợi thế.

"Ngài từng giả dạng làm bác của Elma Heath bên nước Anh, vậy mà sang đây lại giam cầm nàng. Vì lẽ gì cơ chứ?" tôi gặng hỏi.

"Ả bị Nhà nước giam giữ—vì tội mưu phản chống lại sự cai trị của nước Nga—chứ tao chẳng giam cầm riêng gì ả."

"Ai đã dụ dỗ nàng tới đây? Chẳng phải chính ngài sao. Ai đã thông đồng để đổ vấy tội mưu sát phu nhân viên tướng lên đầu nàng? Chính là ngài—chính ngài, kẻ mà thiên hạ gọi là 'Kẻ siết cổ Phần Lan'! Nhưng tôi sẽ rửa hận cho nỗi tật nguyền tàn độc và ghê tởm mà ngài đã trút lên đầu nàng. Bí mật của nàng—cũng chính là bí mật của ngài, hỡi Nam tước Oberg—sẽ bị bêu rếu trước bàn dân thiên hạ. Ngài là kẻ thù của nàng—và vì thế cũng là kẻ thù của tôi!"

"Được lắm," hắn nghiến răng gầm gừ, hung hăng tiến lại gần tôi, hai nắm tay siết chặt vì giận dữ. "Hãy nhớ cho kỹ, thưa ngài, ngài vừa mới lăng mạ tao đấy. Nhớ cho kỹ tao là ai: tao là Quan Toàn quyền Phần Lan."

"Dù ngài có là chính Sa hoàng đi chăng nữa, tôi cũng chẳng ngần ngại mà vạch mặt ngài là một tên bạo chúa tàn phế một người phụ nữ nghèo khổ không tấc sắt trong tay."

"Và xin hỏi, mày định kể câu chuyện diễm tình này cho ai nghe hả?" hắn cười khản đặc. "Kể cho bốn bức tường ngục tối dưới lòng hồ Kajana nghe chắc? Phải đấy, ông Gregg ạ, mày sẽ tới đó, và một khi đã bước chân vào pháo đài thì mày sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ thấy lại ánh mặt trời nữa đâu. Mày dám đe dọa tao ư—đe dọa Quan Toàn quyền Phần Lan này sao!" hắn cười the thé bằng một chất giọng quái đản rồi gieo mình xuống ghế, thoăn thoắt nguệch ngoạc viết vài dòng lên giấy, đoạn ký tên bằng nét chữ nhỏ ngoằn ngoèo.

"Tôi không đe dọa," tôi công khai thách thức, "tôi sẽ hành động."

"Và tao cũng thế," hắn nhếch mép cười độc địa trên khuôn mặt xương xẩu, lấy giấy thấm vết mực vừa viết rồi cầm tờ lệnh lên, bồi thêm: "Trong bóng tối và sự câm lặng nơi nấm mồ sống của mày, mày tha hồ mà kể những câu chuyện hoang đường về tao. Ở nơi mày sắp tới, người ta quen với những thằng điên rồi," hắn nghiệt ngã nói thêm.

"Ồ! Thế tôi sẽ đi đâu?"

"Quay lại Kajana. Tờ lệnh này tống giam mày vào đó như một kẻ mưu phản chính trị nguy hiểm, một kẻ vừa đe dọa tao—nó đày mày xuống những xà lim dưới lòng hồ—suốt đời!"

Tôi bật cười thành tiếng, tay thọc vào túi tìm chiếc ví đựng bức công văn vạn năng kia—chiếu chỉ của Hoàng đế ban cho tôi quyền miễn trừ bắt giữ với tư cách khách danh dự của hoàng gia. Tôi sẽ rút nó ra làm lá bài tẩy của mình.

Thế nhưng ngay khoảnh khắc sau đó, tôi nín thở, và tôi nghĩ mặt mình ắt đã biến sắc. Túi áo tôi trống rỗng! Chiếc ví của tôi đã bị trộm mất! Tôi đã hoàn toàn rơi vào cảnh tay không tấc sắt dưới vuốt nanh của tên bạo chúa phục vụ cho Sa hoàng.

Vì lợi ích cá nhân, hắn ắt sẽ tống tôi vào nấm mồ sống nơi pháo đài Kajana ghê rợn, nơi chất chứa những nỗi kinh hoàng khôn xiết. Đã từng mục kích các nhà tù nước Nga trong thời gian làm phóng viên, tôi thừa hiểu rằng ở mảnh đất Phần Lan bị bóp nghẹt này, tôi sẽ chẳng bao giờ nhận được sự vị nể hay đối xử nhân đạo như ở Petersburg hay Warsaw. Quan Toàn quyền tống tôi vào Kajana với tư cách một "tù chính trị", đồng nghĩa với một bản án tử hình ngấm ngầm trong những hầm ngục tối tăm ẩm thấp dưới đáy nước—những ngục tối ghê rợn chẳng kém gì ngục Bastille của thành Paris năm nào.

Hai chúng tôi đối mặt nhau, tôi nhìn thẳng vào khuôn mặt xám ngoét xương xẩu của hắn, đáp lại bằng giọng thách thức:

"Ngài là Quan Toàn quyền, đúng thế thật, nhưng tôi nghĩ ngài nên suy nghĩ cho kỹ trước khi tống giam một người Anh mà không qua xét xử. Tôi thừa biết nước Nga căm ghét người Anh đến mức nào, nhưng tôi đoan đoan với ngài rằng ở London, chúng tôi chẳng mảy may dành chút thiện cảm nào cho đất nước hay các thủ đoạn của các người đâu."

"Phải," hắn cười nhạt, "mày nói đúng đấy. Nước Nga chẳng cần một đồng minh kiệt quệ suy tàn như nước Anh."

"Dù kiệt quệ hay hùng mạnh, đất nước tôi vẫn dư sức đưa ra tối hậu thư khi nền ngoại giao cần đến," tôi nói. "Bởi vậy tôi chẳng có gì phải sợ. Cứ tống tôi vào tù đi, và tôi nói cho ngài hay rằng mọi hậu quả ngài sẽ phải tự gánh lấy." Tôi khoanh tay trước ngực, mắt nhìn trừng trừng vào mắt hắn, quyết không để lộ chút nao núng nào.

"Về trách nhiệm hậu quả thì tao chẳng ngán đâu, thưa ngài," hắn nói.

"Thế còn vụ bê bối bị phanh phui—ngài đã sẵn sàng đối mặt chưa?" tôi hỏi. "Có lẽ ngài không biết rằng ngoài tôi ra còn có người khác—thực ra là một nhà ngoại giao—biết rõ chuyến đi tới đây của tôi? Nếu tôi không trở về, Bộ Ngoại giao của ngài ở Petersburg sẽ bị chất vấn ráo riết để đòi câu trả lời đấy."

"Mà họ thì sẽ chẳng thèm trả lời đâu."

"Thế thì nếu họ không trả lời, sự thật sẽ bị vỡ lở," tôi cười gằn, bởi tôi nhận thấy hắn đã hạ quyết tâm bắt giam tôi đến mức nào. "Nào, gọi bọn tay sai của ngài vào mà giải tôi tới Kajana đi. Đó sẽ là bước đầu tiên dẫn tới sự sụp đổ của chính ngài đấy."

"Để rồi xem," hắn gầm gừ.

"A! Ngài tưởng rằng sau mười năm phục vụ trong ngành ngoại giao Anh quốc, tôi lại dám dại dột tới Phần Lan theo đuổi nhiệm vụ này—dám đối mặt với một bộ máy quan chức thối nát và biến chất mà nước Nga dựng lên ở xứ sở này—mà không có biện pháp phòng ngừa thích đáng nào sao? Không đâu, Nam tước ạ. Bởi thế tôi thách ngài đấy, và ngay đêm nay tôi sẽ rời Helsingfors."

"Mày không đi đâu được hết. Mày đã bị bắt."

Tôi bật cười giòn giã rồi búng tay đánh tách một cái, bảo:

"Trước khi giao tôi cho cảnh sát, trước hết ngài hãy đánh điện cho Bộ trưởng Tài chính của ngài, ngài de Witte, mà hỏi xem tôi là ai và làm gì nhé."

"Tao không hiểu mày nói gì."

"Ngài chỉ việc gửi tên họ và nhân dạng của tôi cho ngài Bộ trưởng rồi đợi hồi âm," tôi nói. "Ngài ấy sẽ ban chỉ thị cho ngài—hoặc nếu ngài muốn, cứ việc đích thân đi hỏi Hoàng thượng."

"Và cớ sao Hoàng thượng lại phải bận tâm đến mày?" hắn hỏi, vẻ mặt lập tức tỏ ra lúng túng.

"Rồi ngài sẽ biết sau, khi tôi đã bị tống vào Kajana và bí mật của ngài bị lộ tẩy ở Petersburg."

"Mày có ý gì?"

"Ý tôi là," tôi nói, "ý tôi là tôi đã chuẩn bị mọi bước cần thiết để đối phó với ngài rồi. Cái ngày mà tôi bị tống ngục theo lệnh của ngài, toàn bộ sự thật sẽ bị phơi bày. Kẻ chịu khổ sẽ không phải là tôi—mà chính là ngài đấy."

Những lời lẽ cố tình úp mở của tôi đã đánh lừa được hắn. Hắn nhận ra chiều hướng trong lý lẽ của tôi, và dĩ nhiên vì không rõ tôi biết được đến đâu, hắn vẫn nơm nớp sợ tôi. Mối bận tâm mơ hồ duy nhất của tôi lúc này là số phận thực sự của Elma tội nghiệp. Chiếc ví của tôi đã bị lấy cắp—chắc chắn là có chủ đích—bởi kẻ trộm đã tước đi của tôi văn bản quan trọng bậc nhất, chiếc chìa khóa vạn năng mở toang mọi cánh cửa: sắc chỉ của Sa hoàng.

"Mày dám thách thức tao!" hắn khàn giọng nói, quay mặt lại phía cửa sổ, tay vẫn nắm chặt tờ lệnh giam giữ tôi như một tù nhân chính trị. "Nhưng rồi để xem."

"Ngài cai trị Phần Lan," tôi lạnh lùng nói, "nhưng ngài không có quyền hành gì đối với Gordon Gregg này đâu."

"Tao có quyền, và tao sẽ dùng đến nó."

"Để tự chuốc lấy diệt vong thôi," tôi nhận xét với nụ cười đầy vẻ tự tin. "Ngài có thể hạ lệnh cho bọn đao phủ giết tôi—ra lệnh tạo ra một vụ tai nạn chết người bên trong pháo đài—nhưng tôi nói thẳng cho ngài biết cái chết của tôi sẽ chẳng thể xóa bỏ hay che giấu được tội ác của chính ngài đâu. Vẫn còn những người khác, tận bên nước Anh xa xôi, biết rõ những chuyện đó, và để trả thù cho cái chết của tôi, họ sẽ nói ra sự thật. Hãy nhớ rằng dù Elma Heath đã bị tước đoạt cả thính giác lẫn ngôn ngữ, nàng vẫn có thể viết rành rọt mọi sự thật bằng giấy trắng mực đen. Sa hoàng có thể là kẻ đỡ đầu của ngài, và ngài là sủng thần của Người, nhưng Hoàng thượng tuyệt đối không bao giờ dung thứ cho những quan chức phạm phải tội lỗi tày đình như ngài đâu. Ngài còn đòi bắt tôi ư!" tôi cười mỉa thêm vào. "Đúng ra ngài phải quỳ gối xuống mà van xin tôi giữ mồm giữ miệng mới phải chứ."

Hắn tái mặt đi vì giận dữ trước lời châm chọc cay độc của tôi. Hắn sôi sùng sục lên như muốn nổ tung, bởi hắn thấy tôi hoàn toàn điềm tĩnh, chẳng mảy may sợ hãi hắn hay hình phạt khủng khiếp mà hắn định giáng xuống đầu tôi. Thêm vào đó, tâm trí hắn tràn ngập sự hoang mang không biết Elma đã tiết lộ cho tôi bao nhiêu phần tin tức.

"Có những kẻ," tôi tiếp tục, "sẽ cực kỳ hứng thú muốn biết lý do thực sự khiến chiếc du thuyền Lola ghé vào Leghorn; vì sao tôi lại được tiếp đón trên tàu; vì sao chiếc két sắt ở Lãnh sự quán Anh lại bị cậy phá, và vì sao người con gái bất hạnh bị giam cầm trên tàu lại bị đưa lên bờ ngay trước lúc con tàu vội vã nhổ neo. Và còn những điều bí ẩn khác mà cảnh sát Anh đang ráo riết điều tra, cụ thể là lý do Armida Santini cùng một kẻ cải trang làm chồng ả lại chết dưới tay một sát thủ ở Scotland. Nhưng chắc tôi chẳng cần phải nói thêm nữa đâu nhỉ. Bấy nhiêu đó chắc cũng đủ để ngài hiểu rằng nếu sự thật được phơi bày, những tiết lộ ấy sẽ bất lợi vô cùng."

"Bất lợi cho ai?" hắn tròn mắt hỏi.

"Cho ngài chứ ai. Nào, thưa Nam tước," tôi bảo, "chúng ta vẫn chưa thể nói chuyện thẳng thắn với nhau được sao?"

Nhưng hắn lặng thinh trong giây lát, một sự thật tự nó đã là bằng chứng cho thấy những lý lẽ sắc bén của tôi đã khiến hắn phải cân nhắc lại ý định sai lính áp giải tôi trở lại tòa lâu đài kinh hoàng kia.

Nếu chuyến đi ấy là để hội ngộ với người tôi yêu, tôi chẳng màng chi hết. Chính sự mù mờ về tung tích hay số phận của nàng mới là điều gặm nhấm tôi trong nỗi âu lo sâu sắc, thiêu đốt tâm can. Từng giờ trôi qua chỉ càng làm sâu sắc thêm mối thâm tình tha thiết, dịu dàng tôi dành cho nàng. Vậy mà tạo hóa trớ trêu thay! Nàng đã bị giật phắt khỏi tay tôi ngay đúng khoảnh khắc tự do tưởng chừng đã nằm trọn trong tay.

Tôi nghĩ mình đã đúng đắn khi giữ vẻ ngạo nghễ thách thức trước mặt kẻ đã giẫm đạp Phần Lan dưới gót sắt. Hắn chưa từng quen với điều đó. Chẳng ai dám làm trái ý hắn, hay buông lời mỉa mai, đe dọa hắn bao giờ. Hắn là bậc tối thượng, nắm trong tay mọi quyền uy của một vị hoàng đế—thậm chí cả quyền sinh quyền sát. Bởi thế hắn không hề có thói quen bị cản trở hay chỉ trích, và tôi có thể thấy những lời lẽ của tôi đã thổi bùng lên trong lòng hắn một cơn bão táp cuồng nộ và hằn học. Tôi tuyệt nhiên không hé răng nửa lời về chuyện bị mất ví hay bức công văn quý giá đựng bên trong. Sự thách thức của tôi hoàn toàn là dựa trên nguyên tắc của bản thân.

"Cứ việc bắt tôi nếu ngài muốn. Cứ việc bịa ra bất cứ lời dối trá nào nảy ra nơi đầu môi để vu cáo tôi, nhưng hãy nhớ rằng sự thật đã vượt ra ngoài biên giới Đế quốc Nga rồi, và chính vì lẽ đó người ta sẽ truy tìm dấu vết của tôi và đòi một lời giải thích thỏa đáng. Tôi đã đề phòng chu tất rồi, hỡi Xavier Oberg," tôi bồi thêm, "bởi vậy ngài cứ việc làm tới đi. Tôi nhắc lại lần nữa là tôi thách ngài đấy!"

Hắn rảo bước quanh căn phòng lớn, đôi bàn tay khẳng khiu như móng vuốt vẫn siết chặt, hàm răng vàng khè nghiến ken két, đôi mắt đen sâu hoắm nhìn chăm chăm về phía trước. Nếu dám, hẳn hắn đã đánh gục tôi ngay dưới chân mình rồi. Nhưng hắn không dám. Tôi thấy quá rõ rằng dẫu chiếc ví đã mất, tôi vẫn nắm trong tay con át chủ bài—đó là việc hắn sợ tôi.

Tuy nhiên, việc tôi nhắc đến ngài Bộ trưởng Tài chính dường như đã khiến hắn phải đắn đo rất nhiều. Vị đại thần quyền thế ấy có thể trực tiếp tâu bày với Hoàng đế, và nếu tôi là người quen của ông ta, ắt sẽ có những cuộc điều tra tra hỏi. Đứng trước mặt hắn, dựa người vào chiếc bàn nhỏ khảm xà cừ, tôi quan sát từng chuyển biến phức tạp trong tâm trí hắn, cố đọc ra động cơ bí ẩn đã khiến hắn đày đọa Elma tội nghiệp tới Kajana.

Hắn là một kẻ hống hách kiêu căng, không biết đến xót thương hay cắn rứt, một mẫu hình điển hình của giới quan chức cao cấp Nga thời bấy giờ: một tên quan liêu cổ hủ, một nô lệ của thói lễ nghi với lớp vỏ bọc lịch thiệp giả tạo bên ngoài. Nhưng bên dưới tất cả những thứ đó, tôi nhìn thấu hắn là một kẻ hèn nhát đang nơm nớp lo sợ bị ám sát từng ngày—một kẻ hèn hạ sợ hãi một bí mật nào đó bị phơi bày. Cánh cửa bí mật trên vách gỗ cùng tên lính vũ trang rình rập phía sau là bằng chứng quá rõ ràng cho thấy hắn chẳng phải là viên Quan Toàn quyền dũng mãnh không biết sợ như dân chúng lầm tưởng. Chính hắn, "Kẻ siết cổ Phần Lan", đã đàn áp một dân tộc kiên cường vào vòng khuất phục, bóp nghẹt nền thương mại của họ, vắt kiệt xứ sở này bằng cách bắt lính thanh niên vào quân đội Nga, cấm tiệt việc sử dụng tiếng Phần Lan, và đánh thuế người dân đến mức các nhà máy buộc phải đóng cửa trong khi người nông dân chết đói rơm rạ. Và giờ đây, bên bờ vực của cuộc nổi dậy, đã xuất hiện một nhóm những người yêu nước không chịu khuất phục trước cảnh lầm than, những người đã gửi thư cảnh cáo Hoàng đế rằng nếu Nam tước Oberg không bị cách chức, hắn sẽ phải đền mạng.

Những suy nghĩ ấy cùng bao điều khác lướt qua tâm trí tôi giữa khoảng lặng thinh nín sau cuộc khẩu chiến nảy lửa, bởi tôi thấy rất rõ hắn đang thực sự sợ tôi. Tôi đã khiến hắn tin rằng mình biết hết mọi chuyện và tương lai của hắn đang nằm gọn trong tay tôi, trong khi về phần mình, hắn dù nôn nóng muốn tống giam tôi nhưng lại chẳng dám ra tay.

Chiếc ví của tôi có lẽ đã bị một tên mật thám cảnh sát nào đó rình rập móc mất, bởi gián điệp của Nga nhung nhúc khắp nơi trên đất Phần Lan, chuyên thêu dệt những âm mưu không hề có thật và vu cáo những kẻ vô tội là "phạm nhân chính trị".

Viên Nam tước dừng bước, nhìn qua một trong những ô cửa sổ lớn xuống khoảng sân bên dưới nơi lính gác đang qua lại tuần tra. Tòa cung điện đối với hắn chẳng qua là một nhà tù mạ vàng, bởi hắn đâu dám bước ra ngoài đi dạo trong các công viên hay hóng gió trên mặt nước sang tận Hogholmen hay Dagero; hắn bị buộc phải giam mình trong đó suốt nhiều tháng trời mà không dám xuất đầu lộ diện trước công chúng. Người ta ở Abo đã kể cho tôi nghe rằng mỗi khi hắn có việc phải ra đường phố Helsingfors, chuyện đó chỉ diễn ra vào ban đêm, và hắn thường cải trang trong bộ quân phục của một người lính gác bình thường, nhờ thế mới thoát khỏi sự nhận diện của những kẻ vì bị áp bức bất công mà nung nấu ý định lấy mạng hắn.

Một khoảng lặng dài đè nặng giữa hai chúng tôi, và lúc này tôi chợt nảy ra ý định chớp lấy sự do dự của hắn. Vì thế, tôi cất giọng kiên quyết bằng tiếng Pháp—

"Tôi nghĩ cuộc gặp của chúng ta đến đây là kết thúc được rồi chứ, thưa Nam tước? Vậy tôi xin phép cáo từ."

Hắn đột ngột quay phắt lại nhìn tôi với tia sáng độc địa lóe lên trong đôi mắt đen, miệng lẩm bẩm một câu nguyền rủa gầm gừ bằng tiếng Nga. Tay hắn vẫn cầm tờ trát lệnh tống tôi vào pháo đài.

"Nhưng trước khi tôi đi, ngài phải hủy tờ văn bản đó đi đã. Ngài biết đấy, nó có thể lọt vào tay người khác," và tôi bước về phía hắn với vẻ quả quyết dứt khoát.

"Tao đời nào làm thế!" hắn gắt lên.

Chẳng nói chẳng rằng thêm một lời, tôi giật phắt tờ giấy khỏi những ngón tay trắng bệch gầy gò của hắn rồi xé toạc ra ngay trước mặt hắn. Mặt hắn xám ngoét lại. Tôi nghĩ mình chưa từng thấy khuôn mặt của một kẻ nào lại lộ vẻ thù hằn hiểm độc đến thế bao giờ. Cứ như thể ngay khoảnh khắc ấy, cả địa ngục trần gian đã bùng nổ trong lòng hắn vậy.

Nhưng tôi quay gót bước ra ngoài, đi qua những tên lính gác ở tiền sảnh, dọc theo những hành lang rợp bóng hoa và băng qua khoảng sân để ra tới cổng chính, nơi người quản gia lộng lẫy giơ tay chào khi tôi bước ra quảng trường.

Tôi đã thoát hiểm bằng chính sự khôn khéo và cứng cỏi của mình. Vị khâm sai của Sa hoàng—kẻ cai trị xứ sở này—đã sợ tôi, và chính vì lẽ đó hắn đã không dám bắt giam tôi. Dẫu vậy, khi nhớ lại ánh mắt hận thù độc địa của hắn lúc tôi rời đi, tôi không khỏi dấy lên trong lòng những mối dự cảm đầy âu lo.

Trở về khách sạn, tôi châm một điếu xì gà trong phòng rồi trầm ngâm suy nghĩ. Elma đang ở đâu? Đó là câu hỏi lớn nhất luôn quẩn quanh trong tâm trí tôi. Cứ nán lại Helsingfors thì tôi chẳng thể làm được gì thêm sau khi đã giáp mặt kẻ áp bức kia, trong khi nếu quay trở về Abo, biết đâu tôi lại có thể tìm ra chút manh mối nào về tung tích của người tôi yêu. Tôi gọi nàng là người tôi yêu, bởi tôi vừa thương cảm vừa yêu say đắm người con gái tật nguyền khốn khổ, kẻ quá đỗi yếu đuối và chẳng có gì để tự vệ.

Vì thế, tôi đón chuyến tàu lúc nửa đêm để quay lại Abo, và đặt chân đến khách sạn vào sáng hôm sau. Sau một giờ nghỉ ngơi, tôi sốt ruột lên đường tìm kiếm Felix, gã đánh xe drosky. Tôi tìm thấy gã trong căn nhà gỗ ở khu Ludno, và khi gã mời tôi vào nhà, nhìn nét mặt gã, tôi biết ngay gã đang có tin tức muốn báo.

"Sao rồi?" tôi gặng hỏi. "Thế còn tiểu thư thì sao? Đã tìm thấy nàng chưa?"

"Ôi! thưa Quan lớn. Tiếc là hôm qua ngài lại không có mặt ở đây," gã thở dài nói.

"Sao cơ? Nói mau đi. Chuyện gì đã xảy ra?"

"Tôi có đi làm chỉ điểm phụ giúp cho cảnh sát, thưa ngài, như tôi vẫn thường làm ấy mà, và tôi đã nhìn thấy cô ấy."

"Thấy nàng ư! Ở đâu?" tôi sốt sắng kêu lên trong nỗi âu lo.

"Ở ngay Abo này thôi. Sáng hôm qua cô ấy từ Tammerfors tới đây cùng với một người đàn ông Anh quốc. Cô ấy đã thay đồ, mặc nguyên một cây đen. Họ cùng nhau dùng bữa trưa ở Nhà hàng du Nord đối diện bến tàu, rồi một tiếng sau thì lên tàu thủy đi Petersburg."

"Một người Anh ư!" tôi thốt lên. "Anh không báo cho Cảnh sát trưởng Boranski sao?"

"Có chứ, thưa Quan lớn. Nhưng ngài ấy bảo hộ chiếu của họ đều hợp lệ nên tốt nhất là cứ để tiểu thư đi tiếp. Cầm chân cô ấy lại có khi lại khiến cô ấy bị bắt lại ở Phần Lan mất," gã nói thêm.

"Thế hộ chiếu của họ đã được thị thực tại đây trước khi lên tàu chứ?" tôi gặng hỏi. "Cái tên ghi trên hộ chiếu của người đàn ông Anh quốc đó là gì?"

"Tôi có ghi lại ở đây thưa ngài. Tên tiếng Anh khó phát âm quá, tôi chịu không đọc nổi." Đoạn gã chìa ra một mảnh giấy bẩn thỉu, trên đó có ghi lại bằng nét chữ tiếng Nga một cái tên—

"Martin Woodroffe."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.