Không ai trong chúng tôi thốt nên lời. Cùng sững sờ trước cuộc tao ngộ bất ngờ, chúng tôi đứng chết trân nhìn nhau.
Vừa chạm mắt tôi, Hornby đã khẽ giật mình, mặt mày cắt không còn giọt máu. Nhanh chóng nhận ra vẻ biến sắc đột ngột ấy, Muriel Leithcourt liền đứng dậy và giới thiệu hai chúng tôi bằng chất giọng bình thản nhất có thể.
“Hình như hai người chưa quen biết nhau,” nàng mỉm cười nói với tôi. “Đây là ông Martin Woodroffe—còn đây là ông Gordon Gregg.”
Tôi cúi đầu chào hắn, lòng chợt nảy ra ý định giữ im lặng, vờ như bản thân còn bán tín bán nghi không rõ kẻ đứng trước mặt có thực là vị chủ nhân trên du thuyền Lola hay chăng. Tôi toan làm như mình chưa đủ bằng cớ để thẳng thừng vạch trần nỗi nghi hoặc. Vậy là chúng tôi cúi mình chào nhau như hai kẻ xa lạ. Dõi mắt quan sát, tôi thấy rõ cả hai trút được gánh nặng nghìn cân. Họ đưa mắt nhìn nhau đầy ngụ ý, rồi như đã yên tâm rằng tôi vẫn hoàn toàn mơ hồ chưa dám chắc, kẻ tự xưng là Woodroffe quay sang thanh minh với nàng:
“Cả ngày nay tôi sang tận Newton Stewart cùng Fred, mới về cách đây chừng mười lăm phút. Chiều nay em không chơi tiếp nữa à?”
“Chắc thôi anh ạ,” nàng đáp. “Mọi người chơi ngoài đó suốt cả buổi chiều rồi, em thấy hơi mệt. Nhưng trên bãi cỏ vẫn còn người đấy, thể nào anh chẳng tìm được ai chơi cùng.”
“Em không chơi thì tôi cũng chịu. Tôi quay về là để giữ lời hứa sáng nay đấy chứ,” hắn cười lớn, đứng trước lò sưởi lớn lộ thiên, hai tay vòng ra sau lưng cầm cây vợt quần vợt.
Tôi kín đáo quan sát diện mạo hắn, lòng càng thêm đinh ninh đây chính là kẻ đã xưng tên Hornby và cho tôi địa chỉ giả ở Somerset. Đôi bên trông rất mực thân tình, khiến tôi thắc mắc không rõ họ đã đính hôn hay chưa. Dù thế nào đi nữa, người đàn ông này ở đây tự nhiên chẳng khác nào người nhà.
Vừa trò chuyện với tiểu thư gia chủ, hắn vừa lén liếc nhanh về phía tôi, rồi lại ném cho nàng một ánh nhìn đầy ẩn ý—một ánh mắt lấy lại vẻ tự tin, như thể tin chắc đã dẹp tan được mọi mối hồ nghi nơi tôi.
Chúng tôi chuyển sang bàn chuyện triển vọng săn gà rừng và câu cá hồi; nghe cách ăn nói, có vẻ hắn say mê những thú vui đồng nội này chẳng kém gì niềm đam mê du thuyền mà trước kia hắn từng khoe mẽ.
“Bằng hữu Leithcourt của tôi quả thật may mắn khi có được một cơ ngơi cổ kính tuyệt vời nhường này. Đi đâu tôi cũng nghe người ta tấm tắc khen chim muông ở đây nhiều vô kể. Lãnh địa này xưa nay được bảo tồn rất chu đáo, lại có vô số bụi rậm thích hợp cho muông thú ẩn mình.”
“Đúng vậy,” tôi đáp lời. “Gilrae, vị chủ nhân thực sự của nơi này, vốn là một tay săn bắn cừ khôi. Trước khi lâm vào cảnh túng quẫn, ông ấy đã đổ không biết bao nhiêu tiền của vào điền trang, nơi mà tôi tin từ trước đến nay luôn được coi là một trong những cơ ngơi tuyệt mỹ nhất vùng tây nam. Nghe đồn dưới hẻm núi đằng kia có cá hồi—nhưng tôi chưa thử câu bao giờ.”
“Chắc chắn có chứ! Tôi đã tận mắt thấy mấy con rồi. Dạo nào rảnh tôi nhất định phải thử một phen. Hẻm núi sâu hun hút lại rợp bóng râm—chốn lý tưởng cho loài cá nương mình. Điều đáng tiếc duy nhất ở chốn này, theo như tôi thấy, là giống gà lôi đen có vẻ hơi hiếm.”
“Vâng, nhưng mỗi năm giống gà ấy lại càng thêm vắng bóng ở dải đất Scotland này. Thời buổi này mà săn được một chú gà trống đen thực sự đẹp mã thì quả là chuyện hiếm có,” tôi nói.
Trong lúc chúng tôi trò chuyện, hay đúng hơn là khi tôi đang chăm chú dõi theo từng biến chuyển tâm lý trên nét mặt hắn, thì chính Leithcourt bước vào nhập bọn. Ông ta vừa chơi quần vợt xong, ghé vào phòng để nghỉ ngơi cho ráo mồ hôi.
Chủ và khách xem chừng thân thiết vô cùng. Leithcourt gọi hắn là “Martin”, rồi bắt đầu kể lể về vụ cãi vã trưa nay giữa viên quản lý săn bắn của ông với một tá điền quanh vùng liên quan đến việc săn trộm thỏ. Trong lúc hai người mải nói chuyện, Muriel gợi ý tôi cùng nàng tản bộ ra sân quần vợt. Dù vô cùng tiếc nuối khi phải rời khỏi hai người đàn ông, tôi đành phải thuận theo lời mời.
Dường như nàng cố ý muốn kéo tôi rời khỏi tầm mắt kẻ kia, sợ rằng nán lại lâu hơn thì mối nghi ngờ trong tôi sẽ càng thêm rõ rệt. Nàng đang thông đồng với kẻ mà tôi từng biết dưới cái tên Hornby.
Ngoài sân vẫn còn khá đông người nán lại theo dõi trận đấu, bởi quang cảnh khu vườn cổ kính vào buổi hoàng hôn quả thực vô cùng êm ả. Con hào cạn thuở xưa nay đã biến thành khu vườn rực rỡ sắc đỗ quyên cùng hồng quyên, trong khi những hàng giậu sồi cổ thụ cao vút, chiếc đồng hồ mặt trời kỳ thú khắc dòng chữ: “Mỗi vòng bóng ngả, một ngày gần hơn với cõi chết”, cùng những lan can đá phủ mốc rêu phong, thảy đều lặng lẽ gợi nhắc về cái thời oanh liệt khi vó ngựa dũng mãnh của các Lãnh chúa Rannoch từng khiến bờ cõi bên kia biên thùy phải khiếp sợ, và không biết bao nhiêu tù nhân của Lãnh chúa Black Douglas đã mòn mỏi lìa đời trong những căn ngục đá chật hẹp nơi tòa tháp phía bắc u ám vẫn đang sừng sững vươn cao.
Trong đám quan khách đang tản bộ và nghỉ chân trước khi ra về, có không ít người quen của tôi—những bậc tao nhân có biệt quán săn bắn trong vùng và vốn là bằng hữu của chú tôi. Ở Scotland, giới điền dã luôn giữ nếp hiếu khách nồng hậu, và ranh giới đẳng cấp cũng bớt phần khắt khe hơn nhiều so với nước Anh.
Tôi đang đứng trò chuyện với hai quý bà chuẩn bị cáo từ nữ chủ nhân thì Leithcourt quay lại, nhưng chỉ có một mình. Hornby không đi cùng ông ta. Phải chăng hắn sợ phải giáp mặt tôi lần nữa?
Để dò la tung tích về kẻ đã biến mất đầy bí ẩn khỏi Livorno, tôi khéo léo lựa lời để được ngồi cùng một phụ nữ trẻ đã có gia đình tên là phu nhân Tennant, vợ của một đại úy kỵ binh trong nhóm khách lưu trú. Chỉ một lát sau, tôi đã thành công hướng câu chuyện sang các vị khách khác, đặc biệt là kẻ mà tôi biết dưới cái tên Hornby.
“Ồ! Ông Woodroffe là người thú vị lắm đấy,” người phụ nữ hoạt bát nọ quả quyết. “Ông ấy lúc nào cũng bày trò trêu chọc mọi người. Sau bữa tối, ông ấy thường là linh hồn của cả hội chúng tôi.”
“Vâng,” tôi tiếp lời, “tôi cũng thấy mến ông ấy qua chút tiếp xúc vừa rồi. Có vẻ là một người rất tốt. Tôi nghe đâu ông ấy đã đính hôn với cô Muriel,” tôi ướm thử. “Có thật thế không bà?”
“Tất nhiên rồi! Họ đính hôn ngót nghét một năm trời, nhưng dạo gần đây ông ấy toàn ở nước ngoài. Ông ấy khá kín tiếng về chuyện riêng tư, chẳng bao giờ hé môi kể về những chuyến bôn ba phiêu lưu của mình, dẫu có lần ông Leithcourt từng bảo những phen thoát chết trong đường tơ kẽ tóc của ông ấy mà viết thành sách thì ly kỳ phải biết.”
“Xem chừng Leithcourt và ông ta là chỗ bạn bè chí cốt.”
“Ồ, như hình với bóng ấy chứ!” nàng cười. “Còn một người nữa lúc nào cũng dính lấy họ, chính là cái ông già lùn béo, mặt đỏ gay đang đứng đằng kia cùng quý cô mặc váy xanh nhạt đấy, Ngài Ughtred Gardner. Ông Woodroffe đặt cho ông ta biệt danh là ‘Ngài Thối Rữa’.” Cả hai chúng tôi cùng bật cười. “Tất nhiên, xin ông đừng nói là tôi kể nhé,” nàng thì thầm. “Chẳng ai dại gì gọi thế trước mặt ông ta, nhưng những lúc vắng mặt thì việc gọi chệch tên đi một chút cũng dễ hiểu thôi mà. Phái nữ chúng tôi chẳng ai ưa ông ta cả, nên cái biệt danh ấy quả là vừa vặn như in.”
Nàng cứ thế thao thao bất tuyệt, kể cho tôi nghe bao điều tôi muốn biết về vị tân tá điền của Rannoch cùng bè bạn ông ta, và nhất là về kẻ lần đầu tiên bắt chuyện với tôi nơi Lãnh sự quán ở Livorno.
Nửa giờ sau, cỗ xe ngựa của chú tôi tới đón. Tôi ra về mang theo ấn tượng rõ rệt rằng có một bức màn bí mật sâu kín đang bao trùm lấy gia đình Leithcourt. Thế nhưng, dẫu vắt óc suy nghĩ, tôi vẫn chẳng tài nào hiểu nổi đó là chuyện gì. Phải chăng mối quan hệ mật thiết giữa Philip Leithcourt với kẻ đã phỉnh lừa tôi ngoạn mục kia đã kích thích trí tò mò trong tôi; hay đó là trực giác huyền bí, điềm báo gở kỳ lạ đôi khi vẫn ập đến như lời cảnh tỉnh trước tai ương chực chờ? Dù vì lẽ gì đi nữa, lòng tôi cũng đã trĩu nặng những mối âu lo. Bí ẩn mỗi ngày một thêm dày đặc và không thể nào lý giải nổi.
Suốt tuần lễ tiếp theo, tôi tìm mọi cách để dò la về những con người mới dọn đến tòa lâu đài.
“Đi đâu người ta cũng đón rước họ nồng nhiệt cả,” thím tôi quả quyết khi tôi gặng hỏi. “Lẽ dĩ nhiên là nhà mình chẳng biết gì nhiều về họ, chỉ hay hai năm trước họ có thuê một khu săn bắn gần Fort William, và họ sở hữu một căn nhà phố ở đường Green. Rõ ràng họ là giới thượng lưu sành điệu. Cháu có thấy thế không?”
“Cứ nhìn đám khách khứa trong nhà họ thì đúng là vậy,” tôi đáp. “Hiện giờ có lẽ khó mà tìm được đám hội hè nào phóng túng hơn thế ở phía bắc Carlisle.”
“Chính thế. Trong số đó cũng có vài gương mặt danh giá đấy,” thím tôi tiếp. “Thím đã mời họ chiều mai sang chơi, và họ đã nhận lời rồi.”
“Tuyệt quá!” tôi thốt lên, bởi tôi đang mong có cơ hội trò chuyện thêm với cô gái có đôi mắt u buồn đã đính hôn với kẻ mang bí danh Hornby. Tôi đặc biệt nóng lòng muốn tìm hiểu nguyên do mối sợ hãi nơi nàng khi tôi nhắc đến con tàu Lola, và liệu nàng có biết chút gì về Hylton Chater hay chăng.
Cơ hội rồi cũng đến, bởi chiều hôm sau, đoàn người từ Rannoch đi trên hai cỗ xe lớn kéo đến. Cùng với các vị khách quanh vùng và một ban nhạc mời từ Dumfries sang, khuôn viên dinh thự nhà chú tôi bỗng chốc trở nên rộn rã, tưng bừng. Mọi người lại chơi quần vợt và bóng vồ như thường lệ, trong khi vài quý ông thử sức với đường gạt bóng trên sân gôn mini tuyệt hảo mà chú tôi, một người mê gôn cuồng nhiệt, vừa mới cho tôn tạo.
Đúng như tôi dự đoán, Woodroffe không đi cùng đoàn. Bà Leithcourt, một phụ nữ nhỏ thó có phần kiểu cách và bồn chồn, lên tiếng cáo lỗi về sự vắng mặt của hắn, giải thích rằng cách đây vài hôm hắn có việc gấp phải về London, nhưng cuối tuần sẽ quay lại Rannoch.
“Thiếu cậu ấy thì buồn chết mất,” bà ta giãi bày với thím tôi. “Cậu ấy hóm hỉnh cực kỳ—những câu nói đùa tếu táo cùng mấy trò hề của cậu ấy khiến chúng tôi cười nghiêng ngả mỗi tối bên bàn ăn. Cậu ấy nhại giọng người khác tài tình lắm.”
Tôi quay đi và rảo bước cùng Muriel, viện cớ dẫn nàng đi thăm thú cơ ngơi tươi đẹp của chú tôi—nơi chẳng kém phần thơ mộng so với tòa lâu đài, thậm chí xét về độ chăm chút còn có phần nhỉnh hơn đôi chút.
“Hôm qua tôi mới hay tin cô đã đính ước, cô Leithcourt,” một lát sau, khi chỉ còn lại hai người, tôi cất lời. “Cho phép tôi gửi tới cô lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Hôm nọ khi cô giới thiệu tôi với ông Woodroffe, tôi nào ngờ ông ấy lại chính là vị hôn phu tương lai của cô.”
Nàng liếc nhanh về phía tôi, và tôi bắt gặp trong đôi mắt đen sâu thẳm ấy một thoáng nghi kỵ. Rồi nàng khẽ đỏ mặt, gượng gạo cười và đáp bằng một giọng lạnh tanh, vô cảm:
“Ông Gregg thật tốt bụng khi dành cho tôi những lời chúc tốt lành nhường ấy.”
“Thế ngày vui dự định khi nào sẽ diễn ra?”
“Gia đình tôi vẫn chưa định ngày cụ thể—chắc là đầu năm tới,” và tôi ngỡ như nghe thấy một tiếng thở dài.
“Và chắc hẳn hai người sẽ dành nhiều thời gian du ngoạn trên du thuyền chứ?” tôi gợi chuyện, mắt đăm đăm nhìn nàng để dò xét phản ứng trước lời nói đầy ngụ ý. Nhưng nàng đã hoàn toàn làm chủ được cảm xúc.
“Tôi yêu biển cả,” nàng đáp cộc lốc, ánh mắt nhìn thẳng về phía trước.
“Mẹ cô bảo ông Woodroffe đã lên thủ đô rồi.”
“Vâng. Anh ấy nhận được một bức điện tín nên phải đi ngay tức khắc. Thật chán quá chừng, vì hôm qua chúng tôi đã hẹn nhau đi dã ngoại ở Tu viện Dundrennan.”
“Nhưng ông ấy sẽ quay lại đây chứ?”
“Tôi cũng chẳng rõ nữa. Mọi chuyện chưa có gì chắc chắn cả. Sáng nay tôi nhận được thư, anh ấy bảo có thể phải sang Hamburg giải quyết công chuyện, chứ không lên đây nữa.”
Giọng nàng thoáng vẻ thất vọng, nhưng đồng thời tôi cũng thừa hiểu rằng vị hôn phu của nàng bỏ trốn khỏi Scotland chính là vì sự hiện diện của tôi.
Tôi thèm biết bao được thẳng thắn hỏi nàng thực chất biết những gì về gã thủy thủ đầy bí ẩn kia. Thế nhưng, nếu để lộ ra sự sốt sắng thái quá, ắt hẳn mọi nỗ lực giải mã bức màn câu đố này của tôi sẽ đổ sông đổ bể. Vì vậy, tôi đành nén lòng, tiếp tục đưa ra những câu hỏi khéo léo che đậy và tự mình đúc rút phán đoán qua từng lời đáp của nàng.
Dạo bước dọc theo những lối đi rải sỏi, tôi bỗng có một linh cảm sâu sắc rằng cuộc hôn nhân này là do cha mẹ nàng ép buộc. Dáng vẻ của nàng hệt như kẻ đang chôn giấu một bí mật kỳ lạ và khủng khiếp mà nàng luôn nơm nớp lo sợ sẽ bị phơi bày. Trong đôi mắt thâm trầm kia phảng phất một nỗi kinh hoàng khôn xiết từ cõi xa xăm, tựa hồ nàng đang phải sống trong nỗi âu lo thường trực, không ngơi nghỉ. Lẽ dĩ nhiên nàng chẳng hề hé răng về tâm tư hay tình cảm riêng tư của mình, nhưng qua cả lời ăn tiếng nói lẫn cử chỉ, tôi đều nhận thấy một sự thờ ơ kỳ lạ—thiếu vắng đi ngọn lửa nhiệt thành thực sự của tình yêu. Woodroffe nhiều tuổi hơn nàng rất nhiều, lại là bạn của cha nàng, nên tôi thấy nhiều khả năng Leithcourt đang ép gả con gái vì một mưu đồ sâu kín nào đó. Trong cơn cuồng loạn vì danh vọng, quyền lực và tiền tài, người đời sẵn sàng nhẫn tâm đem bán con gái mình trên thị trường hôn nhân; và những bà mẹ đầy tham vọng không tiếc công bày mưu tính kế để vinh thân phì gia, sẵn sàng chà đạp lên hạnh phúc của con cái nhiều hơn người đời tưởng tượng. Than ôi, bi kịch hằn rõ trên gương mặt của biết bao cô dâu từng xuất hiện lộng lẫy trên các trang báo thời trang, với những bộ cánh được tán tụng tỉ mỉ trong từng dòng tin bên dưới! Thực vậy, trong chốn thượng lưu ngày nay, việc một cô gái được tự do lựa chọn tấm chồng cho mình âu chỉ là chuyện hiếm hoi, bởi những bậc phụ huynh muốn “leo cao” trên nấc thang xã hội đã nhận ra những cô con gái xinh đẹp chính là món hàng béo bở, và không ít kẻ đã “đổi đời”, cả về danh giá lẫn tiền tài, nhờ vào chàng rể quý. Thế nên những cuộc hôn nhân vụ lợi đang dần trở nên phổ biến, và cũng vì thế mà đơn ly hôn đáng buồn thay lại ngày một tăng cao.
Tôi đọc thấy bi kịch trong đôi mắt đen sáng ngời của Muriel Leithcourt. Tôi biết trái tim non trẻ của nàng đang oằn mình gánh chịu một nỗi đau thầm kín hoặc một sự thật tội lỗi nào đó mà nàng sẵn lòng thổ lộ nếu có đủ can đảm. Chính lời lẽ của nàng đã mách bảo tôi rằng nàng đang vô cùng bối rối; rằng nàng tha thiết muốn giãi bày và tìm kiếm lời khuyên từ một ai đó, nhưng vì một biến cố ẩn giấu đầy bất trắc, đôi môi nàng đã bị khóa chặt.
Tôi cố gặng hỏi thêm về Woodroffe, về nghề nghiệp và quá khứ của hắn.
Nhưng nàng rõ ràng đã cảnh giác với tôi, âu cũng chỉ vì tôi đã lỡ lời nhắc tới con tàu Lola.
Nàng khao khát được tâm sự cùng tôi trong niềm tin cậy, vậy mà rốt cuộc lại chẳng hé lộ điều gì—tuyệt nhiên không một lời.
Martin Woodroffe không hề quay trở lại nhập đoàn khách tại Rannoch.
Dù tôi đã nán lại làm khách nhà chú lâu hơn dự định rất nhiều—thực chất là ở lại suốt cả mùa săn—để tiện bề theo dõi gia đình Leithcourt, nhưng xét theo mọi lẽ thường tình, họ quả là những con người có giáo dưỡng đàng hoàng và rất mực hiếu khách.
Đôi bên qua lại thăm hỏi và thết tiệc nhau không ít lần. Chú tôi đã mấy lượt mời Leithcourt cùng bạn bè ông ta sang khu săn bắn của mình, thết đãi bữa trưa ngoài trời có cả các quý bà quý cô tham dự; và lần nào vị khách thuê lâu đài Rannoch cũng nhiệt tình đáp lễ.
Nhờ thế, tôi có nhiều dịp chuyện trò cùng Muriel và quan sát nàng cặn kẽ hơn. Tôi vốn mang tiếng là một gã độc thân kiên định, và có lẽ chính vì thế mà nàng chẳng hề e ngại việc bầu bạn cùng tôi. Nàng sử dụng súng săn quạ thành thạo chẳng kém bất kỳ tay thiện xạ nữ nào, và bắn súng thực sự khá chuẩn xác. Thành thử chúng tôi thường xuyên rong ruổi cùng nhau băng qua cánh đồng hoang rộng lớn, hoặc dọc theo những hẻm núi tuyệt đẹp miền Nithsdale, rực rỡ trong sắc thu tráng lệ của những vòm lá xum xuê.
Ngược lại, cha nàng dường như nhìn tôi với ánh mắt đầy ngờ vực, và tôi dễ dàng nhận ra mình chỉ được mời tới Rannoch chẳng qua vì người ta không thể mời chú tôi mà lại gạt tôi ra ngoài.
Leithcourt—người có lẽ đồ rằng tôi đang theo đuổi con gái ông ta—luôn tìm cách né tránh tôi, và tuyệt đối không bao giờ chịu đi dạo riêng với tôi. Tại sao lại thế? Tôi tự hỏi lòng. Phải chăng ông ta sợ tôi? Hay Woodroffe đã kể cho ông ta nghe về cuộc chạm trán kỳ lạ giữa chúng tôi ở Livorno?
Thái độ ác cảm ra mặt của ông ta càng thôi thúc tôi lén lút dõi theo hành tung của ông, chặt chẽ hơn nhiều so với bình thường. Ông ta là mẫu người trầm uất, và thường bỏ mặc khách khứa để đi dạo một mình, vừa đi vừa trầm ngâm suy tính. Đã đôi lần tôi bí mật bám theo, và vô cùng ngạc nhiên khi thấy dù ông ta có đi vòng vèo qua bao ngả đường khác nhau, rốt cuộc ông ta vẫn luôn đến đúng một địa điểm vào đúng một khung giờ—năm giờ chiều.
Nơi ông ta dừng chân nằm ở rìa một khu rừng rậm rạp trên đỉnh đồi, cách Rannoch chừng ba dặm—một địa điểm lý tưởng để săn bồ câu rừng khi chúng bay về tổ lúc chiều tà. Nơi ấy cách con đường cái dẫn tới Moniaive chừng hai dặm băng qua các ngọn đồi; và từ khoảng hở trên bức tường đá xám nơi ông ta thường ngồi nghỉ chân hút thuốc, người ta có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn toàn cảnh tuyệt mỹ của hồ Loch Urr cùng những rặng đồi phủ đầy thạch nam phía xa xa.
Leithcourt chưa bao giờ đi thẳng một mạch tới đó, mà luôn tính toán giờ giấc sao cho vừa vặn đến nơi đúng năm giờ, rồi nán lại đó hút thuốc lá cho tới năm giờ rưỡi, tựa hồ đang ngóng đợi một người nào đó sẽ đến. Đã một đôi lần các vị khách ngỏ ý muốn đi bắn bồ câu vào lúc hoàng hôn buông xuống, nhưng lần nào ông ta cũng tìm cớ gạt đi; thành thử đám khách khứa, chẳng mảy may nghi ngờ nguyên do thực sự, đều bị ngăn không cho bén mảng tới chốn hoang vắng ấy.
Thuở thiếu thời, tôi từng ngồi biết bao giờ khắc êm đềm ở đó giữa cảnh nhá nhem của bóng chiều tà và bắn hạ không biết bao nhiêu bồ câu, nên tôi thông thuộc khu rừng ấy như lòng bàn tay. Nhờ vậy, tôi có thể rình xem vị tá điền của Rannoch từ những vị trí mà ông ta chẳng thể ngờ rằng có kẻ đang rình rập.
Có một bận, khi chỉ có hai người, tôi buột miệng nhắc đến thói quen đi dạo một mình của cha nàng, Muriel liền bảo:
“Ồ vâng, xưa nay cha tôi vẫn thích đi bộ một mình. Hồi mới chuyển tới đây cha hay dẫn tôi đi cùng, nhưng lần nào cha cũng đi xa quá nên tôi chẳng buồn đi nữa.”
Nàng tuyệt nhiên không một lần đả động đến Woodroffe. Tôi đã tạo cho nàng không biết bao nhiêu cơ hội, trêu đùa nàng về đám cưới sắp tới để nàng có dịp nhắc đến hắn. Nhưng cái tên ấy chưa từng một lần lọt qua kẽ môi nàng. Tôi chỉ phong phanh biết rằng hắn đã ra nước ngoài—chỉ bấy nhiêu thôi.
Những lúc ở một mình, tôi thường ngẫm nghĩ về chuyến phiêu lưu kỳ quặc cái đêm tôi gặp Olinto, và về việc mình đã thoát chết trong gang tấc dưới tay những kẻ thù giấu mặt. Tôi tự hỏi liệu mưu đồ ám hại tinh vi và hèn hạ nhắm vào mạng sống của tôi có thực sự can dự tới sự việc kỳ bí xảy ra ở Livorno hay không. Ngày qua ngày, mối hoài nghi trong tâm trí tôi lại càng thêm sâu sắc. Bí ẩn bủa vây tôi từ khắp mọi phía.
Quả thực, chỉ riêng một sự việc kỳ lạ thôi cũng đủ khiến nỗi hoang mang trong tôi nhân lên gấp bội phần.
Vào một buổi chiều muộn nọ, sau cả ngày đi săn cùng nhóm khách ở Rannoch, tôi cùng ba người đàn ông khác ngồi trên cỗ xe ngựa hai bánh quay về lâu đài, thấy các quý bà quý cô đã tề tựu đông đủ bên bàn trà nơi đại sảnh. Một ngọn lửa sưởi ấm cúng đang bập bùng cháy trong chiếc lò sưởi cổ đồ sộ, bởi vào tháng Mười, tiết trời Scotland vừa lạnh lẽo lại vừa ẩm ướt, khiến một đốm lửa lúc chiều hôm trở nên dễ chịu xiết bao.
Muriel đang ngồi trên chiếc gờ chắn lò sưởi bọc nệm cao—tựa như loại người ta vẫn thấy ở các câu lạc bộ quý tộc—vốn luôn là góc ấm áp ưa thích của phái nữ, nhất là sau bữa tối. Thấy tôi bước vào, nàng vội đứng dậy bưng trà đưa cho tôi, vừa nhìn tôi vừa thốt lên:
“Ôi, ông Gregg! Trông ông lem luốc thế kia!”
“Vâng, tôi mải đuổi theo mấy con dẽ giun nên trượt chân thụt xuống đầm lầy,” tôi cười đáp. “Nhưng chuyện từ hồi sớm rồi, bùn đất cũng đã khô cong cả.”
“Đi theo tôi, tôi lấy bàn chải cho ông phủi bụi,” nàng giục giã. Tôi bèn rảo bước theo nàng qua những dãy hành lang dài dằng dặc, leo lên gác tới một căn phòng khách nhỏ vốn là chốn riêng tư của nàng, nơi nàng thường may vá và đọc sách—một căn phòng nhỏ ấm cúng với hai ô cửa sổ cổ kính kỳ lạ trổ trên bức tường thành dày cộm, sàn lát gỗ sồi bóng loáng, phía trên là những cây xà nhà đen nhánh to bản. Thuở vị chủ cũ còn ở đây, gian phòng này vốn bị bỏ hoang, nhưng giờ tôi thấy nó đã được tân trang lại hoàn toàn, trở thành một tổ ấm nhỏ nhắn đầy trang nhã với những tấm rèm hoa sáng màu, những tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ êm ái cùng ngọn lửa tí tách reo vui trên bệ đá cổ.
Nàng bật cười khi nghe tôi trầm trồ khen ngợi góc nhỏ của mình, rồi bảo:
“Tôi nghe đồn ngày xưa nơi này từng là kho vũ khí đấy. Nhưng giờ thì nó đã thành một gian phòng khuê các khá ấm cúng rồi. Những khi ngoài kia ồn ào quá, tôi có thể khóa trái cửa lại để tìm chút thanh tịnh,” nàng vui vẻ tiếp lời.
Thế nhưng, khi ánh mắt tôi đảo quanh gian phòng, tôi bỗng khựng lại, bàng hoàng kinh ngạc trước một vật thể lọt vào tầm mắt—một bức ảnh chân dung khổ nhỏ lồng trong khung da màu đỏ thẫm.
Bức ảnh chụp một thiếu nữ trẻ—bản sao y hệt của bức chân dung tôi từng tìm thấy bị xé toạc làm đôi rồi vứt bỏ trên boong tàu Lola!
Đôi mắt tươi vui trong ảnh như đang cười đùa với tôi, giữa lúc tôi đứng sững sờ nhìn trân trối trong nỗi hoang mang tột độ.
“Một cô gái thật xinh đẹp!” Tôi vội thốt lên, cố nén nỗi bàng hoàng. “Ai thế này cô?”
Người bạn đồng hành của tôi im lặng giây lát, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn xoáy vào tôi với vẻ dò xét lạ lùng.
“Vâng,” nàng cười, “ai nhìn cũng khen cô ấy cả. Đó là cô bạn học cũ của tôi—Elma Heath.”
“Heath ư!” Tôi lặp lại. “Hai người học cùng nhau ở đâu thế?”
“Ở Chichester.”
“Lâu chưa cô?”
“Hơn hai năm trước một chút.”
“Cô ấy đẹp thật đấy!” Tôi quả quyết, cầm bức ảnh lên và nhận ra bên dưới có in tên của chính hiệu ảnh danh tiếng ở phố New Bond—đúng cái tên tôi từng thấy trên tấm thảm của con tàu Lola ngoài Địa Trung Hải.
“Vâng. Ngoài đời cô ấy còn đẹp hơn trong ảnh nhiều. Bức ảnh này chưa lột tả hết nét duyên dáng của cô ấy đâu.”
“Thế giờ cô ấy đang ở đâu?”
“Sao ông tò mò thế hả ông Gregg?” cô gái xinh đẹp cất tiếng cười trêu chọc. “Chẳng lẽ ông lại phải lòng cô ấy chỉ qua một bức ảnh sao?”
“Tôi đâu phải hạng người dễ dãi như thế, thưa cô Leithcourt,” tôi đáp lại bằng giọng nửa đùa nửa thật nghiêm nghị. “Tôi nghĩ ngay cả kẻ thù tệ bạc nhất cũng chẳng thể gán cho tôi cái danh kẻ đào hoa tán tỉnh lăng nhăng đâu nhỉ?”
“Đúng thế thật. Tôi phải công nhận điều đó,” nàng quả quyết. “Ông chẳng bao giờ tán tỉnh ai. Đó chính là lý do tôi quý ông.”
“Cảm ơn cô vì đã thẳng thắn, cô Leithcourt,” tôi nói.
“Chỉ có điều,” nàng bồi thêm, “trông ông có vẻ mê mẩn nhan sắc của Elma rồi đấy.”
“Tôi thấy cô ấy vô cùng kiều diễm,” tôi nhận xét, tay vẫn cầm bức ảnh. “Dạo này cô có hay gặp cô ấy không?”
“Chẳng bao giờ cả,” nàng đáp. “Kể từ cái ngày tôi rời trường, hai đứa chưa từng gặp lại nhau. Cô ấy kém tôi mấy tuổi, và tôi nghe đâu chỉ một tuần sau khi tôi rời Chichester thì gia đình cô ấy cũng đến đón cô ấy về. Giờ cô ấy ở đâu tôi chịu chẳng biết. Nhà cô ấy ở tận mạn Durham thì phải. Cha cô ấy làm bác sĩ.”
Câu trả lời của nàng khiến tôi hụt hẫng. Dẫu vậy, chí ít tôi cũng đã biết được danh tính của người trong ảnh, và qua hiệu ảnh kia, có lẽ tôi sẽ lần ra được tung tích nơi ở của nàng; bởi theo tôi thấy, nàng ắt hẳn có can dự mật thiết tới những kẻ đi trên chiếc du thuyền đầy bí ẩn đó.
Những điều Muriel kể về cô bạn ấy, tôi không mảy may nghi ngờ dẫu chỉ một khắc. Song, việc một bản sao của bức chân dung từng để lại ấn tượng sâu đậm trong tôi lại được lưu giữ ngay trong khuê phòng của nàng như kỷ vật về một người bạn học thân thiết, chắc chắn không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên đơn thuần.
“Thế cô hoàn toàn bặt vô âm tín về hoàn cảnh hiện tại hay nơi ở của cô ấy sao—chẳng hạn như cô ấy đã lấy chồng hay chưa?”
“A!” nàng tinh nghịch kêu lên. “Lời nói đã tố cáo ông rồi nhé. Tôi tin chắc là ông Gregg đã trúng tiếng sét ái tình với cô ấy rồi. Nếu Elma mà biết được thì ắt hẳn cô ấy sẽ hãnh diện lắm—hoặc chí ít, cô ấy cũng nên thấy thế.”
Nghe vậy tôi chỉ mỉm cười, thà để nàng nghĩ theo hướng đó còn hơn đoán ra sự thật.
Nàng nói năng hết sức bộc trực, bằng sự chân thành của một cô gái đoan trang, thẳng thắn. Nàng không ghen tuông, nhưng dù sao nàng cũng có phần phật ý—như bao người phụ nữ khác—khi thấy tôi đem lòng mê mẩn bức ảnh của một người bạn gái mình.
Chắc chắn có một điều bí ẩn xoay quanh bức ảnh bị xé rách kia; tôi dám đoan chắc về điều đó. Ký ức về buổi tối đáng nhớ khi tôi dùng bữa trên tàu Lola lại hiện về mồn một trước mắt. Tại sao chân dung của cô gái lại bị hủy hoại một cách tàn nhẫn như thế, và chiếc khung ảnh lại bị úp mặt vào tường? Hẳn phải có uẩn khúc—một động cơ rõ ràng và vô cùng hệ trọng nào đó. Liệu Muriel có nói thật với tôi chăng, hay nàng chỉ đang tìm cách bao che cho kẻ bị tình nghi vốn là người tình của nàng?
Từng giờ trôi qua, bức màn bí ẩn bao quanh gia đình Leithcourt ngày càng trở nên khó dò, càng cuốn hút tâm trí tôi đến nghẹt thở. Tôi đã tra cứu cuốn Danh bạ London tại Khách sạn Nhà ga ở Carlisle, và phát hiện ra không có căn nhà nào trên đường Green được đăng ký dưới tên vị tá điền của Rannoch; hơn nữa, khi xem xét danh sách khách khứa ở lâu đài, tôi nhận thấy họ thực chất là những kẻ vô danh tiểu tốt trong giới thượng lưu. Họ chỉ thuộc cái hạng ăn bám khéo ăn khéo nói, ăn mặc bảnh bao, lúc nào cũng đu bám theo giới nhà giàu và làm ra vẻ mình sành điệu, thuộc về giới quý tộc thượng lưu. Rannoch là một cơ ngơi tốn kém để duy trì, với cả một đoàn gia nhân đông đảo cùng đám coi sóc săn bắn, lại thêm những bữa tiệc tối ê hề do chính tay đầu bếp người Pháp nấu nướng; vậy mà Leithcourt dường như túi tiền không đáy, vẫn tươi cười niềm nở với đám người ăn bám kia—những viên sĩ quan với cấp hàm mập mờ cùng đám hậu duệ non nớt của giới quý tộc dởm đang vây quanh ông ta—trong khi vợ ông ta, với ánh mắt sắc sảo và phong thái kiêu kỳ, vừa câu nệ từng li từng tí các quy tắc xã giao, lại vừa không tiếc công sức chăm chút để đám khách khứa thượng vàng hạ cám của mình có được những chuỗi ngày vui chơi thỏa thích.
Nhưng đâu phải chỉ mình tôi là không hiểu nổi bọn họ. Chú tôi chính là người đầu tiên vạch trần cho tôi thấy chân tướng thực sự của vài kẻ trong số những người đàn ông đang lưu trú tại Rannoch.
“Chú thấy này Gordon, một hai gã đi cùng Leithcourt rõ ràng là quân hạ lưu đốn mạt,” ông khẽ nói với tôi vào một đêm nọ, sau khi chúng tôi đã trải qua một ngày săn mệt nhoài và đang chơi một ván bida một trăm điểm trước khi đi ngủ. “Có một gã mới đến hôm qua mà chú biết tỏng tòng tong. Hắn đã bị gạch tên khỏi Câu lạc bộ Boodle cách đây ba năm vì tội gian lận bài bạc—chính là cái gã mặt choắt, ria mép hoe vàng tên là Cadby đấy. Chú đồ rằng Leithcourt không biết chuyện, chứ nếu biết thì đời nào lại rước hắn lên đây ngồi chung mâm với những người đàng hoàng.” Nói đoạn, chú tôi nhai nhai đầu điếu xì gà, hậm hực khịt mũi, dường như chỉ chực bóng gió nhắc nhở người bạn mình rằng cái tên Cadby đã bị tống cổ ra ngoài rìa của xã hội thượng lưu đứng đắn.
“Tốt hơn hết là chú đừng đả động gì thì hơn,” tôi can gián. “Đó là chuyện riêng của ông Leithcourt, chú ạ—đâu phải việc của nhà mình.”
“Biết là thế, nhưng một khi đã muốn tạo dựng địa vị ở chốn này thì không thể bắt chúng ta phải giao du với cái hạng người như vậy được. Thế này là quá quắt lắm rồi, Gordon ạ. Đàn ông chúng mình còn nể nang mấy bà mấy cô trong hội, chứ còn cánh đàn ông bọn họ—nói thật lòng cho cháu biết, chú sẽ chẳng thèm nhận lời đi săn với ông ta thêm lần nào nữa đâu.”
“Ấy, đừng thế chứ chú,” tôi xoa dịu. “Có lẽ cũng chỉ vì ông ấy không biết đấy thôi. Ít bữa nữa chú có thể kín đáo chỉ bảo cho ông ấy vài điều hữu ích. Ông ấy là người tốt, chỉ cần va vấp thêm ở Scotland là mọi chuyện sẽ đâu vào đấy thôi mà.”
“Ừ. Nhưng chú không ưa nổi, cháu ạ, chú không ưa nổi! Làm thế là không đàng hoàng,” vị quý tộc già nghiêm cẩn quả quyết, mặt đỏ lên vì bực bội. “Chú dứt khoát không đáp lễ bằng cách mời cái thằng lừa đảo Cadby đó tới nhà mình đâu—chú nói thẳng cho cháu biết thế.”
Hôm sau, tôi đi săn cùng gia đình Carmichael ở Crossburn. Tới khoảng bốn giờ chiều, sau một ngày bội thu, tôi cáo từ mọi người tại Hẻm Đen rồi một mình rảo bước cuốc bộ về nhà, quãng đường chừng sáu dặm. Trời đã bắt đầu nhá nhem tối, và tôi biết chắc trời sẽ tối mịt trước khi tôi về tới tư dinh của chú. Lối đi tắt nhất là men theo dòng sông chừng hai dặm, rồi cắt thẳng qua khu rừng rậm rạp bạt ngàn, sau đó băng qua cánh đồng hoang mênh mông đầy những đầm lầy hiểm trở chực chờ nuốt chửng những kẻ sơ sẩy.
Vác súng trên vai, tôi sải bước được chừng ba phần tư giờ và gần như đã xuyên qua khu rừng. Lúc này trời đã tối đến mức tôi phải chật vật lắm mới lần được lối đi, thì—đột nhiên—tôi ngờ ngợ nghe thấy tiếng người.
Tôi đứng khựng lại. Đúng rồi. Tiếng đàn ông đang thì thầm to nhỏ với nhau, và giữa màn đêm tĩnh mịch của buổi chiều tà, âm thanh nghe chừng như ở rất gần tôi.
Tôi nín thở lắng tai nghe ngóng, cố phân định từng lời thốt ra, nhưng chẳng thể nghe rõ điều gì. Bọn họ đang chậm rãi bước đi cùng nhau, ngay sát cạnh chỗ tôi đứng, bởi từng bước chân của họ đạp lên đám lá khô xào xạc, và tôi có thể nghe rõ tiếng cành cây gãy răng rắc khi họ vạch lối băng qua.
Bất thình lình, trong lúc đứng chôn chân không dám thở mạnh vì sợ để lộ hành tung, một âm thanh kỳ quái bỗng đập vào tai tôi.
Ngay khoảnh khắc sau, tôi chợt nhận ra mình đã tới đúng cái nơi mà Leithcourt vẫn thường bền bỉ đến chờ đợi trong vô vọng, chỉ có điều tôi tiếp cận nó từ phía sâu trong lòng rừng.
Âm thanh ấy khiến tôi giật thót mình, dẫu đó chẳng phải tiếng súng nổ chát chúa hay tiếng thét thất thanh cầu cứu.
Chỉ một từ duy nhất lọt vào tai tôi giữa màn đêm—một từ thốt lên đầy cay đắng và khinh miệt tột cùng.
Bất chấp mối hiểm nguy đang rình rập và hiểm họa có thể giáng xuống đầu mình, tôi lao vụt về phía trước với quyết tâm vén màn bí mật, cho tới khi chạm đến khoảng hở trên bức tường đá thô ráp—nơi Leithcourt vẫn thường dừng chân mỗi độ hoàng hôn.
Tại đó, giữa bóng tối đang sụp xuống, cảnh tượng đập vào mắt nơi góc tường khiến tôi chết lặng, kinh hoàng và chết sững.
Chính trong khoảnh khắc ấy, tôi đã thấu triệt sự thật—một sự thật có lẽ là kỳ quái nhất từng được phơi bày trước mắt một con người.