Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DÂN SỐ

❊ ❊ ❊

Nếu tôi vẫn còn dẫn dắt Singapore ngày nay, tôi sẽ đưa ra chương trình tiền thưởng sinh con có giá trị bằng hai năm tiền lương bình quân của một người Singapore. Số tiền này đủ để nuôi dạy đứa trẻ ít nhất là đến khi bắt đầu học tiểu học. Liệu tôi có nên trông chờ số trẻ em sẽ tăng lên đáng kể? Không, tôi tin chắc rằng những khoản tiền thưởng siêu lỏn cũng chỉ tác động được đôi chút đến tỷ lệ sinh mà thôi. Nhưng tôi vẫn sẽ thưởng, ít nhất cũng thực thi chính sách này trong một năm, chỉ để chứng minh với mọi người rằng tỷ lệ sinh thấp chẳng liên quan gì tới các lý do kinh tế hay tài chính cả, chẳng hạn như chi phí sinh hoạt cao hay các bậc phụ huynh thiểu sự giúp đỡ của chính phủ. Mà tỷ lệ sinh thấp là kết quả của lối sống và tư duy thay đổi. Và nếu dùng tiền thưởng mà cũng không khuyến khích được người Singapore có thêm con, thì lúc đó chúng tôi phải thực tế và tự hỏi bản thân rằng chúng tôi còn phương án nào nữa để có thể ngăn không cho xã hội này biến mất trong vòng vài thế hệ hay không.

Năm 1959, năm đầu tiên tôi trở thành Thủ tướng, 62.000 trẻ em sinh ra tại Singapore. Trong vòng năm thập kỷ sau đó, tình hình đảo ngược. Dân số tăng gấp đôi nhưng số trẻ em sinh ra lại sụt giảm. Năm 2011, chỉ 39.654 trẻ được sinh ra. Tỷ lệ sinh trên mỗi phụ nữ đã xuống đến mức thấp từ 2,0 cuối thập niên 1980 tới mức 1,15 năm 2010, trong khi mức sinh cần thiết để thay thế dân số là 2,1. Cứ mỗi năm Thìn tới thì số ca sinh tàng lên đôi chút nhưng lượng tăng này cũng giảm dần đều theo xu hướng giảm chung.

Bất kể có phân chia dân số theo kiểu nào thì những con số cũng đang giảm dần bởi vì tỷ lệ sinh giảm trong tất cả các nhóm dân số. Tổng tỷ lệ sinh hiện nay là 1,18 (con số sơ bộ năm 2012) đối với người Hoa, 1,14 với người Ân và 1,69 với người Mã Lai. Điều đó có nghĩa là nếu không có giải pháp nào được đề ra thì người Hoa và người Ấn sẽ giảm một nửa trong thể hệ kế tiếp còn người Mã Lai sẽ giảm một phần năm. Ngày càng có nhiều người Singapore chọn không kết hôn hoặc kết hôn muộn hoặc có ít con hơn thậm chí không có con. Trong số những phụ nữ đã từng kết hôn ở độ tuổi 30'39, số con trung bình mà họ sinh ra đã giảm từ 1,74 xuống 1,48 trong một thập kỷ. Với những người trong độ tuổi từ 40 đến 49, tỷ lệ này giảm từ 2,17 xuống 1,99. Tỷ lệ những người còn sống độc thân đã tăng lên đến 45,6% đối với nam tuổi từ 30 đến 34 và 32,3% với nữ ở cùng độ tuổi.

Với mức sinh hiện tại cộng với không đón nhận người nhập cư, chỉ trong vòng một thế hệ nữa thôi, thế hệ trẻ sẽ không thể nào chịu nổi gánh nặng của dân số lão hóa. Sổ người trong độ tuổi lao động có thể hỗ trợ cho một người lớn từ 65 tuổi trở lên sẽ giảm từ 5,9 năm 2012 xuống chỉ còn có 2,1 trong năm 2030. Chỉ có loài gấu trúc mới lâm vào tình hình sinh sản tương tự - mà đấy là chúng không phải lo lắng về việc liệu có đủ nguồn lực để đảm bảo những con già trong loài được chăm lo đầy đủ.

Một số người cho rằng chương trình “Chỉ hai là đủ” triển khai những năm 1970 quá thành công của chính phủ phải chịu trách nhiệm cho những vấn để khó khăn về tỷ lệ sinh hiện tại của Singapore. Đậy là một ý kiến vô lý. Với vấn đề này, Singapore không phải là ngoại lệ. Lối sống thay đổi xảy ra ở khắp các xã hội phát triển trên thế giới, từ Nhật Bản đến châu Âu. Khi phụ nữ có học vấn và cơ hội việc làm bình đẳng, họ không còn coi vai trò chính của mình là sinh con hay chăm sóc gia đình nữa. Họ muốn được toàn tâm toàn ý theo đuổi sự nghiệp giống như đàn ông từ trước đến giờ. Họ muốn có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn. Họ muốn đi du lịch và khám phá thế giới mà không nặng gánh con cái. Họ có những kỳ vọng khác về việc có nên cưới chồng hay không, vì giờ đây họ đã được độc lập về tài chính. Không thể đảo chiều kim đồng hồ, trừ khi chúng ta muốn ngừng lại việc giáo dục phụ nữ, mà đó là chuyện phi lý.

Ở nhiều nước phương Tây lại nổi lên một nền văn hóa mới trong đó xã hội không chỉ bao dung với vấn đề sống thử mà còn với việc nuôi con ngoài giá thú. Điều này đã cải thiện tốt tỷ lệ sinh, tạo điều kiện cho nhiều trẻ em được sinh ra. Những người phụ nữ không chồng ở đây ít chịu sự kỳ thị hơn ở châu Á. Thật vậy, một số xã hội này còn phụ giúp cho các bà mẹ đơn thân rất hiệu quả và vô hình trung khuyến khích quyết định không kết hôn. Về vấn đề này, Singapore vẫn là một xã hội mang tính truyền thống châu Á hơn. Dù một số chấp nhận ý tưởng chung sống trước hôn nhân, nhưng vẫn rất ít người chấp nhận việc phụ nữ chưa chồng có con bởi vì yếu tố cấm kỵ này vẫn còn tồn tại mạnh mẽ. Nếu các chuẩn mực xã hội có thể thay đổi đáng kể thì đây có thể là một cách khả thi giúp tỷ lệ sinh tăng lên. Nhưng tôi hy vọng là các chuẩn mực xã hội sẽ thay đổi từ từ, còn chính phủ không thể đi nhanh hơn dân số được. Hơn nữa, sự gia tăng số trẻ em ngoài giá thú còn làm nảy sinh những thách thức và vấn đề xã hội khác như đã được minh chứng trong các xã hội có tỷ lệ cha mẹ đơn thân cao.

Người Singapore còn rất dè dặt về việc chấp nhận người nhập cư nhưng chúng tôi phải chấp nhận họ bởi không còn lựa chọn nào khác. Chúng ta thường không thoải mái với những người có bề ngoài, ăn nói và cư xử khác biệt với chúng ta, đó là chuyện bình thường. Ai cũng muốn nhìn thấy các khuôn mặt quen thuộc. Nhưng chúng tôi có sinh đủ con cái để thay thế chính mình hay không? Chúng tôi sẽ đối diện với thực tế và chấp nhận rằng người nhập cư là cần thiết, hay chúng tôi chỉ đơn giản cho phép Singapore thu hẹp lại, già đi và mất đi sức sống?

Giải pháp nhận người nhập cư có ba hạn chế.

Đầu tiên, họ phải đến đất nước tôi với một tốc độ vừa phải về mặt chính trị hoặc sẽ có sự phản ứng dữ dội của người dân, điều đó sẽ phản tác dụng. Là một xã hội, chúng tôi cắn phải đi đến một sự đồng thuận lượng người nhập cư bao nhiêu là hợp lý. Hiện tại, chúng tôi có thể thoải mái ở mức 15.000 đến 25.000 người nhập cư một năm. Dưới mức này và với mức sinh hiện tại sẽ không thể ngăn được dân số thu hẹp lại. Nhưng nếu chính phủ thành công trong việc giúp người dân hiểu tính nghiêm trọng của tình hình, khiến người Singapore cùng quyết tâm hành động, thì chúng tôi sẽ nâng con số này lên, nhất là trong những năm tới khi vấn đề dân số lão hóa tác động mạnh hơn đến chúng tôi.

Thứ hai, ngay cả khi người Singapore cuối cùng cũng khoan dung hơn thì vẫn còn một cấp độ mà chúng tôi không mong muốn người nhập cư vượt qua, bởi vì chúng tôi không muốn nền văn hóa hoặc các đặc tính địa phương bị thay đổi lớn bởi một nền văn hóa nước ngoài. Khi người nhập cư hiểu rằng họ là một nhóm nhỏ hơn nhiều so với người dân địa phương, họ có xu hướng muốn đồng hóa với người dân địa phương và hòa nhập với văn hóa hiện có. Nếu quá trình hội nhập không được hoàn thành trong thể hệ đầu tiên, nó sẽ được hoàn thành ở thế hệ con cái của họ. Nhưng một khi số lượng người nhập cư đạt đến con số đáng kể, thường họ lại muốn khẳng định bản thân và giữ nguyên bản sắc. Quả thực, nếu số lượng đủ lớn, họ thậm chí còn có thể áp đặt những thay đổi lên văn hóa địa phương. Nói cho công bằng, một số những thay đổi này cũng mang tính tích cực, dù nó khiến cho nhiều người bối rối. Nhưng nếu chúng tôi cho phép minh đạt tới ngưỡng đó thì chúng tôi sẽ không kiểm soát được bộ phận văn hóa nhập cư nào mình muốn kết hợp, bộ phận nào không. Chúng tôi đã chứng kiến những ví dụ về các yếu tố tiêu cực này thể hiện trong nền văn hóa. Ví dụ, những người nhập cư có thể đến từ một quốc gia có thành phần dân tộc đồng nhất hơn và không quen với việc sống chung với những người từ các sắc tộc khác. Hoặc các mối quan hệ giữa các tầng lớp xã hội khác nhau nơi họ ở có thể khác với Singapore này, nơi mọi người bình đẳng hơn. Thái độ xã hội mà họ mang theo có thể vổ tình không phù hợp với các chuẩn mực và tập quán xã hội ở Singapore và có thể dẫn đến xích mích. Chúng tôi cần phải cảnh giác trước những thái độ như vậy vì chúng có thể xâm phạm đến lối sống của mình.

Cuối cùng, các bằng chứng cho thấy những người nhập cư cũng không làm tăng tỷ lệ sinh của chúng tôi được bởi vì họ cũng đẻ ít con giống người Singapore vậy. Họ giúp thay thế số lượng thanh niên mà chúng tôi thiếu chứ cũng không đủ trẻ em để tự thay thế mình. Do đó, mỗi thế hệ những người người nhập cư không phải là cách thức giải quyết được vĩnh viễn vấn đề, mà đó chỉ là sự cứu trợ tạm thời. Chúng tôi liên tục đòi hỏi dòng người nhập cư. Do đó những gì chúng tôi thực sự cắn để thay đổi tình hình là một tinh thần sẵn sàng cân nhắc đến một lối sống khác và sẵn sàng sinh nhiều con hơn.

Nhưng ngay cả khi nhận ra những giới hạn mà vấn đề nhập cư mang lại, chúng tôi cũng phải hiểu rằng trong ngắn hạn không còn giải pháp nào khác. Chúng tôi phải mở cửa đón nhận sự đa dạng mà những con người mới đem đến đất nước. Nếu được tận dụng một cách hiệu quả, sự đa dạng trong các trường học và nơi làm việc sẽ giúp mở rộng tầm nhìn và tạo thuận lợi cho việc trao đổi các ý tưởng mang tính xây dựng. Các cư dân định cư lâu dài là những công dân tiềm năng; hoặc là chúng tôi hoặc chính họ vẫn chưa đưa ra quyết định về vấn đề làm công dân Singapore chính thức. Chúng tôi chỉ nên nhận người nhập cư ở một tốc độ mà chúng tôi có thể hòa nhập được họ, và để họ thích nghi với các giá trị và chuẩn mực của chúng tôi, để họ trở thành một tập hợp người có thể trở thành công dân chính thức. Đối với các trường hợp lao động tạm thời, chúng tôi thừa nhận vai trò tích cực của họ trong việc giúp xây dựng và cải thiện Singapore, nhưng sau khi làm ở đây vài năm họ sẽ rời đi, và Điều đó sẽ không làm tăng thêm dân số đang già đi của chúng tôi.

Tôi có bảy đứa cháu ở độ tuổi hai mươi và chưa có đứa nào lập gia đình. Tôi cho là chẳng có đứa nào có ý định kết hôn cho đến lúc ngoài ba mươi tuổi, mà đến lúc đó đã quá muộn để sinh nhiều con. Các lựa chọn của chúng cũng không khác lắm so với lựa chọn của bạn bè đồng lứa. Đó là một thế hệ khác, có những kỳ vọng khác về cuộc sống. Thật không may, khi mỗi người ra quyết định dựa vào những tính toán riêng hay thế giới quan riêng thì toàn thể xã hội đang hướng tới một nơi nguy hiểm. Các tác động đối với Singapore là khá rõ rệt. Có quốc gia nào trong thế giới này có thể thịnh vượng khi dân số giảm? Nếu tôi phải xác định một vấn để đe dọa nhiều nhất đến sự sống còn của Singapore, đó sẽ là vấn đề này. Tôi không thể giải quyết vấn đề này và tôi đã từ bỏ. Tôi từ bỏ nhiệm vụ này và giao nó lại cho một thế hệ lãnh đạo khác. Hy vọng rằng họ hoặc những người kê nhiệm họ cuối cùng sẽ tìm được một giải pháp.

Hỏi: Ngài có nghĩ rằng thế hệ lãnh đạo hiện tại có thể giải quyết vấn đề dân số?
Đáp: Cái đó thì anh phải đi hôi họ. Họ có thể làm gì khác? Phó thủ tướng Teo Chee Hean đã đưa ra Sách Trắng, một lộ trình để giải quyết các vấn đề dân số của Singapore. Hãy chờ một vài năm cho lộ trình này được thực hiện để xem các giải pháp có hiệu quả không. Mọi người hãy cho chúng tôi những ý tưởng. Nếu ý tưởng đó thực tế, chúng tôi sẽ tiếp thu chúng. Đây là sự thay đổi bản chất, thay đổi lối sống. Người Đức không sinh đủ con để thay thế chính mình vì vậy người Thổ đến nước họ để làm việc này Không có con hổ châu Á nào sinh đủ con để tự thay thế. Chỉ có người Mỹ là có thể: tự thay thế nhưng tôi nghĩ đó là do người Latinh sinh sản nhanh hơn so với người da trắng. Còn người Trung Quốc với chính sách một con sẽ phải hối hận khi thấy một đứa trẻ phải nuôi đến bốn ông bà.
Hỏi: Chúng ta có nên cân nhắc mô hình xã hội Bắc Âu, đó ai hỗ trợ rộng rãi ở cấp mầm non, ở cơ sở chăm sóc trẻ, như vậy sẽ làm vơi đi phần nào gánh nặng cho các gia đình có trẻ nhỏ?
Đáp: Không. Như tôi đã nói, các xã hội Bắc Âu hoạt động như các bộ lạc. Họ sẵn lòng chia sẻ với nhau. Tôi không tin rằng chúng ta nên áp đặt mức đánh thuế nặng lên người dân để có tiền trợ cấp. Rất có thể là với những dịch vụ chăm sóc trẻ được trợ cấp hoặc miễn phí thì tỷ lệ sinh vẫn không tăng.
Hỏi: Một vấn để khác thường gắn với trẻ nhỏ là nhà ở. Nhiều người lập luận rằng giá nhà đất quá cao. Nó lạm vào thu nhập và làm cho: việc nuôi một gia đình trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa, diện tích căn hộ càng ngày càng nhô lại.
Đáp: Đất đai có hạn. Như tôi đã nói, vấn đề gắn với những thay đổi trong lối sống chứ không phải yếu tố vật chất. Trước đây người Singapore sống trong những nơi đông đúc hơn mà vẫn có nhiều con hơn.
Hỏi: Ngài có thể xây dựng tòa nhà cao đến 50 tầng.
Đáp: Anh đã đọc bài viết của Khaw Boon Wan rồi đấy. Ông ấy phụ trách vấn để này. Ông ấy nói sẽ giải quyết vấn đề trong vài năm tới. Nhưng điều đó không có nghĩa là xây dựng những căn hộ lớn hơn. Anh nói rằng hãy xây cao lên. Nhưng nếu xây cao lên, anh sẽ phải lắp những thang máy đắt đỏ hơn, chi phí lắp đặt và bảo trì cao hơn.
Hỏi: Chúng ta phải tìm cách giảm giá nhà xuống.
Đáp: Không, tôi nói rằng chúng ta phải tìm cách để làm cho các gia đình muốn sinh thêm con. Chắc chắn là họ sẽ hạnh phúc hơn trong một căn hộ lớn hơn hoặc ít tốn kém hơn, nhưng họ sẽ vẫn chỉ sinh một con. Vấn đề nằm ở phong cách sống. Hiện tại các cặp vợ chồng không sinh đủ con để thay thế chính mình. Mức sinh đến gần nhưng không đạt mức thay thế 2,1. Và với một trong ba phụ nữ ở tuổi 30 vẫn chưa kết hôn, vậy thì ta sẽ cần những cặp kết hôn phải sinh ba con, chứ không phải hai - để bù vào phần của những người độc thần.
Hỏi: Tôi nghĩ rằng phần lớn những người chưa lập gia đình thực chất cũng muốn kết hôn. Chỉ là họ, vì một lý do nào đó, không thể tìm được đối tượng phù hợp.
Đáp: Cái “lý do nào đó” là họ có một cuộc sống thoải mái. Họ có thể nuôi sống bản thân và đủ khả năng để chờ đợi người đàn ông lý tưởng - tốt nhất là một người có thu nhập cao hơn họ. Khi người đó chưa xuất hiện, họ vẫn chưa lập gia đình.
Hỏi: Bây giờ có một số biện pháp hỗ trợ các ca thụ tinh ống nghiệm. Chúng ta có nên xem xét việc tăng các khoản trợ cấp cho hình thức nậy, nhất là khi ngày càng nhiều người kết hôn muộn hơn và có thể cần sự giúp đỡ của công nghệ học tiên tiến nhất?
Đáp: Đây là một hướng đi nguy hiểm. Anh sẽ hứng chịu mọi loại biến chứng - tỷ lệ đa thai cao, và khi người mẹ lớn tuổi, tỷ lệ sinh non cũng cao hơn. Ngoài ra, chúng ta cần có sự dung hòa. Anh không muốn khuyến khích mọi người trì hoãn hôn nhân vì tin một cách sai lầm rằng thụ tinh ống nghiệm sẽ giải quyết vấn đề con cái
Hỏi: Giả sử xã hội Singapore thay đổi dưới tác động của người nhập cư, có thay đời nào khiến ngài lo ngại?
Đáp: Điều đó còn phụ thuộc vào những người nhập cư là ai.
Hỏi: Nếu một lượng lớn những người nhập cư là từ Trung Quốc?
Đáp: Không chỉ từ Trung Quốc, mà từ những vùng khác nhau của Trung Quốc, nên anh sẽ có một cộng đồng nhiều thứ tiếng. Đúng là họ sẽ nói tiếng phổ thông nhưng tất cả đều có nguồn gốc khác nhau và họ sẽ phải thích nghi với lối sống Singapore. Nhưng nếu họ chiếm đa số, họ có thể thay đổi chúng ta.
Hỏi: Liệu có hiệu quả không nếu chúng ta đối xử theo hướng có lợi với những người đến từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc, vì hầu hết những người Trung Quốc ở Singapore có nguồn gốc từ miền Nam? Một số đã nhận định rằng những người nhập cư mới đến từ Phúc Kiến chẳng hạn có xu hướng hòa nhập tốt hơn so với người Trung Quốc từ phía Bắc.
Đáp: Không, chúng ta không chia theo tỉnh. Khả năng đồng hóa, sự đóng góp kinh tế và bằng cấp học thức mới là những yếu tố cân nhắc chính. Họ sẽ thay đổi trong một thế hệ. Con cái họ sẽ trở thành người Singapore. Chúng ta muốn những người thông minh và có khả năng chứ không phải là người Phúc Kiến hay Quảng Đông.
Hỏi: Giải pháp nhập cư cũng cớ tác động lên sự pha trộn sắc tộc.
Đáp: Đúng thế, chúng ta đang cố gắng duy trì cân bằng giữa các sắc tộc bởi vì chúng ta muốn có cảm giác mình phải sống hòa hợp với nhau; và nếu có một dòng người làm thay đổi cán cân này, chúng ta sẽ gặp vấn đề. Trong thực tế, đây là một trong những vấn đề đang diễn ra vì xét về mặt số lượng, người Ấn đang bắt kịp với người Mã Lai - không chỉ tính số công dân chính thức, mà tính cả những lao động thường trú nữa bởi vì chúng ta đã thuê những người làm trong lĩnh vực công nghệ cao và có cả bốn trường học của người Ấn ở đây nữa. Điều này đang gây ra nhiều băn khoăn lo lắng.
Hỏi: Liệu lượng người Ẩn sẽ vượt qua người Mã Lai?
Đáp: Không, họ sẽ không vượt đâu. Chúng ta sẽ không cho phép điều đó xảy ra.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.