Chương này nói về một vệt tối sậm hiện lên chân trời, trông gần thì hóa ra trung úy cận vệ Gô-vô-ru-kha Ô-tờ-rốc
✦ ✦ ✦
Từ giếng nước Jan-ghen-đy đến giếng Sôi-ku-đúc đường xa bảy mươi dặm và từ giếng đó đến nguồn nước Úc-căng còn sáu mươi hai dặm nữa.
Đêm đến, Ép-xi-u-cốp hạ báng súng trên một gốc cây bật rễ, nói bằng một giọng rét cóng:
- Dừng lại! Nghỉ đã!
Người ta đốt những cây xắc-xa-un lên. Lửa cháy dày đặc bồ hóng. Bốn bề cát vây quanh thành một vòng tròn ẩm ướt.
Người ta lấy những bì gạo và mỡ ra. Trong nồi gang, gạo lật bốc lên một mùi hăng hăng như mùi thịt cừu
Mọi người run cầm cập, yên lặng ngồi sát vào nhau xung quanh đống lửa, cố tránh những ngón tay lạnh giá của cơn bão tuyết đang luồn vào từng kẽ hở nhỏ nhất. Người ta đưa cả chân vào sưởi ngay chính giữa ngọn lửa, những chiếc ủng da nhăn nhúm kêu răng rắc và nổ lốp bốp.
Trong cơn gió tuyết xám bệch, những con lạc đà bị cột chặt lúc lắc những chiếc nhạc nghe buồn buồn
Ép-xi-u-cốp vấn một điếu thuốc lá trong những ngón tay run rẩy.
Vừa thở một hơi thuốc, anh vừa gắng gượng nói:
- Này các đồng chí, cần bàn xem nên đi đâu bây giờ?
Một giọng buồn thỉu đáp lại từ phía bên kia đống lửa trại:
- Đồng chí muốn anh em đi đâu bây giờ? Dù thế nào đi nữa cũng là đi đứt cả thôi. Quay về Gu-ri-ép không thành vấn đề rồi. Ở đấy cũng có bọn Cô-dắc chó đẻ. Mà ngoài Gu-ri-ép ra thì chẳng còn chỗ nào nữa.
- Còn Khi-va thì sao?
- Đồng chí nói rỡn đấy chứ? Đại loại là vượt sáu trăm dặm qua Ka-ra-kum giữa mùa đông. Hơn nữa lại chẳng có gì mà chén cả.
Mọi người cười nhưng cái giọng buồn bã ấy kết luận một cách tuyệt vọng:
- Chỉ còn có nước chết thôi! Thật là đi đứt!
Dưới lớp áo giáp màu bồ quân, trái tim Ép-xi-u-cốp thắt lại. Nhưng không hề lộ vẻ lo lắng, anh giận dữ ngắt lời người kia:
- Đồ gà rù! Xin đủ cái thói hoang mang lo sợ ấy đi! Nằm chịu chết thì còn hay hớm cái nỗi gì!
- Ta có thể quay sang chiến lũy A-lếch-dăng-đơ-rốp-xkơ. Quân ta ở đó.
- Cũng không thành vấn đề - Ép-xi-u-cốp ngắt lời - Đã có tin là Đê-ni-kin vừa tổ chức một cuộc đổ bộ lên đó. Hiện nay bọn Bạch vệ ở cả A-lếch-dăng-đơ-rốp-xkơ và Cơ-rát-nô-vốt-xkơ.
Có tiếng người rên rỉ trong giấc ngủ.
Ép-xi-u-cốp đấm vào đầu gối vừa ấm hơi lửa. Bằng một giọng sắc như dao chém, anh cắt đứt:
- Đủ rồi! Chỉ còn một đường là ra bể A-ran thôi các đồng chí ạ. Ra đấy rồi ta sẽ quay về Ka-da-lin-xkơ. Ban tham mưu mặt trận đóng ở đấy. Tới đó là về nhà rồi.
Và anh im bặt, lòng cũng rất nghi ngại chưa chắc kế hoạch liệu có thực hiện nổi.
Người nẳm bên cạnh, nhỏm đầu dậy và hỏi:
- Lấy gì mà ăn, từ đây đến biển A-ran?
Ép-xi-u-cốp lại cắt:
- Phải bóp mồm, bóp miệng thôi. Chúng ta không phải ông hoàng phải không? Ngài muốn sực cá với mật ong chăng? Đồ tồi! Ta hãy còn gạo và một ít bột mì đây!
- Đủ ăn ba chặng đường đấy!
- Rồi sao nữa? Từ đây đến vịnh Tréc-ni-xép không quá mười ngày đường. Ta có sáu con lạc đà. Khi nào hết lương thực, ta sẽ chén đến lạc đà. Dù thế nào chăng nữa, cũng chẳng cần đến chúng. Ta thịt một con, rồi tống thịt lên lưng một con khác và lên đường. Bằng cách ấy thế nào cuối cùng rồi chúng ta cũng sẽ đến nơi.
Không ai thốt ra một lời nào. Ma-ri-út-ka nằm gần đống lửa, tì lên khuỷu tay, đôi mắt mèo đăm đăm nhìn ngọn lửa không chớp. Ép-xi-u-cốp thấy bối rối.
Anh đứng dậy phủi tuyết trên áo:
- Xong rồi! Đến rạng đông chúng ta sẽ đi. Đây là một mệnh lệnh. Cũng có thể là chúng ta không đến nơi được tất cả - Tiếng nói của người chính ủy run lên như một con chim hốt hoảng - Nhưng chúng ta phải đi, vì các đồng chí ạ... cách mạng, cách mạng... Vì những người lao động trên toàn thế giới này...
Ép-xi-u-cốp lần lượt nhìn thẳng vào mắt từng người trong số hai mươi ba chiến sĩ. Trong những cặp mắt ấy, anh không thấy ánh lên tia lửa, mà anh vẫn thường quen thấy từ một năm nay. Những cái nhìn mờ xỉn lảng đi, sự tuyệt vọng và hoài nghi hiện rõ dưới những hàng mi khép xuống.
- Khi đã hết lạc đà, rồi cũng đến nước phải ăn thịt lẫn nhau thôi.
Im lặng.
Bỗng Ép-xi-u-cốp hét lên the thé:
- Không bàn cãi nữa. Nhiệm vụ cách mạng đồng chí có biết là thế nào không? Im hết. Mệnh lệnh đã ban bố rồi. Ai lôi thôi, treo cổ lên!
Một cơn ho cắt ngang lời Ép-xi-u-cốp.
Với một sự vui vẻ bất ngờ, anh chàng đang ngoáy cháo đặc bằng cái thông nòng súng bỗng thốt lên trong đêm tối:
- Các tướng, đã hết cái bộ mặt đưa ma ấy chưa? Lại chén đã. Tớ làm vất vả không phải để uổng công vô ích đâu. Đồ lính tráng vất đi!
Mọi người lấy thìa múc những tảng cháo đặc béo và phồng lên. Họ nuốt bỏng cả miệng để cháo khỏi nguội mất. Nhưng ở trên môi vẫn còn một lớp mỡ đông lại mùi hôi như mùi nến.
Ngọn lửa tàn dần, tóe ra trong bóng đêm những tia sáng màu da cam. Mọi người nằm xích chặt vào nhau hơn nữa vừa thiếp đi, vừa ngáy, vừa nguyền rủa trong giấc ngủ.
Tảng sáng, Ép-xi-u-cốp bị đánh thức dậy bằng những cái đập rối rít trên vai. Anh chật vật mở hàng mi đã đóng băng lại, nhổm dậy, và như cái máy, bàn tay tê cóng quơ quơ tìm ngay cây súng.
- Cứ bình tĩnh!
Ma-ri-út-ka đang cúi xuống phía Ép-xi-u-cốp. Con mắt mèo của chị ánh lên trong cái đám vàng đục của cơn bão cát.
- Có chuyện gì xảy ra thế?
- Đứng dậy! Đồng chí chính ủy. Nhưng đừng có làm rầm lên. Trong lúc các đồng chí ngủ, tôi cưỡi lạc đà đi dạo chơi, có một đoàn người Kiếc-ghi đi từ Jan-ghen-đy đến.
Ép-xi-u-cốp quay lại hỏi, hơi thở hổn hển:
- Một đoàn à? Cô không phịa ra đấy chứ?
- Xin lấy danh dự mà thề! Đồ cá chết toi! Ít nhất cũng có bốn chục con lạc đà.
Trong nháy mắt, Ép-xi-u-cốp đứng dậy cho ngón tay vào miệng huýt còi. Hai mươi ba chiến sĩ vươn những tấm thân tê cóng, mệt nhọc mới trở dậy được. Nhưng tin gặp đoàn lạc đà làm họ tỉnh ngủ ngay tức khắc.
Hai mươi hai người đứng dậy. Nhưng, người cuối cùng thì không. Anh ta đang cuộn mình ở trong chăn, sốt run lên. Sau khi luồn tay vào cổ anh ta, Ma-ri-út-ka bắt bệnh một cách chắc chắn:
- Cảm nhiệt đây mà.
- Chó chết! Biết làm sao bây giờ? Đắp chăn lại cho anh ta rồi sẽ về tìm sau. Thế cái đoàn người của cô ở phía nào?
Ma-ri-út-ka chỉ về phía tây:
- Cũng không xa, chỉ sáu dặm là cùng. Trên lưng lạc đà có những bọc to sụ.
- Tuyệt, miễn là ta không để cho họ chuồn mất là được. Trông thấy là phải lập tức vây kín xung quanh. Cả bên phải lẫn bên trái. Nào đi!
Họ đi thành hàng một, giữa những cồn cát, gập đôi người lại, mình nóng lên vì chạy.
Từ trên mỏm một cồn cát, họ đã thấy hiện lên xa xa trên một cao nguyên phẳng lì như một cái bàn, những chấm tối sẫm của đoàn lạc đà.
Trên bướu những con vật, những bọc hàng đu đưa nặng nề.
- Đội ơn chúa!
Gơ-vô-dơ-đép, một anh chàng ngoan đạo, mặt rỗ, lầm rầm một cách nhiệt thành.
Không nén được, Ép-xi-u-cốp lên tiếng chỉnh:
- Chúa! Phải nhắc lại cho cậu bao nhiêu lần nữa là không có chúa; tất cả mọi vật đều có thể giải thích một cách duy vật được...
Nhưng lúc này không phải là lúc cãi cọ nhau. Khi hiệu lệnh ban ra, mọi người nhảy chồm lên chạy lại, lợi dụng từng nếp nhấp nhô của bãi cát, từng bụi rậm nhỏ. Họ quặp chặt lấy báng súng. Họ biết rằng - không thể và không được để đoàn người này đi thoát; nó là sự sống, là niềm hy vọng, là cứu tinh của họ.
Đoàn người vẫn đi thủng thẳng, bình thản. Người ta đã nhìn thấy những chiếc chăn hoa sặc sỡ trên lưng những con lạc đà và những người dân Kiếc-ghi mặc áo choàng lót bông, đội mũ lông chó sói.
Chiếc áo da “bồ quân” của Ép-xi-u-cốp rực lên trên cồn cát. Anh vung súng và hét:
- Hạ khí giới xuống. Đừng có kháng cự. Không có chúng tôi giết hết cả!
Những người Kiếc-ghi sợ hãi đã nằm dí xuống đất, chổng mông lên trời rồi mà Ép-xi-u-cốp vẫn còn hét.
Các chiến sĩ Hồng quân thở rốc, xô đến từ các ngả.
Ép-xi-u-cốp hét:
- Tóm lấy những con lạc đà, các cậu!
Giữa lúc ấy, một loạt súng dữ dội, từ phía đoàn người ngắt lời Ép-xi-u-cốp. Tiếng đạn sủa phẫn nộ như chó cắn, và bên cạnh Ép-xi-u-cốp, một người gục xuống, đầu chúi vào lớp cát, tay giang ra. Ép-xi-u-cốp gieo mình xuống một khoảng trũng của cồn cát và càng hét dữ.
- Nằm xấp xuống! Bắn!
Một cuộc bắn giết loạn xạ bắt đầu.
Từ sau những con lạc đà nằm phủ phục, bọn người kia vẫn bắn. Họ là ai vậy? Những người Kiếc-ghi chăng? Không có lẽ! Đường đạn họ bắn ra chính xác lắm.
Đầu đạn lẩn vào trong cát, ngay cạnh các chiến sĩ Hồng quân đang nằm soài.
Tiếng vang trên thảo nguyên dội lại những tiếng súng nhưng dần dần, hỏa lực phía đoàn lạc đà, yếu đi.
Các chiến sĩ Hồng quân nhảy vọt lại gần.
Còn cách ba chục thước, Ép-xi-u-cốp nhìn thấy, sau một con lạc đà, một cái đầu đội mũ lông, một chiếc khăn len trắng, rồi một bên vai có đính băng óng ánh vàng.
Ép-xi-u-cốp quát bảo Ma-ri-út-ka đang bò theo sau anh:
- Ma-ri-út-ka trông kìa, một tên sĩ quan!
- Tôi thấy rồi.
Người nữ chiến sĩ đàng hoàng ngắm và nổ súng.
Ngón tay Ma-ri-út-ka tê cóng vì lạnh hay vì cảm động mà run lên. Vấn đề là khi Ma-ri-út-ka vừa mới lầm rầm đếm: “Tên thứ bốn mươi mốt này! Đồ cá chết toi” thì tên quấn khăn len trắng đã nhỏm dậy và giơ súng lên. Một chiếc khăn tay trắng bay phơ phất trên đầu lưỡi lê.
Ma-ri-út-ka quẳng súng xuống cát, phát khóc lên vì tức tối, tay gạt những giọt nước mắt chảy trên khuôn mặt lem luốc.
Ép-xi-u-cốp chạy lại phía tên sĩ quan. Một chiến sĩ khác vượt lên, lưỡi lê giơ cao, định phóng một nhát kết thúc. Chính ủy Ép-xi-u-cốp rít lên:
- Đừng có động đến nó! Phải bắt sống!
Tên mặc áo màu xanh lơ bị tóm cổ quẳng xuống đất. Năm tên khác cùng đi, đã bị bắn chết dưới làn đạn nóng bỏng, nằm thẳng cẳng sau những con lạc đà.
Các chiến sĩ vừa cười đùa, vừa nguyền rủa, móc tay vào cái vòng sắt sỏ qua mũi đoàn lạc đà kéo đi.
Những người Kiếc-ghi chạy theo Ép-xi-u-cốp níu lấy vạt áo anh.
Người chính ủy vung vẩy tay, vằng ra, trở nên giận dữ, nhăn nhó tỏ vẻ thương hại và dọa dẫm dí súng vào những khuôn mặt rám nắng có hai gò má dô cao:
- Đằng sau quay! Không bàn cãi gì cả.
Một ông già râu bạc, mặc một chiếc áo choàng dài, níu lấy dây lưng Ép-xi-u-cốp.
Ông lão đợt mồm ra nói liến thoắng:
- Ủi a... Ông làm xấu... Kiếc-ghi cần lạc đà để sinh sống... không có lạc đà, Kiếc-ghi chết... Đừng làm thế... Ông muốn tiền?... Chúng tôi cho tiền... tiền của Nga hoàng, của Kê-răng-xki... Cho bao nhiêu tiền thì trả lạc đà...
- Đồ con lừa, đã bảo là không có lạc đà, chúng tôi cũng chết. Tôi không phải là kẻ cướp, tôi làm như vậy vì nhu cầu của cách mạng. Tạm thời thôi... Các người có thể đi bộ về nhà được, còn như chúng tôi không có lạc đà thì sẽ chết mất!
- Úi a... xấu lắm... trả lạc đà, cầm lấy tiền...
Ông già Kiếc-ghi vẫn không chịu buông. Ép-xi-u-cốp vùng ra:
- Nói thế là đủ! Cầm lấy tờ biên lai này. Thế thôi!
Ép-xỉ-u-cốp đưa cho ông già một tờ biên lai viết bằng bút chì mực trên một mẩu giấy báo.
Ông già vất tờ giấy xuống cát.
Những người khác nín lặng, những giọt nước mắt âm thầm rung rinh trong những cặp mắt sếch.
Ép-xi-u-cốp quay đi và sực nhớ đến tên sĩ quan tù-binh. Anh thấy nó đang đứng giữa hai chiến sĩ Hồng quân. Tên sĩ quan có vẻ bình tĩnh, chân đi đôi ủng da Thụy-điển hơi giạng ra. Nó hút thuốc, và ngắm Ép-xi-u-cốp, vẻ ngạo nghễ.
- Mày là ai? - Ép-xi-u-cốp hỏi.
- Trung úy cận vệ Gô-vô-ru-kha Ô-tờ-rốc. Còn anh?
Tên sĩ quan nhả một hơi thuốc và cũng hỏi lại.
Và nó ngẩng đầu lên.
Khi nó nhìn thẳng vào mặt các chiến sĩ Hồng quân, Ép-xi-u-cốp và mọi người khác thấy nó có cặp mắt xanh thẳm, tưởng như một cục bột xanh lam đem hòa vào trong đám bọt xà-phòng trắng tinh vậy.