Chương này hoàn toàn mượn của Đa-ni-en Đờ-phô [1]chỉ có khác Rô-bin-xơn không phải chờ đợi Thứ Sáu[2] lâu đến thế
❀ ❀ ❀
Biển A-ran không phải là biển vui mắt lắm.
Bờ phẳng lì phủ đầy ngải cứu, cát và những quả núi trọc.
Những hòn đảo của biển A-ran giống như những cái bánh tráng ở trên lò, vừa dẹt vừa bóng; người ta chỉ thấy nó hơi nhô lên mặt nước một chút và trên đó không hề thấy dấu vết của sự sống.
Không một bóng chim, không một nhánh cỏ, mùa hè mới thấy có bóng người.
Hòn đảo chính của biển A-ran là đảo Bác-xa Ken-mơ.
Người ta không hiểu chữ đó nghĩa là gì. Người Kiếc- ghi thì quả quyết Bác-xa Ken-mơ là đảo “chết người”.
Mùa hè, những thuyền đánh cá rời thị trấn A-ran-xkơ đến đảo này. Đánh cá ở đây thì tuyệt, nước sôi sục lên vì cá qua lại nhiều vô kể.
Nhưng khi gió mùa thu cuộn bọt trắng lên ngọn những con sóng, dân chài rời vào trú trong vụng A-ran-xkơ yên tĩnh và chỉ ra khơi khi mùa xuân trở lại.
Nếu không kịp lấy cá về trước mùa bão, cá đã ướp muối sẽ nằm thành chồng, thành lớp trong những chiếc lều trống tứ bề, gió thốc vào, suốt mùa đông.
Trong những mùa rét gay gắt, khi mặt biển đóng băng từ vịnh Tréc-ni-xép đến tận đảo Bác-xa thì cá ướp là một “món bở” cho bọn thú vật. Chúng chạy trên mặt băng tuyết ra tận hòn đảo, nhồi nhét, ních đầy bụng cá mặn đến quay ra chết tại chỗ.
Và mùa xuân, khi dòng nước lũ vàng vàng của sông Sya Đa-ri-a xô vỡ mặt băng, dân chài chẳng còn tìm thấy một chú cá nào, mà họ đã ướp trong mùa đông.
Gió hoành hành trên mặt biển từ tháng mười một đến tháng hai, nhưng những tháng còn lại thì thỉnh thoảng lắm mới có vài lần xấu trời. Suốt mùa hè, mặt biển phẳng lì như một tấm gương quý.
A-ran, một vùng biển tẻ ngắt.
Niềm vui độc nhất mà biển A-ran gợi lên là mầu xanh kỳ lạ của nó.
Một màu xanh thăm thẳm, mịn màng, lấp lánh ánh ngọc lưu ly.
Điều đó đã được ghi trong tất cả các sách địa lý học.
Để Ma-ri-út-ka và tên trung úy ra đi, chính ủy Ép-xi-u-cốp chắc mẩm trời sẽ yên tĩnh ít nhất là trong một tuần lễ. Và những người thổ dân Kiếc-ghi tin vào những điềm báo trước truyền lại tự đời nảo, đời nào không rõ cũng nói như vậy.
Vì thế thuyền ra khơi, thẳng hướng đi về Ka-da-lin-xkơ. Trên thuyền có Ma-ri-út-ka, tên trung úy, và hai gã trai trẻ là Xê-mi-an-ni và Vi-a-khia, hai người thủy thủ gốc gác lâu đời.
Một cơn gió nhẹ gợn sóng trên mặt biển và vui vui thổi phồng căng cánh buồm vừa khâu lại. Bánh lái uể oải kêu kẽo kẹt trong bản lề, bọt sóng dày đặc nô giỡn hai bên mạn thuyền.
Ma-ri-út-ka đã cởi trói hẳn cho tên tù binh - ai mà trốn được giữa biển khơi? - và Gô-vô-ru-kha Ô-tờ-rốc cũng làm việc thay phiên nhau với Xê-mi-an-ni và Vi-a-khia.
Tự nó xử sự như một tên tù binh vậy.
Lúc được các chiến sĩ Hồng quân đổi phiên, nó nằm vào trong chăn, miệng mỉm cười với những ý nghĩ vẩn vơ và thầm kín, những ý nghĩ của một tên trung úy mà ngoài nó ra không ai biết được.
Điều đó không khỏi làm cho Ma-ri-út-ka lo lắng: “Không biết nó có cái gì mà lúc nào cũng cười cợt? Giá nó đang ở trên đường về nhà thì ít ra cũng còn hiểu được. Nhưng nó lại sắp đi đứt rồi; ở ban tham mưu, người ta sẽ hỏi tội nó và sau đó là xử bắn. Hừ, khốn nạn cái thân mày”.
Tên trung úy vẫn mỉm cười, không hề biết những điều suy nghĩ của Ma-ri-út-ka.
Ma-ri-út-ka không nén được nữa, chị bắt chuyện:
- Anh học chèo thuyền ở đâu đấy?
Gô-vô-ru-kha Ô-tờ-rốc suy nghĩ một lát rồi trả lời:
- Ở Pê-téc-xbua, tôi có một chiếc du thuyền, một chiếc lớn. Tôi chèo thuyền...
- Du thuyền gì?
- Một chiếc thuyền buồm!
- Này ít ra tôi cũng thừa biết như anh một chiếc du thuyền là cái gì rồi. Tôi đã trông thấy chán thuyền ra như thế ở trong câu lạc bộ của bọn trọc phú ở Át-xtơ-ra-khan. Những cái trắng tinh ấy và đẹp như những con thiên nga. Tôi có hỏi như thế đâu. Chứ chiếc du thuyền của anh, nó có tên không?
- Nen-ly!
- Cái tên ấy nghĩa là thế nào?
- Em gái tôi tên là Nen-ly. Tôi đặt tên thế là vì quý mến em tôi.
- Đó không phải là một tên thánh.
- Tên thánh Hê-len đấy. Gọi theo tiếng Anh là Nen-ly.
Ma-ri-út-ka thôi không nói nữa; chị ngắm nghía mặt trời trắng xóa đang đổ nắng vàng như sáp lấp lánh và lạnh ngắt. Mặt trời từ từ lặn xuống mặt biển xanh mịn như nhung.
Ma-ri-út-ka lại nói:
- Nước xanh quá! Ở biển Cát-xpiên nước xanh màu lá cây kia, còn ở đây thì xanh lơ, tôi chưa bao giờ thấy thế đấy.
Tên trung úy khẽ đáp như nói với mình:
- Trong bảng thống kê của Pho-ren, màu nước này xếp gần vào loại thứ ba.
Ma-ri-út-ka băn khoăn hỏi:
- Cái gì?
- Tôi nói một mình, về chuyện nước biển. Tôi đọc một cuốn sách giáo khoa về thủy học thì ở biển này, nước xanh một màu rất đậm. Nhà bác học Pho-ren đã làm một bảng thống kê mức độ đậm nhạt của các màu nước biển. Nước xanh hơn cả là nước ở Thái-bình- dương. Nước ở đây theo bảng thống kê ấy thì gần vào loại thứ ba.
Ma-ri-út-ka lim dim cặp mắt, như muốn hình dung ra cái bảng thống kê của Pho-ren, tô nhiều màu xanh khác nhau.
- Thật là xanh lạ lùng. Thậm chí còn khó mà so sánh được với cái gì - Chị mở mắt và đột nhiên đôi mắt mèo của chị đăm đăm nhìn thẳng vào cặp mắt xanh như biển khơi của tên trung úy. Chị giật mình như có một điều gì kỳ lạ vừa mới phát lộ ra trước mắt. Chị há miệng kinh ngạc và thì thào. “Chết mẹ rồi! Thằng này, mày có một cặp mắt đúng như màu nước biển. Thế mà tao, tao cứ tự hỏi mãi tao đã nhận ra cái gì trong cặp mắt đó. Đồ cá chết toi!”.
Tên trung úy lặng thinh.
Chân trời tràn ngập trong một màu máu phơn phớt da cam. Phía xa, nước lấp lánh hắt lên một làn phản quang màu mực. Trời dần dần lạnh giá. Xê-mi-an-ni thu hình vào dưới manh áo choàng tơi tả, rồi bảo:
- Hơi lạnh từ phía đông tràn sang đấy.
Vi-a-khia đáp lại:
- Chỉ còn thiếu có gió nữa thôi!
- Cóc sợ, từ đây đến đảo Bác-xa không đầy hai tiếng đồng hồ nữa. Nếu trời dịu ta sẽ ngủ đêm ở đó.
Họ im lặng. Những ngọn sóng ngả sang màu chì đã rập rờn.
Những dải mây hẹp trải dài trên nền trời đen đặc và lờm sờm.
- Tớ đã ngờ ngợ mà! có gió thổi rồi...
- Đến Bác-xa cũng không còn lâu nữa. Hẳn nó ở về phía bên trái chúng ta. Đảo ấy là một đảo hạng bét, chỉ có cát tứ bề và gió thổi hun hút. Nới dây ra! Cái giống nhơ bẩn kia nới dây ra! Có phải cái dây đeo quần của ông tướng nhà mày đâu!
Tên trung úy không nới kịp dây buồm. Mạn thuyền mấp mé sát mặt nước; một làn sóng ngầu bọt quật vào mặt mọi người. Nó cãi:
- Không phải tại tôi. Tại Ma-ri-a Phi-la-tốp-na cứ ngồi ngủ gục ở đằng lái đấy.
- Tao mà ngủ gục à? Đồ cá chết toi ở đâu? Tao đã biết cầm lái từ thuở lên năm cơ.
Sóng đuổi theo rồn rập, những đợt sóng cao và đen, như những lưng rồng ngoác mõm rú rít, bập vào mạn thuyền.
- Con tườu! Mau mau cho tới đảo Bác-xa thôi! Chẳng trông thấy cái gì cả.
Vi-a-khia dõi mắt vào trong khoảng tối đen, về phía bên trái. Anh kêu lên vui vẻ:
- Nó kia rồi! Cái hòn đảo mất giống ấy kia rồi.
- Một dải trăng trắng hiện lên lờ mờ qua bụi nước và sương mù. Xê-mi-an-ni hét:
- Lái vào bờ! Lậy chúa hãy phù hộ chúng tôi...
Sóng xô vào mũi thuyền ầm ầm, dây chão kêu ken két. Ngọn sóng ập vào trong khoang, nước ngập đến đầu gối.
Ma-ri-út-ka hét lên:
- Tát nước đi...
- Tát bằng cái gì?
- Tát bằng cái anh đội trên đầu ấy.
Xê-mi-an-ni và Vi-a-khia giật lấy mũ cắm đầu cắm cổ tát.
Tên trung úy ngần ngừ một giây rồi cũng nhảy đến cứu nguy bằng chiếc mũ kiểu Phần-lan của nó.
Vệt trắng như chạy lại về phía chiếc thuyền rồi biến thành một bờ đảo phẳng lì phủ đầy tuyết. Bọt bể sủi ùng ục càng làm cho nó thêm trắng.
Gió điên cuồng, rú rít, gầm thét, dâng lên những ngọn sóng lắc lư mỗi lúc một nhiều.
Gió giận dữ lăn sả vào thổi phồng cánh buồm như bụng người chửa rồi giật giẹo.
Vải buồm cũ, rách đánh bục một cái như tiếng đại bác. Xê-mi-an-ni và Vi-a-khia nhảy bổ đến cột buồm. Ma-ri-út-ka vừa kêu thất thanh vừa đè cả người lên tay lái:
- Giữ cho chắc đấy.
Phía sau, một ngọn sóng xõa xượi ầm ầm và lạnh giá lật nghiêng chiếc thuyền, rồi cả cái khối nước đồ sộ và trong veo ấy vọt ngang qua.
Khi chiếc thuyền gần đầy nước trở lại thăng bằng thì chẳng thấy Xê-mi-an-ni và Vi-a-khia đâu nữa. Những mảnh buồm rách nát ướt sũng nước phần phật trước gió.
Tên trung úy ngồi bệt xuống nước ngập ngang thắt lưng, vội vã làm dấu. Ma-ri-út-ka hét lên:
- Đồ trời đánh. Còn đợi gì mà không tát nước đi!
Nó mới nhảy chồm lên như một con chó săn sù lông và bắt tay vào việc.
Trong trời đêm, giữa tiếng gió rét Ma-ri-út-ka kêu lớn:
- Xê-mi-an-ni! Vi-a-khia!
Bọt sóng đánh tung lên. Không có tiếng người.
- Họ chết đuối mất rồi! Trời ơi!
Gió đưa chiếc thuyền đã gần như chìm nghỉm về phía bờ. Nước sủi ùng ục xung quanh. Một ngọn sóng thúc mạnh, đáy thuyền chạm vào mặt cát sào sạo.
- Nhảy xuống nước đi.
Ma-ri-út-ka vừa nói lớn vừa nhảy xuống trước. Tên trung úy nhảy theo một cách nặng nề.
- Kéo thuyền vào.
Mắt mờ đi vì bụi nước, sóng đánh xô người, họ nắm lấy dây chão kéo chiếc thuyền cứ cặm sâu vào cát.
Ma-ri-út-ka cầm lấy mấy khẩu súng.
- Vác lấy mấy bì lương thực này.
Tên trung úy ngoan ngoãn chấp hành. Tới một chỗ khô, Ma-ri-út-ka buông rơi mấy cây súng. Tên trung úy cũng bỏ những bì lương thực xuống.
Trong đêm tối, Ma-ri-út-ka lại kêu to một lần nữa:
- Xê-mi-an-ni! Vi-a-khia!
Không một tiếng trả lời.
Ma-ri-út-ca gieo mình xuống những bì lương thực khóc nức nở.
Đằng sau chị, tên trung úy run như cầy sấy.
Nhưng nó cũng nhún vai và nói với tiếng gió:
- Cứ như là ở trong truyện ấy. Ma quỷ thật. Rô bin-xơn và Thứ Sáu!
❀ ❀ ❀
[1] Tiểu thuyết gia người Anh sinh ở Luân-đôn (1660-1731) tác giả cuốn: "Cuộc đời phiêu lưu của Rô-bin-xơn Cờ-ruy-dô-ê".
[2] Nhân vật trong Rô-bin-xơn Cờ-ruy-dô-ê, người giúp việc trung thành của Rô-bin-xơn.