Trong phòng làm việc của Tiến sĩ có hai người khách đang họp cùng với ông ta. Sau chuyến đi của Mai-cơ, những cuộc gặp gỡ như thế này đều hạn chế tới mức ít nhất. Thế mà tối hôm ấy, hai người khách này đã ngồi một mạch suốt ba giờ liền với Tiến sĩ. Mở đầu cuộc họp, Tiến sĩ nói: - Hôm nay tôi cùng các ông phân tích tất cả mọi diễn biến xảy ra trong những ngày chiến dịch vừa bắt đầu. Phòng làm việc của ông ta chiếm cả tầng gác hai. Khi kéo mấy tấm mành ở hai cửa sổ lên, không khí trong phòng mát lạnh hơn vì những cơn gió thoáng đãng từ biển thổi vào. Cửa vào có hai lớp cánh. Cánh ngoài bằng gỗ sồi cổ thụ, chạm trổ công phu còn cánh trong bọc đồng trắng, cách âm. Một hàng giá sách dài chạy dọc theo tường và chính giữa đặt chiếc két sắt đóng mở bằng hệ thống khoá điện riêng. Đây chính là tủ lưu trữ hồ sơ riêng của từng điệp viên trong nhóm của Tiến sĩ. Bức tường đối diện bàn làm việc treo hai bức hoạ lớn. Các khoá cửa sổ, két sắt và cửa lớn đều gắn hệ thống báo động tự động, trong khoảnh khắc có thể báo ngay cho trung tâm của Phân cục tình báo Mỹ ở Mai-a-mi biết mọi hành động kẻ xâm nhập. Trong trường hợp nguy hiểm để bảo vệ tuyệt đối tài liệu ở đây, từ trung tâm bảo vệ, người ta có thể ra lệnh cho hệ thống điện tự động xử lý bộ phận, kể cả việc cho nổ tan các tài liệu, hồ sơ và thủ tiêu luôn kẻ thâm nhập. Góc phòng kê bốn chiếc ghế bành đồ sộ, bọc da đen nhánh tô điểm thêm cho chiếc bàn bọc kim loại mày thép xanh lịch sự. Giữa bàn là chiếc ghế bọc nhung đỏ của Tiến sĩ. Cạnh ghế là chiếc bàn con đặt máy thu thanh và máy bộ đàm nội bộ. Hệ thống bảo vệ an ninh nội bộ còn được bổ sung bằng một loạt mi-crô cực nhạy gắn kín đáo quanh phòng cho phép người cầm đầu ở đây có thể dễ dàng ghi lại mọi cuộc nói chuyện chính thức và không chính thức trong cơ quan. Theo quy định nghiêm ngặt, mọi cuộc đàm thoại ở đây đều dùng tiếng Anh vì Ha-xin-tô, người hầu phòng và bảo vệ riêng của Tiến sĩ chỉ biết có tiếng Tây Ban Nha. Bàn bên trái đặt liền ba chiếc máy điện thoại màu sắc khác nhau. Chiếc gạt tàn pha lê sang trọng, lóng lánh giữa bàn. Cạnh mỗi ghế đều có gạt tàn chân đế riêng rất thuận tiện cho những người dự họp. Tiến sĩ chậm rãi bật lửa châm điếu xì gà và hất đầu ra hiẹu cho người ngồi ngoài cùng: - Nào, chúng ta bắt đầu từ anh. Người đàn ông mở chiếc cặp da đen bóng đặt sẵn trên đùi và mở đầu bản báo cáo bằng một giọng ồm ồm, ngạt mũi. - Sau bốn tháng chuẩn bị chu đáo, vào ngày giờ đã định, F-1 đã xuất phát trên chiếc tàu nhỏ số hiệu SK=321 với bốn người và sau đó chuyển sang xuồng máy “U-20”. - Tàu và xuồng đều thay biển đăng ký chứ? – Tiến sĩ hỏi. - Vâng, trước khi xuất phát người ta đã sơn lại nó. - Anh nói tiếp đi. - Qua một đêm trên biển và sau đó rời tàu, F-1 đã lên bờ an toàn. Nhưng khi “U-20” quay về tàu SK-321 thì tàu biên phòng Cuba đã phát hiện và đuổi theo. Thuyền trưởng đã kịp thời báo cáo xin lệnh đánh trả với hai tàu tuần tiễu Cuba, cùng một chiếc Míc. - Có tin tức gì về nhóm thuỷ thuỷ đó chưa? - Họ đã bị đánh chìm cả. Vẻ mặt lạnh lùng, Tiến sĩ hất đầu ra hiệu nói tiếp: - F-1 đã liên lạc được với điện báo viên và qua ông ta đã báo cáo về… Lão Tiến sĩ lại cắt ngang: - Điệp báo viên có biết F-1 không? Hắn ta là người thế nào? Gã báo cáo lúng túng giây lát, nhìn ngài Tiến sĩ như thăm dò: - Là người của chúng tôi. Anh ta đã tạm ngừng hoạt động mấy năm nay. Chúng tôi cũng có giải thích rõ là anh ta cứ việc sống bình thường, hợp pháp. Chúng tôi đã trang bị cho anh ta điện đài và hàng tháng trả cgho anh ta hai trăm pê-xô tại Cuba và một trăm đô-la vào ngân hàng “Phác-nây Xi-ti”. Gia đình anh ta hiện đang sống ở đây và hàng tháng đều thông báo đều đặn cho anh ấy biết tình hình tài khoản. Kể từ ngày tiếp xúc với F-1 anh ta được trả tăng ba trăm pê-xô ở Cuba và hai trăm đo-la vào ngân hàng bên này. Sáu tháng trước khi F-1 lên đường, chúng tôi đã cho kiểm tra lại toàn diện về anh ta và theo báo cáo thì không có gì đáng nghi ngờ cả. Tóm lại, gia đình anh ta đang ở đây và nếu định phản bội thì anh ta sẽ dễ dàng gánh chịu hậu quả thôi.
Tiến sĩ cau mặt nhìn lại gã báo cáo và hỏi lại, giọng gay gắt: - Anh chưa trả lời đúng câu hỏi của tôi. Gã báo cáo cúi đầu nhìn chiếc cặp trên đùi và nói tiếp: - Anh ta không biết gì về F-1. Anh ta chỉ được lệnh phải phục tùng và thực hiện mọi yêu cầu của F-1. - Cứ nói tiếp. - F-1 đã liên lạc được với nhân viên này, chúng tôi đã nhận được tin F-1 tới nơi an toàn. Đang chờ chỉ thị hoạt động. Đấy là tất cả những gì cho đến nay chúng tôi biết về F-1. Suy nghĩ một lát, lão Tiến sĩ chợt hỏi: - F-1 sống ở đâu, với ai? - Sống trong nhà điện báo viên nằm vùng của chúng ta. Mặt Tiến sĩ bỗng tái đi. Hình như trong mắt ông ta loé lên hai tia lửa. Như con hổ muốn lao vào cắn nát con mồi của mình, Tiến sĩ đứng phắt dậy, gầm lên: - Còn có cái gì ngu ngốc hơn thế này nữa không? Đã bao giờ các anh thấy điện báo viên và điệp viên ở cùng một chỗ chưa? Nếu xảy ra điều gì thì cả hai sẽ cùng sa một mẻ lưới. Gã kia vẫn mỉm cười thản nhiên, không tỏ vẻ bối rối hay sợ hãi trước cơn thịnh nộ của cấp trên. - Thưa ngài, điện báo viên này không sử dụng máy phát ở nhà. Ngoài ra, nếu không xếp cho F-1 ở nhà anh ta thì lại phải ở nhà người khác. Như vậy càng không phù hợp với tình hình và không đảm bảo an toàn cho F-1. Nét mặt Tiến sĩ hơi dịu lại và ông ta ngồi phịch xuống ghế. Chậm rãi rít mấy hơi xì gà, giơ ngón tay trở bên tay trái chỉ vào gã báo cáo, Tiến sĩ nói: - Trong bất cứ trường hợp nào tôi cũng không đồng ý về điều này. Song bây giờ không thể thay đổi được nữa rồi. Hãy thu thập tin tức và những gì liên quan đến nhóm thuỷ thủ đã chết trên biển, Cố tìm được những bức ảnh chụp họ đang làm việc bình thường trên tàu đánh cá. Nhất thiết phải có bằng được những tấm ảnh này để công bố lên báo làm bằng chứng về việc chính phủ Phi-đen đã bắn vào tàu đánh cá lương thiện của chúng ta. Hãy nhấn mạnh vào điểm này và chỉ rõ rằng, hành động vô nhân đạo đó đã làm cho một số gia đình ngư dân Mỹ mất cha, mất chồng… - Rõ, Ngài yên tâm. Đây không phải là lần đầu chúng tôi làm việc này. – Gã báo cáo viên thứ nhất đáp, giọng tự tin. Người thứ hai từ nãy đến giờ vẫn ngồi im, giờ mới em hèm hắng giọng lên tiếng sau cái hất đầu ra hiệu của ngài Tiến sĩ: - Đ-45 báo về, Đ-54 đã đến nơi an toàn. Cả hai kẻ ngồi đây cùng nhìn nhau tò mò, lạ lẫm. Trước khi vào căn phòng này chúng chỉ biết có phần việc riêng của mình mà thôi. Bắt gặp cái nhìn thăm dò này, Tiến sĩ hiểu ý liền giải thích ngay: - Chiến dịch này tiến hành theo lệnh của ban lãnh đạo cao nhất cơ quan chúng ta. Để đảm bảo thắng lợi của chiến dịch mỗi người tham gia chỉ được biết đến công việc của mình thôi. Nhưng hôm nay tôi mời các ông cùng đến đây là nhằm mục đích làm quen với nhau và phối hợp hành động trong giai đoạn hai của chiến dịch. Mật hiệu của nó là “Pê-ta”. Giơ tay ấn nút chuông trên bàn và hầu như ngay lập tức trong loa nhỏ vẳng lại giọng ồm ồm của người hầu bàn Ha-xin-tô: - Thưa ngài cần gì ạ? - Cho ba cốc-tai. - Xin ngài vui lòng chờ cho hai phút. Và đúng hai phút sau cả ba đã khoan khoái nhấm nháp những ngụm cốc-tai mát lịm do Ha-xin-tô pha một cách tài ba. Lát sau hai người khách lặng lẽ lần lượt rời khỏi phòng Tiến sĩ. Còn lại một mình trong phòng, ông ta xoài người trên chiếc đi văng. Tiến sĩ duỗi tay và vô tình chạm vào chân đế chiếc gạt tàn thuốc lá ngay cạnh bàn làm nó đổ ra. Ông ta nhìn vào gạt tàn và bống biến sắc, tái mặt…