Dublin là thành phố của gió.
Và hoàn toàn không phải những cơn gió nhẹ. Đó là những cơn gió giữa đông sắc nhọn và lạnh lẽo như nụ cười của ác ma. Đôi khi nó đi kèm theo những hạt mưa như những cây kim châm, chúng lạnh buốt như những nhát kiếm chém vào da thịt. Người đi đường ai cũng kéo mũ sụp sâu xuống tận mắt, dựng đứng cổ áo khoác, chân thoăn thoắt bước qua. Như thể lo sợ bị cơn gió cuốn đi mất thứ gì, họ rụt vai, co cụm người lại.
Tôi bay từ Narita sang London, ở sân bay Heathrow tôi chuyển tiếp sang máy bay Aer Lingus, và khi tôi tới Dublin thì đã là tám giờ rưỡi tối. Người lấy vé máy bay và thuê xe tự lái giúp tôi là một người bạn đang sống ở London của tôi. Khoảng năm năm trước, cô ấy kết hôn với một người Anh rồi chuyển qua Anh sống, giờ cô đang làm việc trong một công ty du lịch của Nhật Bản. Lần gần nhất khi tôi kết hợp chuyến công tác với kỳ nghỉ của mình, nhân tiện ghé thăm cô ấy là vào mùa hè năm nay.
“Tớ muốn được bay chuyến bay sớm nhất có thể. Nếu là ngày mai thì càng tốt.”
Nghe tiếng tôi dồn dập trong cuộc điện thoại giữa nửa đêm, cô ấy không hỏi lý do mà chỉ nói “Cậu cứ để tớ lo”. Ở công ty du lịch này, nghe nói họ luôn giữ lại một số ghế trên chuyến bay giữa Nhật và Anh, để chuẩn bị sẵn cho trường hợp xấu khi một người Nhật nào đó thường trú ở Anh gặp chuyện khẩn cấp, hoặc khi gia đình họ ở Nhật có tin buồn.
Tôi thuê xe tự lái ở sân bay và hướng thẳng tới Kilkenny.
Từ Dublin đi Kilkenny, chuyển từ đường cao tốc N7 sang N9, mất tầm hai tiếng đi xe.
Khi ra khỏi thành phố Dublin, tôi bị lạc đường một chút. Sau đó, khi vào tới một ngã tư tên Roundabout, tôi chọn sai đường, vài lần phải vòng lại. Khi vào được đường N7 thì đã gần mười giờ.
Dù ở trong xe nhưng tôi vẫn biết cơn cuồng phong bên ngoài đang thổi mạnh cỡ nào. Nó hoành hành ngang dọc khắp màn đêm đen. Cơn gió mạnh tới nỗi tôi trộm nghĩ khéo nó cuốn cả xe mình hất lên trời mất.
“Nghe nói Kilkenny là một khu phố còn giữ nguyên bầu không khí thời Trung đại. Ở đó có lâu đài, có đại thánh đường, và là thành phố quê hương nơi tác giả cuốn “Gulliver du ký” ra đời nữa. Nói ra thực xấu hổ, nhưng mãi tới khi anh Igarashi kể thì tôi mới biết điều đó. Thêm nữa, Ireland là nước có tới bốn người từng đạt giải Nobel Văn chương đấy chị ạ. Có lẽ cũng vì điều đó mà đất nước này mới thu hút anh Igarashi đến thế.”
Honda nói.
“Nghe nói nơi đó vẫn còn nhiều yêu tinh sinh sống. Con yêu tinh mặc bộ đồ xanh lá, đầu đội nón đỏ là Leprechaun. Nó là chủ tiệm giày, rất giàu có. Nó có một người họ hàng là yêu tinh Cluricauns. Con này thì đã bỏ việc kinh doanh tiệm giày, suốt ngày chỉ uống rượu.”
Tôi nói. Cuộc hội thoại ấy mới chỉ diễn ra khoảng ba tối trước. Chúng tôi khi đó đang ngồi đối diện nhau trong một quán ăn Pháp ở Daikanyama.
“Ồ, sao chị biết rõ vậy?”
“Tôi từng vẽ mình họa cho một cuốn sách hướng dẫn du lịch Ireland mà.”
Chuyện đó là thật. Nhưng người kể cho tôi nghe chuyện những con yêu tinh thực ra là Bão của những năm cấp Hai cơ.
“Em biết không. Yêu tinh Lhianna-Shee là một yêu tinh thi sĩ đấy. Những người được nàng yêu đều sẽ trở thành những nhà thơ vĩ đại. Nhưng bù vào đó, họ sẽ đều phải chết sớm.”
Khi được bà ngoại dắt tay ra tận sân bay Narita để tiễn tôi, Nanako nói:
“Mẹ ơi. Nếu gặp yêu tinh, mẹ nhớ xin phép chụp ảnh cùng họ nhé.”
Nanako đã quen với những chuyến công tác nước ngoài của tôi. Nhưng con bé không biết rằng chuyến đi này khác hẳn những chuyến đi trước. Nhưng một ngày nào đó, có lẽ con bé cũng sẽ thực hiện một chuyến đi như thế này.
Tôi bất giác liếc nhìn chiếc túi du lịch đặt trên ghế phụ lái.
Bên trong túi là tập ảnh về Ireland mà Bão đã luôn yêu quý từ khi còn nhỏ. Tôi mang nó theo thay cho bùa hộ mệnh.
Hỡi thần linh, hỡi yêu tinh, xin hãy bảo vệ Bão.
Bác Kumagai ơi, bác hãy bảo vệ con trai của bác nhé.
Tôi nắm chặt tay lái, duy trì tốc độ sao cho gần sát với tốc độ cao nhất cho phép, lòng cầu khấn thần linh, cầu khấn gió, cầu khấn bầu trời. Và cuối cùng, tôi cầu khấn người chị đã an nghỉ trên trời của mình.
Chị ơi, chị hãy bảo vệ Bão nhé. Em xin chị đó.
Trên con đường cao tốc đang trải dài trước mắt, cuộc nói chuyện với chị gái tôi một thời gian ngắn trước khi chị tôi qua đời chợt hiện ra sống động trong đầu tôi.
‘Từ ngày trước chị đã luôn luôn rất ghen tị với Konoha đó.”
“Không thể nào!”
“Thật đấy. Vì Konoha luôn luôn làm những gì mình muốn mà. Dù thất bại em cũng không để ý, mọi người xung quanh nói gì em cũng không bận tâm. Em đã sống rất vô tư và mạnh mẽ, hồn nhiên như hoa cỏ trên cánh đồng vậy, khiến chị ghen tị lắm.”
Tôi nghĩ đó là do tôi là một đứa vụng về kém cỏi, không được bố mẹ hay thầy cô kỳ vọng điều gì nên mới thế. Trái ngược với tôi, niềm tin và sự mong đợi của mọi người xung quanh dành cho chị tôi rất lớn. Có lẽ chính điều đó đã tạo nên một sức ép khủng khiếp cho chị tôi, một sức ép mà tôi không thể tưởng tượng ra nổi.
Sau đó, chị nắm lấy tay tôi, nói một cách rất chân tình.
“Nếu tương lai Konoha yêu sâu sắc một ai đó, và tới ngày em gắn kết với họ...”
“Dạ.”
“Chị nghĩ chị sẽ không thể tham dự đám cưới của em được, nên những lời dặn dò sau cuối, chị nói bây giờ được không?”
“...”
“Konoha à, em hãy vì người mình yêu mà trở thành một chiếc bình rỗng nhé. Làm như vậy, em sẽ có thể cùng người đó yêu thương nhau đến hết cuộc đời. Với một chiếc bình mà ngay từ đầu đã lèn chặt mọi thứ bên trong, thì đâu còn có thể cho thêm cái gì vào được nữa phải không? Nếu từ đầu trong trái tim đã đầy chặt tình yêu, thì bản thân em và cả đối phương đều sẽ rất khổ sở. Khi Konoha vẽ tranh, em sẽ chọn một tờ giấy trắng phau, thay vì một tờ giấy đã có sẵn rất nhiều màu sắc phải không em? Tình yêu cũng giống như vậy đó. Vì có những chỗ màu trắng nên nó mới trở thành một bức tranh được. Chiếc bình cũng vậy, vì bên trong rỗng nên nó mới có tác dụng. Em hiểu không?”
Lúc đó, tôi không hiểu. Không hiểu chút gì hết. “Yêu có nghĩa là trở thành một chiếc bình rỗng. Nếu em trở thành chiếc bình rỗng, thì một tình yêu dịu dàng như nước sẽ dần đầy lên bên trong chiếc bình ấy.” Những lời đó của chị đối với tôi chỉ là một thứ thuyết trừu tượng, một loại khái niệm, không hơn không kém.
Tôi nghĩ, làm sao mình có thể trở thành chiếc bình rỗng được. Bên trong một trái tim trống rỗng, tình yêu sao có thể sống được đây? Nếu chị gái tôi khỏe mạnh, nhất định lúc đó tôi sẽ vừa cười vừa vặn vẹo chị tôi như vậy.
Lúc này, trên con đường chạy thẳng về phía Bão, tôi cảm thấy những lời chị mình nói đã đứng dậy, chúng đang sống, đang hô hấp và đang đi về phía mình.
Chị ơi.
Em có cảm giác mình đã hiểu.
Em của giờ này có lẽ đã có thể trở thành chiếc bình rỗng rồi. Một chiếc bình rỗng có thể tiếp nhận Bão và bảo vệ Bão thật chắc chắn.
Có lẽ em có thể dùng tình yêu thương để rót đầy chiếc bình đó được.
Vì thế nên, Bão ơi, anh đừng đi một mình nhé.
Khi tới Kilkenny, đồng hồ trên xe đã chỉ mười hai giờ đêm.
Dựa vào tên đường và khu phố, tôi tìm ra căn hộ mà Bão đang sống, tìm thấy chú chủ nhà ở quán rượu gần đó, tôi nhờ chú mở giúp chiếc cổng khóa, và khi được chú chủ nhà dẫn đi qua phòng khách của chú ở tầng một, tôi đã cạn kiệt sức lực tới mức muốn xỉu luôn tại đó.
Chú chủ nhà tóc bạch kim, da đỏ au và người béo tốt, tầm năm mươi tuổi, vẻ ngoài rất phúc hậu.
“Yui đã khởi hành từ sáng sớm nay rồi.”
Chú nói.
“Chú nghe được tin nhắn thoại cháu để lại trong điện thoại quá muộn, nên nó đã lên đường đi mà không biết tới tin nhắn ấy. Số điện thoại mà cháu gọi đến khi đó là đường dây chuyên dùng để đặt phòng nghỉ kèm bữa sáng. Mùa đông không có khách tới nghỉ nên tin nhắn đã bị bỏ mặc ở đó. Cho chú xin lỗi nhé.”
“Chú có biết anh ấy đi đâu không ạ?”
Nhìn gương mặt khẩn thiết của tôi, khuôn mặt chú có vẻ khó xử, chú nói:
“Chuyện đó chú không hỏi. Có điều nó có nói là bốn hay năm hôm nữa sẽ về. Nên nếu tiện thì cháu hãy ở lại đây đợi đi. Ở đây lúc này muốn bao nhiêu phòng trống cũng có.”
Khi chú chủ nhà còn chưa nói hết câu...
“Chú ơi, cháu có cái này.”
Tôi vừa nói thế vừa lôi cuốn sách ảnh cũ từ trong cặp ra, mở trang ảnh ra và đưa cho chú xem.
“Cháu nghĩ là anh ấy đã đến chỗ này chú ạ.”
Chú nhìn bức ảnh và đọc dòng giải thích được viết bên cạnh bức ảnh trong một lúc. Sau đó, chú ngẩng đầu lên, nói:
“Đây là bán đảo Dingle. Chú cũng từng ra đây vài lần rồi.’'’
“Đi từ đây thì mất bao nhiêu thời gian hả chú? Cháu muốn đi ngay bây giờ ạ.”
“Đó là một ý tưởng rất phi lý cháu ạ. Tối nay, cháu không nên đi. Từ đây ra Dingle mất khoảng bốn, năm tiếng. Nhưng nơi đó đường đất nhỏ hẹp, điều kiện xấu, chú không thể khuyến khích cháu thực hiện chuyến đi địa ngục giữa đêm như thế này. Hơn nữa các chỉ dẫn đường hầu hết chỉ được ghi bằng tiếng Ireland. Dù không có chuyện đó, thì đường đất ban đêm đã nguy hiểm sẵn, đã thế thời tiết bên ngoài lại thế này. Cơn bão này sẽ càng lúc càng mãnh liệt hơn. Vả lại nơi đó ngay cạnh biển, cháu sẽ không muốn bị yêu tinh Durahan - bè đảng của lũ ác linh - bắt cóc đi đấy chứ. Nếu không muốn thì tối nay cháu thong thả ngủ lại đây, sáng mai rồi hãy lên đường.”
Tôi cúi đầu, tầm mắt rơi xuống tấm ảnh.
Bầu trời trong ảnh trong xanh bát ngát, nắng chiếu chan hòa. Ở đó không nổi lên một chút gợn mây hay một chút ưu phiền nào. Mặt biển được mặt trời giữa trưa chiếu rọi, phát sáng lấp lánh, sóng biển trắng, bọt sóng cuốn lấy và hất tung lên những hạt trắng hạt vàng. Loài chim đang lượn trên bầu trời xanh có lẽ là chim mòng biển đuôi đen. Những chú chim trắng muốt như tan chảy vào khung cảnh màu xanh dương, làm nổi bật lên vẻ đẹp của màu xanh ấy.
Nhưng thứ mọc lên chen giữa bầu trời và đại dương ưu mỹ ấy lại là một vách đá xấu xí tới độ người ta không thể tưởng tượng được nó lại tồn tại trên cõi đời này. Một thềm đá bị chẻ đôi không thương tiếc bởi một thứ sức mạnh vô lý. Một vách đứng dựng thẳng tới mức chỉ nhìn cũng đủ choáng váng. Ở tận cùng phía tây của châu Âu, như thể nơi tận cùng của thế giới này, nó là lối vào, hay là lối ra của một thế giới khác?
Bên dưới tấm ảnh có một dòng đề tựa in đậm chữ “Meeting point: Sea and Sky”. Bên cạnh nó có một dòng chữ nhỏ ghi “A Haven between Sea and Sky”.
Bão đã nói với Honda rằng, từ giờ anh sẽ tới chỗ ba mẹ. Anh sẽ tới nơi ba mẹ đang ở. Rằng đó là nơi gặp gỡ giữa đại dương và bầu trời. Với Bão, đó là vùng đất để linh hồn yên nghỉ ư?
Chú chủ nhà đun nước trong bếp, pha trà, tay cầm hai cốc trà và trở lại bên cạnh tôi.
“Uống cái này cho ấm người đi cháu.'’
“Cám ơn chú ạ.”
“Sáng mai, chú sẽ làm cho cháu bữa sáng kiểu Ireland, cháu phải ăn thật nhiều để mà có sức đi đón người yêu. Cháu có nghe nói về bữa sáng nổi tiếng của người Ireland đấy chứ?”
Sau đó như thể sực nhớ ra điều gì, chú đứng dậy khỏi ghế, rút một chiếc phong bì từ trong đám giấy tờ đặt chồng lên nhau trên bàn ra, rồi nói với tôi:
“Tên cháu là Konoha nhỉ? Và họ của cháu là Kakehashi?”
“Dạ vâng, đúng thế ạ.”
“Konoha Kakehashi.”
Chú chủ nhà đọc to tên tôi, có vẻ nó được viết trên phong bì.
“Vâng, đúng là cháu ạ.”
“Thế thì bức thư này là thư gửi cho cháu. Chú giữ giúp Yui lá thư này. Cậu ta bảo mai là Chủ nhật, bưu điện không làm việc nên thứ Hai nhờ chú tiện đường ra ngoài thì gửi nó đi giúp.”
Tôi đứng dựng lên khói ghế, cứng nhắc như một con rối, nhận lấy chiếc phong bì chú đưa cho. Chiếc phong bì phồng lên, rất dày dặn. Trên phong bì đã dán sẵn tem. Trên đó có ghi tên và địa chỉ của tôi bằng cả tiếng Anh và tiếng Nhật. Những con chữ quen thuộc do Bão viết. Chữ “Air Mail” được gạch chân bên dưới bằng một chiếc bút dạ màu đỏ. Ngay cả nét cong của đường gạch chân này cũng thật quen thuộc đối với tôi.
Đêm đó, tôi đã đọc “câu chuyện” mà Bão viết dành cho mình. Tôi đọc đi đọc lại, tới mức thuộc lòng từng câu từng chữ. Giữa chừng, không biết bao lần nét chữ hiện lên trước mắt tôi nhòe đi khiến tôi không đọc tiếp được. Lau đi dòng lệ, vừa dụi dụi mắt, tôi vừa đọc.
Tổng cộng mười lăm trang bản thảo, câu chuyện được viết bằng bút chì. Chắc anh đã viết đi viết lại nhiều lần, sau cùng mới chép lại sạch sẽ như thế này. Trong tập bản thảo không có lấy một chữ viết sai viết nhầm, từng trang từng trang đều trong vắt như một tấm gương đã được lau mài cẩn thận.
Tới gần sáng, tay ôm tập bản thảo trước ngực, tôi chìm vào một giấc ngủ ngắn nhưng rất sâu. Khi ngủ dậy, tôi không thể mở được mí mắt bởi những dòng lệ trên mi đã khô cứng lại. Có lẽ ngay cả trong giấc mơ tôi cũng đã đọc câu chuyện này.
❖❖❖
Chương cuối cùng dành cho Honoka.
Hồi kết của chuyến đi − The End of My Journey
Trái tim đau đớn.
Cô độc.
Trên trái tim có một lỗ hổng. Từ lỗ hổng đó, cơn gió lạnh lẽo bên ngoài lùa vào. Dù có dùng lòng bàn tay bịt lại, cơn gió vẫn không thương tình mà len lỏi qua những kẽ tay. Cơn gió tràn đầy lồng ngực, thật đau. Đau không thể chịu nổi.
Cuối cùng mình cũng lạc đường rồi ư?
Bác du mục nghĩ.
Cuộc đời bác cho đến lúc này chỉ là những tháng ngày phiêu bạt. Chưa bao giờ bác cảm thấy mình “lạc đường”. Chỉ cần bước đi, dần dần sẽ thấy đường, và con đường ấy nhất định sẽ dẫn tới một nơi nào đó.
Điều quan trọng không phải là tới được nơi nào đó, mà là tiếp tục bước đi. Không phải là dừng lại, mà là bước tiếp. Chỉ cần trong trái tim vẫn còn lại sự cô độc trong vắt như bầu trời xanh, và sự tự do như những đám mây lờ lững trên bầu trời, thì bác sẽ không bao giờ lạc đường, sẽ có thể bước tiếp cho tới những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình. Bác đã tin như vậy.
Vậy mà, tại sao?
Tại sao bác lại cảm thấy nỗi đau đớn, và nỗi buồn trong lồng ngực này?
Nhìn đôi chân đã gầy nhắng, chỉ còn da bọc xương của mình, bác nghĩ. Chuyến đi rất dài này, cuối cùng cũng tới ngày kết thúc rồi chăng?
Hoàng hôn một ngày mùa thu yên bình.
Bác du mục đặt chân tới một ngôi làng được vây quanh bởi những ngọn núi thoai thoải.
Những cây lá đỏ với màu sắc ấm áp.
Những cánh đồng được chăm bón kĩ cho một con mèo.
Những vườn quả sai trĩu trịt thích mắt.
Những ngôi nhà nhỏ xinh nằm sắp hàng như muốn xích lại gần bên nhau.
Lúc đó, trong làng đang tổ chức lễ hội mừng một mùa táo bội thu.
Quảng trường rộn vang tiếng nhạc vui vẻ. Nam nữ ai nấy ăn mặc đẹp đẽ, hát, nhảy, thưởng thức núi đồ ăn, ăn kẹo táo và rót rượu cho nhau.
Đám trẻ con khi nhìn thấy bác du mục liền đến gần và vây lấy bác.
“Bác không có gia đình ạ?”
“Bác không nuôi cừu sao?”
“Bạn bè bác đâu cả rồi?”
Đứa nào cũng háo hức muốn nghe câu chuyện về cuộc hành trình của bác.
“Bác đến từ đâu vậy?”
“Rồi bác sẽ đi đâu?”
“Trước giờ bác đi qua những nơi nào rồi?”
Bác du mục kể cho đám trẻ nghe chuyện về chú mèo ăn vụng.
Chuyện bác bị ăn trộm đôi giày. Chuyện bác bị đoạt mất cả tấm ảnh gia đình và cuốn sách duy nhất của mình nữa. Chuyện bác đã để lại cây sáo mình nhặt được cho mèo để làm quà kỷ niệm.
Lũ trẻ đua nhau hỏi nhao nhao:
“Bác bị ăn trộm hết lần này tới lần khác mà không bực ạ?”
“Sao bác lại cho một con mèo xấu tính như thế ăn cá hả bác?”
Bác du mục trả lời:
“Chuyện đó...”
Vừa trả lời, bác vừa nhớ lại. Đôi đồng tử màu nước biển và màu rừng rậm. Bên dưới lớp lông xám bẩn thỉu ẩn giấu một lớp lông trắng muốt. Khoảnh khắc nhìn thấy lớp lông ấy, thật giống như ánh sáng lúc hừng đông.
“Thực ra chú mèo đó mang một tâm hồn tinh khiết như thiên sứ vậy. Những người thấy chú ta xấu tính đều là những người bị mây mờ che mắt. Chú mèo ấy đã dạy cho ta rất nhiều điều. Rằng đối với ta, điều gì là quan trọng nhất trên cõi đời này. Rằng ta nên trân trọng điều gì để sống tiếp.”
Từ giữa đám trẻ, một giọng nói trong trẻo truyền tới:
“Trên đời này, điều gì là quan trọng nhất ạ?”
“Đó là...”
Vừa định đáp lại là ‘sự tự do và cô độc’ như trước đây thì chợt bác du mục nghẹn giọng.
Không phải vậy. Sai rồi, không phải cái đó.
Đó không phải là sự tự do và cô độc. Không phải.
Bất giác, bác đặt lòng bàn tay lên trên trái tim mình.
Bác cảm thấy giống như những móng vuốt cong cong sắc lẹm của mèo đã cắm phập vào trái tim mình. Và rồi từng giọt máu ấm nóng theo đó mà nhỏ giọt rơi xuống.
Thế nên lồng ngực bác mới đau đớn.
Thế nên trái tim bác mới gào thét lên về sự cô đơn của nó. Bác nghĩ mình đã hiểu bản chất của lỗ hổng đã mở ra trong trái tim mình. Buổi chiều muộn, cùng mèo ngồi quanh bếp lửa. Buổi tối nằm xích lại cùng mèo để chìm vào giấc ngủ. Từng chút từng chút một, bác đã mở ra căn phòng nhỏ trong trái tim mình, thứ bác đã khóa lại lâu nay, mà chính bác cũng không hề hay biết.
Thế nên bác mới bị ăn trộm. Thứ bác đã cất kĩ trong đó trong suốt thời gian phiêu bạt dài đằng đẵng của mình.
Ôi, đó chính là thứ quan trọng nhất trên cõi đời...
Bác du mục nhìn gương mặt những đứa trẻ đang chờ đợi câu trả lời. Nhìn lần lượt, không bỏ sót dù chỉ một đứa.
“Thứ quan trọng nhất đối với ta trên cõi đời này...”
Bác du mục nói tiếp.
Chậm rãi, như thể bác muốn dùng đầu ngón tay để chạm vào những câu chữ ấy, để cảm nhận được hình dáng và cảm giác bề mặt của chúng.
“Đó là...”
Thứ đó lặng lẽ, khiêm nhường như một buổi chiều muộn.
Nhưng nó cũng mạnh mẽ và có sức lan tràn như cỏ dại.
Và nó lan tỏa ra xung quanh. Trở thành một thứ sức mạnh khiến ta có thể tha thứ và cho đi. Từ sinh vật này tới sinh vật khác. Từ người tới người. Trở thành một câu chuyện về niềm hy vọng, được truyền tụng rộng khắp.
Ta đã không có dũng khí. Ta thực hèn nhát. Dù có yêu thương nhiều đến thế nào, một lúc nào đó rồi cũng sẽ bị phản bội. Chỉ còn lại những tổn thương. Không được đền đáp điều gì. Hành động ấy của ta thật vô nghĩa, như khi ta vươn tay lên trời cố với tới những đám mây vậy. Ta đã luôn nghĩ như thế.”
Bác đã nghĩ rằng, giống như trước đây bác từng bị vợ phản bội, giống như bác đã bị cuộc đời và cả thế gian này phản bội, dù bác có toàn tâm toàn ý yêu thương một ai đó, một cái gì đó, cuối cùng bác vẫn sẽ chỉ thất vọng mà thôi. Nếu thế, chỉ cần tự nhủ rằng trên đời này tình yêu không tồn tại, bác sẽ không yêu ai và không được ai yêu, cứ lặng lẽ bình thản để dòng đời cuốn trôi đi, sống một cuộc sống chỉ có mình mình là được. Nhưng suy nghĩ đó sai rồi. Bác đã sai rồi...
Sau khi nói xong, bác du mục ngẩng lên nhìn trời.
Lưng chừng núi, một ngôi sao hôm đang sáng lấp lánh.
Bác du mục giờ đang nhớ tới sinh vật yêu dấu của mình, giờ khắc này, nó cũng đang sống dưới cùng một bầu trời với bác. Dù cả hai có sống cách xa nhau đến đâu, mình vẫn có thể lưu giữ tình yêu và hình bóng người yêu dấu trong trái tim mình.
Mèo ăn vụng đã là người thân duy nhất của bác.
Giữa màn đêm sâu thẳm trước bình minh, bác du mục lên đường rời khỏi ngôi làng.
Bác hướng tới phía đông nam.
Ở phía đó có vùng đất mà mèo sinh sống.
Bác đã quyết tâm. Dù có phải làm gì, bác cũng phải tới gặp mèo. Bác muốn gặp lại nó một lần nữa. Gặp và ôm nó vào lòng. Bác muốn vuốt ve bộ lông mềm mại trên lưng nó. Bác muốn bao bọc lấy tâm hồn nhỏ bé ấy, thân thể chứa đầy yêu thương ấy trong vòng tay mình, để cả hai cùng chìm vào giấc ngủ.
Bị thôi thúc bởi ý niệm mạnh mẽ ấy, bác du mục bắt đầu cất bước.
Cảm xúc của bác du mục rất mạnh mẽ. Nhưng trước mắt bác du mục, một mùa đông khắc nghiệt đằng đẵng, và những mảnh đất đóng băng đã cản đường bác.
Ngày nào bác du mục cũng cần mẫn bước đi.
Bác quấn lá cây quanh chân để bảo vệ chân khỏi bị tổn thương vì lạnh, vứt bỏ chiếc lều bác vẫn khoác trên vai, chỉ giữ lại cây gậy chống làm từ cành cây. Có những ngày bão tuyết tới nỗi tủy trong xương cũng phải run cầm cập, có những ngày mắt suýt bỏng vì độ lấp lánh mà tuyết phản chiếu lên, và lại có ngày mà mưa đá sắc nhọn như muốn lóc da lóc thịt. Nhưng bác vẫn chuyên tâm tiến về phía trước.
Thời gian còn lại của bác ngày càng ít.
Nhưng bác du mục không ngừng chân bước.
Khi vấp ngã bác sẽ đứng dậy, bị ngã bao nhiêu lần thì sẽ đứng dậy bấy nhiêu lần. Hơi bác thở ra đóng băng, quanh mũi và miệng bác kết một lớp băng mỏng. Chân tay bác sưng đỏ và tê cứng vì lạnh.
Xa xa, bác đã nhìn thấy vách núi quen thuộc.
Ở phía bên kia núi.
Đi qua ngọn núi đó, sẽ tới khu rừng nơi mèo ăn vụng đang sống.
Nơi đó có làng xóm, có suối, có đồi. Dưới chân đồi có một cây táo dại.
Sau khi vào tới giữa cánh đồng bị tuyết bao phủ khắp bề mặt, bác du mục cuối cùng đã kiệt sức và ngã xuống. Bác cố gắng tìm cách đứng dậy.
Nhưng bác không làm được.
Bác du mục liền hiểu ra. Rằng mình không thể tiến lên phía trước thêm nữa.
Mình sẽ chết ở đây.
Vắt lấy chút sức lực cuối cùng, bác du mục quỳ gối trên tuyết, nâng nửa thân trên lên. Bác ngoảnh đầu nhìn lại, với tư thế như đang cầu nguyện.
Ôi, hình ảnh này...
Bác đã nghĩ đó là ảo ảnh.
Dụi dụi đi lớp băng đóng trên mi mắt, bác mở mắt thật to để nhìn.
Không phải là ảo ảnh.
Trên cánh đồng tuyết, những dấu chân của bác du mục hiện lên. Và ngay cạnh đó là những dấu chân mèo lấm chấm, vết chân của cả hai khi thì ở trước và sau nhau, khi thì xếp cạnh nhau đầy thân thiết, đôi khi lẫn với nhau, quấn quít lấy nhau, không dính liền cũng không rời xa, bước tiếp mãi bên nhau không hề ngắt quãng.
Bác du mục vùi mặt lên tuyết, đặt môi mình lên dấu chân thú nhỏ bé ấy.
“Cám ơn mèo. Hóa ra mèo vẫn luôn bước tiếp bên cạnh ta.”
Dòng nước mắt ấm áp rơi xuống, khiến tuyết nơi đó khẽ tan ra.
Bác du mục ngẩng mặt lên, gọi tên mèo. Bác hướng lên bầu trời lạnh lẽo xám ngắt, gọi tên sinh vật dấu yêu bằng tất cả sức lực của mình.
Từ trên trời, tuyết bắt đầu rơi xuống.
Tuyết rơi càng lúc càng nhiều, với một sự khắc nghiệt không lời. Dấu chân của cả hai dần biến mất, và không lâu sau, cơ thể bác du mục đã chôn vùi trong tuyết.
❖❖❖
Sáng hôm sau, gió càng mạnh hơn.
Trên bầu trời nhờ đục, những đám mây màu chì đứng sững lại, không khí nặng nề như khoác những bộ áo tang, trong khu phố trầm lặng như chiếc mỏ neo chìm dưới đáy biển, cơn gió thổi lồng lộn như muốn cuốn bay nhà cửa, giáo đường và bức tường của những tòa thành cũ.
Sau khi đi qua thành phố cảng Dingle, đường đi dần nhỏ lại và khó đi hơn. Bề rộng của đường chỉ vừa đủ để một chiếc xe con lách mình qua, nếu có xe đối diện đi tới, một trong hai xe sẽ phải lùi lại, ép sát thân xe vào mép đường, nếu không thì không thể đi qua nhau được. Một bên đường là bờ vực. Chỉ cần bẻ lái sai một chút, chiếc xe sẽ rơi xuống và bị biển nuốt chửng.
Cố gắng lái xe qua con đường đó, tôi chạy xe tới gần mép bán đảo, khi tới được ngôi làng có vực đá thì đã quá trưa.
Sau khi ăn xong bữa trưa qua loa gồm cà phê và bánh sandwich trong một tiệm cà phê duy nhất được mở ra ở đó, tôi để xe ở bãi gửi xe của cửa hàng, rồi leo lên ngọn đồi thoai thoải dẫn tới vực đá.
Độ nghiêng của đồi chỉ thoai thoải, nhưng tôi phải đi ngả mình về phía trước, gần như bò lên, đặt từng bước từng bước thật chắc chắn để bước tiếp.
Là bởi vì gió.
Gió ở trước mặt, ở sau lưng, ở cả trên đầu và dưới chân, từ tứ phía thổi tới, thổi lướt qua, cả không gian tràn ngập trong gió.
Nhưng trong lòng tôi có một niềm tin và ý chí mà không cơn cuồng phong nào có thể thổi bay đi được. Chắc chắn Bão đang ở bên kia ngọn đồi. Dù có phải làm cách nào, tôi cũng phải tới đó. Câu trả lời của người bồi bàn ở quán cà phê lúc nãy đã trở thành cây thập tự giá của tôi.
“Khoảng một tiếng trước, có một người đàn ông châu Á vừa tới đây, tôi không chắc có phải người Nhật Bản không. Nhưng người đó cũng hỏi đường tới vực đá giống như chị vậy. Dù tôi đã bảo anh ta là chỗ đó khá nguy hiểm, anh ta nên từ bỏ ý định thì hơn...”
Ngọn đồi đen sì, đây đó lộ ra lớp than bùn bên dưới. Con đường gợi cảm giác cô độc ở đó bị một tảng đá từ mặt đất đâm lên cản lối, rất nhiều lần đường bị đứt quãng. Tôi đi đường vòng để tránh tảng đá, cuối cùng đã quay trở lại con đường cũ. Đột nhiên, một kè đá đã rơi rớt một nửa hiện ra. Những cơn gió sắc như dao ập tới từ những kẽ hở giữa các tảng đá. Nếu ngẩng đầu nhìn lên, kính sát tròng của tôi có lẽ cũng sẽ bị thổi bay đi mất.
Giữa chừng con dốc ấy, tôi chợt nhớ ra.
Con dốc mà chúng tôi đã cùng nhau đi dạo mười hai năm về trước. Con đường mà mèo ăn vụng và bác du mục đã đi qua. Ngọn đồi mà tôi và Bão hồi cấp Hai đã dạo bộ. Ban đầu, chúng tôi kẻ trước người sau, giữa chừng chúng tôi sánh vai nhau, sau cùng chúng tôi cầm tay nhau cất bước.
Đúng vậy, xưa kia chúng tôi đã từng cùng nhau leo đồi rồi.
Một ngọn đồi thoai thoải phía sau trường “Đứa con của gió”. Trên ngọn đồi được bao phủ bởi cỏ xanh và hoa dại, gió giống như đang đùa bỡn với ánh sáng, thổi qua rất nhẹ nhàng, mềm mại. Con đường núi thẳng tắp như đang vươn mình tới trời xanh. Phía trước con đường, cánh cổng trời mở sẵn như đang dang rộng hai tay chờ đón chúng tôi. Ngôi nhà nhỏ lụp xụp trên đỉnh đồi. Ngôi nhà mà Bão gọi là “Linh hồn nhà” ấy.
Hai chúng tôi đi băng qua trường học, tới tận khu đó chơi. Đó cũng là nơi chứng kiến nụ hôn đầu của chúng tôi.
Và ở đó, Bão đã nhặt được một thứ.
“Anh Igarashi ơi, anh đang làm gì ở đó thế?”
Xung quanh rải rác những tấm ván vụn và các mảnh vụn của đồ gia dụng hỏng. Tôi gọi từ phía sau lưng Bão khi thấy anh đang ngồi im lặng một chỗ từ nãy giờ. Lúc đó tôi đang đứng gần cửa vào ngôi nhà nhỏ. Mái nhà như thể sắp sụp xuống tới nơi, nên tôi sợ, không có can đảm lại gần phía Bão.
Bão không đáp lời tôi. Anh im lặng, khom lưng xuống. Nhìn anh giống như đang áp cái gì đó lên tai.
“Anh có nghe thấy em nói không? Anh Igarashi ơi? Bão ơi?”
Bão chậm rãi quay lại, cho tôi xem thứ anh vừa tìm thấy giữa đám gạch ngói vỡ nát. Khuôn mặt Bão nhìn như đang khóc.
“Ôi, thế mà em còn tưởng là cái gì.”
Tôi cười. Tôi nhìn món đồ Bão vừa tìm thấy và bật cười. Tiếng cười khô khan của tôi chìm vào ánh sáng mờ nhạt của hoàng hôn rồi biến mất.
“Chắc có đứa bé nào đó mang nó tới đây chơi anh nhỉ.”
Đó là một chiếc điện thoại đồ chơi. Một chiếc điện thoại kiểu quay số màu đỏ.
Bão nhấc ống nghe lên, làm như thể đang quay số gọi cho ai đó. Tôi nhìn chăm chăm bờ vai anh. Bão cất tiếng “Alô” để gọi đối phương. Anh cầm ống nghe như vậy, đứng yên trong một lúc lâu, không hề có ý định nhúc nhích.
“Anh gọi cho ai vậy? Anh đang nói chuyện với ai đó?”
Bão không nói gì cả.
Từ đó mười hai năm đã trôi qua, lúc này, trên đường đi lên ngọn đồi ở tận cùng thế giới, nơi cuồng phong gào thét này, tôi đã có được câu trả lời. Lúc đó, Bão đã gọi-đến-đây. Gọi cho ba mẹ anh, giờ đã yên nghỉ ở phía bên kia ngọn đồi.
Trong gió bắt đầu pha lẫn mùi hương từ hồ nước.
Ngửi mùi gió liền biết, biển đang ở rất gần. Giữa tiếng rền rĩ của gió là âm thanh “két két két” như tiếng co kéo những sợi dây mảnh nhọn. Đó là tiếng kêu của đám mòng biển. Đàn chim tụ lại và đang bay xa xa đó giống hệt như những chiếc khăn tay trắng muốt mà bầu trời vừa ném ra. Giữa khung cảnh dữ dội này, làm thế nào mà chúng có thể bay trên bầu trời với dáng vẻ thoát tục và ưu mỹ đến thế?
Giống như dòng chảy của thời gian đã ngừng lại, rồi nhằm khoảnh khắc cơn gió chợt ngắt quãng, tôi ngước nhìn bầu trời phía trên ngọn đồi.
Đúng lúc đó tôi nhìn thấy một con chim bay lên trên bầu trời trống rỗng xám xịt. Không, đó không phải một con chim. Bởi thứ đó đã nương theo gió bay về phía tôi. Đường bay của nó vẽ nên một đường vòng cung lớn, tựa như hình cầu vồng. Rồi nó đập trúng phiến đá trước mặt tôi, rồi rơi xuống đất.
Tôi chạy đến, nhặt vật màu trắng đó lên.
Đó là một chiếc mũ. Một chiếc mũ được đan bằng len dạ trắng. Nơi vành mũ gấp lên có đan hình một chiếc lá ba nhánh Shamrock. Không nhìn tôi cũng biết. Đó là chiếc mũ do tôi đan. Tôi đan nó dành tặng cho Bão. Mùa thu năm chúng tôi chia tay. Đó là quà tặng sinh nhật mà tôi tặng anh.
Tôi giơ cánh tay đang nắm chặt chiếc mũ, rồi vẫy hết sức mình. Lòng cầu mong sắc trắng của chiếc mũ sẽ chạm tới mắt của người ấy. Cùng lúc tôi căng hết giọng mình, gọi to tên Bão. Gọi liên tiếp. Nhưng giọng nói của tôi bị cơn gió lạnh buốt như đâm vào da thịt cuốn đi, chính tôi cũng không nghe thấy tiếng mình nữa.
Nhưng tôi vẫn gọi. Gọi tên người tôi yêu dấu.
Một lúc sau, trên đỉnh đồi xuất hiện một bóng người. Anh đi tìm chiếc mũ đã bị gió cuốn đi ư? Hay tiếng gọi của tôi đã đến được tai anh?
Người đứng trên đỉnh núi ngay lập tức nhìn về phía tôi. Anh nhìn xuống nơi tôi đứng, dù lúc đó chắc bóng dáng tôi chỉ bé cỡ hạt đậu là cùng, vẫn còn chút nghi hoặc, nhưng rồi anh quả quyết với bản thân, giống như vừa tìm thấy biển chỉ đường trên một con đường xa lạ. Hình ảnh của anh trong tôi là vậy. Rồi người đó giơ cánh tay phải lên, ra dấu với tôi.
“Anh ở đây. Bé Lá ơi, anh ở đây.”
“Em cũng ở đây rồi. Em cũng tới đây với anh rồi!”
Giữa cơn gió thổi cuồn cuộn không chút nể tình, ánh mắt có lẽ còn mỏng manh hơn sợi tơ nhện, tưởng chừng như có thể đứt rời bất kỳ lúc nào của chúng tôi vẫn hướng về nhau đầy kiên định.
“Bão à, em đến đón anh đây. Chúng ta cùng về thôi.”
“Em thực sự tới đón anh sao?”
“Giờ hãy để em tới bên anh. Em sẽ bước lên cơn gió để đến với anh.”
Tôi cất bước đi về phía người ấy. Người đó cũng chậm rãi đi xuống đồi. Chàng du mục của tôi đã cất bước đi về phía tôi.