Chương mà tác giả viết thêm chỉ là do sự cần thiết xui nên
❀ ❀ ❀
Trong khoảnh khắc, khi trời mờ sáng, vòng vây sáng loáng ánh gươm của quân Cô-dắc bị những tràng liên thanh nóng bỏng của các chiến sĩ Hồng quân chọc thủng. Ép-xi-u-cốp, người chính ủy “bồ quân” [1] vọt qua vòng vây vừa phá vỡ được, trong một phút cuối cùng vùng dậy mê cuồng.
Chỉ có Ép-xi-u-cốp, hai mươi ba chiến sĩ khác và Ma-ri-út-ka là thoát khỏi vòng tử địa.
Một trăm mười chín người và hầu hết lạc đà đều chết xõng xoài trên bãi cát giá lạnh giữa những hình ngoằn ngoèo của cây xắc-xa-un[2] và đám cành đỏ của những cây tây hà liễu.
Khi tên Ét-xa-un[3] Bu-ri-ga được báo cáo rằng đám tàn quân địch đã trốn thoát, nó đưa bàn tay như chân thú dữ xoắn xoắn chòm ria rậm rì, ngoác cái mồm loe như miệng lò ra ngáp rồi gầm lên một cách lười nhác:
- Cóc cần, không phải đuổi bắt cho nó mệt ngựa. Rồi tự chúng nó cũng sẽ chết gục cả ở trên cát thôi!
Trong khi đó, Ép-xi-u-cốp cùng hai mươi ba chiến sĩ và Ma-ri-út-ka đã lao vào trong bãi cát mênh mông vô tận như một đoàn thú của thảo nguyên.
Chắc độc giả nóng ruột muốn biết, tại sao tôi gọi Ép-xi-u-cốp là chính ủy “bồ quân” nhỉ?
Chúng ta sẽ nghe tới đoạn ấy đây:
Khi tên Kôn-sắc đã bịt nghẽn được tuyến Ô-răng-bua như đã đóng một cái nút kiên cố bằng súng ống tua tủa, bằng hàng đoàn người và khi nó đã bỏ mặc những đầu máy xe hỏa nằm hoen rỉ trên những đường tránh thì ở Tuyếc-két-xtăng thuốc đen nhuộm da đã hết nhẵn.
Ấy, lúc đó là thời kỳ đổ vỡ, hỗn loạn, thời kỳ của đồ da.
Thể xác con người bị xua khỏi cái nồng ấm của gia đình để xông pha trong mưa nắng, nóng lạnh, trong tiếng đạn rú chói tai, cần có một bộ quần áo chắc chắn.
Do đó những chiếc áo da có từ đấy. Ở đâu người ta cũng nhuộm áo da màu đen hơi ngả sang màu thép trông khắc khổ và rắn chắc như bản thân những người mặc áo đó.
Và thuốc đen nhuộm da ở Tuyếc-két-xtăng lại vừa hết.
Ban tham mưu quân cách mạng đành phải trưng thu những kho phẩm bột a-ni-lin Đức mà người U-dơ-bếch ở Phéc-ga-na vẫn dùng để nhuộm óng những tấm lụa mỏng như hơi sương. Chị em phụ nữ vùng Tuyếc-mê-ni có những cặp môi khô dùng bột đó để tô những hình vẽ trang trí có nhiều nhánh trên những tấm thảm tê-kanh.
Chính bằng chất thuốc ấy, người ta đã nhuộm những tấm da sống và trang phục của Hồng quân vùng Tuyếc-két-xtăng bỗng rực rỡ đủ các màu sắc cầu vồng: bồ quân, vàng da cam, ngọc bích, xanh, lam, tím...
Dưới lốt một viên đại úy quân trang mặt rỗ nhằng rỗ nhịt, số phận đã ban cho Ép-xi-u-cốp một chiếc áo khoác và một chiếc quần màu bồ quân khi anh đưa phiếu của ban tham mưu đến lĩnh.
Ngay từ hồi thơ ấu, Ép-xi-u-cốp đã có một bộ mặt cùng màu như vậy và điểm những vết tàn nhang. Trên đầu anh, thay cho bộ tóc là một mớ lông tơ mềm mại của vịt non.
Người Ép-xi-u-cốp nhỏ bé, lưng đầy đặn vóc dáng hình bầu dục nên trong chiếc áo khoác và chiếc quần màu bồ quân, Ép-xi-u-cốp lại càng giống một quả trứng tô màu ngày lễ phục sinh.
Những dây da của bộ quân trang bắt chéo trên lưng thành hình chữ X và khi Ép-xi-u-cốp quay lại, người ta mong ngóng sẽ đọc thấy chữ B trên bụng anh.
Đức chúa đã tái sinh![4]
Nhưng chữ B lại không thấy có ở đó. Ép-xi-u-cốp chẳng tin ở lễ Phục sinh, chẳng tin ở Chúa. Lòng tin của anh là ở chính quyền xô-viết, ở Quốc tế cộng sản, ở cơ quan công an bảo vệ và ở khẩu súng bằng thép kéo, nặng chịch mà anh vẫn cầm ở trong những ngón tay sần sùi và khỏe mạnh.
Hai mươi ba chiến sĩ vừa cùng Ép-xi-u-cốp thoát khỏi vòng tử địa của lưỡi gươm quân Cô-dắc và đang chạy trốn về phía bắc đều là những chiến sĩ Hồng quân, như tất cả các chiến sĩ khác, những chiến sĩ rất bình thường.
Giữa bọn họ, Ma-ri-út-ka như sống ở nhà mình vậy.
Ma-ri-út-ka mồ côi cả cha lẫn mẹ từ sớm. Chị sinh ra trong một xóm chài lưới náu mình giữa vùng châu thổ lau sậy um tùm của dòng sông Vôn-ga, không xa Át-xtơ-ra-khan là mấy.
Ngay từ thuở lên bảy và rồi trong mười hai năm liền, Ma-ri-út-ka ngồi trên một chiếc ghế dài nhầy nhụa ruột cá, bận một chiếc quần vải thô để mổ những con cá mòi óng ánh bạc và dính nhớp.
Nhưng khi người ta báo tin ở thành phố và thôn quê có một đợt tuyển quân tình nguyện vào xích vệ - như hồi đó người ta gọi thế - Ma-ri-út-ka cắm phập con dao xuống ghế rồi ra đi tòng quân. Lúc đầu người ta xua chị về, nhưng thấy chị ngày nào cũng khăng khăng đi lại mãi, họ vừa cười giễu vừa nhận chị, bầy vai như tất cả mọi người khác.
Ma-ri-út-ka giống một cây sậy mảnh dẻ ven bờ sông; những bím tóc hung hung cuộn dưới vành chiếc mũ lông cừu. Ma-ri-út-ka có một cặp mắt điên dại, một cặp mắt như trái hạnh đào, một cặp mắt vàng cháy lửa như loài mèo.
Điều mà Ma-ri-út-ka thích hơn hết là mơ mộng. Chị không bao giờ cưỡng lại được cái sở thích mơ mộng đó. Ma-ri-út-ka còn thích làm thơ bằng một mẩu bút chì và cứ vớ được mẩu giấy nào là lại hý hoáy vạch lên đó những dòng chữ xiêu xẹo.
Chuyện ấy cả chi đội đều biết. Mỗi lần chuyển quân tới một thành phố có xuất bản báo, Ma-ri-út-ka lại van vỉ xin giấy của nhân viên văn phòng.
Thè lưỡi liếm cặp môi nứt nẻ vì cảm động, Ma-ri-út- ka chép cẩn thận lại những bài thơ của mình, đặt tên cho từng bài và ký: “Thơ của Ma-ri-a Bát-xô-va”.
Rồi chị mang đến tòa báo. Người ta kinh ngạc ngắm nghía cô gái mảnh khảnh mặc áo da và đeo khẩu súng của kỵ binh ấy, rồi nhận tập thơ và hứa sẽ đọc.
Ma-ri-út-ka nhìn khắp mọi người bằng một cái nhìn trong sáng rồi đi ra.
Người thư ký tòa soạn thấy hay hay, liền quyết định đọc. Đôi vai anh ta bật lên và giật thon thót, miệng kéo rệch ra trong một trận cười nôn ruột, không nín được. Anh em nhân viên chạy tới và người thư ký tòa soạn vừa đọc những câu thơ vừa cười nấc lên.
Tất cả mọi người cười bò ra trên thành cửa sổ (thời ấy thiếu cả bàn ghế trong các tòa soạn báo).
Sáng hôm sau, Ma-ri-út-ka lại xuất hiện. Chị nhìn trừng trừng vào mặt người thư ký tòa soạn đang cố nhịn cười một cách khó khăn, vớ lấy những tờ bản thảo rồi nói, giọng thánh thót:
- Thế nào? Không thể đăng được à? Còn phải gọt rũa nữa phải không? Ấy là tôi đã xén đi nhiều chỗ, thế mà cũng chẳng ăn thua. Thôi được! Tôi sẽ mầy mò làm nữa. Ra làm thơ cũng gay; đồ cá chết toi thật!
Ma-ri-út-ka đi ra, kéo sụp cái mũ lông Tuyếc-mê-ni xuống đến tận mắt.
Ma-ri-út-ka làm thơ không thành công, ngược lại chị là một tay súng đặc biệt chính xác. Đó là một thiện xạ kền nhất của chi đội và trong các trận chiến đấu, bao giờ Ma-ri-út-ka cũng ở bên cạnh người chính ủy “bồ quân”.
Ép-xi-u-cốp chĩa ngón tay:
- Ma-ri-út-ka! Trông kìa! Một tên sĩ quan!
Ma-ri-út-ka nheo mắt, thè lưỡi liếm môi, đàng hoàng giơ súng ngắm. Đạn đi không bao giờ chệch đích.
Chị hạ súng xuống và không quên đếm:
- Tên thứ ba mươi chín! Đồ cá chết toi! Tên thứ bốn mươi! Đồ cá chết toi!
“Đồ cá chết toi” là câu nói ưa thích của Ma-ri-út-ka.
Còn những chữ tục tĩu, thì chị rất ghét; nếu có ai văng tục trước mặt là Ma-ri-út-ka nhăn nhó, im bặt và đỏ rừ mặt lên.
Một đêm, anh chàng Gu-tra, người Ma-gi-a[5] mò tới chỗ Ma-ri-út-ka. Đã bao ngày Gu-tra cứ giương đôi mắt nhờn nhờn nhìn chị như muốn nuốt chửng. Câu chuyện ấy kết thúc một cách thảm hại. Anh chàng Ma-gi-a bị một trận thừa sống thiếu chết, rút lui với ba cái răng gãy và thái dương bị thương. Ma-ri-út-ka đã “tiếp đón” anh chàng bằng những cú báng súng.
Các chiến sĩ Hồng quân hay trêu Ma-ri-út-ka một cách thân mật, nhưng trong lúc chiến đấu, họ hết sức hộ vệ cho chị.
Trong lòng họ vọng lên tiếng nói của một niềm trìu mến bản năng ăn sâu dưới lớp vỏ màu sặc sỡ của những chiếc áo khoác.
Đó là hai mươi ba người, Ép-xi-u-cốp và Ma-ri-út-ka đang đi về phương bắc trong khoảng cát trắng mênh mông, khốc liệt, lạnh giá.
Tháng hai, băng tuyết vi vút reo lên những tiếng láy trong bão gió, trải xuống những khoảng trũng giữa các cồn cát, những tấm thảm êm dịu và lấm tấm sương. Bầu trời gào thét trên đầu các chiến sĩ đang dấn thân trong cơn lốc dấy lên bởi ngọn gió điên cuồng hoặc bởi làn đạn của quân địch.
Những bắp chân nặng trĩu tiến bước chật vật trong cát và tuyết. Những con lạc đà đói mềm rên ư ử và khạc phì phì.
Gió khắc nên những hạt muối tinh thể và xung quanh hàng mấy trăm dặm, bầu trời hình như bị cắt rời ra khỏi mặt đất bằng một lưỡi dao đồ tể, dọc theo một đường đều đặn và trắng nhờ màu sữa.
Nói cho đúng, chương này không tính vào trong câu chuyện của tôi. Đáng lẽ phải bắt đầu ngay vào điểm chính sắp nói đến ở những chương sau thì tốt hơn.
Nhưng cũng cần để độc giả biết số tàn quân của chi đội đặc biệt miền Gu-ri-ép này từ đâu đến, cách giếng Ka-ra-ku-đúc ba mươi bảy dặm về phía đông bắc, tại sao lại có một phụ nữ trong một chi đội Hồng quân, tại sao Ép-xi-u-cốp lại là chính ủy “bồ quân” và còn biết bao nhiêu chuyện nữa.
Chỉ vì sự cần thiết đó mà tôi phải nhượng bộ viết thêm chương này.
❀ ❀ ❀
[1] Trong bản dịch tiếng Pháp là Commisssaire framboise. Framboise là một thứ quả sẫm, gần như quả dâu của ta nhưng to hơn và thường chỉ thấy có ở châu Âu. Chúng tôi tạm dịch là chính ủy “bồ quân” để mệnh danh cho Ep-xi-u-cốp theo như tinh thần của nguyên bản. Cũng biết là chưa thật sát đúng.
[2] Một loài cây không có lá ở miền Trung Á.
[3] Đoàn trưởng.
[4] Đây là một kiểu chơi chữ không thể dịch được. X và B ở trong tiếng Nga là những chữ cái ở đầu chữ ХРИСТOC BOCKPECE nghĩa là "Đức Chúa tái sinh". Theo phong tục Nga, vào dịp lễ Phục sinh người ta thường viết hai chữ đó ở trên những quả trứng tô màu sặc sỡ.
[5] Ma-gi-a: một dân tộc ở vùng núi U-ran và An-tai, dòng giống người U-giơ-riêng. Thế kỷ thứ 9 đi từ U-ran đến Hung-ga-ri. Người Hung-ga-ri hiện nay là dòng giống của dân tộc này.