Giấc Mộng Tình Yêu

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

SAU một giấc ngủ sâu không mộng mị, anh bị đánh thức bởi tiếng đập thình lình ngoài cửa, một giọng lanh lảnh gọi anh:

– Ê, anh dậy ăn sáng thôi!

Anh vùng dậy. Anh đang ở đâu nhỉ? À!

Xuống nhà ăn, anh thấy họ đã ăn món mứt cam, anh ngồi xuống chiếc ghế còn bỏ trống giữa Stella và Sabina. Cô bé nói sau khi nhìn anh một thoáng:

– Em bảo này, chúng mình phải ăn nhanh lên nhé, đến chín giờ rưỡi là đi đấy!

– Chúng ta đi mũi Berry chơi, cậu phải đi chơi với chúng tớ, Halliday nói.

Ashurst nghĩ: “Đi chơi à? Không được, mình phải đi mua các thứ và quay về thôi”. Anh nhìn sang Stella, cô nói vội vã:

– Anh đi với chúng em đi!

Sabina bổ sung:

– Không có anh thì chúng em sẽ mất vui.

– Freda đứng dậy và đứng ngay sau ghế của anh:

– Anh phải đi nghe không, nếu không thì em giật tóc cho đấy!

Ashurst nghĩ: “Thôi được, một ngày nữa thôi – để nghĩ cho thật kỹ – một ngày nữa”. Và anh nói:

– Được rồi, anh sẽ đi, đừng làm xù mất cái bờm của anh.

– Hoan hô.

– Ở sân ga, anh viết một bức điện thứ hai đề gởi về trại nhưng sau đó anh lại xé đi. Anh không thể nào giải thích được lý do vì sao không về. Từ Brixham, họ đi trên một chiếc xe ngựa rất chật. Anh bị nén chặt giữa Sabina và Freda, đầu gối chạm vào đầu gối của Stella, những cảm giác u ám của anh cũng dần nhường chỗ cho vui đùa. Trong cái ngày mà anh tự hứa là để nghĩ cho kỹ này, anh chẳng muốn nghĩ ngợi gì cả. Họ chạy thi, đánh vật, bơi thuyền vì hôm nay không ai muốn bơi nữa, họ hát đuổi, chơi bài và ăn uống những thứ mang theo. Lúc trở về, hai đứa bé mệt quá, tựa vào anh ngủ thiếp đi và trên cái xe chật chội đầu gối anh cứ phải chạm vào đầu gối Stella. Điều không thề tin được là chỉ ba mươi giờ trước dây, anh chưa hề bao giờ biết đến những mái đầu vàng nhạt kia.

Trong xe anh nói chuyện với Stella về thơ ca, tìm hiểu nhũng sở thích của cô và nói với cô những sở thích của anh với một cảm giác thích thú về sự ưu việt của mình. Nhưng một lúc sau bỗng Stella nói với anh, giọng nhỏ nhẹ:

– Anh Phil nói với em rằng anh không tin vào cuộc sống tương lai, phải không ạ? Em cho rằng nghĩ như vậy thì bi quan quá.

Ashurst bối rối trả lời:

– Tôi cũng không biết là có tin hay không tin nữa.

Cô nói nhanh:

– Không, em không chịu được, như vậy, nếu thế thì sống làm gì?

Nhìn đôi lông mày vòng cung xinh đẹp nhíu lại, Ashurst trả lời:

– Tôi không tin vào những điều đang được tin tưởng chỉ vì người ta muốn tin.

– Nhưng người ta còn muốn sống làm gì nếu người ta không có niềm tin?

Và cô nhìn anh chăm chú.

Anh không muốn làm cho cô phật ý nhưng do tính hiếu thắng thúc đẩy, anh nói:

– Khi người ta đã sống thì tự nhiên người ta muốn cứ tiếp tục sống như thế mãi, nhưng có lẽ ngoài cái đó ra thì không còn gì khác nữa.

– Vậy anh có tin kinh thánh không?

– Tôi tin ở lời Chúa truyền vì nó đẹp và hay.

– Nhưng anh có tin Chúa Kitô là thiêng liêng không?

Anh lắc đầu.

Cô quay mặt ra phía cửa sổ và trong đầu anh lập tức nhớ lại lời cầu nguyện của Megan do Nick nói lại: “Xin chúa phù hộ chúng con, phù hộ cho cậu Ashurst”. Ngoài nàng ra còn có ai cầu nguyện cho anh như vậy mà giờ đây nàng đang phải chờ đợi, chờ đợi anh trở lại con đường nhỏ. Và anh bỗng nghĩ: “Mình thật là một thằng vô lại”.

Suốt buổi tối hôm đó, ý nghĩ này cứ lởn vởn trong đầu anh, nhưng rồi cũng như mọi chuyện khác, mỗi lúc một bớt nhức nhối đi cho đến lúc anh hầu như đã quen với ý nghĩ rằng có là thằng vô lại cũng là một điều tự nhiên. Cuối cùng, thật là kỳ lạ, anh cũng không hiểu anh sẽ là thằng vô lại nếu anh định trở lại với Megan hay không định trở lại với nàng.

Họ chơi bài cho đến khi bọn trẻ đi ngủ và Stella lại ngồi vào đàn dương cầm. Ashurst ngồi trong bóng tối bên cửa sổ, anh ngắm cô trong ánh sáng của những ngọn nến, mái đầu đẹp, cổ cao và trắng đang nghiêng ngả theo nhịp của hai bàn tay. Cô chơi đàn trôi chảy, không gợi cảm mấy nhưng trông cô như ở trong một bức tranh đẹp mắt, vầng ánh sáng vàng nhạt lộng lẫy phảng phất một không khí thần tiên quanh cô. Ai mà dám có những ý nghĩ yêu đương hoặc những khát vọng rồ dại trước sự hiện diện của người con gái với y phục trắng trong và mái đầu thần tiên này. Cô chơi một bản nhạc của Schumann, Halliday cũng lấy sáo ra thổi và sau đó họ đề nghị Ashurst hát, Stella đệm đàn. Đến nửa chừng có hai bóng bé nhỏ mặc quần áo màu xanh rón rén bò vào và cố giấu mình dưới chiếc đàn dương cầm. Buổi tối vỡ ra trong cảnh lộn xộn vui vẻ và Sabina cho như thế là “vui cực kỳ”.

Đêm đó Ashurst hầu như không ngủ được, anh nghĩ ngợi, trằn trọc. Không khí ấm cúng thân mật của gia đình Halliday trong hai ngày hôm nay đã bao trùm lấy anh, khiến cho cái trang trại kia và Megan – ngay cả nàng nữa – cũng hình như không còn là thật nữa. Có phải là anh đã thực sự yêu nàng và đã hứa mang nàng đi sống với mình không? Hẳn là anh đã bị mê đắm vì không khí mùa xuân, vì trời đêm yên tĩnh và vì những vầng hoa táo kia chăng? Cái không khí hừng hực của tháng năm có thể đã nghiền nát cả hai chúng ta! Ý nghĩ về việc anh sắp sửa đưa nàng đi, biến nàng – một cô bé chưa đến mười tám tuổi – thành người nhân tình của anh – khiến anh sợ hãi, ngay trong khi ý nghĩ đó vẫn đang day dứt lòng anh. Anh thầm thì tự nhủ: “mình đã làm một việc xấu xa, xấu xa kinh khủng”. Tiếng nhạc của Schumann lại rộn lên pha trộn với những ý nghĩ đang xốn xang trong anh và anh lại thấy bóng dáng dịu dàng, trinh trắng, có mái tóc màu sáng của Stella đang cúi xuống với vầng sáng thần tiên diệu kỳ ở quanh cô. “Mình thật là – thật là điên rồ” “Cái gì đã xui khiến mình như vậy? Em Megan tội nghiệp!” “Chúa phù hộ chúng con, phù hộ cậu Ashurst”. “Em muốn sống với anh – chỉ sống với anh thôi”. Và anh vùi mặt vào gối cố giấu tiếng khóc nức nở. Nhưng khi người ta còn trẻ thì những cơn xúc động cũng trút được hết dễ dàng theo nước mắt và không dày vò người ta lâu lắm. Chỉ một lúc sau anh đã thấy buồn ngủ và nghĩ: “một vài cái hôn thì có đáng kể gì, chỉ trong một tháng là người ta quên hết!”

Sáng hôm sau anh đi lãnh tiền nhưng tránh không đi qua cái cửa hàng có chiếc áo dài màu xám, thay vào đó, anh mua cho mình những thứ cần thiết. Suốt ngày, hôm ấy, anh sống trong trạng thái hờ hững, lòng ấp ủ một nỗi buồn rầu ủ rũ. Thay thế cho những nhiệt tình sôi nổi cửa hai ngày qua, anh chỉ thấy một cảm giác trống rỗng hình như những dòng nước mắt đêm qua đã dập tắt hết mọi khát khao tình cảm. Sau bữa trà, Stella đưa đến đặt cạnh anh một quyển sách và rụt rè nói:

– Anh đã đọc quyển sách này chưa, anh Frank?

Đó là quyển “Cuộc đời của Chúa Kitô” của Farrar. Ashurst mỉm cười. Sự lo lắng của cô đối với đức tin của anh thật buồn cười và cảm động. Tự nhiên anh cũng nổi cơn hăng muốn tự bào chữa cho mình nếu không làm cô ta thay đổi được. Và đến tối, lúc bọn trẻ cùng Halliday đang lúi húi chữa lại cái lưới bắt tôm, anh nói với cô:

– Nền tảng của đạo chính thống của chúng ta là ở sự trừng phạt. Người ta làm điều tốt là mong được thưởng cái gì, đó chỉ là một kiểu cầu xin ơn huệ thôi. Tôi cho rằng tất cả bắt đầu từ sự sợ hãi.

Cô ta ngồi trên chiếc xôpha, đang tết một sợi dây. Cô nhìn lên rất nhanh:

– Em nghĩ rằng hẳn nó phải có cơ sở sâu sắc hơn.

Một lần nữa Ashurst lại không kìm được lòng hiếu thắng.

– Cô nghĩ như vậy, anh nói, nhưng cô lại muốn “có đi có lại”, đó là ý muốn sâu sắc nhất trong mỗi chúng ta! Hiểu được bản chất của nó thật là khó đấy!

Cô cau mày bối rối:

– Em không hiểu anh nói gì.

Anh vẫn tiếp tục một cách bướng bỉnh:

– Đây nhé, cô hãy nhìn xem, những người tin đạonhất đều không phải là những người nghĩ rằng cuộc sống này không đem lại cho họ tất cả những gì họ muốn. Tôi tin ở sự làm điều tốt chỉ bởi vì điều đó là tốt!

Bây giờ nét mặt cô trông mới tươi đẹp làm sao và làm lành với cô cũng dễ dàng làm sao!

Anh liền gật đầu và nói:

– Này, cô bày cho tôi cách thắt nút với!

Anh cảm thấy nhẹ nhõm khi những ngón tay cô chạm vào ngón tay anh khi dạy anh tết bằng sợi dây. Cho đến khi anh đi ngủ, anh cố nghĩ về cô ta, cố đắm mình vào trong vòng hào quang dịu dàng và thân thiết của cô như để tìm nơi ẩn náu.

Ngày hôm sau họ sửa soạn đi tàu hỏa đến Totnes và sẽ cắm trại ở Berry Pomeroy. Anh đã quên hẳn chuyện riêng, trèo lên ngồi canh Halliday trên chiếc xe ngựa bốn bánh, quay lưng lại con ngựa. Khi dang đi dọc theo bờ biển gần khúc ngoặt vào ga xe lửa, anh bỗng giật thót mình thấy bóng Megan – chính là nàng – đang đi bộ trên con đường nhỏ ở phía xa, với chiếc váy và áo khoác đã cũ, chiếc mũ nồi màu xanh quen thuộc, nàng đang vừa đi vừa nhìn chăm chú vào những người qua đường. Bất giác anh đưa tay lên che mặt, làm như đang dụi mắt vì hạt bụi bay vào, nhưng qua kẽ ngón tay anh vẫn thấy nàng đang đi, không phải với dáng đi thoải mái quen thuộc của nàng khi đang ở đồng quê mà ngập ngừng thất thểu, trông thật là tội nghiệp, giống như một con chó con lạc chủ không biết nên chạy tới hay chạy lui. Nàng đã đến đây bằng cách nào? Và đã viện lý do gì để đi? Nàng hy vọng vào điều gì? Vòng xe quay mang anh đi mỗi lúc một xa nàng, tim anh như nổi loạn đòi anh phải dừng xe lại và chạy đến với nàng! Khi cỗ xe ngựa đã rẽ theo đường ngoặt vào tới nhà ga, anh không chịu nổi nữa, và anh vội mở cửa xe, nói lẩm bẩm: “Tôi bỏ quên một thứ. Cứ đi đi đừng chờ, tôi sẽ đến đó bằng chuyến xe sau”. Anh nhảy ra khỏi xe, bị vấp chân và lảo đảo, cổ gượng dậy và đi ngược trở lại, trong khi cỗ xe mang gia đình Halliday đang kỉnh ngạc vẫn tiếp tục lăn bánh về phía trước.

Đến chỗ ngoặt, anh đã có thể thấy Megan, nàng đã đi cách đó một đoạn xa phía trước. Anh chạy lên mấy bước, cố tự kiềm chế và tiếp tục bước đi. Mỗi bước càng lại gần nàng, càng xa cái xe ngựa của gia đình Halliday, anh càng đi chậm lại. Liệu có thể thay đổi được gì không nếu gặp lại nàng? Làm thế nào để có thể đến với nàng và làm những việc tiếp theo mà tránh khỏi xấu xa? Bởi vì anh biết rằng không thể nào tránh được điều đó – từ khi anh gặp gia đình Halliday, anh dần dần khẳng định rằng không thể cưới Megan được. Đó chẳng qua chỉ là một khoảnh khắc của tình yêu hoang dã, làm anh bối rối, làm anh hối hận. Lúc đó, đúng rồi, lúc đó anh đã mệt mỏi và bị chinh phục vì nàng đã yêu anh hết mình bằng một tình yêu giản dị ngây thơ trong sáng như sương mai. Và hạt sương mai đã tan mất! Xa xa, trước mặt anh, hình bóng nàng đã mờ dần, chiếc mũ nồi như một chấm xanh vẫn như vẫy gọi anh mỗi lần nàng nhìn vào mặt từng người tìm kiếm và nhìn lên cửa sổ của mỗi nhà. Có người đàn ông nào mà trong cuộc đời phải trải qua những giây phút khủng khiếp như anh lúc này không? Dầu làm cách nào anh cũng thấy mình là một loài dã thú. Và anh không nén được một tiếng rên rỉ khiến một người qua đường phải quay lại nhìn. Anh thấy Megan đứng lại, tựa người vào bức tường và nhìn ra biển, anh cũng đứng lại. Rõ ràng là nàng chưa bao giờ được thấy biển nên dù đang trong tình trạng đau khổ, nàng cũng không thể không dừng chân lại ngắm nghía. “Đúng rồi, nàng chưa hề thấy gì trên đời”, anh nghĩ, “tất cả mọi thứ đều đang ở phía trước nàng. Thế mà chỉ vì một mối cảm tình trong một vài tuần lễ, mình đã định nghiền nát cuộc đời nàng! Thà mình tự treo cổ lên còn hơn làm điều đó!” Và bỗng anh thấy hình như đôi mắt bình thản của nàng đang nhìn vào mắt anh, làn tóc mượt mà lượn sóng phất phơ trước gió. Ôi, anh thật là điên rồ, anh sẽ vứt bỏ những gì anh quí trọng và vứt bỏ cả lòng tự trọng của anh. Anh quay lại và đi nhanh về phía nhà ga. Nhưng hình ảnh người con gái tội nghiệp, ngơ ngác tìm kiếm anh giữa những người qua đường lại dày vò anh, và anh lại quay trở về phía biển một lần nữa. Nhưng nàng đã lẫn vào trong dòng người đi dạo mát buổi chiều, anh không thấy bóng cái mũ nồi xanh đâu nữa. Khi cuộc sống sắp cuốn đi mất cái gì không đạt đến được nữa thì người ta lại thấy thiếu thốn khát khao và anh chạy lên phía trước. Không thấy bóng nàng đâu cả, anh tìm kiếm nàng đến nửa giờ, rồi anh nằm lăn ra trên bờ biển, đầu gục xuống cát. Muốn tìm nàng, anh biết rằng chỉ có cách là đi ra ga chờ ở đó cho đến khi nàng thất bại trong cuộc tìm kiếm và trở lại ga để đi về nhà, hoặc là anh tự đi tàu về trước, khi nàng vì trại thì đã thấy anh ở đó rồi. Nhưng anh vẫn nằm lì trên cát, giữa những đám trẻ con chơi nhởn nhơ xung quanh với những cái mai và cái xô của chúng. Anh thương hại cái bóng dáng nhỏ bé đang lang thang tìm kiếm của nàng, đó là tất cả mối tình hoang dã mà phần cao thượng trong đó nay đã tan biến hết. Anh vẫn thích nàng, thích dáng người mềm mại thon thả của nàng, thích tình yêu hồn nhiên say đắm của nàng, anh vẫn thích những cảm giác say sưa của một đêm tuyệt diệu trong rừng hoa táo dưới ánh trăng mở ảo. Dòng suối có cá hồi với tiếng rì rào vội vã màu vàng lộng lẫy cửa đồng hoa mao lương, hòn đá của “người cổ”, tiếng gọi của chim cúc cu và chim gõ kiến, tiếng rúc của cú ăn đêm và văng trăng sáng trên nền trời đen mượt như nhung hé mắt nhìn xuống những chòm hoa táo trắng một màu rạng rỡ, rồi nét mặt của nàng bị tóc mai rủ xuống che khuất khi nàng cúi nhìn ra cửa sổ, và trái tim nàng đập bên trái tim anh, môi nàng đáp lại môi anh dưới những vòm táo đang nở hoa – tất cả những hình ảnh đó đều đang vò nát lòng anh. Nhưng anh vẫn nằm đó không nhúc nhích. Cái gì đã ngăn cản tình yêu và những khát khao mãnh liệt, giữ anh ở lại trên bãi cát nóng bỏng này? Phải chăng đó là ba mái đầu tóc vàng nhạt kia, một bộ mặt xinh đẹp với đôi mát xanh âu yếm kia, một bàn tay thon nhỏ đã xiết chặt tay anh, một giọng nói thân mật gọi tên anh và hỏi: “Vậy là anh cũng tin ở sự làm điều tốt sao?”. Đúng rồi, ở đó có không khí như ở những khu vườn cổ có tường bao quanh ở nước Anh, có mùi hương của hoa cẩm chướng, hoa hồng, oải hương vả tử đinh hương – mát mẻ, trong sạch, gần như thiêng liêng – tất cả những thứ mà anh được nuôi dưỡng trong đó. Anh chợt nghĩ: “Nàng có thể đi qua một lần nữa và trông thấy mình mất”, rồi anh đứng dậy và lần ra tảng đá ở cuối bãi biển, ở đây, sóng biển tung bụi nước mát lên mặt anh có lẽ sẽ làm anh suy nghĩ được bình tĩnh hơn. Trở lại trang trại và yêu Megan trong cảnh thiên nhiên hoang dã của những khu rừng, những lèn đá ư? Anh biết làm như vậy là hoàn toàn không thể được. Đưa nàng về một thành phố lớn, anh sẽ giữ nàng trong một căn phòng nhỏ hẹp nào đấy như giữ một vật sở hữu hoàn toàn thuộc về thiên nhiên – tâm hồn thi sĩ trong anh phản đối cách làm đó. Tình cảm của anh có thể chỉ là một thứ đam mê nhất thời, nó sẽ nhanh chóng mất đi. Và ở Luân Đón, tính cách đơn giản mộc mạc của nàng, sự thiếu lịch lãm của nàng sẽ có thể biến nàng thành một thứ đồ chơi bí mật của anh, chỉ thế thôi không còn gì khác nữa, Anh ngồi trên một tảng đá, chân đu đưa trên mép nước xanh xanh đang rút dần theo triều xuống và mỗi lúc anh càng thấy rõ điều này hơn, nhưng, anh lại thấy như hai tay nàng đang chới với và hình ảnh nàng đang lùi dần, lùi dần theo nước triều rút xa ra biển, anh như thấy nàng đang ngẩng mặt nhìn lên, đôi mắt cầu khẩn mái tóc đen đẫm nước – hình ảnh đó cứ ám ảnh mãi trong tâm trí anh và dày vò lòng anh. Cuối cùng anh cũng đứng dậy và trèo xuống. Có lẽ nước biển mát mẻ sẽ giúp anh tự chủ được và làm dịu được cơn sốt này chăng? Anh cởi bỏ quần áo ngoài và bơi ra xa. Anh muốn làm cho mình thật mệt để thoát khỏi tâm trạng dày vò day dứt, không còn suy nghĩ gì nữa, anh bơi nhanh ra xa một cách liều lĩnh nhưng chợt thấy sợ hãi. Nhỡ ra anh không vào bờ được nữa, có thể sóng sẽ đẩy anh ra xa hay bị chuột rút như Halliday hôm nọ thì sao? Anh quay vào bờ. Những vách đá màu đỏ thẫm đã xa tít. Nếu anh chết đuối thì người ta có thể tìm thấy quần áo anh, gia đình Halliday sẽ biết nhưng Megan thì không thể nào biết được vì ở trại không bao giờ có báo. Một lần nữa, anh lại nghe như Halliday nói: “bây giờ tớ lấy làm sung sướng là không còn bận tâm về cô ta nữa”. Bất giác anh bỗng thề rằng anh cũng sẽ không bao giờ nghĩ đến nàng nữa. Nỗi khiếp sợ qua đi, anh lại bơi thoải mái vào bờ, ngồi phơi mình dưới nắng và mặc lại quần áo. Trái tim anh vẫn còn tê tái nhưng không nhức nhối nữa, anh thấy khoan khoái và tươi tỉnh trở lại.

Khi người ta còn trẻ tuổi như Ashurst, lòng thương hại không phải là một tình cảm mạnh mẽ lắm. Lúc trở lại phòng khách của gia đình Halliday, anh ăn ngấu nghiến và cảm thấy như mình vừa qua một trận ốm. Mọi vật đều như mới mẻ, chén trà, bánh mì nướng phết bơ và mứt mà sao anh ăn ngon miệng quá thuốc lá cũng chưa bao giờ có hương vị dễ chịu đến thế. Anh đi đi lại lại trong căn phòng vắng vẻ, rồi dừng lại ngắm nghía sờ mó vật này vật khác. Anh ngắm cái giỏ đồ khâu của Stella lên xem, sờ vào cuộn sợi và bó chỉ thêu nhiều màu sắc, ngửi bông hoa cỏ thơm mà cô đặt vào trong đó. Anh ngồi vào đàn dương cầm bấm vài nốt với một ngón tay và nghĩ: “Tối nay cô ấy sẽ đàn, mình ngồi ngắm cô ấy chơi đàn thật là thú vị”. Anh cầm lấy quyển sách vẫn ở chỗ mà cô ta đã đặt cạnh anh và cố đọc nhưng trước mắt anh lại hiện lên bộ mặt ảo não buồn rầu của Megan. Anh đứng phắt dậy và đứng tựa vào cửa sổ và lắng nghe, tiếng chim sáo hót trong khu vườn hình bán nguyệt, nhìn ra biển xanh mơ màng thấp thoáng dưới lùm cây. Một người hầu đi vào để thay ấm trà anh vẫn đứng đó hít thở làn không khí buổi chiều và cố gắng không nghĩ ngợi gì cả. Một lúc sau, anh thấy anh em Halliday về, tay xách nách mang đi qua cổng, Stella đi vượt lên trước, anh bất giác lùi vào. Trái tim anh đau khổ và bối rối, một mặt muốn lẩn tránh cuộc gặp mặt này, mặt khác lại muốn tìm sự an ủi với bạn bè cho khuây khỏa, một mặt tức tối muốn chống lại những ảnh hưởng này, mặt khác lại vẫn khao khát sự ngây thơ dịu mát và niềm vui thú được nhìn nét mặt đáng yêu của Stella. Đứng tựa vào tường sau chiếc dương cầm, anh thấy Stella đi vào, nhìn quanh phòng với vẻ thất vọng, nhưng khi trông thấy anh, cô đã mỉm cười, một nụ cười tươi rói làm cho Ashurst vừa thỏa lòng vừa bực bội.

– Sao anh không đi, anh Frank?

– Vâng, tôi không đi được.

– Anh xem này, chúng em hái được hoa viôlét đáng yêu không này!

Cô đưa ra một bó hoa. Ashurst ghé mũi vào bó hoa và bỗng thấy lòng xao xuyến một nỗi ao ước mơ hồ, anh rùng mình nhớ lại vẻ mặt lo lắng của Megan khi nàng ngước lên nhìn vào từng người qua đường. Anh nói cộc lốc: “Vâng, vui quá nhỉ!” rồi quay đi. Anh lên gác vào phòng mình, lăn ra giường và nằm mãi ở đó, hai tay che mặt. Bây giờ anh cảm thấy số phận đã được định đoạt và Megan bị phụ bạc rồi. Anh căm ghét con người mình, căm ghét cả anh em Halliday và không khí vui tươi sung sướng của gia đình này. Vì sao họ lại ở đây để làm trở ngại mối tình đầu của anh, để biến anh thành một thằng sở khanh không hơn không kém. Còn cái cô Stella kia, với vẻ yêu kiều và e lệ, cô có quyền gì mà khiến cho anh nghĩ rằng anh không nên cưới Megan, làm lu mờ đi tất cả, khiến cho anh đau khố vì luyến tiếc vả thương xót nhường này? Giờ này Megan có lẽ trở về nhà, mệt lử sau một cuộc tìm kiếm khốn khổ – tội nghiệp cho nàng. Hẳn là nàng đã mong khi về sẽ gặp lại anh ở nhà rồi! Anh cắn vào tay áo, cố kìm một tiếng rên rĩ đau đớn.

Anh xuống nhà ăn tối với vẻ mặt rầu rĩ và lặng lẽ. Thái độ anh lây sang mấy đứa bé và buỗi tối hôm đó thật buồn tẻ nhạt nhẽo vì họ đều mệt mỏi. Một vài lần, anh bắt gặp cái nhìn bối rối đau khổ của Stella và điều này lại làm anh hả dạ.

Đêm đó anh ngủ không yên, hôm sau dậy sớm và ra ngoài đi lang thang. Anh đến bờ biển, đứng một mình ở đó. Trong không gian yên tĩnh mênh mông, trước biển xanh chan hòa ánh nắng, anh thấy lòng thảnh thơi đôi chút. Mình thật là một thằng ngu tự cao tự đại khi mình nghĩ rằng Megan sẽ đau khổ nhiều vì mình! Chỉ một hay hai tuần sau là nàng sẽ quên ngay thôi mà. Còn bây giờ thì anh cũng đáng được thưởng về đạo đức đấy, một người đàn ông đứng đắn! Nếu Stella biết được, chắc cô ta sẽ cầu nguyện cho mình vì mình đã thắng được sự quyến rũ của ma quỷ, và anh bật cười khẽ.

Nhưng dần dần, quang cảnh uy nghi diễm lệ của biển và bầu trời với cánh chim hải âu đơn chiếc lại làm anh cảm thấy hổ thẹn với ý nghĩ của mình. Anh xuống biển tắm và trở về nhà.

Trong khu vườn trước nhà, anh thấy Stella đang ngồi vẽ trên một chiếc ghế xếp. Anh rón rén đến gần phía sau lưng. Cô đang cúi xuống chăm chú, tay cầm bút vẽ phác thảo, đôi lông mày nhíu lại, trông cô thật xinh đẹp vả đáng yêu.

Anh dịu dàng nói:

– Xin lỗi cô vì hôm qua tôi đã cư xử không phải đối với cô, Stella ạ!

Cô giật mình quay đầu lại, mặt đỏ ửng lên và nói nhanh theo thói quen của cô:

– Không sao anh ạ, em nghĩ là chắc anh có chuyện gì. Nhưng giữa bạn bè với nhau thì điều đó cũng không sao, phải không anh?

Ashurst trả lời:

– Giữa bạn bè, và chúng ta là bạn, đúng không?

Cô nhìn anh và vui vẻ gật đầu đồng tình, trên môi nở một nụ cười rạng rỡ.

Ba ngày sau, anh trở về Luân Đôn cùng với anh em Halliday. Anh không viết thơ về trại nữa, với lại biết viết gì trong đó nhỉ?

Cuối tháng tư năm sau, anh và Stella làm lễ cưới...

Đó là những điều Ashurst nhớ lại khi anh ngồi tựa vào bức tường cổ giữa những bụi cây kim tước, trong ngày lễ cưới bạc của mình. Cũng chính ở nơi này đây, Megan đã đứng, hình nàng nổi bật trên nền trời hôm anh gặp nàng lần đầu tiên. Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kỳ lạ. Và tự nhiên anh muốn đi xuống đồi để nhìn lại khu trại và vườn cây, nhìn lại bãi cỏ của con quỉ Gipsy năm xưa. Đây đến đấy cùng không xa gì, và Stella có lẽ phải một giờ nữa mới xong. Anh nhớ lại rất rõ những cây thông có tán nhỏ và đồi cỏ dốc cao ở phía sau nhà. Anh dừng lại ở cổng. Ngôi nhà thấp xây bằng đá, cái vòm cổng bằng cây thủy tùng, cây lý chua đang ra hoa – tất cả đều không thay đổi một chút nào, ngay cả cái ghế bành sơn xanh cũ kỹ vẫn còn ở đó trên bãi cỏ trước cửa sổ, nơi mà đêm nào anh cũng đứng vươn tay lên đè lấy chiếc chìa khóa trong tay nàng. Anh lại theo con đường nhỏ đi xuống, đứng tựa vào cái cửa vườn, lúc này chỉ còn lại bộ xương xám xịt. Cũng có một con lợn đen to tướng đang đi dạo giữa vườn cây. Có đúng thật là hai mươi sáu năm đã qua đi, hay anh vừa với nằm mê và tỉnh dậy sẽ thấy Megan đang đợi anh dưới gốc cây táo già? Bất giác anh đưa tay lên sờ bộ râu đã lốm đốm bạc của mình và trở về với thực tế.

Anh mở cửa vào vườn, đi xuyên vào những bụi cây chút chít và cây tầm ma, đến chỗ góc vườn. Cây táo già vẫn còn đây. Không có gì thay đổi cả! Chỉ thêm một ít rêu xanh xám và một vài cành con đã khô đi, tất cả những cái còn lại đều giống y như vừa mới đêm qua, anh đã ôm choàng lấy cái gốc cây đầy rêu đó sau khi Megan bỏ đi và anh đã ngửi thấy mùi gỗ hăng hắc trong khi những cành hoa đẫm ánh trăng trên đầu anh cùng như đang thở và đang sống. Trong những ngày đầu xuân này, những búp non đã bắt đầu nhú, tiếng chim hót véo von, tiếng cúc cu gọi bạn, ánh mặt trời tỏa sáng và ấm áp. Thật không thể nào tin được là vẫn dòng suối có cá hồi đó đang róc rách, cái vũng ao cạn hẹp mà mỗi buổi sáng anh vẫn đến dầm mình vào và vốc nước vào ngực, ở bên kia, vẫn là đồng cỏ, là gốc sồi đó với hòn đá mà người ta cho rằng quỉ Gipsy vẫn đến ngồi. Lòng anh xao xuyến một nỗi tiếc thương cho tuổi trẻ đã mất, nỗi khao khát một mối tình say đắm bị lãng quên đã trào lên làm anh nghẹt thở. Chắc chắn là trên trái đất này với vẻ kiều diễm nhường kia của thiên nhiên hoang dã, mọi vật đều say đắm nhau cũng giống như mặt đất và bầu trời kia. Nhưng rồi người ta cũng không thể! Anh đến bên bờ suối nhỏ, nhìn xuống cái ao nước và nghĩ: “Mùa xuân và tuổi trẻ! Không biết những cái đó rồi đi đến đâu?”. Và, một thoáng sợ hãi bị người nào đấy bắt gặp, anh quay lại con đường nhỏ và buồn bã trở về chỗ ngã tư đường.

Cạnh chiếc xe, một ông già nông dân chòm râu đã bạc đang đứng chống gậy, nói chuyện với người tài xế. Thấy anh đến, ông già vội lảng ra như thấy mình có lỗi, ông đặt tay lên mũ và khập khiễng lê bước.

Ashurst chỉ nấm đất cỏ mọc xanh xanh và hỏi ông già:

– Cụ làm ơn cho biết đây là cái gì ạ?

Ông già dừng lai, nhìn anh một thoảng như muốn nói: “Ông đã khơi đúng nguồn rồi đấy!” và trả lời:

– Chỗ lày nà một ngôi mộ.8[*]

– Nhưng sao mộ lại chôn ở ngoài này ạ?

Ông già mỉm cười:

– Đây là cả một câu chuyện cổ tích như các ông thường nói. Và tôi đã kể đi kể lại chuyện này không phải một lần. Đã có nhiều người hỏi tôi về nấm đất này đấy. Đó là “ngôi mộ của một người trinh nữ”, chúng tôi gọi như thế.

Ashurst lật đật rút túi thuốc ra: “Mời cụ làm một điếu”.

Ông già lại đặt tay lên mũ lần nữa để cảm ơn rồi thong thả nhồi thuốc vào cái tẩu cũ kỹ bàng đất nung. Đôi mắt ông già ngước nhìn lên trông cỏn rất linh lợi.

– Xin phép ông cho tôi ngồi xuống đây, chân tôi hôm nay sao nhức quá. Và ông già ngồi xuống bên nấm đất.

– Trên mộ này khi nào cũng có hoa. Nằm ở đây, cô ấy cũng không đơn độc, bây giờ con đường nay thiên hạ đi đông, xe ô tô đủ kiểu qua lại, không phải vắng vẻ như ngày xưa đâu. Cô ấy có khối bạn bè ở đấy. Tội nghiệp cho con bé, nó đã tự tử.

– Tôi hiểu, Ashurst nói, người tự tử phải chôn ở ngã tư đường. Nhưng tôi không ngờ bây giờ người ta vẫn còn giữ phong tục cũ.

– Ồ, không cũng đã từ lâu lắm rồi ông ạ. Hồi đó người ta rất sợ Chúa. Xem nào, hồi đó tôi mới khoảng năm mươi tuổi. Bây giờ không còn ai biết được việc xảy ra lúc đó nữa. Cô ấy ở gần đây, cùng một trại với tôi. Bấy giờ tôi làm công ở trại của bà Narracombe nay là của cậu Nick Narracombe, bây giờ thảng hoặc tôi cũng giúp việc vặt cho cậu ấy.

Ashurst đứng tựa vào cái cổng, châm thuốc hút, tay khum khum che mãi trước mặt khi que diêm đã tắt từ lâu.

– Thế à? Anh nói giọng khàn khàn nghe rất lạ.

– Trăm người chỉ có một người được như cô ấy thôi, chà, con bé thật tội nghiệp. Mỗi lần qua đây, tôi đều đem hoa đến cho nó. Nó thật là đẹp và tốt bụng, nhưng họ đã không chôn nó vào nghĩa địa nhà thờ, cũng không đặt nó ở nơi nó mong muốn.

Ông già dừng lại, đặt bàn tay nhăn nheo lên nấm cỏ, cạnh bó hoa chuông xanh biếc.

– Thế ạ? Ashurst lại nói.

– Có thể nói đó là một câu chuyện tình, tuy rằng cũng không ai biết rành rọt. Không ai biết được bọn con gái nó nghĩ những gì trong đầu, và tôi thì tôi cứ phân vân mãi về chuyện đó.

Ông già đưa tay vuột ve nấm cỏ:

– Tôi yêu mến con bé này lắm, với lại ai mà không yêu mến nó được, chỉ có điều là con bé đa cảm lắm, chính là vì cái chỗ ấy đấy, tôi nghĩ thế.

Ông già ngước mắt lên. Ashurst run rẩy thì thầm:

– Thế à?

– Hồi ấy là vào mùa xuân, có lẽ dịp này đây, hoặc là muộn hơn một chút, đang mùa hoa táo nở và trại chúng tôi có một cậu sinh viên đến ở trọ. Tôi rất mến cậu ấy và tôi cũng không hề thấy có chuyện gì xảy ra giữa họ với nhau, nhưng tôi cho là chính vì thế mà con bé mơ tưởng.

Ông già rút cái tẩu ra khỏi miệng, nhổ nước bọt rồi kể tiếp:

– Ông biết không, một hôm cậu ấy đột ngột bỏ đi và không thấy trở về nữa. Người ta đang giữ cái ba lô và các thứ khác của cậu ấy đấy. Cho nên tôi rất lấy làm khó nghĩ vì sao cậu ấy không đến lấy lại. Cậu ta tên là Ashurst hay Ashes gì đấy.

– Thế ạ? Ashurst lại nói.

Ông già hăm hở tiếp:

– Con bé không nói gì nhưng từ ngày đó nó đâm ra ngơ ngơ ngác ngác, không còn được như trước nữa. Tôi chưa từng thấy một người nào thay đổi nhanh đến thế. Trong trại chúng tôi có một anh chàng còn trẻ, tên là Joe, chắc cũng say con bé lắm. Tôi đoán là hắn cũng quấy rầy con bé chứ không phải không. Con bé ngày càng như ngây như dại. Một đôi khi tôi đánh bò về buổi tối, tôi thấy con bé đứng trong vườn cây, dưới gốc cây táo già, mắt nhìn chằm chằm ra phía trước. Tôi nghĩ không biết con bé gặp phải chuyện gì mà trông tội nghiệp quá.

Ông già châm lại tẩu thuốc và rít một hơi dài, vẻ trầm ngâm;

– Thế ạ? Ashurst lại nói.

– Tôi cỏn nhớ có một hôm tôi bảo nó: “Cháu có chuyện gì đấy hở Megan?” tên nó là Megan David, nó từ xứ Wales đến cùng dì nó là bà Narracombe. “Cháu có chuyện gì buồn phiền phải không?” Nó nói: “Không ông ạ, cháu không có gì buồn phiền cả” – “Có, cháu có buồn phiền”, – “không ạ” rồi nó chảy hai hàng nước mắt. “Sao cháu khóc? có chuyện gì đó cháu?” nó đặt tay lên tim mình vả nói: “Cháu đau ở chỗ này, nhưng có lẽ cũng sắp khỏi thôi, ông ơi, nếu có chuyện gì xảy ra với cháu, thì cháu muốn được chôn dưới gốc cây táo này”. Tôi cười và bảo nó: “Chuyện gì xảy ra với cháu được? Đừng có mà điên!” “Không, cháu không điên đâu ông ạ”. Ừ, tôi cũng nghĩ là bọn con gái đều thế cả nên tôi cũng không để ý đến nữa. Hai ngày sau, khoảng sáu giờ tối, tôi đi chăn bò về thì thấy cái gì đen đen ở dưới suối, ngay sát dưới gốc cây táo già. Tôi nghĩ: có lẽ là con lợn đây, mày kiếm được một chỗ nằm kỳ cục nhỉ. Tôi lại gần xem và tôi đã thấy...

Ông già dừng lại, đôi mắt đau khổ ngước nhìn lên.

– Con bé nằm trong vũng nước cạnh hòn đá, nơi đó tôi đã một đôi lần thấy cậu kia tắm ở đấy. Nó nằm, đầu ở dưới nước, ngay phía trên đầu nó, một cây “chén vàng” đang nở hoa. Tôi nhìn, thấy nó thật xinh tươi, đáng yêu và hồn nhiên như một đứa bé. Trời! Con bé đẹp kỳ lạ làm sao! Khi bác sĩ đến khám, ông ta nói. “Cô ấy không thể chết đuối được trong một vũng nước cạn như thế. Có lẽ lúc đó cô ta như mê đi”. Ôi, nhìn vào mặt nó lúc đó mới thấy nó đẹp như thế nào! Tôi đã khóc rất nhiều vì thương tiếc. Sao lúc đó nó đẹp quá chừng!

Hồi đó là vào tháng sáu, nó đã kiếm mấy bông hoa táo còn lại ở đâu đó cài lên mái tóc. Vì thế mà tôi nghĩ có lẽ con bé ở trạng thái xuất thần thật – nên trông nó mới tươi vui như vậy, Nước ở đó cạn lắm, chỉ khoảng chưa tới năm tấc thôi. Nhưng tôi nói với ông điều này – cánh đồng này có ma đấy, tôi biết và con bé cũng đã biết, không ai cãi được tôi điều đó đâu. Sau đó tôi bảo họ là ý nguyện con bé muốn được chôn dưới gốc cây táo. Có lẽ vì thế mà họ cho rằng con bé có chủ định nên họ mới chôn nó ở đây. Người thời đó cẩn thận lắm ông ạ.

Một lần nữa ông già lại đặt tay lên nấm mộ rồi chậm rãi nói:

– Tình yêu của người thiếu nữ thật là kỳ lạ. Con bé có một trái tim đa cảm và hình như đã bị tan vỡ, nhưng chúng tôi không biết gì về điều đó hết.

Ông già nhìn lên để tìm một sự đồng tình của khách, nhưng Ashurst đã đứng dậy bước đi như không hề biết cóông già ở đấy.

Lên đỉnh đồi, anh đi rõ xa nơi định ngồi ăn trưa để không ai nhìn thấy được, rồi nằm úp mặt xuống đất. Cái đạo đức tốt đẹp của anh đã được đền bù như thế đấy! Thần Cypris, nữ thần tình yêu, đã báo thù! Đầm đìa nước mắt, anh nhìn thấy nét mặt Megan với chùm hoa táo cài trên mái tóc đen ướt đẫm của nàng. “Ta làm như vậy là sai chăng?”, anh nghĩ, “ta đã làm gì thế nhỉ?” Nhưng anh không trả lời được. Mùa xuân, với cơn lốc tình yêu của nó, với hoa nở và chim ca – mùa xuân đó đã nở trong trái tim anh và tim nàng. Phải chăng lúc đó thần tình yêu muốn tìm vật hy sinh? Người Hy Lạp đã nói đúng. Những lời thơ trong Hippolytus9[*] vẫn đúng cho đến bây giờ.

“Thần tình yêu đôi cánh vàng chói sáng

Và trái tim điên dại mê say

Như có bùa mê khiến muôn loài choáng váng

Khắp mọi núi cao, biển rộng, sông dài

Trên trái đất thảy đều sóng dậy

Đều sinh sôi dưới ánh mặt trời

Với loài người thì cũng vậy,

Trên cả ngôi vua

Chỉ có Tình Yêu ngự trị mà thôi!”

Nhà thơ Hy Lạp đã nói đúng, ôi, Megan! Megan bé nhỏ và khốn khổ đang đi trên đồi, em đang đứng dưới cây táo già chờ đợi và trông ngóng! Em chết mà vẻ kiều diễm còn in dấu trên người em...

Bỗng một tiếng nói vang lên:

– Ôi, tìm được anh ở đây rồi! Anh xem này!

– Ashurst đứng dậy, cầm lấy bức phác họa và im lặng nhìn đăm đăm.

– Cận cảnh này có đúng không, anh Frank?

–Ờ!

– Anh thấy có cần thêm gì nữa không?

Ashurst gật đầu. Cần thêm gì ư? Còn hoa táo, lời ca và ánh vàng!

Và anh trang trọng đặt môi lên trán vợ. Hôm nay chính là ngày cưới bạc của họ.

HẾT.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.