“Anh Bão tệ quá. Đến em mà anh cũng không nhớ ra nổi nữa.”
“Nhưng mà làm sao anh “nhớ ra” được. Vì anh đã có giây phút nào quên em đâu.”
“Anh nói thì hay lắm. Trong khi thực ra đã quên từ đời nào rồi ấy.”
“Cái này có gọi là lương duyên “Ngàn năm có một” không nhỉ?”
“Em không biết. Không phải là “Sấm giữa trời xanh[1]” à?”
“Cái từ “Trời quang” ấy trong bài thi chữ Hán em có bị nhầm chữ “xanh” với chữ “tình” không?”[2]
“Có ạ.”
Giữa bầu không khí trong lành buổi sáng, tiếng cười của chúng tôi hòa lẫn với nhau như những tia nắng sáng chói.
“Thế hôm nay bé Lá sẽ đi đâu?”
“Đi tới chỗ này ạ.”
Chúng tôi rời khỏi tiệm ăn Jonathan’s, đi xuống con dốc thoai thoải tên là dốc Naruko. Đôi lúc, chúng tôi đi gần bên nhau tới mức cánh tay khẽ chạm vào nhau, rồi khi nhận ra chúng tôi lại đi cách nhau ra một chút, cứ lặp lại như vậy.
Giữa chừng con dốc có một ngôi đền tên Naruko Ten, trước đó một đoạn là công ty tôi đang làm việc. Khi tới trước tòa nhà ngói đỏ, tôi chỉ tay vào tấm biển hướng dẫn, nói:
“Đây, em làm việc ở chỗ này. Công ty Art-home ạ.”
“Là công ty Home lúc nào cũng “A” lên một cách đầy ngạc nhiên ấy hả?” Bão nói.
Tôi vừa cười, vừa khẽ liếc nhìn gò má Bão. Gò má anh sắc cạnh đầy nam tính, gương mặt nhìn nghiêng không còn chút dáng vẻ thiếu niên nào nữa.
“Đúng là ngạc nhiên thật. Chúng ta ở gần nhau thế này mà bấy lâu nay không gặp nhau. Nhưng cũng có khi chúng ta đi qua nhau nhiều lần rồi mà không nhận ra cũng nên. Có khi từng có lúc chúng ta cùng ngồi một tiệm cà phê uống trà rồi ấy.”
Văn phòng của tôi và nhà trọ của Bão chí cách nhau vài bước chân.
“Có lẽ nếu chỉ đi qua nhau thì không thể để ý nhận ra được. Vì anh lớn lên đẹp trai đến nhường này, và chắc lúc nào cũng sẽ đi cùng một cô gái nào đó nữa.”
Tôi nói như vậy bằng giọng bông đùa vui vẻ. Vừa nói tôi vừa nghĩ, tại sao cùng một cảnh sắc này, vậy mà khi đi cùng Bão cảm giác lại khác đến thế.
Bão bước đi thinh lặng nãy giờ.
Điệu bộ thừa thãi chân tay, dáng đi sải chân rộng của anh vẫn như cũ. Tôi vừa thầm xác nhận điều đó, vừa im lặng đi bên cạnh Bão. Khi anh nói cười, anh sẽ là Bão mà tôi biết rõ mười năm trước, nhưng khi anh im lặng như thế này, anh giống như một người xa lạ, khiến trái tim tôi loạn nhịp. Điều đó không hiểu sao làm tôi thấy vui vui, khiến tôi có cảm giác con phố buổi sáng này tôi có thể cứ đi mãi, đi mãi như thế này được.
Đột nhiên, Bão nói:
“Em có biết mười năm là bao nhiêu giây đồng hồ không?”
“Em không biết, nhưng tính ra thì sẽ biết thôi. Một phút là 60 giây này...”
“Là 1 x 60 x 24 x 365 x 10.”
“Phép tính này không có máy tính thì không tính được đâu.”
“315.360.000 giây. Là số giây anh nghĩ tới bé Lá đó.”
Anh im lặng nãy giờ là để nhẩm tính phép tính này trong đầu ư? Hay anh cố nhớ ra con số mà anh đã tính ra trước đó? Nhưng hồi cấp hai thứ anh kém nhất rõ ràng là môn toán, là các con số mà.
Tôi giả bộ vô tư, khẽ chạm vào cánh tay Bão và nói:
“Tính anh chẳng thay đổi tí nào nhỉ. Thế em hỏi anh nhé, nếu anh nghĩ đến em nhiều thế, tại sao anh lại không thể lập tức gọi tên em? Buồn thật đấy.”
“Ừ, anh xin lỗi, vì em đã xinh đẹp hơn nhiều quá... Anh không thể ngờ em chính là bé Lá cận tít thò lò ngày trước.”
“Xấu tính! Anh không thấy mình nói năng quá đáng à? Dù đấy có là sự thật đi chăng nữa.”
Khi tới trước cổng đền Naruko Ten, chúng tôi không hẹn mà cùng rẽ khỏi con đường trên phố Oume, tiến vào đường mòn dẫn tới đền. Những ồn ào nơi đô hội biến mất như thể đã bị một bức tường vô hình nuốt chửng, và một không gian hoàn toàn khác biệt được trải ra. Giống như một lỗ đen mở ra giữa đô thị rộng lớn, giống như thế giới ảo đã lấn vào thế giới thật, quá khứ lấn vào thực tại. Cả tôi và Bão đều từng là những đứa trẻ giỏi tìm thấy những nơi như thế này như những con thú bị thương giỏi tìm thấy nơi ẩn nấp của mình vậy.
Trong khuôn viên chùa không một bóng người.
Chúng tôi sửa lại tư thế, cúi đầu thật thấp hai lần. Sau khi chắp hai tay trước ngực và lặng lẽ nói lên lời cầu ước, chúng tôi vỗ tay hai cái, cuối cùng cúi đầu thấp một cái. Sau khi làm nghi lễ tới viếng một cách chỉn chu, chúng tôi ngồi xuống cạnh nhau tại bậc thang phía trước hòm tiền, giống như những chiếc lá rụng chất lên nhau, rồi nói chuyện.
Sau khi tốt nghiệp cấp Ba ở Hokkaido, Bão lên Tokyo, ở đây anh vừa làm việc cho một công ty chế bản sách vừa tham dự lớp học đại học buổi tối. Năm đầu tiên anh ở Ogikubo, sau đó anh chuyển tới Tây Shinjuku. Từ khi còn học cấp ba, anh đã đều đặn gửi tác phẩm dự thi giải cây viết mới của tạp chí văn nghệ, hai năm trước, anh trụ được tới vòng chung kết. Tuy lần đó anh bị vuột mất giải thưởng chính, nhưng đã nhận được giải khuyến khích đặc biệt của ban giám khảo. Nhân dịp đó anh nghỉ việc ở công ty, bây giờ anh vừa làm thêm công việc bảo vệ tòa nhà ban đêm, vừa tiếp tục viết.
“Lúc lên Tokyo, sao anh không liên lạc với em? Anh biết địa chỉ nhà em ở quê mà? Nếu anh hỏi người nhà em thì đã sớm biết em cũng đang ở Tokyo rồi.”
Trước câu hỏi đó của tôi, Bão chỉ biết gượng cười mà không đáp lại gì.
“Anh lạnh nhạt quá. Chúng ta đã ngoắc tay, đã hứa hẹn chắc chắn như thế, vậy mà từ khi đi Hokkaido anh chẳng gửi cho em bức thư nào. Em gửi ít nhất là mười bức rồi đó. Vậy mà anh chẳng hồi âm bức nào cả.”
Có lẽ nói mười bức thư thì hơi quá. Nhưng nghĩ tới tình cảm của mình, tôi còn muốn nói là một trăm bức nữa cơ.
“Xin lỗi, xin lỗi em. Xin em thứ lỗi, hỡi nữ thần Lá của anh.”
Bão chắp hai tay lại xin lỗi tôi. Thực ra, có một lý do khiến Bão của thời cấp Ba không thể liên lạc với tôi. Nhưng lúc ấy anh đã không thể kể cho tôi nghe được.
Thay vì thế Bão nói:
“Anh nhớ không phải mười bức mà là bảy bức. Vì những lá thư đó giờ anh vẫn còn giữ đầy đủ. Hồi cấp Ba anh cứ đi đi lại lại giữa Hokkaido và châu Âu nơi bố mẹ anh ở, nên rất bận rộn. May mà cuối cùng cũng tốt nghiệp. Nhưng mà này...”
Vừa nói, Bão vừa lấy chiếc ví đựng thẻ từ túi quần jeans ra, rồi lại lấy từ đó ra một mảnh giấy, rồi đưa cho tôi.
“Đây này, cả cái này nữa. Anh đã luôn giữ nó làm bùa hộ mệnh đấy.”
“A!”
Đó là vật tôi gửi kèm trong bì thư gửi Bão hồi cấp Ba - một chiếc kẹp sách dán những chiếc lá ngân hạnh khô thành hình hoa ép. Tôi biết Bão là người hay đọc sách, tay không rời quyển sách lấy nửa giờ, nên tôi đã làm một chiếc kẹp sách để gửi cho anh.
“Anh hãy dùng nó hằng ngày nhé. Và khi dùng, xin hãy nhớ tới em.”
Có lẽ tôi còn kèm thêm câu này nữa.
“Hóa ra anh đã luôn giữ nó. Cảm ơn anh.”
Tôi nhớ rằng mình đã gửi thư nhiều lần - và cả việc không có hồi âm khiến tôi rất buồn - nhưng tấm kẹp sách này đã chìm vào trong bóng tối ký ức sâu thẳm. Cho tới khi Bão đưa cho tôi xem thế này. Vật mà tôi đã quên bẵng đi mất, vậy mà Bão vẫn giữ bên mình không rời. Chuyện mà Bão đã quên hẳn, còn tôi thì cứ nhớ mãi. Hóa ra mọi chuyện là như vậy. Tôi vừa nhìn chiếc kẹp sách, vừa có cảm giác mình đã phát hiện ra điều mới mẻ gì đó.
Có lẽ trong mười năm này, cả hai chúng tôi đều thầm lặng nhớ thương nhau mà không biết.
“Em có biết không?” Bão nói. “Em có biết cây ngân hạnh trong tiếng Anh là gì không?”
“Em không biết.”
“Nó gọi là Ginkgo.”
“Ngân hàng[3] á? Thật không? Trong tiếng Anh nó gọi là ‘ngân hàng’ sao anh?”
“Thật. Thời xưa, ở một nước nọ, nó được dùng thay cho tiền giấy của nước đó nên mới được gọi là ‘Ngân hàng’. Ha ha anh nói đùa thôi. Nhưng đây không phải là “lời nói dối trắng trợn” mà là một lời nói dối đầy sắc vàng của lá ngân hạnh em nhỉ. Em biết không, cây ngân hạnh là loài cây cổ nhất trong các loài cây đấy. Chuyện này thì là thật. Cây ngân hạnh đã có mặt trên Trái đất từ thời khủng long rồi.”
“Ồ, cây ngân hạnh hóa ra có từ xa xưa thế rồi ạ. Hóa ra những chú khủng long cũng từng nhìn thấy chiếc lá này. Chỉ nghĩ vậy thôi cũng thấy thật kỳ diệu rồi.”
Trả lại tấm kẹp sách cho Bão, tôi nói:
“Dù vậy thì tại sao...”
Thực ra tôi đã định hỏi lại câu lúc nãy. Rằng tại sao anh không chịu liên lạc với tôi. Nhưng tôi ngay lập tức gạt đi. Vì chỉ cần được gặp anh thế này là vui rồi.
“Nhưng mà, anh cũng khéo quăng chài bắt lưới, hết cô này tới cô nọ nhỉ. Thật không thể tin được.”
Tôi vừa nhắc tới tên cô gái mình nghe lỏm được ở Jonathan’s, vừa gập ngón tay của bàn tay trái để đếm.
“Sáu người! Chờ đã, tính cả cô gái mặc áo lông khi nãy thì thành bảy người rồi!”
“Thì những mười năm cơ mà. Trung bình một năm một người thì ít nhất cũng mười người rồi... Mà không tính thế được nhỉ. Nhưng mà lúc nãy anh nói rồi đó. Dù có hẹn hò với ai, anh cũng luôn nhớ em. Một giây cũng chưa từng quên.”
“Anh chẳng thay đổi gì cả. Miệng lưỡi khéo, nói dối cũng khéo...”
“Anh còn khéo nhiều thứ nữa cơ. Em muốn thử không?”
Nói đoạn, Bão quàng tay phải qua vai kéo tôi lại gần, và hôn lên má tôi một nụ hôn giống như một hạt mưa. Thật hạnh phúc. Giống như nãy giờ tôi đã luôn chờ đợi anh làm thế. Tôi xoay người, dùng hai tay ôm lấy hai bên má của Bão, khẽ đặt môi mình lên môi anh. Đó là cách mà Bão hôn tôi mười năm trước.
“Anh đã từng rất nhớ em, bé Lá ạ.”
Khi môi chúng tôi rời nhau, Bão xúc động nói:
“Chuyện khó tin ấy đúng là có thật em nhỉ. Nếu ta nhớ mãi không quên một ai đó, sẽ có ngày ta được gặp lại người ấy, phải không em?”
“Em cũng...”
Em cũng chưa có giây phút nào quên anh.
315.360.000 giây thương nhớ. Chính em mới là người nhớ thương anh như thế.
Em đã không thể yêu một ai khác. Không một ai khác, ngoài anh.
Tôi muốn nói như vậy, nhưng đã không nói lời nào, cũng không thể nói được. Vì đôi môi của Bão đã mạnh mẽ che kín đôi môi của tôi. Cả tôi và Bão đều không định rời đôi môi mình ra. Nụ hôn ấy giống như thể mười năm thương nhớ của chúng tôi đang cháy lẫn trong huyết quản của nhau, đi qua và thấm đẫm từng ngóc ngách.
Sau khi rời khỏi đền Naruko Ten, chúng tôi băng qua đường Oume, đi bộ về phía con phố nhiều ngôi nhà cao tầng. Sau đó, chúng tôi tản bộ trong công viên trung tâm Shinjuku, bắt chuyện với những con mèo, vuốt ve lưng chúng, rồi ngồi xuống dãy ghế được mặt trời buổi sáng soi chiếu, uống lon cà phê chúng tôi mua được trên đường đi dạo. Trong rừng, vài ba chú quạ đen ngòm kêu vang như thể đang nói tiếng người với nhau.
“Anh có hay tới công viên này không? Đôi lúc em có tới đây ăn bánh sandwich hoặc cơm nắm.”
“Anh không hay đến đây lắm. Chỉ thi thoảng tới đây chạy bộ quanh công viên thôi.”
“Kỳ cục nhỉ. Em thì ngồi trong công viên, còn anh thì chạy quanh bên ngoài nó.”
Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn mười giờ.
“Em phải về thôi.” Tôi nói.
“Sao em lại về? Em về đâu?”
“Anh còn hỏi tại sao, em vừa kể là từ tối qua em thức trắng đêm làm việc rồi mà. Em phải về phòng mình ngủ một chút. Chiều nay, em có một cuộc hẹn quan trọng.”
“Ở đâu?”
“Ở văn phòng.”
“Thế thì đừng về nữa. Tới chỗ anh ngủ đi. Anh sẽ không làm phiền em. Vả lại anh cũng sắp phải đi làm thêm rồi, nên anh sẽ không làm gì cô bé quàng khăn đỏ của anh đâu. Anh hứa đấy.”
Thực ra, cuối cùng lời nói ấy đã bị lật ngược như trở bàn tay.
“Việc làm thêm của anh không phải là bảo vệ ban đêm à?”
“Thứ Tư và thứ Năm anh có việc làm thêm ban ngày nữa.”
“Việc gì cơ?”
“Làm phụ việc cho một công ty chuyển phát nhỏ em ạ. Nào, chúng ta đi thôi.”
Bão nhẹ nắm lấy tay tôi, đứng dậy.
Tôi nắm bàn tay ấy thật chặt. Tôi nghĩ rằng cả đời này mình sẽ không thể quên được giây phút ấy.
Từ hôm đó, tôi bắt đầu việc sống chung với Bão.
Tôi trả phòng đang thuê ở Yoyogi và chuyển về phòng của Bão - nằm trên tầng hai của một tiệm sửa tóc - vào khoảng đầu tháng Bảy.
Một buổi tối chưa đầy một tuần sau đó.
Sau khi đi bộ từ văn phòng về phòng trọ, cùng Bão ăn tối và tiễn Bão đi làm, tôi ngồi xem ti vi. Khi tôi vừa nghe tiếng bước chân người đi lên cầu thang sắt vang lên cộc cộc, thì liền đó lại nghe thấy tiếng cánh cửa phòng tôi đột ngột bị mở ra từ bên ngoài.
Tôi thấy nghi hoặc, vì chỉ có thể là Bão quên đồ gì nên quay lại lấy thôi, nhưng tiếng chân lại không giống. Tôi đứng dậy đi ra phía trước cửa thì thấy một cô gái đứng đó.
Lớp trang điểm đậm. Nước hoa mạnh. Mùi thuốc xịt tóc. Chiếc áo vest hiệu Chanel. Túi Gucci.
A, là chị gái mặc áo lông bữa trước - tôi lập tức nhận ra.
“Ồ.” Chị ta nói. Sau đó, giọng nói của chị ta cao vút lên một bậc. “Xem ra tôi quấy quá cô rồi?”
“Dạ không.”
“Tôi tưởng giờ này anh ta không ở nhà nên mới tới...”
“Xin lỗi chị.”
“Cô không cần phải xin lỗi. Tôi mới cần xin lỗi vì đã đường đột tới thế này. Tôi tới để lấy đồ. Tất cả đều là đồ của tôi. Cô có phiền gì không?”
Chị ta vừa nói vừa nhìn khắp phòng với ánh mắt sắc nhọn như phi tiêu.
“Xin mời chị vào.”
Trước khi tôi kịp nói, chị ta đã tháo giày cao gót, vừa bước vào phòng liền bắt đầu mở ngăn chứa đồ, mở và đóng ngăn kéo bàn. Rồi vừa nhét những vật nhỏ nhỏ vào túi, hoặc đưa chúng lên ngắm nghía, chị ta vừa lẩm nhẩm một mình, giữa các câu lẩm nhẩm chị ta lại bắt chuyện với tôi. Vừa nói chuyện, đôi khi chị ta vừa quẳng ra ánh mắt không chút kiêng nể về phía tôi như thể muốn cân đo đong đếm tôi vậy.
“Cô sống ở đây từ bao giờ?”
“Khoảng một tháng trước.”
“Thế à. Cô sống chung với anh ta hả?”
“Vâng.”
“Hai người là mối quan hệ kiểu đó ư? Mà đương nhiên là thế nhỉ.”
“Kiểu đó là kiểu gì ạ?”
“Cô gái à, tôi nói điều này có thể khiến cô nghĩ tôi đang ghen tức hay là nuối tiếc, nhưng mà cô nên đề phòng anh ta thì hơn.”
Khi đó chị ta đang với tay lấy chiếc gương hình chữ nhật treo trên tường ở chỗ bồn rửa mặt.
“Anh ta ăn nói dễ nghe, nhưng là một kẻ nói dối có hạng đó. Ngay cả một người thận trọng như tôi còn bị anh ta dễ dàng lừa gạt thì cô biết rồi đấy. Lừa một cô gái ngây thơ con nhà lành như cô hẳn là dễ như ăn kẹo thôi. Cô thích anh ta đến vậy à? Hằng đêm, anh ta đều làm cô vui với gương mặt dịu dàng như thể một con kiến cũng không nỡ giết sao?”
Ban đầu chị ta còn bình tĩnh, nhưng về sau, giống như bị trúng độc từ chính ngôn từ của mình, nét mặt chị ta càng lúc càng cau lại. Chị ta nhấc lấy chiếc đồng hồ đặt trên bàn làm việc nơi Bão hay dùng để viết văn, vừa nhét vào túi mình vừa nói:
“Cái này là tôi mua tặng anh ta, nói chính xác hơn là bị anh ta dụ dỗ mua tặng. Nên tôi sẽ lấy lại. Thứ này, cô có làm hùng hục một hai tháng cũng không đủ tiền mua nổi đâu.”
Tôi chỉ biết im lặng chờ đợi chị ta xong việc.
“Sao thế, cô cũng nói gì đi chứ, đồ mèo ăn vụng này. Mặt mũi thì bình thản mà sau lưng lại đi trộm đồ của người khác. Không phải cô muốn nói gì đó sao?”
Vừa nói, chị ta vừa nâng tập bản thảo đặt ở góc bàn lên - những tác phẩm Bão đang viết dở - bằng ngón cái và ngón trỏ, như thể đang chạm vào thứ gì đó bẩn thỉu, huơ huơ trước mặt tôi. Giống như chị ta đang thách thức tôi vậy.
“Sách anh ta viết không ai chịu xuất bản giúp, vậy mà suốt ngày ra dáng, giả bộ như nhà văn, thật nực cười. Nếu có thời gian rảnh rỗi viết những thứ này, sao không đi viết kịch bản hài đi. À quên, viết cái đó cũng cần tài năng nhỉ. Thứ như anh ta làm sao nổi.”
“Chị đừng nói nữa.”
Tôi bất giác nói. Có lẽ giọng điệu của tôi đã chứa đầy sự van lơn trong đó.
Giống như đã đợi câu nói đó từ lâu, chị ta túm lấy từng xấp vài tờ bản thảo một, dùng hai tay vo tròn lại và ném vào thùng rác. Sau đó, chị ta lần lượt ném bút chì, tẩy và từ điển mà Bão dùng vào đó.
Ngay lập tức, thùng rác đầy chặt, không chịu nổi sức nặng, nó đổ kềnh sang một bên. Chị ta liếc mắt nhìn, lần này chị đứng hiên ngang trước kệ đựng bát đĩa, nhìn chằm chằm đám bát đĩa xếp phía trong lớp kính tủ. Trong số đó có những bát đĩa hiệu Royal Copenhagen[4] và Wedgwood[5], hẳn là do chị ta mua, có cả những đĩa, những cốc cà phê có hình vẽ của tôi nữa.
Tôi nói với giọng sắp khóc đến nơi:
“Chị dừng lại đi. Xin chị đấy.”
“Thôi được. Bát đĩa thì cho cô. Nhưng những món này đều là do tôi mua. Mong là mỗi lần hai người ăn cơm đều sẽ nhớ tới điều đó. Ngày hôm nay, lúc anh ta về, nhớ kể lại với anh ta rằng khi thực sự nổi giận thì tôi đáng sợ thế nào nhé.”
Nói đoạn, chị ta cầm chiếc gương vừa nãy tự tay mình tháo xuống, phăm phăm đi về phía phòng tắm.
Vài giây sau, ác ý và sự căm hận của chị ta biến thành một thứ âm thanh lớn, vang khắp phòng. Việc “đập vỡ gương” rốt cuộc có ý nghĩa gì? Có lẽ đối với chị ta, điều đó mang một ý nghĩa sâu sắc nào đó. Chị ta muốn đập nát thứ gì đó đã in bóng trong tấm gương ấy trong thời gian sống ở căn phòng này chăng...
Có lẽ sau khi đập gương, tâm trạng đã dễ chịu phần nào, chị ta quay trở lại phòng, nhấc túi lên, đi thẳng về phía cửa ra. Vừa thở phào nhẹ nhõm, tôi vừa lơ đãng nghĩ, đôi chân chị ta bên dưới chiếc quần tất ren hoa kia thật thon nhỏ và xinh đẹp.
“Tôi quyết định sẽ dừng lại ở đây, tha cho hai người đó. Có lẽ cô không có lỗi gì cả. Nhớ chú ý đừng để bản thân bị đối xử giống như tôi đã từng bị nhé.”
Trước khi đi giày cao gót và rời đi, chị ta ngoảnh lại, ném thứ gì đó về phía tôi. Đó là chìa khóa phòng. Chìa có kèm một chiếc móc khóa hình mèo con. Chú mèo con rẻ tiền không hợp với chị ta chút nào này - giống như những đồ lưu niệm bằng nhựa dẻo bày la liệt ở các quầy hàng di động vào những ngày hội đình chùa - như thể đang muốn nói với tôi điều gì đó.
Nhưng tôi vờ như không nhận ra điều ấy. Chắc chắn Bão chính là người đã tặng chị ta chiếc móc khóa hình mèo này. Tôi nghĩ, tôi không muốn tưởng tượng ra những ngày tháng hạnh phúc ấy của bọn họ.
Sáng sớm hôm sau, lúc Bão từ nơi làm trở về, tôi hít sâu một hơi, kể lại toàn bộ đầu đuôi câu chuyện.
“Cả đêm em không ngủ được. Chị ta đập vỡ gương, làm em lau dọn nhà tắm mệt mỏi muốn chết. Bão, anh đã làm gì khiến chị ta hận đến thế sao?”
Bão nói:
“Em đừng để ý. Anh đã kết thúc với cô ấy rồi. Lúc bọn anh nói chuyện chia tay ở quán Jona mòng biển, em cũng nghe thấy mà. Mục đích của cô ấy chỉ là tình dục thôi, thế giới của cô ấy và thế giới của em hoàn toàn khác biệt. Nên em không cần để ý chuyện gì đâu.”
“Chị ta gọi em là ‘mèo ăn vụng’ đấy. Anh có thấy quá đáng không?”
Vừa cười to thành tiếng, Bão vừa ôm lấy tôi, dùng cả hai bàn tay và cánh tay, như thể muốn gập tôi lại vậy.
“Mèo ăn vụng à? Hừm, nhưng mà nghe dễ thương đấy chứ. Mèo ăn vụng. Một ngày nào đó, anh sẽ viết một câu chuyện thật hay, dùng cả trái tim mình để viết tặng cho em, lấy nhân vật chính là một chú mèo ăn vụng nhé. Khi đó em sẽ vẽ minh họa cho truyện, hai chúng ta cùng làm thành một cuốn sách tranh. Em thấy ý tưởng này thế nào? Tuyệt quá phải không? Thế nên em quên chuyện tối qua đi, nhé?”
Bị anh ngon ngọt dỗ dành, chúng tôi ăn sáng, và trong khoảng thời gian ngắn trước khi tôi rời nhà đi làm, anh cuốn tôi vào một cuộc yêu hấp tấp. Mỗi lần được anh ôm vào vòng tay, đầu óc tôi như bị tắt nút nguồn, không thể nghĩ ngợi được gì. Tất cả những cảm xúc và lý trí bên trong tôi giống như những tờ bản tháo đã bị vo tròn lẫn lộn vào nhau kia, đang xấu hổ cuộn mình nhỏ lại.
Bão chính là người đã chỉ cho tôi thấy tôi là một sinh vật mang tên “phụ nữ” như thế nào.
“Cuộc đời mèo ăn vụng.”
Kể từ đó, chín năm đã qua đi, và câu chuyện đó -chương một - đã được chuyển tới chỗ tôi.
Chiếc phong bì lớn chứa bản thảo được chuyển tới dưới dạng một bưu phẩm, tôi mở nó ra với những ngón tay run run, khi nhìn thấy tiêu đề của chương một, tôi nghĩ. Có nhiều lần Bão đã thất hứa, nhưng cũng có những lời hứa anh đã thực hiện, và đây chính là một trong những lời hứa ấy.
Nhân vật chính của truyện lẽ ra phải là “Người lữ khách và chú mèo” mới đúng.
Nhưng hóa ra chú mèo đó là “mèo ăn vụng”. Chắc chắn đó là ý định từ đầu của anh.
Sau khi Nanako chìm vào giấc ngủ, tôi ngồi xuống bàn ăn bên trong căn bếp chìm sâu trong yên lặng tựa dưới đáy biển sâu, và từ phong bì, tôi lôi ra một tập giấy xếp gọn gàng.
Từ ban ngày, tôi đã lấy nó ra mấy lần, nhìn ngắm, rồi cho lại vào phong bì, một lúc sau lại lôi ra... Tôi đã lặp đi lặp lại hành động vô nghĩa ấy. Vì tôi muốn tận hưởng thật nhiều lần cảm giác trào dâng mỗi lần lấy bản thảo ra. Góc phải có đóng một dấu tròn ghi “bông một”. Giống hệt như con dấu mà chúng ta vui sướng nhận được từ thầy cô hồi tiểu học.
Bản thảo đã được chỉnh sửa một lần. Phần in tranh của tôi đã được để trống một khoảng. Câu chuyện về chú mèo ăn vụng đã được trình bày một cách đẹp mắt.
Chào mừng anh trở về, Bão.
Trong lồng ngực tôi vang vọng tiếng bước chân leo cầu thang cồm cộp. Tiếng bước chân của Bão mỗi sớm mai khi anh đi làm thêm về. Tiếng bước chân ấy luôn luôn khỏe khoắn, nhẹ nhàng, giống như một chiếc bu-mê-răng cuốn theo làn gió trên thảo nguyên, mỗi sáng đều trở lại bên tôi. Giờ nó cũng là tiếng bước chân vang vọng trong lòng tôi những đêm khuya thanh vắng một mình như thế này.
❖❖❖
Chương 1 − Cuộc đời của một chú mèo ăn vụng − The Life and Times of a Bandit Cat
Trong khu rừng rậm cạnh một ngôi làng nhỏ không tên trên một vùng đất cũng không tên nốt, có một chú mèo không tên nọ trú ẩn.
Lông mèo vô cùng bẩn, tới mức không nhận ra được màu lông gốc của nó nữa.
Một bên tai bị cắn nát một nửa.
Chỗ lông mày bên mắt phải sưng vù.
Trên lưng có một vết sẹo lớn.
Nhìn từ góc độ nào cũng chỉ thấy nó là một con mèo xấu xí.
Người trong làng không ai hay biết nó từ đâu đến, là đực hay là cái.
Hồi còn là một con mèo nhỏ, cô mèo ấy đã có một cái tên của riêng mình.
Từ rất lâu trước đây, mèo được ôm trong vòng tay ấm áp của con người, được con người dịu dàng vuốt ve và gọi bằng cái tên ấy... Giờ chỉ còn là những mảnh ký ức mong manh. Nhưng mèo không thể nhớ ra được mình tên là gì.
Dân làng gọi tên nó là “Mèo ăn vụng”.
Hễ nhìn thấy bóng dáng mèo ăn vụng, mọi người sẽ ném đá hoặc dùng chổi đánh đập. Và nhất định họ sẽ dìm nó trong một biển các lời chửi bới.
“Đồ khốn! Mau biến đi!”
“Đồ mèo hoang vô dụng. Cút xuống địa ngục cho tao!”
Dù bị mắng nhiếc thế nào, mèo ta vẫn điềm nhiên tự tại.
Những lời lẽ thốt ra từ miệng lưỡi con người, đối với mèo mà nói, so với hòn gạch vỡ lăn lóc xó xỉnh, hay so với cành cây chết héo chết khô còn chẳng có giá trị bằng. Vả lại, mọi lời lẽ của con người mà mèo từng nghe thấy xưa nay đều không chứa đựng chút sự thực nào.
Ví dụ như câu này:
“Mèo con đáng yêu ơi. Mèo ngoan lắm, mau lại đây nào.”
Ý nghĩa của nó cũng giống câu này:
“Đồ mèo ăn vụng khốn kiếp. Tao cho mày một trận bây giờ.”
Dù bị ném đá, bị lũ trẻ con vây quanh và đánh đập, mèo vẫn có đủ dũng khí và tự tin để không khuất phục trước điều đó. Để bộ móng vuốt sắc lẹm luôn sẵn sàng tóm được chỗ hiểm của kẻ địch chỉ bằng một đòn duy nhất, nó luôn mài bộ móng của mình trên cành cây sồi thường xanh. Một khi bộ răng nanh nhọn hoắt đã ngoạm được vào điểm yếu của đối phương, nó sẽ không rời ra cho tới khi đối phương ngã gục.
Kế sinh nhai của mèo chính là ăn trộm.
Mèo sẽ ăn trộm cá từ cửa hàng cá, trộm hoa từ cửa hàng hoa, trộm sữa mới vắt từ tay chú bé vắt sữa. Khi vừa thành công trong một vụ trộm, nó sẽ lập tức nghĩ tới vụ trộm kế tiếp.
Liệu có cách nào bắt được con chim hoàng yến 🐦 bên trong dãy lồng bày trước cửa hàng chim không nhỉ. Người chuyên cho vay tiền cất chìa khóa két sắt ở nơi nào? Lần này nhất định mình phải nẫng tay trên đám thỏ con mà cô gái xấu tính đó cưng nựng mới được.
Mèo ghét tất cả mọi người. Nó căm hận họ từ sâu thẳm trái tim mình. Một hành vi ác độc mà nó nhận phải từ con người từ khi thơ bé đã trở thành một chiếc mỏ neo han gỉ, chìm sâu xuống đáy lòng nó.
Một buổi sáng mùa đông mưa tuyết dai dẳng lạnh lẽo.
Mèo ăn vụng mới vừa qua sinh nhật đầu tiên bị nhốt trong một chiếc hộp giấy vuông vức. Chiếc hộp bé tới mức không thể động cựa nổi. Rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra vậy? Mọi thứ diễn ra thật chớp nhoáng.
Mèo gãi sồn sột chiếc hộp giấy từ bên trong.
“Cứu tôi! Cho tôi ra khỏi đây với!”
Mèo kêu khóc to hết mức có thể. Càng kêu, chiếc hộp càng bị siết chặt lại bằng một lực siết mạnh bạo. Quá khó thở, mèo ăn vụng bị ngất đi.
Khi tỉnh dậy, mèo nhận ra nơi đó là tận cùng của thế giới.
Xung quanh là thảo nguyên tuyết trắng xóa. Không có đường đi, không có biển chỉ dẫn. Không có lối ra, càng không có hy vọng. Huyết quản bắt đầu đông cứng vì giá rét, mọi nội tạng bên trong đều như đang co rút lại.
Mình cũng bị vứt đi rồi.
Mèo ăn vụng nhận ra.
Giống như ba anh em được sinh ra cùng lúc với mình đã bị ném ra sông khi còn chưa mở mắt. Mình cũng bị vứt đi rồi. Tính mạng mình, cuộc đời mình, đều đã bị nghiền nát cả. Nhưng tại sao lại như vậy? - Mới ngày hôm qua họ hãy còn cưng chiều mình đến thế...
Rốt cuộc là tại sao?
Câu trả lời từ trên trời vọng xuống.
“Là vì cậu đã trở nên vướng víu với họ rồi.”
Giọng nói ấy là giọng nói của một con chim đậu trên cành cây phong vừa làm rớt một chiếc lá xuống.
“Vì cậu đã trở nên to xác, không còn là một chú mèo con bé bỏng nữa. Con người đã cảm thấy cậu thật vướng víu. Khi thấy vướng víu, họ sẽ lập tức mang đi vứt. Con người là loài động vật sẵn sàng làm điều đó đấy cậu ạ.”
Sau đó con chim nói thêm:
“Cậu nên nhớ lấy. Thế nên từ giờ không được tin bất kỳ điều gì về con người cả.”
“Từ bây giờ tôi biết phải sống tiếp ra sao?”
Mèo ăn vụng ngẩng đầu nhìn cây phong, thử hỏi. Nó nghĩ, giờ nó chỉ còn có thể trông cậy vào con chim này thôi.
“Sao mà tôi biết được. Chuyện đó cậu phải tự dùng cái đầu của mình mà nghĩ chứ.”
Chim dang cánh, bay về phía bên kia bầu trời xám xịt.
Bụng mèo đói meo.
Cái bụng rỗng dạy mèo kỹ thuật sinh tồn. Để có thể sống tiếp, cần phải ăn. Nếu chỉ ngồi đợi thì thức ăn sẽ không tự chạy đến nhảy vào tay mình được.
Mèo ăn vụng bắt đầu sự nghiệp ăn trộm của mình.
Nó ăn trộm cá từ xô cá của người đi câu để ăn. Nó trộm cả giun đất và côn trùng dùng làm mồi câu, không sót lại con nào.
Hôm thì nó trộm miếng sandwich của đám trẻ con vào rừng cắm trại, hôm thì nó vào tận làng, bắt lũ cá vàng và cá chép được nuôi trong hồ nhà ai đó, đoạn ăn sạch.
Nó làm tất cả những việc đó để sống.
Nhưng không biết từ khi nào, mèo ăn trộm không còn là để ăn, không còn là để sống nữa. Nó ăn trộm chỉ vì muốn ăn trộm thôi.
Nó nhất định phải cướp đi cái gì đó từ tay con người. Đôi khi dùng hết sức lực, đôi khi sử dụng hết ngón nghề láu cá của mình.
Cảm nhận và tận hưởng nỗi buồn của người bị cướp mất cái gì đó.
Điều ấy đã trở thành niềm vui tối thượng của chú mèo ăn vụng.
[1] Một câu thành ngữ chỉ một tai họa bất ngờ giáng xuống.
[2] “Tình thiên” nghĩa là trời quang quẻ, “thanh thiên” nghĩa là trời xanh trong, ý nghĩa tương đồng nhau và cách phát âm tiếng Nhật giống nhau (cùng là [seiten]) nên nhiều người Nhật bị nhầm lẫn khi viết câu thành ngữ này.
[3] Ginkgo (cây ngân hạnh) phát âm giống từ “Ngân hàng” (ginko) trong tiếng Nhật.
[4] Thương hiệu gốm sứ Đan Mạch.
[5] Thương hiệu gốm sứ Anh.