Bây giờ Gabriel phải thanh toán công đóng góp của mình cho văn chương. Đứng ra chịu trách nhiệm chạy chữa khỏi một cách tài tình căn bệnh của anh không phải là do món ớt của bà vú Rosa Marcelina, cũng như những bài diễn thuyết mỗi lần một căng thẳng của ông Guy Revol về thiên hướng, lẫn những ánh mắt đầy lòng xót thương của người vợ ông xuất thân ở miền Bắc Bretagne, cả những câu chuyện ngày càng dâm dục ở khách sạn Paris. Nhưng do một cuốn sách. Một cuốn sách mới của Pháp, ông giám đốc Abel nói với anh, hình như nói về một mối tình, đến lượt anh là người hữu ích anh đọc và kể lại cho tôi nghe. Tôi, tôi chẳng có thời gian, cứ loay hoay với cái khách sạn của tôi, nhưng điều đó có thể giúp ích cho tôi.
Gabriel liền vùi đầu vào đọc, một công việc thoạt đầu tẻ ngắt với một kỹ sư. Căn phòng ngày xưa, bữa ăn trưa ngày Chủ nhật, cây hoa đinh và những con đường đầy cây đào gai, những cuộc đi dạo cùng gia đình, lúc thì ở một bên này làng, lúc thì ở bên kia. Nhưng đột nhiên cuộc dan díu trở nên đau khổ vì mối tình này với bao trí thông minh, bao tài năng sáng tạo, bao khả năng sinh sản trong nỗi đau mà một kỹ sư, người có thiện ý, chỉ còn biết ngả mũ. Nỗi bất hạnh của anh, Gabriel, đột nhiên trở nên đơn sơ. Quá đơn sơ đến mức anh cảm thấy hổ thẹn. Làm sao anh dám hy vọng Clara quay về, nếu anh tiếp tục đắm mình trong nỗi bất hạnh đơn sơ như vậy? Anh quyết định vượt lên ngang tầm, cũng đau khổ theo cách của nhân vật trong sách. Và như vậy là anh bứt khỏi trạng thái sững sờ để bước vào cơn ghen. Một cơn ghen chẳng liên quan chút nào tới những mối hoài nghi nho nhỏ, những mối lo ngại, chợt nảy sinh trước đây. Đây là một cơn ghét tổng lực, một cơn ghét chiếm choáng sự tồn tại ở một nước bị chinh phục, ngày và đêm, đêm còn tệ hơn ngày.
Anh đặt cuốn sách cơ bản xuống và lao vào bài tính số học mà chắc chắn ta có thể cười nhạo báng. Nhưng các kỹ sư không chỉ là kỹ sư khi họ xây các cầu (mà ta rất hài lòng khi đi qua) hoặc tưởng tượng những máy móc khác nhau (làm tăng gấp bội sức của cơ bắp chúng ta). Trong mọi trường hợp họ đều nhờ cậy khoa học và đặc biệt để quản lý những nỗi bất hạnh riêng tư của họ. Nhờ sự tăng viện lớn của các phép cộng, phép trừ và những kỷ niệm, Gabriel đã lập được một bảng đại loại bảng nhật sử nêu rõ những phần trong ngày ở Paris mà Clara đã có tất cả khả năng cư xử đúng đắn, với tư cách người vợ rất trẻ, tạm thời sống xa chồng. Và rồi đến những phần khác.
Về mặt thống kê mà xét người ta làm tình giờ nào?
- Không giờ đến hai giờ ba mươi.
- Tám giờ – mười giờ (lúc tỉnh dậy).
- Mười bốn giờ rưỡi – chín giờ (trừ những người tình được phú hoặc một chồng hay quấy rầy hoặc một công việc cố định. Đối với những người bất hạnh này, người ta có thể đưa vào giai đoạn ăn trưa mười ba giờ – mười bốn giờ rưỡi. Nhưng đây không rơi vào trường hợp Clara. Tại sao trong những điều kiện đó, và tham ăn như cô ta, liệu cô ta có chịu bỏ bữa ăn không?).
- Mười giờ – nửa đêm.
Căn cứ vào sự chênh lệch thời gian, như vậy Gabriel cảm thấy mình là người chồng tương đối yên tâm ở bốn thời điểm (theo giờ Belem):
- Không giờ đến hai giờ.
- Bốn giờ – tám giờ rưỡi.
- Mười ba giờ – mười sáu giờ.
- Hai mươi giờ – hai mươi bốn giờ.
Tổng cộng mười ba giờ yên ổn trên hai mươi bốn giờ. Tỷ lệ hơn nhau một giờ đồng hồ. Như vậy thì không thể coi là một nỗi bất hạnh thực sự.
Gabriel thở nhẹ, anh vươn vai. Anh cảm nhận sự hiện diện của không khí trên da mình: gió lướt nhe khi bước đi, chuyến đi tìm lại thời gian.
Sáng hôm sau, khi bà vú Rosa và ông giám đốc Abel gặp lại nhau trước cánh cửa con mở ra khu vườn, hai người liền đưa mắt nhìn về chỗ mà người chủ, người bạn, người đồng nghiệp đã ngồi, tính đến nay đã được ba tháng. Nhưng chiếc ghế bành mây bỏ trống và chiếc màn ngủ vắt thành đống trên bãi cỏ như người ta vứt không thương tiếc những mớ bòng bong sợi dây rối tung rối mù phải để hàng giờ mới gỡ ra được. Còn Gabriel và con chó vàng đã biến đâu mất.
Từ trong bếp đưa ra đồng thời cùng một lúc tiếng nổ lép bép như bong bóng vỡ và mùi trứng rán.
- Vô lý, thật vô lý, ôi lạy Chúa Thánh thần, – bà Rosa thốt kêu lên.
- Anh ấy khỏi rồi, tôi dám chắc đấy, anh ấy khỏi rồi, – ông giám đốc nói.
Gabriel tiếp đón họ, vẻ hơi loạng choạng, người hơi bị sưng vì muỗi đốt, nhưng thực sự tươi cười: Cảm ơn, cảm ơn về tất cả, tôi sẽ chẳng bao giờ quên.
Thế là họ ôm chầm lấy nhau, ông giám đốc Abel ôm bà vú Rosa và Gabriel: người chủ nhỏ và người bạn Pháp đồng nghiệp đã bắt đầu lại sức.
Và trong khi bà vú Rosa Marcelina biến mất để đi báo tin vui trong thành phố thì ông giám đốc khách sạn Paris vào bếp tìm chai rượu uýtxki hảo hạng xứ Écosse. Ông cầm tay nhân vật của chúng ta và cả hai bước ra ngoài hàng hiên và nâng cốc chúc mừng, đặc biệt vào lúc quá sớm thế này, cho tình yêu, dù sao, cả cho sự lành khỏi bệnh của anh.
- Tôi vẫn chưa khỏi bệnh, – Gabriel nói.
- Thôi mà, thôi mà, tôi dám tin chắc rồi, – ông giám đốc nhắc lại vào giữa lúc hai lần nhấp cốc thưởng thức, ánh mắt kính cẩn ngước nhìn mặt trời, – tôi tin chắc mà, những nỗi đau của ông tác giả mới người Pháp đã hành hạ ông ta tới mức so với chúng, các nỗi đau của anh thật nực cười. Một lần nữa, những người Do Thái lại chỉ đường cho ta đi. Tất nhiên, chúng ta, những người đàn ông có cặp má bầu, chúng ta cũng biết cách chịu đựng tốt hơn những người có má hốc hác. Những người Do Thái còn tài hơn. Tôi không làm anh giận đấy chứ, ông bạn và bạn đồng nghiệp Gabriel thân mến?
Gabriel đã nhẩm tính.
Giờ này, bên kia Đại Tây Dương, chín giờ sáng ở Belem, như vậy là mười lăm giờ ở Paris, Clara đã lựa chọn bốn vai trò:
- Người vợ trẻ bình thường: đi mua hàng trong các cửa hàng lớn cùng em gái và mẹ. Có thể. Lạc quan nhưng có thể.
- Người vợ trẻ đang yêu: cô ta về phòng mình để ngủ trưa và ngủ một mình, nắm chặt trong tay phải tấm vé lượt về Le Harve – Belem và mơ những cuộc hội ngộ đam mê. Xin lỗi anh Gabriel, nhưng em quá khiếp sợ, bây giờ các gốc rễ của tai họa đã bị nhổ bật: nếu anh vẫn còn muốn em, ta bắt đầu lại từ số không, hứa với em là anh tha lỗi cho em… Giả thuyết mang tính đạo lý nhất, nhưng, ồ! Không vững chắc biết bao.
- Vai trò thứ ba, kẻ ngập ngừng: bữa ăn trưa lai rai kéo dài. Clara vẫn chưa ăn xong món tráng miệng (hot fudge: kem vani, sô-cô-la nóng, hạnh nhân nướng) và ngay vào lúc đó, tự hỏi không biết nên dùng thời gian buổi trưa thế nào: một mình (xem giả thuyết trên) hoặc với một người, nếu cô ta quyết định theo cái anh chàng nhạc công kéo vĩ cầm đã làm bầm tím cổ chân cô ta ở dưới gầm bàn.
Tuy ở cách xa sự ngập ngừng này trên cả 10.000 km, Gabriel đã cảm thấy toàn thân mình bị tổn thương, tựa hồ như đang bị các bàn cân Roberval cào nát lúc sườn bên này, lúc sườn bên kia.
- Vai trò thứ tư, kẻ không thủy chung: đã nằm dài, Clara, lúc này, phải, lúc này đã cho đến thăm một trong vô vàn những bậc kỳ tài hoặc chuyên gia tâm hồn sống ở Paris hoặc quá cảnh đi trung tâm trái đất, thủ đô của sự dịu ngọt, một chốn dễ tới nhất của thế giới, trong điều kiện lần theo con đường do cặp đùi dài ngoại lệ chỉ dẫn.
Gabriel chờ đợi chừng nào còn chịu đựng được chiếc giường bên kia Đại Tây Dương không còn kêu cọt kẹt nữa. Anh đi đi lại lại ngoài hàng hiên, anh chạy vài vòng quanh khu vườn. Anh lẳng con George Sand vào đám cây hoa. Nó tè qua tám lưới sắt chuồng chim, bắn cả vào lũ vẹt Ara xanh và đỏ. Tất cả thái độ của anh ai cũng đều biết rõ qua những người đàn ông cuồng lên vì ghen.
Ông giám đốc Abel bước theo anh, luôn mồm nhắc, nào, ông Gabriel, chẳng nên đau khổ như vậy, nào, ông Gabriel, ngừng ngay cái trò tự hành hạ mình đi. Cuối cùng, mười ba giờ đêm, Gabriel đưa mắt nhìn về phía bên kia Đại Tây Dương. Bây giờ dù đã xảy ra chuyện gì, Clara đã trở nên đứng đắn, chuẩn bị dùng buổi tối.
Gabriel thở ra, khá mạnh, mỉm cười với ông bạn giám đốc, mời ông ta ngồi, cảm ơn ông đã ở bên tôi suốt buổi sáng nay, tuy có công việc ở khách sạn và nói chuyện với ông ta, giọng một người đàn ông hoàn toàn bình tĩnh, thậm chí còn có vẻ văn minh.
Hắn là một người đang yêu sẵn sàng thay đổi các thói quen của mình, những kỹ sư biết sự thật đó như bất kỳ một ai. Nhưng Clara ít có tinh thần sẵn sàng này hơn một ai khác: nhà chuyên gia tâm hồn của cô ta, René A., bảo đảm như đinh đóng cột với cô ta rằng cô ta thế nào gã sẵn lòng chấp nhận như vậy, nghĩa là, một phụ nữ ăn đúng giờ và ngủ say như chết.
Những người thủy chung đều ở đây. Ai cũng bắt tay con bệnh dang lại sức hoặc ôm anh vào lòng, bụng nghĩ rằng cái đơn thuốc của chính mình đã đẩy lui nổi đau .
- Ông thấy đấy, chỉ cần mở lại van bơm thôi mà, – ông giám đốc Abel nói.
- Khi con người có thiên hướng, không gì có thể đụng được tới chỗ sâu kín, – ông Guy Revol bảo. – Ổn rồi, bây giờ phải ăn uống gấp đôi để chuẩn bị cho cuộc hành trình của anh. Chiến tranh sắp bùng nổ, đã đến lúc thu nợ rồi đấy. Anh biết rõ rằng Công ty vẫn đinh ninh anh đã lên đường rồi. Đúng vậy, tôi đành phải chấp nhận sự mạo hiểm này. Anh sẽ không để tôi phải nói dối đúng không, anh Gabriel?
- Thôi ông đừng nói chuyện công việc với anh ấy, ít ra ông nên thư thư để đến mai hãy nói, – bà Revol bảo. – Tôi, tôi tin chắc thế nào anh cũng vượt qua khỏi. Người Bretagne là vậy đấy, nhất là người ở phía Bắc: họ lao xuống nước, chân đạp đáy biển và rồi lại ngoi lên trên mặt nước. Anh mang dòng máu của người bờ biển phía Bắc, đúng không, anh Gabriel?
Bà vú Rosa cúi xuống bên anh, dùng chất mỡ đặc quánh nồng mùi long não và kinh giới ô bôi những chỗ muỗi đốt trên người Gabriel.
- Ông thấy đấy, seu Gabriel, chất thuốc mỡ bí quyết này bôi ngoài da và ớt trị ở phía trong: trong vài ngày nữa, seu Gabriel đích thị sẽ lại xuất hiện và ngự trị Belem!
Ở giữa mảnh vườn, ông giám đốc Abel đưa chân nhảy một vũ điệu ba lê kỳ cục, chắc để chào mừng cái tin tuyệt vời, nhưng cũng là để tránh nanh vuốt của con George Sand, vì nó thấy rằng chiếc quần màu crem không cần ống lật, ý nghĩ ta thường bắt gặp ở lũ chó lông vàng.
Còn Cuốn sách, Cuốn sách, vật duy nhất thực sự chịu trách nhiệm trong việc chữa chạy, thì đã biến không thấy đâu. Mấy tháng sau, khi từ Amazonie trở về, Gabriel mới được biết số phận của nó. Bà vú Rosa đã xoáy nó (bỏ quá cho bà vú) và mang trao tặng cha xứ phụ trách nhà thờ Rosario-dos-Homens-Pretos, thoạt đầu cha xứ tỏ vẻ không hài lòng.
- Hỡi ôi, Thánh linh Đức Chúa Thánh Thần không ban cho cha cái phú bẩm về tiếng Pháp. Con có đảm bảo chắc chắn về mặt luân thường đạo lý của ấn phẩm này không, con chiên ngoan đạo Rosa?
- Dạ thưa cha, nó đã cứu vớt seu Gabriel.
- Nếu vậy…
Và cha xứ liền đặt nó lên chỗ đồ lễ và nói về nó khi giảng giáo lý, và lại còn thổi phòng về nó, mặc dù lớp bìa xám nhỏ bé của sách đã ngả màu lục vì ẩm móc trông thật thảm hai khi đặt bên những sách kinh lễ dày cộp bia bằng da thật, nét chữ tên sách giát vàng ròng.
- Đây là, – cha xứ bảo, – đây là một cuốn kinh thánh Pháp đã đưa một trong những vị khách người Pháp lầm lạc nhất của chúng ta quay trở về với lý trí. Các cha và các xơ, phải thật thận trọng với những nỗi đam mê ngoại đạo, như khi ta khẽ nhúng chân xuống dòng sông đầy cá răng dao. Chỉ có tình yêu thánh thiện mới không có răng. Và nếu một khi không cưỡng nỗi, các cha và các xơ kính yêu của ta, một nỗi rồ điên trần tục nào đó, các cha và các xơ đến lấy lại sức trước cuốn thánh kinh Pháp tốt lành này.
Du côté de chez Swann[1] lưu lại hai tháng như vậy trong đội hợp xướng, được bày trên giá hát kinh bằng gỗ bạch đàn, cạnh ngọn đèn nhỏ trong tủ bánh thánh chỉ rõ sự hiện diện của Đức Chúa. Chưa bao giờ con tin ngoan đạo lại kéo đến đông như vậy, vì câu chuyện anh người Pháp ốm bệnh tương tư đã lan khắp Belem và các vùng phụ cận.
Nhưng vào tháng Hai năm 1914, sau những trận mưa dữ dội và hiếm hoi vào thời đó, mái nhà thờ cổ Rosario-dos-Homens-Pretos xây cất từ giữa thế kỷ XVIII, đã bị sụp đổ. Làm lễ dưới ánh mặt trời như đổ lửa của vùng Xích đạo và dưới những cặp mắt giễu cợt của lũ chim kền kền ra sao đây? Phải cho sửa chữa gấp. Và để sửa lại, phải nhờ tiền quyên góp mà không một gia đình nào, dù thành kính dù sùng đạo, có khả năng đóng góp cho sự sụp đổ tàn nhẫn (tựa như sự sụp đổ của mái nhà thờ nơi thờ cúng và có lẽ đây là điềm dữ báo trước), của cao su.
Do đó những nhà đương chức trong giáo hội quyết định tự sửa chữa lấy bằng cách dùng cuốn kinh thánh phụ Du côté de chez Swann lấp chỗ trống về tài chính: dù sao, đây là số phận của kẻ ngoại đạo thì phải quay về với phàm tục.
Và cuốn sách bị tháo chỉ, các trang sách bị cắt vụn thành những ô nhỏ, bé xíu như những thánh tích, để đáp ứng nhu cầu của đông đảo khách hàng.
Và những mẫu nhỏ hiếm quý của một tác phẩm do Nhà xuất bản Grasset phát hành chưa có người mua ngay liền được đem ra bày bên cạnh những bào thai cừu, những đồ quái gở đủ màu sắc, bột bọ phòng và các loại rễ cây bổ dương khác, tất cả đều bày trên các sạp hàng đặc biệt ở ngoài chợ Belem, nổi tiếng nhiều kẻ cắp và do đó được đặt tên là chợ Ver-O-Peso, nghĩa là “kiểm tra lại cân”.
Từ trong rừng trở về, Gabriel đã kiếm được qua con đường đó hai mẩu trong cuốn kinh phụ. Một mẩu hình như của trang bìa giả, ta thấy in:
arđ Grasset
Xuất bản
e des Saints – Pères 61
còn mẫu kia là một đoạn trong phần chính của câu chuyện:
dù có thể làm cho họ hiểu rõ niềm xúc động trong tôi vào các buổi sáng mùa đông khi gặp bà Swann đi bộ, mình mặc áo choàng bằng da lông rái cá, đầu đội đơn sơ chiếc mũ nồi có gài hai lưỡi dao lông gà gô, nhưng như
Trong thời kỳ khá là nhức nhối này, Gabriel còn giữ được hai niềm kiêu hãnh. Một niềm đem lại vẻ rạng rỡ cho nền văn học Pháp tuyệt vời của chúng ta. Những mảnh trong cuộc triển lãm Verdurin, những cánh hoa catleyas, sự ngu xuẩn của Forcheville tỏ ra cũng có ngang quyền lực như những trò quỷ thuật ở xứ nhiệt đới và xích đạo. Niềm kiêu hãnh kia liên quan tới tôi. Mãi tận ngày nay, qua những thông tin tôi thấy chẳng có lý do gì để nghi ngờ, câu chuyện đau buồn của tôi đã đi vào ngôn ngữ địa phương. Ở Belem, người ta bảo bất hạnh (hoặc si tình) như Gabriel.
Còn ai nói hay hơn thế?
Sau năm chục năm, thành phố nào còn nhớ tới nỗi buồn về tình yêu của bạn?
- Lẽ ra anh nên yêu tôi như vậy. – Clara nói, ánh mắt mơ màng, (vào giờ chính xác lúc cô ta biết chị người hầu sẽ đến rất đúng giờ, điều đó giới hạn những tình cảm dạt dào) khi cô ta trả lại tôi phần bản thảo này đã lấy trộm bữa tối qua.
- Em hy vọng anh cũng có ý định nói về em như vậy, – Ann bảo, vẻ đầy sát khí, nhưng cô ta làm ra vẻ vô tình, làm ra vẻ như tới lúc này cô ta chưa hề đọc chữ nào trong phần ghi chép của tôi khi vào một buổi sáng chúng tôi đi chợ (mua cá sardin tươi, húng tây, cà chua) ở Cannes.
❀ ❀ ❀
[1] Tên một kiệt tác của đại văn hào Pháp Marcel Proust. (N.D.)