Người Thứ 41

Lượt đọc: 170 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Iv
Chương Iv

❊ ❊ ❊

Chương này diễn ra cuộc trò chuyện lần thứ hai và cũng bộc lộ rõ những tác động về sinh lý khốc hại của nước biển ở hai độ Rê- ô- muya[1]

✦ ✦ ✦

Tên trung úy để tay lên vai Ma-ri-út-ka. Nó định nói nhiều lần nhưng hàm răng run lập cập, chưa nói được.

Nó chống nắm tay vào hàm và thốt ra:

- Khóc mà làm gì? Đi nào. Dù sao cũng không thể ở mãi đây được. Đến chết rét mất thôi.

Ma-ri-út-ka ngẩng đầu lên và nói giọng tuyệt vọng:

- Anh muốn đi đâu bây giờ. Ở giữa cái hòn đảo, bốn bề nước vây quanh này?

- Phải đi chứ. Tôi biết ở đây có những cái lều cá.

- Anh biết cái gì? Dễ thường anh đã ở đây rồi chắc?

- Chưa ở bao giờ cả. Nhưng hồi học ở trường, tôi đọc sách biết dân chài ở đây thường làm những cái lều để giữ cá. Phải tìm lấy một lều...

- Bao giờ thì tìm ra?

- Đêm tối sẽ giúp ta có những ý nghĩ sáng suốt. Thôi đứng dậy, Thứ Sáu!

Ma-ri-út-ka sợ hãi nhìn tên trung úy:

- Dễ thường anh điên rồi chắc! Trời ơi! Tôi biết làm thế nào với anh bây giờ. Hôm nay không phải thứ sáu mà là thứ tư.

- Đừng để tâm đến chuyện ấy nữa. Ta sẽ nói đến sau. Thôi đứng dậy.

Ma-ri-út-ka nghe theo. Tên trung úy cúi xuống để nhặt những cây súng, nhưng Ma-ri-út-ka giữ tay nó lại:

- Đừng có tầm bậy! Anh đã thề với tôi là không trốn cơ mà.

Tên trung úy vừa gỡ tay ra vừa cười rống lên: Không phải tôi, mà chính là chị điên rồi. Chị thử xem tôi có thể nghĩ đến việc trốn đi trong lúc này được không? Tôi muốn mang giúp chị mấy cây súng là vì để chị mang thì nặng quá.

Ma-ri-út-ka yên tâm nhưng cũng nói với một vẻ nghiêm nghị nhẹ nhàng.

- Cám ơn! Nhưng tôi nhận lệnh giải anh đi. Tôi không thể giao vũ khí cho anh được vì tôi phải chịu trách nhiệm.

Tên trung úy nhún vai và vác mấy bì lương thực bắt đầu đi. Mặt cát lẫn tuyết lạo sạo dưới bước chân. Bãi biển phẳng đều đều một cách tuyệt vọng và dường như bất tận.

Xa xa, một vật xam xám hiện lên dưới một lớp tuyết mỏng.

Ma-ri-út-ka đi chuệnh choạng dưới sức nặng của ba cây súng.

- Cố lên! Ma-ri-a Phi-la-tốp-na! có thể chỗ kia là cái lều cá đấy!

- Phải tìm thấy lều cá ngay mới được. Tôi không thể cố được nữa. Người tôi rét cóng cả rồi.

Cuối cùng hai người đã gặp được một chiếc lều cá. Bên trong tối đen như trong một cái lò. Một mùi cá ẩm, tanh lộn mửa và mùi muối mặn tràn ngập cả không khí.

Tén trung úy sờ thấy một đống cá:

- Ồ! Có cá rồi. ít nhất chúng ta cũng không bị đói!

Mn-ri-út-ka rền rĩ:

- Phải có ánh sáng mà trông xem. Có thể tìm được một chỗ khuất gió chăng?

- Ở đây thì đừng hòng có điện!

- Thử lấy một con cá mà đốt, cá béo thế kia mà!

Tên trung úy phá lên cười:

- Cá à? Thôi đích là chị điên rồi!

Ma-ri-út-ka bực mình vặn lại:

- Anh tưởng thế chứ? Ở vùng chúng tôi, ở trên sông Vôn-ga, người ta chỉ đốt thế thôi đấy. Nó cháy hơn cả gỗ nữa là đằng khác.

- Tôi chưa nghe nói thế bao giờ? Và rồi, làm thế nào mà đốt được. Tôi có bùi nhùi đây, nhưng...

- Cái đồ ru rú xó nhà! Rõ ràng là suốt đời anh chỉ quanh quẩn trong váy mẹ. Đây này, tháo những viên đạn ra. Tôi đi dỡ vách lấy gỗ...

Bằng những ngón tay tê cóng, tên trung úy chật vật tháo ra ba viên đạn. Trong bóng tối, Ma-ri-út-ka, tay ôm một ôm vỏ bào, vấp phải nó:

- Dốc thuốc thành đống ra đây! Đưa bùi nhùi vào!

Một chấm sáng màu da cam lóe lên ở chiếc bùi nhùi.

Ma-ri-út-ka dí vào đống thuốc súng. Thuốc lách tách nổ, từ từ cháy lên một ngọn lửa vàng vàng rồi bén vào đám vỏ bào khô.

- Được rồi! Lấy một con cá, một con thật béo ấy.

Họ quẳng chú cá vào đống vỏ bào đang cháy. Nó co quắp lại rồi bốc cháy, ngọn lửa vừa nóng ấm vừa to đượm.

- Bây giờ chỉ việc chất thêm vào nữa thôi. Cá thì đủ ăn ít nhất là sáu tháng.

Ma-ri-út-ka nhìn khắp xung quanh. Ngọn lửa làm cho những cái bóng chập chờn rung rinh trên những đống cá to tướng. Vách gỗ đầy những lỗ hổng và khe hở.

Ma-ri-út-ka xem xét chiếc lều cá và bỗng kêu lên:

- Có một góc gần như nguyên vẹn. Anh chất cá vào đống lửa cho nó khỏi tắt, tôi đi bịt những lỗ hổng lại. Ta sẽ xếp thành một căn buồng hẳn hoi.

Tên trung úy ngồi gần đống lửa. Nó vừa sưởi vừa run. Trong góc tường, Ma-ri-út-ka di chuyển đống cá nghe loạt soạt lạch sạch. Cuối cùng chị gọi:

- Xong rồi. Đem lửa lại đây!

Tên trung úy núm đuôi con cá đang bốc cháy, đi lại góc nhà. Ba phía xung quanh, Ma-ri-út-ka đã quây thành những bức tường bằng cá, chỉ để một khoảng trống ở giữa khoảng hai thước.

- Vào trong này và đốt lửa đi. Tôi để cá ở giữa nhà rồi. Tôi đi tìm mấy bì lương đây.

Tên trung úy đút con cá đang cháy xuống dưới đống cá. Đống cá từ từ bén lửa cháy lên một cách miễn cưỡng. Ma-ri-út-ka trở về xếp gọn những khẩu súng và mấy bì lương vào một góc:

- Đồ cá chết toi! Tiếc mấy cậu ấy quá. Họ hy sinh một cách vô ích...

- Ta nên hơ quần áo không có nhiễm lạnh đấy.

- Ừ, thì hơ đi. Bếp cá đang nóng. Anh cởi quần ra mà hong lên đi.

Tên trung úy ngần ngừ:

- Chị hơ đi Ma-ri-a Phi-la-tốp-na! Tôi ra ngoài kia đợi, và sẽ hơ sau.

Ma-ri-út-ka thương hại nhìn bộ mặt run rét của tên trung úy.

- Ai lại ngốc đến thế! Rõ ràng là một cậu ấm. Anh chưa bao giờ thấy một người đàn bà ở trần à?

- Không phải thế, nhưng có thể như vậy sẽ phiền chị chăng?

- Vớ vẩn! Ai cũng da thịt như nhau cả. Tựu trung thì cũng chẳng khác gì nhau nhiều lắm đâu - Ma-ri-út-ka nói gần như quát - Thôi cởi quần áo ra! Đồ ngốc. Anh run cầm cập như một khẩu liên thanh rồi đấy. Còn ra cái điều là làm rầy tôi nữa kia ư?

Quần áo vắt trên mấy cây súng bắt chéo bốc hơi lên bên ngọn lửa.

Ma-ri-út-ka khoác chiếc áo da lên vai:

- Phải ngủ đi. Có thể ngày mai sẽ lặng đấy. Cũng còn may mà thuyền chưa đắm. Khi im gió, cuối cùng ta sẽ tới sông Sya Đa-ri-a. Ở đấy ta sẽ lại gặp dân chài. Anh ngủ đi. Tôi trông lửa cho. Khi nào tôi buồn ngủ quá, tôi sẽ đánh thức anh dậy. Chúng ta sẽ thay phiên nhau.

Tên trung úy xếp quần áo để dưới đầu và đắp chiếc áo lông lên người. Nó ngủ mê mệt, mồm rên rẩm luôn luôn. Ma-ri-út-ka ngồi yên ngắm nó.

Chị nhún một bên vai:

- Dễ thường mình cần cái mối lo lắng này lắm đấy! Tội nghiệp! Miễn là nó đừng chết, ở nhà chắc nó phải sống trên nhung lụa. Nó sống sung sướng biết bao! Đồ cá chết toi.

Khi ánh bình mình mờ xám rọi qua khe hở mái lều, Ma-ri-út-ka đánh thức tên trung úy dậy:

- Anh trông lửa nhé, tôi đi ra bờ đảo xem một lượt. Chưa biết chừng lại gặp quân ta cũng nên, nếu họ thoát chết!

Tên trung úy mệt nhọc ngồi dậy. Nó ôm lấy hai thái dương, làu bàu nói:

- Tôi đau đầu quá!

- Không việc gì đâu... Tại khói và mỏi mệt đấy. Rồi sẽ khỏi. Anh lấy bánh khô ở trong bì và nướng một con cá mà ăn.

Ma-ri-út-ka cầm một khẩu súng, kéo tà áo lau và đi ra.

Tên trung úy lê đầu gối bò đến tận đống lửa, lấy ở bì ra một chiếc bánh ướt nhèo. Nó cắn bánh, nhai một miếng, đánh rơi cái bánh rồi ngã gục xuống đất...

Ma-ri-út-ka vừa lay vai tên trung úy vừa gọi một cách tuyệt vọng:

- Dậy! Dậy đi! Khổ chưa!

Tên trung úy trợn mắt, há mồm ra.

- Này tôi bảo: Dậy đi! Sóng cuốn mất thuyền. Giờ thì hỏng cả rồi.

Tên trung úy chẳng nói chẳng rằng.

Ma-ri-út-ka chăm chú nhìn chằm chằm vào mặt nó và nén một tiếng kêu.

Cặp mắt xanh như biển khơi lúc này đục ngầu và điên đại. Má nó nóng bỏng ngả vào tay Ma-ri-út-ka, không còn một chút sinh lực.

- Đồ người rơm, thế mà đã nhiễm lạnh rồi! Biết làm thế nào với mày bây giờ?

Tên trung úy động đậy cặp môi.

Ma-ri-út-ka cúi xuống và nghe thấy:

- Thầy Mi-kha-in I-va-nô-vich... Xin thầy đừng cho tôi điểm xấu... Tôi đã không làm được xong bài... Ngày mai, tôi sẽ làm.

Ma-ri-út-ka run run hỏi:

- Cái gì? Cái gì hử?

Đột nhiên tên trung úy nhảy chồm lên hét:

- Tờ-rê-do[2] ... Suỵt... một con cun cút kìa...

Ma-ri-út-ka né ra giấu mặt vào hai bàn tay.

Tên trung úy lại nằm vật xuống, móng tay cào cào mặt cát.

Nó ú ớ những tiếng gì không rõ, tiếng nói như làm nó nghẹt thở.

Ma-ri-út-ka thất vọng quay đi.

Chị cởi chiếc áo da của mình giải xuống cát, kéo cái thân hình bất động của tên trung úy nằm lên một cách chật vật, rồi đắp chiếc áo lông lên người nó.

Ma-ri-út-ka nép vào bên cạnh tên trung úy, vẻ khổ sở. Những giọt nước mắt đục từ từ chảy trên khuôn mặt hốc hác của chị.

Tên trung úy cựa quậy, tung chăn ra, nhưng mỗi lần như vậy, Ma-ri-út-ka lại kiên nhẫn kéo chiếc áo lông đắp lại tới tận cằm cho nó.

Chị đặt mấy bì thức ăn xuống dưới cái đầu ngật ra của nó để làm gối.

Chị nói với bầu trời một cách lo ngại:

- Nếu nó chết, tôi biết nói với đồng chí Ép-xi-u-cốp thế nào đây? Khổ chưa!

Chị cúi xuống người tên trung úy đang sốt, và nhìn sâu vào cặp mắt xanh đã mờ đi của nó.

Một niềm thương vô hạn nhói vào tim Ma-ri-út-ka. Chị đưa bàn tay dịu dàng vuốt mái tóc loăn xoăn của tên sĩ quan, ôm lấy đầu nó và thì thào, trìu mến:

- Ngốc lắm! Cặp mắt xanh yêu dấu của tôi!

❀ ❀ ❀

[1] Réaumur (1683-1757) nhà vật lý học người Pháp sáng chế ra hàn thử biểu.

[2] Tờ-rê-do: tiếng Pháp là kho vàng. Ở đây là tên một con chó săn.

Dịch thuật: VŨ LÊ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.