Nơi Bầu Trời Và Đại Dương Gặp Gỡ

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Một chuyến lãng du

❊ ❊ ❊

“Hãy thử không nghĩ gì cả, để trái tim trống rỗng và thử khắc với không chút tạp niệm gì xem. Im lặng và chỉ cử động bàn tay. Nếu em cố gắng kiểm soát mọi thứ, với ý nghĩ rằng mình sẽ khắc thành hình này hay hình kia, khúc gỗ sẽ khó chịu và thu mình lại mất. Nhưng nếu em khắc mà không vương chút tạp niệm gì, thì sau đó, khúc gỗ dần dần sẽ tự nó đi tiếp, trở thành hình dáng mà nó muốn.”

Trong giờ mỹ thuật, khi chúng tôi dùng mảnh gỗ lấy từ thân cây đổ trong rừng để tạo ra bức tượng điêu khắc gỗ, thầy giáo của học viện “Đứa con của gió” đã nói với học sinh như vậy.

Thời học cấp Hai, tôi đã biết ý nghĩa của từ “không vương tạp niệm”. Vì thế tôi vừa băn khoăn nghĩ “Phải làm sao để không còn chút tạp niệm nào bây giờ nhỉ?”, vừa khắc bằng lưỡi dao khắc, với một trạng thái cách rất xa trạng thái “không vương tạp niệm” đó.

Thầy nói đúng. Tôi muốn khắc tượng một chú mèo đáng yêu, nên đã vẽ nháp hình một chú mèo lông dài lên gỗ để bắt đầu khắc, nhưng cuối cùng, khúc gỗ lại trở thành một con cú. Chắc hẳn đó là hình dáng mà khúc gỗ muốn trở thành.

Tối Chủ nhật.

Khi nhận được cuộc gọi đó từ Honda, thứ ngay lập tức hiện lên trong đầu tôi chính là lời của thầy giáo năm xưa, hãy để trái tim trống rỗng. Tôi nghĩ, liệu Bão có nhớ câu đó không nhỉ. Tôi thầm nghĩ trong lòng rằng, vì Bão đang bí không biết viết tiếp tác phẩm ra sao, vì thế nên bản tháo mới bị chậm.

“Xin lỗi chị. Lần này phải gây phiền phức đến chị rồi.”

Honda mở lời xin lỗi tôi.

Bản thảo chương ba của truyện “Mèo ăn vụng và bác du mục” theo kế hoạch sẽ được chuyển tới vào trung tuần tháng Năm, nhưng cuối tháng cũng không được chuyển tới, tháng Sáu cũng không được chuyển tới. Cuối cùng không thể đăng tác phẩm trên số ra tháng Tám như dự định ban đầu, nhà xuất bản phải vội vàng lập một kế hoạch chuyên đề khác để lấp các trang trống.

“... Gần đây tôi luôn bị công việc đó đuổi theo nên không liên lạc với chị kịp thời được, xin lỗi chị. Từ giờ khi bản tháo được chuyển tới, tôi sẽ lập tức mang nó tới buổi họp và cùng mọi người cân nhắc xem nên đăng nó trên số thứ mấy, còn hiện nay thì tôi chưa thể nói được gì. Nghĩa là chúng tôi đành phải phiền chị Kakehashi chờ đợi vậy.

“Thật đáng tiếc.” Tôi nói.

Vừa hôm trước Honda còn kể với tôi qua điện thoại rằng truyện “Mèo ăn vụng và bác du mục” từ khi bắt đầu được đăng dài kỳ đã nhận được phản hồi của độc giả nhiều hơn mức dự đoán trước đó rất nhiều, nam nữ thuộc nhiều độ tuổi đã gửi rất nhiều tấm thẻ độc giả[1] ghi “Rất thú vị” tới tòa soạn.

“Thực lòng rất xin lỗi chị ạ.”

Cách nói chuyện rất đúng lễ nghĩa của cô khiến cho hình ảnh tay siết chặt ống nghe, đầu cúi thấp xuống của Honda chợt hiện lên trong đầu tôi. Để an ủi Honda, tôi nói một cách chân thành:

“Không sao đâu chị. Lịch của tôi dễ điều chỉnh lại lắm, nên chị không cần bận tâm đâu. Dù sau đó tôi sẽ phải vẽ gấp cũng không sao. Tôi có thể tùy cơ ứng biến được. Chắc chị Honda còn vất vả hơn tôi nhiều. Trước đây, khi còn làm việc cho công ty biên tập, tôi cũng đã trải qua chuyện này nhiều lần. Nhưng dù có bận đến mấy, nếu bản thảo được chuyển tới sau đó thật hay thì cũng đáng, chị nhỉ?”

“Cảm ơn chị. Được chị thông cảm như vậy, tôi thật...”

Nói tới đó, giọng Honda chợt nghẹn lại trong cổ họng.

Tôi ngạc nhiên. Hành động khóc khi nói chuyện điện thoại không hợp với cô ấy. Đối với Bão, người đã dồn cô ấy tới mức đó, tôi vừa có chút giận, vừa cảm thấy buồn một nỗi buồn không thể giải tỏa, những cảm xúc ấy cứ dâng lên trong lồng ngực tôi.

“Thực ra...”

Lý do khiến Honda khóc hóa ra không phải chỉ là do bản thảo bị chậm.

“Thực ra, lúc này tôi đang gọi điện cho chị từ nhà tôi. Tôi đang lo lắng một chuyện. Tôi đã rất lưỡng lự không biết có nên kể cho chị Kakehashi nghe không, cuối cùng tôi quyết định là vẫn nên kể trước cho chị nghe thì hơn... Hiện tại, chúng tôi đang không nắm được tung tích của anh Igarashi chị ạ. Gần đây, chúng tôi không có cách nào có thể liên lạc với anh ấy. Chúng tôi không biết anh ấy đã đi đâu, có khỏe mạnh hay đau ốm gì không...”

Cô nói, thông tin cuối cùng mà anh liên lạc về là, anh đã trả căn hộ thuê ở thị trấn Sintra ở ngoại ô Lisboa, thuê một chiếc ô tô và tự lái tới Tây Ban Nha. Bão nói anh đã tìm thấy một ngôi làng quê rất ưng ý ở Tây Ban Nha, anh sẽ lưu lại đó một thời gian và anh hứa với Honda là sẽ viết liền mạch xong chương ba và chương cuối cùng của truyện.

Từ đó đã ba tháng. Bão vẫn chưa liên lạc lại với cô.

“Cứ nghĩ tới chuyện anh ấy có thể đã gặp phải rắc rối gì ở đó là tôi lại thấy lo lắng... Dù anh ấy không sáng tác được, thì ít nhất cũng cho tôi biết nơi anh ấy ở, gọi một cuộc điện thoại về nhà, như vậy sẽ đỡ lo chừng nào...”

Đưa tay che đi ánh sáng của vầng trăng đột ngột lọt qua đám mây đang che phủ bầu trời đêm nhìn từ ban công, tôi nghĩ.

Giọng nói này tôi đã nghe thấy ở đâu đó trước đây rồi.

Giống như cố gắng chống đỡ một mô hình đồ chơi lắp ghép sắp sửa rơi rụng ra, Honda nói.

“Chỉ là, lúc này, chỉ có thể ngồi đây chờ đợi mà không thể làm gì khác, thật là khổ sở... Xin lỗi chị, tự nhiên tôi lại nói những lời giống như than vãn này...”

Phải rồi, giọng nói này chính là giọng nói của tôi mười năm trước.

Là giọng nói của tôi trong những tháng ngày mệt mỏi, sốt ruột chờ đợi Bão, người không biết khi nào mới trở về. Những tháng ngày không đếm hết những đêm mất ngủ...

Tôi nghĩ, có lẽ Honda lúc này đang ở “trên lằn ranh”.

Tình yêu luôn đặt phụ nữ trên những lằn ranh, bất chấp ý muốn của người đó. Xấu xí đi vì yêu. Đẹp đẽ hơn vì yêu. Chính là ranh giới đó.

“Chị Honda thực ra rất thích anh Igarashi, phải không?”

Tôi nói. Dịu dàng hết mức có thể. Giống như nhẹ nhàng soi chiếu cô ấy, nhẹ nhàng ôm lấy cô ấy. Không hiểu sao tôi có một suy nghĩ rất vô nghĩa rằng, nếu không nói như vậy, chúng tôi sẽ không thể kết thúc được cuộc gọi này.

“Không, chuyện đó...”

Câu nói đứt quãng ở đó. Sau một thoáng, như thể cô vừa cố nén khóc, hoặc vừa lau giọt nước mắt trên gò má, cô nói như thể vừa hạ được quyết tâm:

“Trước đây khá lâu, từng có thời gian chúng tôi hẹn hò nhau, dù thời gian đó rất ngắn ngủi. Nhưng bây giờ... Chuyện này nói trên điện thoại thực không tiện... Lần tới khi gặp, tôi sẽ xin kể nhiều hơn.”

Trong lời nói của cô có một thứ tình cảm mãnh liệt, được truyền qua đường dây điện thoại, như thể rót thẳng vào tai tôi. Trước đây tôi cũng đã từng... Vừa nghĩ như vậy, tay tôi vừa khẽ đặt lên trên lồng ngực mình.

Trước đây từng có lúc tôi cũng phiền não như thế này.

Trước đây từng có lúc...

“Xin lỗi chị. Tôi thật là, lẫn lộn việc công việc riêng quá. Phiền chị phải nghe nhiều chuyện nhàm chán rồi. Tôi sẽ gọi lại sau. Chào chị ạ.”

Lúc cuối, Honda nói hấp tấp mấy câu và đặt ống nghe xuống trước.

Một lúc lâu, tôi vẫn chưa thể rời mắt khỏi máy điện thoại.

Tôi cũng từng có những ngày tháng nhìn máy điện thoại và chờ đợi cả đêm, dù cuối cùng không hề có cuộc gọi đến. Chắc chắn giờ đây Honda cũng đang trải qua những đêm ròng như vậy. Những đêm cô đơn một mình, hoàn toàn lạc lối. Hay là rút dây điện thoại bàn ra, còn điện thoại di động thì tắt nguồn? Nếu làm như vậy, sẽ không còn phải băn khoăn việc có điện thoại gọi đến hay không nữa. Nhưng sẽ không thể trấn áp được trái tim đang quẫy đạp trong lồng ngực mình, lên tiếng rằng nó không thể làm điều đó.

Căn phòng mà tôi sống bốn năm cùng Bão nằm trên tầng hai của một tiệm sửa tóc.

Ngôi nhà nằm ở khu phía sau trạm cảnh sát, băng qua phố Oume và rẽ vào một con đường nhỏ là tới. Ở nơi đó, một con phố nhỏ như bị cả thế giới bỏ lại - và vì thế bảo tồn được tất cả những gì quan trọng nhất - đang sống một cách khiêm nhường.

Khu phố nhà dân cũ kĩ uốn cong mình như đang vây lấy ngôi trường cấp Hai công lập được để sót lại. Gần đó, tầng một của các căn nhà nguyên căn - thay vì các tòa nhà nhiều tầng như bình thường - trở thành cửa hàng. Cửa hàng rượu, cửa hàng hoa quả, tiệm giặt đồ, cửa hàng xe đạp..., những cửa hàng này nối tiếp nhau, giữa chúng là một công viên trong lành, hoặc một ngôi đền, một tiệm cà phê.

Tiệm cà phê quen thuộc của tôi có tên là “Cherry Blossom”. Ông chủ sẽ đứng bên trong quầy thanh toán, xay hạt cà phê và pha cà phê thủ công cho chúng tôi. Khách hàng dần có thể tự chọn một chiếc cốc mình thích trên tủ đồ trang trí. Ngoài cà phê và trà, quán còn phục vụ mì spaghetti rau củ và nước sốt thịt, cà ri và mì xào. Trên dãy phố đó còn có một quán rượu quen mà chúng tôi hay đến, một cửa hàng đồ ăn Trung Hoa mà chúng tôi hay đặt món giao về tận nhà, cạnh đó có một tiệm sửa tóc tên là “Tiệm làm đẹp Kumiko”.

Chúng tôi thuê phòng ở tầng hai của căn nhà đó, dần dần chúng tôi dùng cầu thang sắt cạnh nhà để đi lên tầng. Tầng hai được sửa sang lại như một căn hộ chung cư nhỏ, phòng chỉ rộng sáu chiếu, nhưng có kèm theo phòng bếp, phòng tắm và nhà vệ sinh, tiền thuê là năm vạn yên.

Chủ nhà là một phụ nữ ở giữa độ tuổi bốn mươi, tên Kumiko. Chị sống tại nhà riêng ở một chỗ khác, ngày ngày tới “Tiệm làm đẹp Kumiko” làm việc, một mình quán xuyến cửa tiệm này.

Không biết chị có chuyện gì, nhưng chưa bao giờ thấy chị nhắc đến chồng, con hay người thân nào của mình. Có thể chị là người độc thân.

Tôi khi đó rất thích chị Kumiko. Bốn năm liền, chị luôn cưng chiều tôi như em gái, như con gái mình. Có chuyện gì chị cũng lắng nghe và cho tôi lời khuyên, vỗ về tôi; những khi tôi khóc vì cãi nhau với Bão, chị đều lặng im ôm tôi vào lòng. Chị là một người thật ấm áp với trái tim thật trong lành.

Chị cắt tóc miễn phí cho tôi, đổi lại, đợt nghỉ hè ở công ty hay các dịp đầu năm cuối năm tôi đều phụ giúp công việc ở cửa hàng cho chị. Tôi sẽ nhận điện thoại đặt chỗ, lau dọn nền nhà, gội đầu cho khách, giúp cuốn lô tóc; những lúc kênh truyền hình phát chương trình Kouhaku hay khi chuông chùa đêm Giao thừa vang lên, hầu như tôi đều xem và nghe khi ở trong tiệm sửa tóc.

“Chị Kumiko ơi, em về rồi này.”

Không biết từ khi nào, mỗi lần về nhà, đầu tiên tôi sẽ chào chị Kumiko ở tiệm làm tóc tầng một trước rồi mới lên phòng mình.

“Chị có món táo hầm đậu này, em mang lên ăn không? Có cả cải thảo muối nữa.”

Chị Kumiko sẽ nói một câu đại loại như vậy để chào đón tôi.

Nếu khách hàng hỏi “Em gái chị đấy à?”, chị sẽ đáp là “Vâng, đúng vậy”.

Khi tôi ôm hộp đồ ăn được chị Kumiko cho và chạy lên tầng hai, mở cửa ra, Bão thường ngồi trước chiếc bàn viết kê cạnh cửa sổ, vừa nhả ra khói thuốc vừa cúi đầu xuống tờ bản thảo.

Ban đầu anh ngồi quỳ gối, thẳng lưng rồi bắt đầu viết. Dần dần tư thế ngồi của anh bị lệch đi, khi tâm trạng anh phấn chấn, anh nằm nhoài cả ra bàn, khi sực nhớ ra, anh lại ngồi thẳng lại. Sau khi viết được một đoạn ưng ý, anh ngồi khoanh chân, trau chuốt kĩ càng. Viết được một số trang kha khá rồi, anh sẽ nằm lăn ra, vừa đọc vừa viết bổ sung bằng bút mực đỏ. Cuối cùng anh tập hợp chúng lại và chép lại cho sạch sẽ. Đó là cách làm việc của Bão.

Bão làm thêm công việc bảo vệ tòa nhà vào ban đêm. Anh sẽ thức dậy lúc quá trưa, rồi ngồi viết cho tới gần sát giờ đi làm buổi tối. Tôi làm việc ở ngay công ty biên tập gần đó, nên có những ngày chiều tối tôi sẽ về phòng một lúc, cùng Bão ăn tối, sau đó lại quay lại công ty làm việc tới nửa đêm.

Sáng hôm sau, tôi ăn sáng cùng Bão khi ấy vừa đi làm về, sau một cuộc yêu vội vã, tôi sẽ đi làm hoặc đi gặp khách hàng. Cũng có khi sau cuộc yêu, chúng tôi sẽ nằm ngủ nude bên nhau, da thịt tôi và anh dính liền khăng khít, trong một chốc ngắn ngủi.

“Em về rồi đây.”

Tôi ném đôi giày xuống “bịch” một cái, rồi chạy tới cạnh Bão.

“Anh chăm chỉ quá, Bão ơi! Hôm nay việc viết lách thế nào anh?”

Có những hôm anh sẽ nhại giọng miền Tây để trả lời tôi:

“Không được! Anh đang quay cuồng như vũ bão đây. Tới gần anh nguy hiểm lắm! “

Cũng có những hôm anh trêu đùa bằng mấy câu kỳ cục, lẫn cả giọng vùng Okayama hay Hiroshima:

“Chán lắm, chán lắm, chẳng ra đâu vào với đâu cả!”

Đám tàn thuốc chất đống trong những chiếc gạt tàn bày trên bàn hay quanh đó đã kể lại cuộc chiến quyết liệt của Bão ngày hôm ấy. Những ngày anh viết trơn tru thì tàn thuốc vô cùng ít, nhưng những ngày đó cũng vô cùng ít ỏi.

Tôi nhẹ nhàng ôm lấy Bão từ phía sau.

“Em nhớ anh quá, vũ bão của em ạ.”

Tôi dồn nén nỗi nhớ nhung lại thật chặt, biến nó thành một câu nói nồng ấm và trao cho anh. Dù chúng tôi sống cùng nhau, dù chúng tôi vừa gặp nhau vào buổi sáng, dù chúng tôi vừa “yêu” nhau mấy tiếng trước, nhưng mỗi lần được gặp Bão, tôi vẫn vô cùng vui sướng và đều vô tình quấn lấy anh.

Sau đó, tôi sẽ nhặt từng tờ bản tháo được cho là viết hỏng đang nằm rải rác trên mặt chiếu, những tờ nào bị vo tròn thì tôi sẽ mở ra và vừa xếp chúng lại thành một sấp, tôi vừa nói:

“Những tờ giấy này bỏ đi thật hả anh?”

Một khi đã tập trung vào việc gì, Bão sẽ không còn để ý đến bất kỳ việc gì khác nữa. Anh sẽ nhầm ngày giờ buổi hẹn, đi quá ga tàu, ở ga chuyển tàu sẽ lên nhầm tàu đi về phía ngược lại, lúc cần tới Tachikawa thì lại đi Ichikawa... Nếu đếm ra thì cả ngày chẳng hết. Anh cũng hay nhầm tờ bản thảo quan trọng mình vừa viết xong thành một tờ bản thảo thất bại, rồi tự mình vo tròn nó và ném vào thùng rác.

“Anh xem thử đi mà. Những trang này bỏ đi được phải không anh? Này, anh nghe em nói không?”

Bão vừa lơ đãng trả lời “À”, “Ừ”, vừa ngoảnh lại, giả vờ cằn nhằn:

“Ôi, luồng suy nghĩ của anh thế là đứt đoạn cả. Anh đang viết đoạn hay nhất một cách rất ngon trớn đây, đừng chen vào nữa, cái cô tiên lá này.”

Trong giọng nói ấy rõ ràng thấm đượm sự vui sướng. Tôi biết, đó chính là bằng chứng rằng tâm trạng Bão đang rất tốt.

“Xin lỗi, em vừa làm phiền anh à?”

“Ừ, em vừa làm phiền anh. Nên phải phạt em mới được. Tới đây nào.”

Những ngày tâm trạng tốt, trước bữa tối, như thể hối tiếc những giờ phút ngắn ngủi trước khi Bão phải đi làm, chúng tôi “yêu” nhau mê mải. Bỏ qua cả bữa ăn, chúng tôi khao khát chiếm giữ hơi ấm của nhau, tình cảm nồng nhiệt của nhau, dục vọng của nhau, đến những mảnh ghép cuối cùng.

Khi đó chúng tôi hai mươi tư tuổi. Chúng tôi đòi hỏi nhau, dâng hiến cho nhau, cướp đoạt lẫn nhau, rồi lại đòi hỏi. Chúng tôi tin không một chút nghi ngờ rằng yêu một người chính là như thế.

Thời gian đó, Bão đang sáng tác để gửi tới một tạp chí văn nghệ. Anh viết rồi gửi, viết rồi gửi, khi bản thảo không được sử dụng và bị trả lại anh sẽ viết lại nó rồi lại gửi đi, lại không được chấp nhận, cứ luẩn quẩn mãi như vậy.

Nhưng,

“Anh không có thời gian để chán nản đâu.”

Bão luôn luôn lạc quan và nỗ lực như thế.

Chướng ngại vật đứng đó không phải để giữ chúng ta ở dưới thấp, trái lại, nó sẽ giúp chúng ta lên cao hơn. Có lẽ khi đó Bão vẫn ở trong giai đoạn tin tưởng điều ấy - khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, tựa như khoảnh khắc ngay trước khi một sợi chỉ mong manh đứt tung khi bị kéo căng vậy.

Từ hồi trung học Bão đã luôn gửi tác phẩm tham dự giải cây viết mới của một tạp chí văn nghệ, và khi Bão hai mươi mốt tuổi, tác phẩm “Vết chân” của anh đã lọt vào vòng chung kết. Tuy cuối cùng không được giải, nhưng “Vết chân” lại được một nhà văn - thành viên ban thẩm định giải - hết lời khen ngợi, và nó đã được đăng tải trên tạp chí với tư cách tác phẩm đạt “Giải khuyến khích đặc biệt từ hội đồng thẩm định”. Sau đó, tuy số lượng không nhiều, nhưng có một số báo và tạp chí đã có những nhận xét tích cực về tác phẩm ấy. Bão bừng bừng khí thế bắt tay vào viết tác phẩm tiếp theo. Nhưng năm sau, do tình hình kinh doanh của công ty đình trệ, tờ tạp chí đó bị ngừng phát hành, người biên tập phụ trách Bão bị chuyển qua làm ở phòng kinh doanh, anh đã mất đi nơi đăng tải tác phẩm của mình.

Ngày gặp lại nhau sau mười năm tại đền Nariko, Bão cười nói:

“Chuyện thật giống chiếc bánh mì trong trò chơi thi ăn bánh mì[2], em nhỉ?”

Nhà văn năm xưa đánh giá cao tác phẩm của Bão khi tuyển chọn tác phẩm cho giải thưởng cây viết mới đã giới thiệu với Bão - khi ấy đang ngược xuôi lặn lội tìm kiếm tạp chí đăng tải tác phẩm của mình - một tạp chí văn nghệ có tiếng và cũng thực sự có chất lượng. Giống như một sợi tơ nhện mỏng manh lại một lần nữa được thả xuống trước mắt Bão vậy[3]. Khoảng một năm sau đó thì chúng tôi gặp lại nhau và bắt đầu sống chung.

Chuyện sau này chỉ là suy đoán của tôi thôi, nhưng tôi đoán Bão và người biên tập không hợp nhau. Hoặc là mối quan hệ giữa nhà văn đã giới thiệu anh với người biên tập nọ đã xấu đi.

Đặt tờ bản thảo bị trả lại với chi chít lỗi sửa đỏ chói -mà Bão gọi là “đầy máu” - sang bên cạnh, Bão cần mẫn viết lại tác phẩm trong nhiều tháng trời. Nhưng cuối cùng, có những tiểu thuyết dài bị trả lại với lời nhận xét “Sửa đi sửa lại nhiều quá khiến tác phẩm mất hết khí thế ban đầu”, lại có những tiểu thuyết ngắn và trung bình của anh bị cự tuyệt thẳng tay với các nhận xét “Quá mức nhạt nhẽo”, “Cái này không thể gọi là tiểu thuyết được”, “Viết như học sinh tiểu học ấy”.

“Anh thấy mình như con rối trong trò đập rối[4] ấy em ạ.”

“Khó chịu thật anh nhỉ. Họ thì đập được bao nhiêu là đập, có khi vừa đập vừa thấy sung sướng nữa.”

“Nhưng anh sẽ không bỏ cuộc đâu. Nhất định không.”

“Vâng. Em cũng nhất định sẽ ủng hộ anh tới cùng.”

Đã có những lúc hai chúng tôi đồng tâm hiệp lực, chiến đấu ngoan cường như thế.

Như thể để xứng với số trang bản thảo không được tiếp nhận, số rượu bia Bão uống cũng tăng lên. Ban ngày anh uống rượu ngoài hàng quán, rồi ngủ lăn lóc trên ghế đá công viên tới chiều muộn, nghỉ việc không thông báo, đi lang thang đâu đó tới hai, ba ngày không về phòng. Nhưng cũng có lúc tưởng anh đang đi lang thang đâu đó, thì hóa ra anh đã vừa uống viên thuốc tỉnh ngủ, vừa viết liên tục suốt đêm, tới nơi thì đã thấy anh ngủ gục rồi.

Dù như vậy, Bão vẫn không dừng viết, không bỏ cuộc. Bão vẫn tiếp tục cắm mặt vào các trang bản thảo để viết tiếp tác phẩm, dẫu việc anh đang làm giống như lấy răng gặm đá đi nữa.

Có lẽ trên đời này có những người mà nếu họ không viết, không sáng tác ra những câu chuyện - không tiếp tục nói dối - thì họ sẽ không thể sống nổi, và Bão là một người trong số đó. Giờ đây, tôi đã hiểu được điều này.

Nhưng khi đó, tôi đã không hiểu.

“Anh không hiểu nó có chỗ nào không tốt nữa.”

Mỗi lần nhìn thấy Bão ôm đầu trước tác phẩm bị trả lại đặt trên bàn, tôi đều phải cố gắng hết sức để câu nói đã lên tới cổ họng tôi xuống, “Hay là anh dừng lại đi. Công việc này vất vả quá.”

“Này Konoha, khi nào có thời gian, em sẽ đọc thử giúp anh chứ?”

Tôi đã từng đọc một vài tác phẩm của Bão. Tiểu thuyết của anh, kể cả cuốn duy nhất được xuất bản là cuốn “Vết chân”, đều lấy chủ đề về sự tan vỡ và hồi sinh của gia đình.

“Cho anh biết cảm nhận chân thực của em. Anh sẽ không giận đâu, nên cứ nói tất cả những gì em nghĩ.”

Thấy Bão nói vậy, tôi bối rối nhưng vẫn quyết định trả lời:

“Chuyện khó quá, em không hiểu được hết...”

“Khó chỗ nào cơ?”

“Em không biết nói sao...”

Tôi không thể diễn đạt một cách rành rọt. Rốt cuộc nó khó ở chỗ nào, tại sao lại như vậy. Nếu nói đúng như những gì tôi nghĩ, thì tác phẩm đó thật u tối, vô cùng nặng nề, giống như chỉ có cửa vào mà không có lối ra.

“Xin lỗi anh, em cũng không hiểu nữa...”

“Chắc là những người lớn lên trong hạnh phúc như Konoha sẽ không thể hiểu được tiểu thuyết của anh đâu nhỉ.’’

“Em nghĩ không phải vậy đâu...”

Trước lời nói giống như một tiếng thở dài buông ra cùng làn khói thuốc ấy, tôi không biết nói gì khác.

Nhưng cũng có lúc, chợt nghĩ ra, tôi nói với anh thế này:

“Sao anh không thử viết một cái kết mang lại nhiều hy vọng hơn một chút? Cả câu chuyện u ám bi thảm cũng không sao, chỉ cần đoạn cuối tươi sáng hơn, nhìn thấy ánh sáng hy vọng, thì chắc chắn khi đọc em sẽ thấy rất vui sướng... rằng thật may là mình đã đọc nó. Như vậy đơn giản quá à anh?”

“Ý em là biến chuyện thành câu chuyện có hậu? Kiểu khiến người đọc nhẹ nhõm kêu lên “May quá, tốt quá” ấy hả?”

“Không hẳn vậy...”

“Anh không viết được chuyện có hậu đâu. Vì nghe giả tạo lắm. Ngay cả đọc anh cũng không thích. Những chuyện đọc lên mà không thích thì anh sẽ không thể viết được.”

Trái ngược với Bão đang trăn trở vất vả, công việc của tôi rất thuận lợi.

Công việc hằng ngày rất vui vẻ, không khí trong công ty rất dễ chịu, và không biết bắt đầu từ khi nào, có những nơi bắt đầu nhờ cậy riêng tôi làm việc giúp họ sau khi họ thấy tranh minh họa của tôi trên báo. Vợ chồng bác Matsuoka - giám đốc công ty - cũng rất ủng hộ tôi: “Một ngày nào đó cháu nên làm việc độc lập với tư cách một họa sĩ minh họa tự do. Khi đó bác sẽ chuyển bớt phần việc của công ty sang cho cháu.” Tôi nghĩ so với bạn bè đồng trang lứa, thu nhập của tôi còn nhỉnh hơn họ.

Từ đáy lòng mình, tôi muốn hỗ trợ Bão.

“Nếu anh muốn làm như vậy, chi bằng hãy bỏ hẳn việc làm thêm và chỉ chú tâm vào viết tiểu thuyết thôi? Phí sinh hoạt thì em nghĩ lương của em cũng đủ trang trải anh ạ.”

“Ý em là muốn anh làm kẻ ăn bám em sao?”

“Vì em thích anh tới mức muốn dùng dây[5] để trói anh lại với em mà.”

Bão liền cúi xuống bò bằng tứ chi, bắt chước một chú chó.

“Đào chỗ này lên cho chị nào, gâu gâu!”

Tôi vừa nói vừa bật cười. Từ đáy lòng mình, trái ngược với những trăn trở của Bão, chỉ cần được ở bên anh, tôi đã thấy hạnh phúc rồi.

Một ngày, cuối cùng Bão cũng đã hoàn thành “tác phẩm ưng ý” của mình.

“Nếu tác phẩm này cũng không đạt thì anh sẽ từ bỏ nghiệp viết.''

Tác phẩm với độ dài 557 trang bản thảo, mỗi trang bản thảo 400 chữ.

Tên của nó là “Một chuyến lãng du”.

Chỉ cần nhìn tập bản thảo dày cộp được xếp chồng lên nhau trên bàn là sẽ thấy nhiệt huyết đong đầy của Bão ngùn ngụt tỏa ra từ đó. Chạm vào nó, cảm giác như có luồng điện chạy qua người. Để viết được tác phẩm này, Bão đã phải nỗ lực quên ăn quên ngủ trong khoảng ba tháng trời.

Nhìn Bão gầy rộc đi, vai gồng lên, chỉ có đôi mắt phát sáng long lanh, tôi nói:

“Em muốn xin anh một việc. Lần này, bản thảo này, anh cho phép em đánh máy lại sạch sẽ bằng máy tính nhé?”

Đó là ý tưởng mà tôi đã gợi ý Bão mấy lần trước đây rồi, và mỗi lần đều bị anh từ chối.

Nếu chuyển nó thành dữ liệu trên máy tính, thì giả như lại bị trả lại với chi chít nhận xét đỏ lòm, anh vẫn có thể in lại và đưa cho người khác đọc thử giúp, ngay cả khi viết lại, thì mọi việc không phải sẽ đơn giản hơn sao? Tôi nhấn mạnh ý mình.

Trong công việc, ở công ty, đôi lúc tôi cũng phải đọc bản thảo của người khác. Nhưng nếu người đó viết tay, thì chỉ cần như vậy thôi tôi đã thấy khó đọc rồi. Nhưng tôi kiềm chế không nói với Bão điều đó. Lý do là vì khi tôi nhắc tới điều đó lần trước, tôi đã nhận phải phản ứng rất dữ dội của anh.

“Konoha à, em đừng nói ngốc. Bản thảo là thứ mà từng chữ từng chữ trên đó đều thấm đẫm linh hồn của người viết, linh hồn đó thoát ra từ cơ thể, truyền đến tay và thấm vào các con chữ. Vì thế nên nó bắt buộc phải được viết bằng tay mới được.-'’

“Không phải anh cũng dùng ngón tay để gõ bàn phím sao?”

“Các con chữ trên máy móc làm sao truyền tải được hơi ấm, mồ hôi và mùi vị cơ chứ.”

“Cách nghĩ đó của anh cũ quá rồi.”

“Không phải chuyện cũ hay mới. Anh có cách làm của anh. Tiểu thuyết của anh, dù thế nào anh cũng phải tự tay mình viết ra.”

Thuyết phục Bão thay đổi suy nghĩ ngoan cố đó đi, với khả năng của tôi, thực là một công việc vô cùng nan giải. Thế nên tôi vẫn không nghĩ Bão sẽ dễ dàng đồng ý với tôi lần này. Nhưng trái với dự đoán của tôi, Bão nói:

“Vậy thì anh nhờ em nhé.”

Thành thật tới mức tôi lỡ mất một nhịp.

“Ơ, thật ạ?”

“Ừ, anh sẽ trả cả tiền làm thêm cho em nữa. Nếu em không phiền đợi tới khi anh được trả tiền bản thảo.”

Hắn là Bão đã cân nhắc điều gì đó theo cách của riêng mình. Có lẽ anh đã bắt đầu nghĩ rằng, có lẽ anh nên thay đổi cách làm thì hơn chăng.

Tôi xin phép giám đốc sử dụng máy tính của công ty sau giờ làm để đánh máy bản thảo của Bão. Một ngày bốn tiếng, sau sáu ngày, tôi đã đánh máy xong 557 trang bản thảo.

Khi tới đoạn cuối cùng, tôi nhận ra có hai dòng nước mắt đang lăn trên má mình.

Những giọt nước mắt có lẽ có cùng nhiệt độ với thân nhiệt của tôi. Tôi không lau nó đi mà tiếp tục nhìn màn hình máy tính. Giọt nước mắt rơi ra lặng lẽ, nhưng trái tim tôi thì khóc lóc thê thảm.

Cho tới lúc đó, tôi cũng từng khóc khi xem phim rạp hay phim truyền hình, nhưng tôi chưa từng khóc khi đọc sách bao giờ. Đó là lần đầu tiên tôi khóc khi đọc những dòng chữ trên máy tính. Tôi nghĩ, dù người viết tác phẩm này không phải là Bão, tôi vẫn sẽ khóc như thế.

Nếu tóm tắt cốt truyện “Một chuyến lãng du” chỉ bằng một câu, thì đó là chuyện một người đàn ông đi lang thang khắp Nhật Bản để tìm lại từng người thân trong gia đình, sau khi gia đình anh ta bị ly tán do cả trời hại và người hại. Cuối cùng, gia đình đó không thể đoàn tụ thành một mối như ban đầu, nhưng khi đọc tới đoạn cuối, độc giả sẽ nhận ra. Rằng tuy mỗi người một nơi, nhưng ở nơi nào đó, họ vẫn được gắn kết chặt chẽ với nhau.

Đó không phải là một tác phẩm gây cảm động, mà bản thân tác phẩm chính là sự cảm động. Không, nó còn vượt qua sự cảm động rất nhiều nữa. Từ “cảm động” ấy thật bất lực, thật xa lạ với những cảm động trong lòng tôi. Khi nhận ra điều đó, tôi đã hoàn toàn bị nó thu phục.

Sau khi đọc xong, tôi cảm thấy mình như nghẹt thở. Khác với những tác phẩm từ trước tới giờ, trong tác phẩm lần này - dù trong trái tim tôi vẫn còn những vết thương cào xé - dù vẫn có những nỗi đau. Tôi vẫn có cảm giác như ánh sáng hy vọng đã chiếu xuyên qua miệng vết thương đó.

Tôi tin rằng, lần đầu tiên Bão nhờ tôi đánh máy giúp, chính là do đó là tác phẩm mà Bão thực sự tâm đắc.

Trong văn phòng công ty giữa đêm, trang cuối cùng -trang bản thảo mà ở giữa trang có tiêu đề rất lớn, tên của Bão được gõ nhỏ nhỏ bên cạnh - được in và đẩy ra sát lề, sau khi tôi xếp nó lên trên cùng tập bản thảo, tôi chạy ra khỏi tòa nhà, hưng phấn tới mức muốn bấm tất cả các nút báo cháy ở tất cả các tòa nhà nằm trong khu phố các tòa nhà cao tầng nơi Bão làm việc.

Sáng hôm sau, khi tôi cho Bão - lúc ấy vừa từ chỗ làm về - xem bản thảo tôi gõ trên máy tính, anh thể hiện niềm vui sướng trên khắp cơ thể mình.

“Chao ơi. Trông nó tử tế như thể không phải tác phẩm của anh ấy. Nó đã hoàn toàn trở thành một quý ông dễ thương mặc bộ vest phẳng phiu rồi. Đúng là phong thái của một đại kiệt tác.”

“Không phải chỉ là phong thái thôi đâu. Nó thật sự, thật sự rất hay!”

Tôi không thể nói được gì thêm. Tôi vui sướng. Vui sướng quá mức.

“Cho anh nghe thêm về cảm tưởng của em đi. Cụ thể chỗ nào hay nào?”

Trước câu hỏi của Bão, tôi không thể trả lời gì, vùi mình vào vòng tay của anh, tôi chỉ lặp đi lặp lại: “Em thật vui sướng vì có thể giúp ích được cho anh.”

Sáng hôm đó, sau khi gửi chuyển phát nhanh bản thảo tới nhà xuất bản từ bưu điện trung tâm Shinjuku, hai chúng tôi tới viếng đền Kumano.

“Xin hãy giúp tác phẩm lần này của anh ấy được nhận.”

Tôi khấn thành tiếng.

Khi rút quẻ, cả hai chúng tôi đều được thẻ Đại cát.

Khoảng một tháng sau.

Buổi sáng, khi đang làm việc, đột nhiên tôi cảm thấy có điềm dữ, nên sau khi cùng đồng nghiệp ra ngoài ăn bữa sáng muộn, tôi quyết định chia tay họ và ghé về phòng. Hôm đó là thứ Tư, là ngày Bão có ca làm thêm ban ngày ở công ty chuyển phát.

Tôi lấy thư từ, bưu phẩm từ hòm thư đặt dưới cầu thang.

Lẫn với hóa đơn điện thoại và vài bức thư quảng cáo, có một tấm bưu thiếp được chuyển tới. Khi vừa định cầm lên, nó chợt trượt khỏi tay tôi, rơi xuống đất. Tôi cảm thấy một dự cảm thật khó chịu. Tem được dán lên chỗ đề giá của bưu thiếp, khi nhấc lên tôi nhìn thấy những dòng chữ viết bằng bút bi hơi cẩu thả, cứng nhắc, như nét chữ của kiểu người quá mức nhạy cảm.

Đọc qua một lượt, sống lưng tôi lạnh đi. Tôi đông cứng tại chỗ, trong một thoáng không thể thở ra được.

Chào anh Igarashi Yui.

Tôi đã đọc tác phẩm của anh. “Một chuyến lãng du”. Với tư cách là một cuốn tiểu thuyết tuổi trẻ thì nó đã đạt được những tiêu chuẩn nhất định. Nhưng tôi nghĩ tác phẩm này dù sao cũng chỉ là một “Điểm giữa hành trình” mà thôi. Nếu có thể, tôi thực sự mong anh Igarashi, giờ đã đứng ở một nơi vượt lên trên tác phẩm này rồi, hiểu rằng tiểu thuyết không nên là thứ được viết nên để đạt được sự đồng cảm của người khác. Thật sự rất đáng tiếc, nhưng từ tác phẩm này, tôi không cảm thấy gì khác ngoài ước vọng tha thiết được người khác thấu hiểu mình, và tình yêu bản thân của anh Igarashi. Cách nói của tôi có vẻ nghiêm khắc, nhưng việc làm một tiểu thuyết gia không phải là một việc tương đối khó khăn, mà là vô cùng khó khăn. Trước tiên mong anh hiểu được điều đó, hiểu được rồi thì hãy bắt đầu con đường tiểu thuyết gia của mình nhé.

Chỉ có từng ấy chữ.

Cuối thư có ghi tên của người viết và ngày tháng, mặt trước có đóng con dấu mang tên công ty và tên tờ tạp chí. Nhìn chăm chăm nó một lúc, không hiểu sao tôi cảm thấy buồn nôn. Lần đầu tiên tôi thấy, chỉ một tấm bưu thiếp mỏng manh, vậy mà có thể tàn nhẫn, vô tình, đáng thương và đáng buồn như thế này. Đã vậy, người biên tập nọ thậm chí còn viết sai tên Yui[6] nữa.

Tôi siết chặt tấm bưu thiếp trong lòng bàn tay đầy mồ hôi, nghĩ.

Người biên tập này có thực đã đọc hết tác phẩm từ đầu tới cuối không? Ông ta định giải quyết mọi thứ chỉ với một tấm bưu thiếp ngắn ngủi như thế này sao? Vả lại, dù những lời ghi trong bưu thiếp này có là những nhận xét chính đáng đi nữa, thì sao ông ta dám viết sai tên của Bão, rồi vẫn để nguyên nó sai như thế mà gửi đi như vậy? Ông ta cho mình là ai chứ?

Suy nghĩ đó chẳng mất bao lâu đã biến thành cơn giận dữ.

Quá tức giận, ôm cảm giác muốn gào thét, tôi chạy lên cầu thang, đặt bưu thiếp lên trên bàn, rồi trở lại công ty. Bên trên tấm bưu thiếp, tôi để lại một tờ giấy nhắn viết vội một dòng bằng bút dạ ngòi lớn.

“Anh không thể thua một kẻ như thế này được!

Em sẽ luôn sát cánh bên anh!

Nàng tiên lá.”

Buổi chiều, khi làm việc, trong đầu óc đã dần bình tĩnh lại của tôi, một ý nghĩ chợt nổi lên. Không biết chừng, trong lòng người biên tập viên đó có mối hận thù, sự ghen tức, hoặc sự bất mãn nào đó không thể phát tiết cũng nên. Một thứ bám dính như hắc ín. Một nỗi bất hạnh nặng nề như bùn nhão. Không phải ông ta chỉ đang lợi dụng tác phẩm của Bão, sự tồn tại của Bão, để làm cống thoát cho tất cả những cái đó thôi sao?

Nghĩa là đây không phải là vấn đề trong tác phẩm của Bão, mà là vấn đề của người biên tập. Người đó đang cố giải tỏa nỗi uất hận đen ngòm đang ký sinh trong trái tim mình bằng cách phê phán Bão. Tấm bưu thiếp đó ngay từ đầu đã được viết với mục đích duy nhất là làm Bão tuyệt vọng. Chính vì thế nên từ những dòng chữ đó tôi mới cảm thấy một thứ gì đó thật khó chịu, tựa như ác ý, tựa như hận ý vậy.

Nhờ tự mình kết luận như vậy, tâm trạng tôi đã tốt hơn một chút. Nhưng dù sao, tôi làm được như vậy cũng chỉ vì tôi là người ngoài. Tâm trạng của Bão làm sao có thể nhẹ nhàng hơn chỉ với lý do đó được.

Buổi chiều, khi tôi trở về sau giờ làm, Bão vẫn chưa về tới.

Hôm đó là ngày công việc bảo vệ đêm được nghỉ, mọi khi ba rưỡi, bốn giờ anh đã tan làm bên công ty chuyển phát, xắn tay áo lên nấu cơm chiều và đợi tôi về rồi. Hoặc cả hai sẽ tới quán rượu gần nhà, ăn, uống và trò chuyện rôm rả với đám khách quen ở đó tới khuya.

Bão không để lại lời nhắn trên bàn làm việc hay bàn ăn. Tấm bưu thiếp đã biến mất. Chỉ còn lại mảnh giấy nhắn của tôi trơ trọi nằm đó. Tôi gấp nhỏ mảnh giấy đó lại, bóp chặt trong lòng bàn tay rồi vứt đi. Có lẽ chính tin nhắn này của tôi đã làm anh tổn thương.

Nhưng rốt cuộc tôi nên an ủi anh bằng ngôn từ như thế nào?

Cảm xúc của con người, thứ không thể an ủi bằng ngôn từ ấy.

Tôi nghĩ, giá mà ngôn từ có hai tay. Như vậy những ngôn từ của tôi đã có thể ôm lấy Bão.

Đêm hôm đó Bão không trở về.

Đêm hôm sau, buổi sáng tiếp theo, tuần tiếp theo và tháng tiếp theo nữa, anh cũng không quay về.

[1] Các nhà xuất bản Nhật thường kẹp một tấm thẻ gọi là “thẻ độc giả” vào sách mà họ phát hành, thẻ này giống như một ban điều tra dành cho độc giả để biết được cảm nhận của họ về cuốn sách.

[2] Trò chơi mà bánh mì được treo lên cao bằng một sợi dây, người chơi sẽ không dùng tay hay cái gì để khều mà chỉ rướn mình lên để giật xuống ăn.

[3] Sợi tơ nhện trong văn học Nhật là biểu tượng của sự cứu giúp.

[4] Trò chơi của người Nhật. Một chiếc bệ có các lỗ hổng, con rối bên trong bệ sẽ ngoi lên từ những lỗ hổng đó một cách ngẫu nhiên và nhanh chóng hụp xuống. Người chơi dùng một cây búa nhỏ đập vào con rối trước khi nó hụp xuống, đập trúng thì ghi điểm.

[5] Từ “ăn bám” trong tiếng Nhật vốn là nghĩa bóng của từ “dây”. Một kẻ ăn bám sẽ quấn chặt lấy đối phương, giống như dây rợ khi cuốn vào người, nên mới phát sinh nghĩa bóng như vậy.

[6] Trong tiếng Nhật có nhiều từ đồng âm nhưng nghĩa và mặt chữ khác nhau, ở đây người biên tập đã nhầm tên Bão từ “有為” thành “有意”. Người Nhật rất kị viết sai tên, coi đó là một việc làm rất thát lễ.

Dịch giả: Vương Hải Yến
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.