Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 168 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHÂU ÂU - Suy vi và Xích mích

❊ ❊ ❊

Vấn đề chính của đồng euro là không thể hội nhập tiền tệ khi không có nền tảng hội nhập tài chính, nhất là trong một khu vực mà thói quen chi tiêu và tiết kiệm khác nhau một trời một vực như Đức với Hy Lạp. Sự trái khoáy này thế nào rồi cũng phá vỡ hệ thống mà thôi. Vì lý do đó, đồng euro chắc chắn sẽ còn lao đao như đã được dự báo ngay lúc nó mới ra đời. Chúng ta không nên coi những khó khăn mà đồng tiền này gặp phải trong những năm vừa qua là do một hay hai chính phủ chi tiêu vượt giới hạn cho phép hay do những quốc gia khác không cảnh báo họ về những mối nguy hiểm của việc này. Nghĩa là những rắc rối của đồng euro không phải là kết quả của một biến cố lịch sử có thể ngăn chặn được nếu các bên liên quan đưa ra những quyết định có trách nhiệm hơn trong quá trình sử dụng đồng tiền này, mà những rắc rối đó là điều không thể tránh khỏi của lịch sử sẽ phải xảy ra không sớm thì muộn. Nếu sự việc không xảy ra năm 2010 hay 2011 thì nó vẫn sẽ xảy ra vào một năm khác, trong một bối cảnh khác.

Vì thế tôi không tin rằng có thể cứu vãn được đồng euro, ít nhất là với hình thức hiện tại với 17 quốc gia hưởng chung lợi ích.

Từ khi dự án đồng euro thành hình, các nhà kinh tế học tinh tường và khả kính, trong đó có những cái tên như giáo sư Martin Feldstein của Đại học Harvard, đã lên tiếng cảnh báo về những nghịch lý trong dự án này. Người Anh không tham gia vì họ thấy trước dự án này sẽ không hiệu quả. Họ không tin vào những lợi ích và họ nhận thức rõ những rủi ro. Tuy nhiên, các chính phủ gia nhập khu vực đồng tiền chung châu Âu năm 1999, cũng như những cộng đồng dân cư tán đồng với họ, lại háo hức hướng về đồng tiền chung mà không chuẩn bị tinh thần để chấp nhận sự hội nhập về tài chính vì sợ nguy cơ mất chủ quyền khi hội nhập. Suy cho cùng, lựa chọn tiến bước cùng đồng tiền chung của họ đã phản ánh một niềm tin lệch lạc cho rằng châu Âu là nơi đặc biệt, dư sức vượt qua những mâu thuẫn này. Đó chỉ là một lựa chọn đơn thuần mang tính chính trị mà thôi.

Tại Mỹ, người ta có thể áp dụng một đồng tiền cho 50 tiểu bang bởi vì nước này có một Cục Dự trữ Liên bang và một vị Bộ trưởng Tài chính duy nhất. Khi một tiểu bang nào đó gặp khó khăn kinh tế thì tiểu bang đó sẽ nhận được những khoản trợ cấp hào phóng của trung ương dưới dạng bảo trợ xã hội cho các cá nhân sinh sống tại tiểu bang đó và cho các dự án chính phủ. Các loại thuế liên bang thu được ở tiểu bang này sẽ không đủ để bù cho khoản trợ cấp đó của nhà nước. Nếu có người ghi chép sổ sách thì họ sẽ thấy rằng tiểu bang này sẽ còn thâm hụt dài dài, nhưng tiểu bang đó vẫn tồn tại vì không ai đòi lại họ tiền cả. Dân chúng sống trong tiểu bang này là đồng bào và người dân Mỹ sống ở tiểu bang khác không thật sự mong đợi những người đồng bào đó trả lại tiền. Khoản trợ cấp đó cơ bản là một món quà.

Dĩ nhiên, thái cực còn lại cũng có hiệu quả: đó là châu Âu trước thời kỳ đồng euro với mỗi quốc gia có một bộ trưởng tài chính riêng và quản lý đồng tiền riêng của mình. Trong hệ thống này, khi một quốc gia suy thoái kinh tế, nó có thể tự mình đưa ra các chính sách tiền tệ để khắc phục tình hình vi không vướng vào những trói buộc của một đồng tiền chung, nghĩa là có thể áp dụng giải pháp gia tăng lượng cung tiền - mà người Mỹ gọi là “nới lỏng định lượng” - và phá giá đồng tiền để đẩy mạnh xuất khẩu. Nhưng đây là những công cụ mà các nước khu vực đồng euro đã từ bỏ để gia nhập một cộng đồng tiền tệ chung. Hơn nữa, họ còn làm như vậy mà không bảo đảm được là sẽ có những khoản trợ cấp ngân sách giống về hình thức và mức độ mà một tiểu bang bị khủng hoảng tại Mỹ nhận được.

Vậy ta được gì khi một đám đông hỗn tạp cố gắng hành quân theo một điệu trống? Bạn nhận được khu vực đồng euro. Một số nước vươn lên dẫn trước trong khi số khác phải vật lộn để bắt kịp. Tại những nước tụt hậu về kinh tế, chính phủ các nước này phải chịu áp lực từ cử tri buộc họ phải duy trì hoặc thậm chí gia tăng chi tiêu công ngay cả khi nguồn thu thuế giảm xuống. Thâm hụt ngân sách đành phải được bù đắp bằng các khoản vay từ thị trường tiền tệ. Việc có thể vay những khoản này với mức lãi suất tương đối thấp, vì chúng được thực hiện bằng đồng euro chứ không phải bằng một đồng tiền khác như đồng drachma của Hy Lạp, đã không hề giúp làm giảm sự chi tiêu hoang phí. Cuối cùng Hy Lạp trở thành ví dụ điển hình nhất cho sự suy thoái này khi càng ngày càng ngập sâu vào nợ nần. Nói cho công bằng thì cộng đồng chung cũng phải chịu một phần trách nhiệm, bởi vì Hiệp ước Ổn định và Tăng trưởng có quy định cho phép xử phạt những chính phủ bị thâm hụt lặp đi lặp lại, nhưng những biện pháp trừng phạt này chưa bao giờ được áp dụng lên bất cứ nước nào.

Đã có lúc những chuyên gia lạc quan hy vọng các nước này có thể thu hẹp khoảng cách cạnh tranh với những nước mạnh hơn như Đức bằng cách cắt giảm các chương trình phúc lợi, cải cách thu thuế, tự do hóa các quy định của thị trường lao động hoặc kéo dài thời gian làm việc của người lao động. Nhưng những điều đó đã không xảy ra. Các điểm yểu này chỉ bộc lộ rõ trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Việc cho vay tín dụng dễ dãi ngừng lại, và sự mất lòng tin của thị trường vào khả năng trả nợ của các chính phủ như Hy Lạp đã khiến cho lãi suất vay tăng cao ngất. Nước Đức và Ngân hàng Trung ương châu Âu buộc phải can thiệp với gói cứu trợ tài chính để ngăn chặn cuộc khủng hoảng nợ công không lây lan khắp khu vực đồng euro đang u ám.

Tới tháng 6/2013, cộng đồng euro tránh được thảm họa vì đã chi một lượng tiền lớn để giải quyết vấn đề. Nhưng 17 chính phủ cần phải đối mặt với câu hỏi khó trả lời hơn là phải làm gì để giải quyết mâu thuẫn cơ bản nhất của đồng euro là hội nhập tiền tệ nhưng không hội nhập tài chính. Họ có thể cố trì hoãn hội nhập tài chính thêm một thỏi gian nữa, dù vẫn biết rằng không thể trì hoãn vô thời hạn, nếu không lịch sử sẽ lặp lại và một cuộc khủng hoảng khác sẽ lại xảy ra, đòi hỏi những gói cứu trợ tài chính lớn hơn, và nếu một quốc gia không gánh được thì nước Đức có lẽ lại phải đứng ra gánh nợ. Họ phải hành động ngay không chần chừ vì càng để lâu thì ký ức về nỗi đau và nỗi sợ khủng hoảng nợ công càng nhạt dần trong tâm trí cử tri, khiến cho ý chí chính trị cần để hành động kiên quyết cũng sẽ bị suy yếu.

Thật khổng may, hiện nay không có sự lựa chọn nào là dễ dàng cả. Giải pháp rõ ràng là người châu Âu phải chấp nhận hội nhập tài chính. Ngân hàng Trung ương châu Âu sẽ trở thành Cục Dự trữ Liên bang, và thay vì nhiều bộ trưởng tài chính khác nhau thì sẽ chỉ có một người duy nhất giám sát ngân sách của tất cả các nước khu vực đồng euro. Đây sẽ là một động thái hướng tới một “liên minh gần gũi hơn bao giờ hết” như mong ước của những người ủng hộ Liên minh châu Âu và sẽ khiến cho khu vực này ngày càng giống với Hoa Kỳ. Liệu điều này có xảy ra không? Liệu cử tri có sẵn sàng bàn giao quyền quyết định ngân sách quốc gia cho một cơ quan trung ương và tin tưởng rằng cơ quan này sẽ đưa ra những quyết định công bằng về đánh thuế và chi tiêu cho mỗi quốc gia và đồng thời có lợi cho toàn thể khu vực đồng euro? Đó là một khả năng xa vời, và thẳng thắn mà nói thì tôi nghĩ điều đó sẽ không xảy ra. Nhưng nếu xảy ra, đó có lẽ sẽ là kết quả tốt đẹp nhất cho phần còn lại của thế giới.

Một kết quả khác có nhiều khả năng xảy ra hơn dù không mong muốn là sự tan rã của đồng tiền này đồng nghĩa với sự quay trở lại những đồng tiền riêng biệt. Sẽ rất đau đớn và rối ren cho tất cả các nước tham gia. Bạn là người Hy Lạp, Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha và đã vay tiền bằng đồng euro; bây giờ bạn phải trả lại bằng đồng euro, nhưng ở tỷ giá nào đây? Tỉ giá cũ trước khi hợp nhất? Hay một tỷ giá mới nào đó được đặt ra tùy tiện? Sự tan rã sẽ đưa đến một viễn cảnh lộn xộn và tốn kém. Và khi sắp sửa tan rã, nguy hiểm ở chỗ người ta sẽ đổ xô rút tiền khỏi ngân hàng khi các tin đồn khiến người dân sợ rằng sau một đêm những khoản tiết kiệm bằng euro này có thể bị buộc phải chuyển sang một đồng tiền mới và mất giá. Tình trạng bấp bênh này sẽ khiến những người muốn đầu tư vào khu vực tư nhân nhụt chí và đây cũng chính là một lý do khiến cho việc càng chần chừ càng nguy hiểm. Đối với các nước nằm ngoài khu vực đồng euro, nhất là những nước có lượng xuất khẩu lớn đến châu Âu như Trung Quốc, thì điều này sẽ gây ra bất ổn kinh tế đáng kể. Kết quả là nền kinh tế toàn cầu sẽ có xu hướng trì trệ một thời gian, thương mại gián đoạn rồi cũng hồi phục, và mọi thứ sẽ ổn định trở lại.

Vẫn còn một kết quả thứ ba nằm giữa sự tan rã hoàn toàn và hội nhập hoàn toàn. Đó là sự tan rã một phần. Trong trường hợp này, nhiều viễn cảnh có thể xảy ra, từ việc đồng euro sống sót nguyên vẹn và một vài quốc gia bị trục xuất, đến việc hầu hết các quốc gia đểu bị tác động khiến một số quốc gia sẽ đi con đường riêng của mình còn một số khác phải lựa chọn giữa hai hoặc ba cộng đồng mới mà các chuyên gia gọi là một châu Âu hai hoặc ba tầng, với mỗi tầng phát triển với một tốc độ khác nhau. Câu hỏi quan trọng ở đây là liệu có được một khu vực châu Âu nòng cốt, tương đối đồng nhất và khả năng cạnh tranh kinh tế, có thể đứng vững trước những lực ly tâm mạnh kéo rời các thành viên? Tôi tin rằng sẽ có một khu vực châu Âu nòng cốt như thế và nó chắc chắn sẽ được lãnh đạo bởi Đức, quốc gia chăm chỉ nhất, và gồm cả Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Tôi không nghĩ Pháp có thể trở nên kỷ luật như người Đức. Khả năng lớn hơn là họ sẽ trở thành nòng cốt cho một tầng thứ hai.

Một số người cho rằng đồng euro hay nói rộng hơn là Liên minh châu Âu nên được xem là một thành cuồng, vì thực tế thì nơi đây giờ sống trong hòa bình và chiến tranh trong cộng đồng này là điều không tưởng. Nhưng người ta cũng có thể dễ dàng lập luận rằng hòa bình là kết quả của các yếu tố khác. Hậu quả sự sụp đổ của Liên Xô đồng nghĩa với việc trong tương lai gần, Nga không còn quan tâm đến việc đối đầu với phương Tây về mặt quân sự nữa vì nước này đã và đang dồn sức cho việc phát triển kinh tế. Hơn nữa, sự đảm bảo an ninh của Mỹ thông qua tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có thể ngăn chặn được bất cứ hành động quân sự khả dĩ nào bắt nguồn từ các quốc gia ngoài NATO. Trong cộng đồng châu Âu, người Đức, vốn đã bị đánh bại hai lần trong hai cuộc chiến tranh thế giới, sẽ không bao giờ gây ra thêm một cuộc chiến nào nữa. Họ đã chịu đựng quá đủ rồi, giờ họ chỉ muốn tiếp tục cuộc sống thanh bình và thoải mái. Chính vì thế mà họ đã luôn cố hết sức để giúp đỡ các quốc gia khác.

Cuối cùng thì hậu thể sẽ nhìn nhận câu chuyện đồng euro là một câu chuyện buồn, và bất cứ nỗ lực nào nhằm cứu vớt lòng tin về mặt chính trị cho đồng tiền này cũng phải đối mặt với một thực tế lạnh lùng và tàn nhẫn.

Dù đang phải cố gắng giải quyết các vấn đề liên quan đến đồng tiền chung thì châu Âu cũng không thể rời mắt khỏi những nguyên nhân cơ bản khác gây ra sự thiếu năng động của nó, đó là hệ thống nhà nước phúc lợi và những điều luật cứng nhắc về thị trường lao động. Những ý tưởng được cho là hay và được áp dụng trên khắp châu Âu sau Thế chiến thứ hai đã dần trở nên không còn phù hợp trong những thập niên gần đây, đặc biệt với sự xuất hiện của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á. Nếu châu Âu muốn tránh tình trạng lờ đờ lâu nay và lấy lại năng lượng cũng như tính cần cù nổi tiếng khi xưa thì họ phải thực hiện các cuộc cải cách táo bạo và khó khăn để tinh giảm hệ thống phúc lợi phức tạp cũng như tự do hóa các nguyên tắc tuyển dụng và sa thải của doanh nghiệp.

Là một sinh viên học tại Anh sau chiến tranh, tôi nhớ mình đã thích thú những nỗ lực của chính phủ Clement Atlee trong việc đưa ra những khoản trợ cấp hào phóng cho mọi người từ trẻ đến già. Ví dụ, tôi rất ngạc nhiên khi không phải chi trả cho cặp kiểng mới mà bác sĩ kê cho vì nó được Cơ quan Y tế Quốc gia phát miễn phí. Tại thời điểm đó tôi nghĩ: thật là một xã hội văn minh. Mãi về sau tôi mới hiểu ra kiểu bao cấp toàn diện như vậy dễ làm gia tăng sự kém hiệu quả và trì trệ.

Ý định của việc trợ cấp là hoàn toàn đáng quý. Hai cuộc chiến tranh thế giới phá hủy gần như tất cả mọi thứ, chính phủ và người dân châu Âu muốn có một cuộc sống thanh bình cho tất cả mọi người với gánh nặng được chia đều. Những người chiến đấu và hy sinh xương máu chủ yếu là giai cấp vô sản, nó dẫn đến một cảm giác hàm ơn mạnh mẽ của tầng lớp thượng lưu đối với những tầng lớp thấp hơn trong xã hội. Vì vậy, khi các chính trị gia kêu gọi sự bình đẳng và các chính sách phúc lợi xã hội nhằm chăm sóc cho những người thất nghiệp, ốm đau và già cả, thì họ đã dễ dàng có được sự ủng hộ rộng rãi.

Trong nhiều năm liền, châu Âu đã duy trì được các chính sách này. Kế hoạch Marshall đã giúp hầu hết các nước Tây Âu tự đứng trên đôi chân của minh bằng cách tiếp sức cho một sự phục hồi tương đối mạnh mẽ từ những tan hoang của chiến tranh. Tiền lương của người lao động tăng và tiền thuế họ nộp đủ để chi trả cho nhà nước phúc lợi. Nhưng không điều gì có thể đứng yên. Với châu Âu, rốt cuộc cuộc chơi đã thay đổi. Khi thế giới trở nên toàn cầu hóa, những công nhân tay nghề thấp ở châu Âu nhận thấy họ không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà còn với công nhân từ Nhật Bản, và sau đó là từ Trung Quốc và Ấn Độ. Xuất khẩu giảm xuống và các ngành công nghiệp dần dần di chuyển những trung tâm sản xuất của họ sang châu Á khiến lương của người lao động châu Âu cũng giảm theo. Nếu không có sự xuất hiện của người Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản, nhà nước phúc lợi có lẽ vẫn bền vững được trong một thời gian khá lâu. Nhưng với hiện trạng nhập cư này, sẽ khó mà duy trì phúc lợi được lâu.

Dĩ nhiên người dân châu Âu đã cố gắng hết mình để phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và dịch vụ có giá trị cao hơn, nhưng ở mặt này mỗi quốc gia chỉ có thể đạt đến một mức độ nào đó. Quốc gia của bạn có thể muốn tiến lên cao trên thang giá trị toàn cầu nhưng có nhiều bộ phận dân cư quan trọng lại không thể đáp ứng được vì quá trình này đòi hỏi việc học hỏi những kỹ năng mới rất tốn thời gian, năng lượng, và trên hết là ý chí. Hơn nữa, người Nhật, người Trung Quốc và người Ẩn đâu phải không biết nâng cấp bản thân họ. Đây là một cuộc cạnh tranh không ngừng về tự phát triển bản thân và cái hơn của bạn so với các đối thủ ở thời điểm nào cũng thường rất nhỏ bé. Suy cho cùng, điều đó phụ thuộc vào các đặc tính bẩm sinh của một dân tộc và cách mà họ được tổ chức và quản lý. Nếu như so sánh giữa châu Âu và Fiji hoặc Tonga, thì chắc chắn hai nước sau không hy vọng gì đuổi kịp. Nhưng chúng ta lại đang so sánh giữa châu Âu với Nhật Bản, châu Âu với Trung Quốc, và châu Âu với Ấn Độ. Đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Thật không may, luật pháp và các chính sách lại không thay đổi dễ dàng như tình hình quốc tế. Phúc lợi một khi đã cho đi thì khó lòng lấy lại. Bất cứ chính phủ nào có đủ can đảm để rút lại nó chắc chắn sẽ mất rất nhiều phiếu bầu. Thủ tướng Anh Margaret Thatcher đã từng sử dụng vốn liếng và sự nhạy bén về chính trị của mình để cố gắng đảo ngược các chính sách nhưng chỉ có thể thay đổi một nửa. Các nhà lãnh đạo châu Âu khác hẳn đã quan sát và thấy được thành công một phần của bà. Nhưng các lãnh đạo này lại phải đối mặt với các cử tri không muốn từ bỏ những thứ mà họ cho rằng mình mặc nhiên được hưởng suốt nhiều năm qua. Vấn đề này đã ân sâu ở nhiều nước châu Âu.

Nếu chi tiêu phúc lợi chỉ đơn giản giữ nguyên ở một mức độ nào đó thì tình hình đã dễ kiểm soát. Thay vào đó, những chi tiêu này lại có xu hướng gia tăng qua thời gian, vừa về mặt số lượng vừa về mặt tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc gia. Điều này một phần là do những người theo chủ nghĩa dân túy tạo áp lực khiến chính phủ phải mở rộng các chương trình phúc lợi. Nhưng quan trọng hơn là khả năng kỳ lạ của hệ thống phúc lợi trong việc “tạo ra nhu cầu của chính nó”, như nhận xét sâu sắc năm 2007 của phóng viên kỳ cựu người Thụy Điển Ulf Nilsson: Phúc lợi tạo ra người hưởng phúc lợi, bảo hiểm tai nạn làm tăng thêm tai nạn... chính sách bảo vệ người tị nạn tạo ra thêm người tị nạn, chính sách nghỉ hưu trước tuổi lại khiến người ta nghỉ hưu sớm. Nói cách khác, một số người dân biết nghĩ của những nước châu Âu này cuối cùng cũng đều bòn rút hệ thống, dù là vô tình hay hữu ý. Còn có cả trường hợp một người vẫn hưởng trợ cấp thất nghiệp, những khoản tiền có thể lên đến ba phần tư so với khoản lương cuối họ nhận được, dù vẫn làm những công việc thời vụ cho những nơi không đóng thuế. Điều này mang lại cho họ hai nguồn thu nhập trong khi lại đổ gánh nặng lên vai người đóng thuế.

Theo thống kê của OEÇD, tới năm 2007, trung bình mỗi chính phủ châu Âu trong OECD dành hơn 23% GDP cho chi tiêu xã hội. Ở một số nước, con số này còn cao rõ rệt hơn: 25% ở Ý và 28% ở Pháp. Ngược lại, trung bình mỗi quốc gia OECD nằm ngoài châu Âu chỉ dành 17% GDP cho khoản chi tiêu tương tự. Tại Hoa Kỳ và úc, tỷ lệ nậy là 16%.

Tuy nhiên hậu quả nguy hại nhất của nhà nước phúc lợi không chỉ nằm ở sự thiếu linh hoạt hay bản chất tốn kém của nó, mà nằm ở ảnh hưởng xấu của nó đến động cơ cố gắng của các cá nhân. Nếu hệ thống an sinh xã hội được thiết kế ra để mọi người có được những lợi ích như bằng nhau dù làm việc chăm chỉ hay sống nhàn hạ, vậy thì họ còn làm việc chăm chỉ để làm gì? Bạn sẽ mất đi động lực sống. Ở Mỹ thì thái độ sống tự lực phổ biến hơn vì dù chính phủ có hỗ trợ người thất nghiệp thì họ vẫn thực thi những biện pháp để khuyến khích, thậm chí bắt buộc những người này phải tìm việc làm. Đây là một triết lý khác, nó dựa trên nguyên tắc cho rằng lao động sẽ làm cho cá nhân và xã hội giàu có hơn, và được củng cố bằng niềm tin rằng những khoản trợ cấp quá hào phóng có xu hướng làm suy yếu những nỗ lực phấn đấu và vô tình chặn đứng những động cơ làm việc. Mô hình của châu Âu đã tạo ra một lớp người quen với các khoản trợ cấp và do đó thiếu một tinh thần làm việc mạnh mẽ.

Nhưng trên hết vẫn là do châu Âu không chịu thay đổi những quy định cứng nhắc về thị trường lao động, trong đó có quy định về quyền sa thải lao động của các công ty và những điều luật khác chẳng hạn như thời gian nghỉ lễ tết tối thiểu. Họ cứ đứng yên tại chỗ trong lúc mà sự linh động ngày càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh kinh tế mới. Công đoàn và các đảng xã hội chủ nghĩa ở Pháp và các nước láng giềng cứ cố gắng bám lấy ảo tưởng rằng người lao động vẫn có thể hưởng những khoản trợ cấp trước đây của mình mà nền kinh tế sẽ không phải thiệt hại quá nhiều. Sinh viên thi đòi hỏi quyền được đảm bảo về nghề nghiệp như cha mẹ mình từng được hưởng. Nói cách khác, họ đang đòi hỏi thế giới đứng yên chờ mình. Họ chưa nhận thức được rằng những biện pháp này sẽ làm tổn thương chính tầng lớp lao động. Những doanh nghiệp nào từng bị xử phạt vì cắt giảm phúc lợi thì về sau sẽ cẩn trọng hơn trong việc thuê mướn lao động ngay cả khi nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng trở lại. Và như thể công ăn việc làm lại chuyển sang các quốc gia khác.

Những con số thống kê đã chứng minh điều đó. Trong các nước châu Âu thuộc OECD, tám trong mười nước xếp hàng đầu về luật lao động tự do nhất năm 2008 cũng nằm trong mười nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, tính trung bình một thập kỷ trước. Điều ngược lại cũng đúng: bảy trong số mười nước có luật lao động cứng rắn nhất cũng nằm trong mười nước có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất.

Nhưng làm sao thay đổi được những chính sách hiện nay? Công đoàn vẫn tổ chức những cuộc diễu hành qua đường phố Paris vì họ không chấp nhận quan điểm cho rằng các lực lượng cạnh tranh toàn cầu đã khiến cho lực lượng lao động Pháp trở nên đắt đỏ, và vì thế họ phải từ bỏ những phúc lợi của mình. Họ sẽ nói: “Không, chúng tôi giữ lại phúc lợi này và sẽ cố gắng cạnh tranh.”

Ngay từ đầu, tôi đã đảm bảo rằng Singapore sẽ không đi theo con đường tương tự về phúc lợi và luật lao động. Sau khi chứng kiến người Anh thực thi một số chính sách những năm 1950, tôi cho đó là đường lối sai lầm. Chúng tôi không cho phép các công đoàn làm tổn hại đến sự cạnh tranh của minh mà thay vào đó kéo họ vào mối quan hệ ba bên với chính phủ và doanh nghiệp theo hướng đàm phán không đối đầu. Chúng tôi ngừng phát thuốc miễn phí nhưng vẫn đảm bảo tiền bảo hiểm chi trả ngày càng bám sát giá thực tế. Chúng tôi cung cấp tài sản, chứ không bao cấp. Chính phủ giúp bạn tiết kiệm để mua nhà và nạp tiền vào tài khoản của bạn trong Quỹ Tiết kiệm Nhà ở dành cho hưu trí (CPF). Nếu bạn không có nhu cầu mua nhà và muốn tiêu xài nguồn tiền này, bạn được tự do làm như thể nhưng bạn sẽ phải đối mặt với những hệ quả tồi tệ khi nghỉ hưu mà không xu dính túi. Nếu thay vào đó bạn dùng tiền tiết kiệm để mua nhà, chờ giá nhà lên và kiếm lời thì bạn sẽ được hưởng lợi về lâu dài. Nói cách khác, cá nhân chịu trách nhiệm cho cuộc sống của mình, chính phủ chỉ giúp một phần. Tôi tin rằng nếu áp dụng hệ thống của châu Âu, nền kinh tế của chúng tôi sẽ ít năng động hơn rất nhiều. Chúng tôi sẽ phải trả giá đắt vì điều đó.

Những năm tháng cay đắng đang chờ đợi châu Âu ở phía trước. Người châu Âu đã chọn đi theo con đường phúc lợi và bảo hộ lao động do những hoàn cảnh lịch sử đặc thù của mình. Không ai có thể phủ nhận rằng lựa chọn của họ đã tạo ra những xã hội tử tế hơn, với số người thuộc tầng lớp dưới ít hơn và khoảng cách giữa người giàu kẻ nghèo cũng nhỏ hơn nếu so với Mỹ. Nhưng cái gì cũng có giá của nó. Nếu họ rũ bỏ những chính sách này, GDP của họ có thể tăng nhanh hơn từ điển 3% mỗi năm. Trong một thời gian, nhiều người châu Âu sẽ vẫn sống cuộc sống thoải mái vì họ có những khoản tiết kiệm từ những năm sung túc trước đó. Nhưng cho dù họ có thích hay không thì thế giới thời hậu chiến được nuông chiều sung sướng mà họ đã tạo ra cho minh cuối cùng cũng sẽ bị các lực lượng bên ngoài phá bỏ. Rồi người ta sẽ phải bàn đến một khế ước xã hội mới.

Cùng đối mặt với những vấn đề giống nhau nhưng một nhóm riêng biệt các nước Bắc Âu lại không chịu tổn thất nhiều bằng các nước châu Âu lục địa. Theo tôi, các nước vùng Scandinavia xứng đáng được phân tích riêng vì họ là một nhóm độc đáo, một trường hợp độc nhất vô nhị.

Những người ủng hộ hệ thống phúc lợi thường chỉ ra trưởng hợp của Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch để chứng minh cho việc chính phủ trả tiền cho một mạng lưới an sinh xã hội rộng lớn không phải lúc nào cũng đi đôi với những bất cập liên quan. Do đó, họ kết luận rằng dùng thất bại của Pháp, Ý hay Tây Ban Nha để chống lại nhà nước phúc lợi chỉ là ngụy biện.

Để bác bỏ luận điểm ủng hộ này, đầu tiên ta có thể đưa ra bằng chứng cho thấy ngay cả những nước Bắc Âu cũng không hoàn toàn thoát khỏi cái giá phải trả cho những chính sách xã hội. Ví dụ, tỷ lệ thất nghiệp ở Thụy Điển đạt mức 7,5% vào năm 2011, cũng không thấp hơn Ý bao nhiêu (8,4%), và cao hơn rất nhiều so với các nền kinh tế tiên tiến của châu Á như Nhật Bản (4,6%), Hàn Quốc (3,4%) và Singapore (2%).

Cho dù vậy chúng ta vẫn nên thừa nhận rằng các nước Bắc Âu thực sự đã tăng trưởng cao hơn so với các nước láng giềng châu Âu của họ. Trong giai đoạn 2002 tới 2011, khi ở Ý GDP bình quân đầu người (tính theo đô la Mỹ) tăng trung bình 5,3% một năm và ở Pháp là 6,1% thì ở Đan Mạch là 6,4%, Thụy Điển 7,3% và Na Uy là 8,9% . Chưa kể đến việc các nước này đạt được mức tăng trưởng cao như vậy trong khi vẫn duy trì được mức chi tiêu xã hội cao - một hiện tượng cần phải giải thích thêm.

Lý do thứ nhất cần kể đến là Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch là những quốc gia nhỏ hơn nhiều so với Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Tổng dân số của cả ba nước Bắc Âu này chỉ bằng một phần mười dân số của ba nước sau. Với 5 triệu người, Na Uy còn ít dân hơn cả Singapore. Như thể quy mô vấn đề, sự đa dạng về lợi ích và độ phức tạp trong việc quản lý ở Bắc Âu là rất khác biệt.

Tuy nhiên, quan trọng hơn kích cỡ là thành phần dân số và đây chính là chìa khóa để hiểu được sự khác biệt của các nước Bắc Âu. Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch đều có dân cư tương đối đồng nhất, tạo cho các quốc gia này là một sự gắn kết nội bộ không thể có được ở vùng nào khác của châu Âu. Người dân các nước này có cảm nhận mạnh mẽ hơn về tính thống nhất và toàn thể. Mỗi nước Bắc Âu đểu tự coi mình là một bộ tộc với những thành viên trong bộ tộc đều sẵn lòng hy sinh cho nhau. Bạn sẵn lòng làm việc chăm chỉ không chỉ cho bản thân mà còn cho những người cùng bộ tộc, bởi vì bạn cảm thấy giống như mình đang giúp đỡ một người họ hàng chứ không phải một nhóm người ăn không ngồi rồi đến từ những vùng xa lạ trên thế giới. Dù phải đối mặt với mức thuế cao mà các nhà nước phúc lợi áp lên để cân bằng ngân sách thì các nhà tài phiệt cũng như các cá nhân có thu nhập cao khác ít có khả năng chạy trốn khỏi xã hội kiểu bộ tộc này dù họ không thiếu gì phương tiện để làm vậy. Những người này còn là những tài nâng hàng đầu trong xã hội, những người có khả năng tạo ra của cải và cơ hội cho bản thân mình cũng như cho người khác. Khi bạn là một dân tộc, một gia đình, bạn sẽ ít hoài nghi hơn về việc phải nộp thuế để hỗ trợ cho những người anh chị em khốn khó của mình, nhưng nếu sống giữa gia đình bạn là một lượng lớn người nước ngoài và pháp luật vẫn khăng khăng những người này sẽ được hưởng các khoản phúc lợi tương tự thì lúc đó thái độ của bạn sẽ thay đổi.

Khi tôi đến thăm Na Uy vào thập niên 1970, quốc gia này gần như gồm toàn người da trắng. Đậy là một đất nước xinh đẹp có phong cảnh núi non và sông băng ngoạn mục, rất lạnh giá và yên tĩnh. Tôi có thể cảm nhận được sự đoàn kết của đất nước này. Ở một đất nước như thể, không chỉ những người có nghề nghiệp sẵn sàng trả thuế nhiều hơn, mà những người không đi làm cũng ít lợi dụng hệ thống hơn, vì họ cảm nhận được sự thân thuộc của cộng đồng. Nói cách khác, ngay cả những người thất nghiệp cũng ít lạm dụng nguồn trợ cấp của mình hơn.

Tất cả những điều này đã và đang thay đổi từ từ nhưng chắc chắn trong vài năm qua bởi vi các nước Bắc Âu đã thông qua một chính sách cởi mở trong việc nhận người tị nạn và người bị ngược đãi. Mỗi năm, Thụy Điển tiếp nhận khoảng 2.000 người tị nạn, hầu hết đến từ các nước châu Phi, và bây giờ có hơn 80.000 người tị nạn sống ở quốc gia này Hiện chưa rõ dòng người nhập cư này sẽ làm thay đổi quan điểm về cộng đồng ra sao, nhưng nếu chiếu theo những gì đã xảy ra ở các quốc gia khác thì không sớm thì muộn nó cũng sẽ làm thay đổi quan điểm của cộng đồng đa số rằng họ đang chịu gánh nặng của nhóm người thu nhập thấp. Còn hiện tại các nước Bắc Âu vẫn ít đa dạng sắc tộc hơn so với phần còn lại của châu Âu.

Trên khắp châu Âu, khung cảnh và cảm nhận về xã hội ngày nay rất khác với lúc tôi sống ở đó thời sinh viên sau Thế chiến thứ hai. Lúc ở London, tôi muốn tìm một căn hộ cho thuê và theo thông tin của những mẩu quảng cáo, tôi gọi điện hẹn chủ nhà để đi xem căn hộ. Tôi phải nói với họ trên điện thoại là: “Tên tôi là Lee, nhưng tôi là người Hoa. Vì vậy nếu ông không muốn có một người thuê nhà người Hoa thì ông cứ nói và tôi sẽ không phải đến tận nơi xem nữa.” Lee là một họ khá phổ biến ở Anh nhưng tôi muốn tránh ngay từ đầu mọi sự hiểu lầm không cần thiết. Và đúng là có những chủ nhà lịch sự khuyên tôi không nên đến coi nhà. Đó là xã hội Anh vào thời điểm đó, vẫn đa phần là người da trắng và vẫn phân biệt đối xử với những người không phải da trắng.

Nhưng rồi theo năm tháng, do tỷ lệ sinh giảm và nhu cầu lao động tăng, các nước châu Âu phải nhận thêm người nhập cư từ châu Á, Trung Đông, châu Phi và Đông Âu. Người nhập cư đã làm giảm bớt áp lực kinh tế và dân số nhưng cũng tạo ra một loạt vấn đề khác.

Tại Đức, có ít nhất 2,5 triệu người gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Sự khó chịu của người Đức với số lượng nhóm người này đã gây ra một phản ứng dữ dội, với các báo cáo đáng lo ngại về những tội ác có động cơ sắc tộc mà thủ phạm là dân địa phương cực đoan. Tại Pháp, sự gia tăng của những vùng ngoại ô có phần lớn người thiểu số sinh sống xung quanh các thành phố lớn ở Pháp, nhất là Paris, là một vấn đề lớn gây đau đầu cho chính phủ. Bạo loạn đôi khi diễn ra vi cư dân của các khu vực này cảm thấy mình bị gạt ra ngoài lề cuộc sống của chính họ. Năm 2005, bất ổn vượt tầm kiểm soát, khiến gần 9.000 chiếc ô tô bị đốt trên cả nước và chính phủ phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp suốt hai tháng dài. Cảm giác bị gạt ra ngoài lề và thiệt thòi tồn tại ngay cả trong số những sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp đại học. Số liệu chính thức cho thấy trong số các công dân Pháp, tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp gốc Phi cao hơn ba lần so với sinh viên tốt nghiệp gốc Pháp.

Nước Anh còn ít đồng nhất hơn các nước khác nhiều. Bất cứ ai đi qua trung tâm của bất kỳ thành phố lớn nào ở Anh cũng có thể chứng kiến điều đó. Tuy nhiên, cảm giác lo sợ đã dần chuyển từ người Hoa sang các nhóm sắc tộc khác vi người Hoa khiêm tốn hơn và ít gây rắc rối nhất. Nhiều người trong thế hệ người Trung Quốc nhập cư đầu tiên là chủ nhà hàng và có con cái thành đạt. Hiện nay sự chú ý chuyển sang người Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, những người thường sống thành những cộng đồng lớn trong những khu vực nhất định. Có những trường học mà học sinh dân tộc thiểu số hoàn toàn chiếm đa số vì người nhập cư không hòa nhập được với người bản xứ.

Các yếu tố tôn giáo đã làm phức tạp thêm vấn để. Nhiều người di cư là người Hồi giáo và trong những năm gần đây, họ tỏ rõ ý muốn xây dựng các thánh đường Hồi giáo. Vẻ đẹp mà các công trình này đem lại cho cảnh quan kiến trúc châu Âu truyền thống không giúp xoa dịu nỗi sợ hãi đang lớn lên trong lòng người dân địa phương là nền văn hóa và cộng đồng nơi họ lớn lên đang bị những người nhập cư phiền hà biến đổi. Nếu những người nhập cư này theo Ki-tô giáo thì cục diện hẳn đã thay đổi. Còn trong hiện tại, sự chia rẽ vẫn diễn ra bởi nhiều người nhập cư theo Hồi giáo còn tôn giáo thống trị ở châu Âu là Ki-tô giáo, còn việc có nhiều người châu Âu đi nhà thờ hay không lại là chuyện khác.

Người dân châu Âu không cởi mở với việc nhập cư như người Mỹ. Họ đã không thành công trong việc hòa nhập được những người nhập cư đã sống rất lâu ở đất nước họ. Nước Mỹ tiếp nhận cởi mở hơn những người mới đến vì nước này thực chất là một xã hội nhập cư với các tín đồ Thanh giáo đến đây mới 400 năm trước. Nhiều người nhập cư đã có vị trí cao trong xã hội Mỹ, chẳng hạn như Jerry Yang, doanh nhân gốc Đài Loan, đồng sáng lập công ty Yahoo. Trái lại châu Âu lại gồm các quốc gia hình thành lâu đời và rất tự hào về nền văn học, văn hóa và lịch sử lâu đời của mình.

Trong vòng hai, ba năm vừa qua, các nhà lãnh đạo châu Âu - gồm thủ tướng Anh David Cameron, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và thủ tướng Đức Angela Merkel - đều tuyên bố sự chung sống của các nền văn hóa khác nhau đã thất bại tại những nước này. Nói cách khác, người Thổ Nhĩ Kỳ định cư ở Đức không trở thành người Đức, cũng như người Algeria và Tunisia ở Pháp cũng không trở thành người Pháp. Càng ngày châu Âu càng thấy khó khăn để hòa nhập những dân tộc này. Sắc tộc là cội rễ của sự bất lực trong quá trình đồng hóa, cho dù tôn giáo, văn hóa và ngôn ngữ cũng là những yếu tố góp phần. Nhưng đồng thời châu Âu cũng không thể ngăn được dòng người nhập cư vì họ đáp ứng những nhu cầu bức thiết trong nước. Vì thế chúng ta cũng có thể thấy các chính phủ châu Âu nếu có thể thì họ sẽ cho phép người nhập cư vào nước, và chỉ giảm tốc lại mỗi khi có kỳ bầu cử đến và khi các đảng cánh hữu công kích các đối thủ của họ với những luận điệu giận dữ. Dù đứng ở góc độ nào thì họ cũng đang lâm vào một tình thế nan giải.

Khi châu Âu gượng dậy từ những hoang tàn chiến tranh, ý tưởng về hội nhập châu Âu là điều rất dễ hiểu. Đây là một lục địa gồm nhiều quốc gia có nhiều điểm chung. Tất cả các dân tộc đều đã sống qua thời kỳ Phục hưng và thời kỳ Khai sáng và đã quen với văn hóa của riêng châu lục này, có cùng nhân sinh quan và thế giới quan. Ki-tô giáo là tôn giáo thống trị. Lùi lại lịch sử, các nước này còn có chung di sản từ thời Đế chế La Mã, Điều này tạo cho họ một sự thống nhất trong cách thức tổ chức xã hội. Dù có nhiều điểm chung như vậy, nhưng những gì nổi bật trong thế kỷ 20 lại là những bất đồng và chia rẽ của họ, khi họ bị những thiên thần xấu xa dẫn dắt vào những cuộc chiến tranh tàn bạo, dai dẳng và hủy hoại dẫn đến cái chết của hàng triệu người. Như vậy, hợp nhất trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của các nhà lãnh đạo châu Âu. Nó đại diện cho hy vọng về hòa bình lâu dài. Giải pháp rõ ràng nhất là các quốc gia phải xây dựng trên sự tương đồng của họ, gạt sang một bên các khác biệt và ràng buộc số phận các dân tộc gần nhau hơn để họ sẽ không bao giờ phải chịu những hậu quả khủng khiếp do chính họ gây nên một lần nữa.

Sau khi đã quyết định rằng đây là một dự án quan trọng, họ liền bắt tay vào việc xây dựng những thể chế cần thiết. Họ ký Hiệp định Paris năm 1951 để thành lập ra Cộng đồng Than Thép châu Âu, tiền thân của EU. Đến 1957, các bên ký kết hiệp ước Rome đề xuất thành lập một thị trường chung, các chính sách nông nghiệp và vận tải chung. Cộng đồng này sau đó phát triển thành Liên minh châu Âu và sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở rộng ra 27 quốc gia. Trong số này có 17 nước đã thông qua chính sách đồng tiền chung euro.

Bên cạnh hòa bình, hội nhập còn mang lại một triển vọng lớn khác. Một châu Âu cùng hướng đến một mục đích chung sẽ có ảnh hưởng kinh tế lớn hơn nhiều và quan trọng hơn là tiếng nói có sức nặng hơn trong các vấn đề quốc tế. Nói đơn giản, nó sẽ là một châu Âu mạnh mẽ hơn. Nếu người châu Âu tăng cường các nỗ lực hội nhập của mình và tiếp tục cử ra được một bộ trưởng tài chính, và thậm chí là một bộ trưởng ngoại giao và một bộ trưởng quốc phỏng, thì quyền lực cứng của họ sẽ tăng lên rất nhiều. Chúng ta thử xét người dân Hoa Kỳ. Họ thực chất là người châu Âu chuyển đến châu lục khác và đã giảm lòng trung thành với bộ tộc riêng và với các ngôn ngữ khác nhau của mình. Nếu châu Âu hội nhập được tới mức độ đó và trở thành một Hợp chủng quốc châu Âu thì sẽ không có có gì người Mỹ làm mà họ không thể làm được. Châu Âu với tư cách một thực thể sẽ đông dân hơn Mỹ (500 triệu so với 310 triệu) vào có một nền kinh tế lớn hơn một phần sáu so với Mỹ. Một châu Âu như vậy chắc chắn sẽ góp mặt trong cuộc chạy đua các siêu cường hàng đầu thế giới.

Nhưng than ôi, mọi dấu hiệu đểu cho thấy hội nhập là chuyện bất khả. Cho đến nay họ đã thất bại trong việc giữ vững đồng tiền chung và sẽ khó lòng đạt tới giai đoạn một chính sách đối ngoại chung hoặc một lực lượng quân sự duy nhất. Mỗi quốc gia có một lịch sử riêng mình trải dài nhiều thế kỷ. Mỗi quốc gia tự hào về truyền thống riêng của mình. Nhưng trên hết là do họ muốn duy trì ngôn ngữ của mình - vì cả một thời kỳ huy hoàng và một nền văn học lâu đời đằng sau đó. Nước Mỹ quyết định làm lại từ đầu và tạo ra một nền văn học mới, nhưng châu Âu sẽ không thể làm như vậy. Mặc dù tiếng Anh đã là ngôn ngữ thứ hai ở tất cả các nước nhưng các dân tộc trên lục địa châu Âu sẽ không bao giờ chấp nhận nó làm ngôn ngữ công sở duy nhất.

Vậy vị thể của châu Âu trên thế giới sẽ nằm ở đâu? Họ sẽ chỉ là những đối thủ nhỏ tầm hơn trên chính trường quốc tế. Đối mặt với sự thống trị của các cường quốc như Mỹ và Trung Quốc, và có lẽ sau này là Ấn Độ, châu Âu sẽ bị đẩy xuống vị trí kép phụ. Hầu hết các nước châu Âu sẽ bị coi như những quốc gia nhỏ bình thường khác theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đức sẽ phải một mình gánh vác cả châu Âu, nhờ vào dân số và thành công kinh tế của nó, dù vậy nước này cũng không muốn tỏ ra ta đây quá bởi họ vẫn còn mang mặc cảm tội lỗi vì đã giết hại sáu triệu người Do Thái. Người Anh vẫn giữ lại được ảnh hưởng của minh nhờ mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đặc biệt của họ với Mỹ.

Ngoài những chuyện đó ra, châu Âu chẳng thể hy vọng gì vào ảnh hưởng của mình tại một bàn hội nghị có sự hiện diện của Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ, dù các lãnh đạo châu Âu vẫn ngần ngại chưa thừa nhận điều này vì sĩ diện và vì cũng có kinh nghiệm lâu năm trên chính trường quốc tế. Nhưng dù gì cũng là bạn đang so sánh các quốc gia chỉ có 40,50, hay 80 triệu dân với 1,3 tỷ dân Trung Quốc và 1,2 tỷ người Ấn Độ. Và nhất là người Trung Quốc, họ sẽ thấy rằng một châu Âu phân rã sẽ có lợi hơn cho họ. Họ có thể đối phó với từng nước riêng lẻ, chứ không phải đối phó với cả một nhóm. Mỗi quốc gia châu Âu sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc hơn là Trung Quốc phụ thuộc vào họ. Sự phụ thuộc này sẽ càng thể hiện rõ hơn khi nền kinh tế của Trung Quốc chuyển hướng sang thúc đẩy tiêu thụ nội địa.

Tuy nhiên, tiếng nói quốc tế của châu Âu suy giảm sẽ không dẫn đến việc mức sống của nó cũng giảm theo. Nếu tồn tại qua được giai đoạn tan vỡ của đồng euro, mức sống sẽ quay trở lại như thời kỳ trước đó. Châu Âu mất đi tiếng nói của mình trên thế giới, nhưng các nước trong châu lục này vẫn có một tiêu chuẩn cao về giáo dục, kỹ năng và vẫn có thể sống tốt. Sẽ có suy thoái nhưng mỗi quốc gia sẽ đạt tới một trạng thái ổn định với khả năng cạnh tranh riêng của minh. Những người châu Âu vẫn có một cuộc sống hạnh phúc.

Khi viết về sự suy thoái không tránh khỏi của châu Âu, tôi thấy buồn nhiều hơn là muốn chế giễu họ. Tôi không muốn chỉ trích châu Âu. Người .châu Âu là những con người rất văn minh. Đúng là trước đây họ là thực dân — người Pháp, Bỉ, Anh, và Tây Ban Nha. Nhưng người Pháp coi sứ mệnh của họ là khai hóa văn minh cho những người châu Phi. Và nói chung, người Anh ra đi nhưng vẫn để lại các thể chế của minh cho các nước thuộc địa trong đó có Singapore. Chúng tôi kế thừa nền pháp quyền, các đạo luật, ngôn ngữ Anh và chúng tôi đã khôn ngoan không thay đổi bất kỳ điều nào trong số đó. Chúng đã giúp chúng tôi phát triển. Các thiết chế của họ đã hoạt động hiệu quả sẵn. Những gì tôi làm là để đảm bảo rằng chúng tôi đã không lật đổ những thể chế này mà chỉ gia cố thêm cho chúng.

Người Bỉ thì trái lại, họ ra đi để Congo lại trong một mớ hỗn độn. Họ khai thác tài nguyên và đến lúc buộc phải rời đi, nơi này liền chìm trong cuộc chiến giữa các bộ lạc. Hiện nay Congo vẫn còn rất rối ren. Ö Guinea, Tướng Charles de Gaulle đã rất tức giận với Ahmed Sekou Toure, một nhà tranh đấu tự do mạnh mẽ, tới nỗi họ tháo dỡ tất cả các đường dây điện và điện thoại trước khi rời khỏi nước này. Kể từ đó đến nay Guinea vẫn chưa phục hồi được. Người Pháp không làm điều đó với tất cả các thuộc địa của mình, nhưng họ đã làm điều đó với Guinea vì Sekou Toure đã chọc giận chính phủ Pháp. Vì thế nên Sekou Toure thừa hưởng một hệ thống hỏng hóc mà ông sẽ không bao giờ khiến cho nó vận hành trở lại được.

Chính những điều này tạo nên sự khác biệt. Giả sử người Anh để lại cho tôi một đất nước trong hoàn cảnh như Bỉ và Pháp đã làm thì tôi không chắc mình có thể xây dựng một đất nước Singapore như ngày hôm nay. Người Anh ra đi rất lịch thiệp. Tòa nhà chính của dinh Istana, nơi ở của thủ hiến cuối cùng, Bill Goode, đã được ông ấy trao trả nguyên vẹn, mọi thứ đều đâu ra đó. Ông ấy dẫn tôi đi một vòng, giới thiệu tôi với các quản gia trước khi rời đi. Sau đó ông ấy đến Bắc Borneo một thời gian trước khi nghỉ hưu. Chúng tôi nên biết ơn hệ thống mà họ đã trao lại và sự ra đi lịch thiệp đó.

Hỏi: Ngài nhìn nhận các quốc gia châu Âu sẽ phát triển riêng lẻ ra sao? Người Đức chẳng hạn, họ đã làm rất tốt trong mười năm qua.
Đáp: Đúng thế, vì họ không chi tiêu nhiều hơn những gì kiểm được, và người lao động Đức lại có tay nghề cao. Họ sản xuất một số máy móc thiết bị tốt nhất trên thế giới, những hãng xe chất lượng nhất như Mercedes, Volkswagen, BMW, Porsche. Người Đức sẽ tiếp tục phát triển tốt vì đây là bản chất của họ. Họ gần như đã chinh phục toàn bộ châu Âu. Họ có động cơ và sẵn sàng chỉnh đốn bản thân. Nếu như không có Winston Churchill, sai lầm khi tấn công Liên Xô, và sự tham chiến của Mỹ thì Hitler hẳn đã chinh phục châu Âu và tất cả dân xứ này giò đểu nói tiếng Đức cả.
Hỏi: Trong 20 năm tới, ngài thấy nước Anh sẽ năng động hơn hay kém năng động hơn?
Đáp: Nước này sẽ chỉ phát triển tẩm tầm thôi. Đây là một quốc gia đã xây dựng lên một đế chế vĩ đại, sau đó sụp đổ sau Thế chiến thứ hai dưới áp lực của người Mỹ. Sau khi họ mất đi Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, các thuộc địa còn lại không còn quan trọng nữa. Và nếu nhìn vào thái độ của người Úc, New Zealand và Canada, nhũng thành viên từng một thời trung thành với Khối Thịnh vượng chung thì giờ đây khối này chẳng có ý nghĩa gì với họ nữa. Trong mắt họ, những nơi có ảnh hưởng lớn giờ đây là Mỹ, NATO và tổ chức tương tự NATO ở Thái Bình Dương. Họ sẽ gắn mình với thế lực lớn tiếp theo, thế lực mà họ cho là mình có nhiều điểm chung về văn hóa và địa chính trị.
Hỏi: Giả sử không có một châu Âu hội nhập và giả sử Trung Quốc tiếp tục phát triển và chi phối châu Á, liệu vai trò châu Âu có càng ngày càng xa lạ trong tâm trí của người Đông Nam Á, trong đó có Singapore không?
Đáp: À, người ta từng vẽ biếm họa chầu Âu như một viện bảo tàng. Nhưng tôi nghĩ đây là một nơi văn hóa và học thức cao và ví dụ như nếu anh hỏi tôi muốn đi kỳ nghỉ cuối tuần ở đâu, tôi sẽ chọn Pháp. Vì sao? Bởi vì ở đây anh sẽ tìm thấy một lối sống lịch thiệp. Người Pháp sẽ cho anh một cuộc sống tốt đẹp dù vẫn chưa bằng chất lượng sống của người Đức. Mỗi khi ở châu Âu tôi lại nghỉ cuối tuần ở miền quê tươi đẹp nước Pháp. Mỗi quan chức lớn ở Pháp đểu có một vườn nho để đến nghỉ cuối tuần, nơi có những người nông dân lịch sự, người đó lại có một quản gia hay người lao động dưới quyền. Tất cả mọi thứ đều được trợ cấp nhờ vào Chính sách Nông nghiệp chung Châu Âu. Đây là một cuộc sống rất dễ chịu với đồ ăn ngon, cảnh vật hữu tình và giấc ngủ trưa thư thái. Người Pháp hiện nay không còn theo đuổi vinh quang nữa. Người Đức thì không nghĩ vậy nhưng đó là do qua hàng thế kỷ, mỗi quốc gia đều đã phát triển những đặc điểm riêng của minh.
Hỏi: Làm thế nào người châu Âu có thể tạo ra một cuộc sống tuyệt vời như vậy?
Đáp: Họ công nghiệp hóa trước tất cả các nước khác, trước Trung Quốc, và họ chiếm được phần còn lại của thế giới. Người Anh có đế quốc Anh, người Pháp có đế quốc Pháp. Người Bỉ chiếm được Congo - một quốc gia châu Phi chưa đến năm triệu dân với đất đai rộng lớn và lượng tài nguyên khoáng sản khổng lồ mà người Bỉ đã khai thác được. Sau đó quá trình giải phóng thuộc địa diễn ra và các đế quốc này sụt giảm quy mô. Thời đại của đế quốc - cách châu Âu thống trị thế giới - sẽ không bao giờ quay trở lại, ít nhất là trong hình thức đô hộ cũ. Nó có thể trở lại trong một hình thức khác. Chẳng hạn như bạn có thể nhận thấy sự thống trị về kinh tế của Trung Quốc ở một số nơi trên thế giới nhưng đó không phải là kiểu thực dân hóa thực sự.
Hỏi: Liệu Nga sẽ đóng vai trò lớn hơn trong một châu Âu rời rạc?
Đáp: Tôi không nghĩ vậy. Người Nga tự coi mình là một cường quốc, trải dài trên chín múi giờ, một lãnh thổ rộng vô cùng với nguồn tài nguyên khổng lồ. Liên Xô cũ là một mối đe dọa an ninh, nhưng nước Nga của ngày hôm nay cũng còn gặp lắm khó khăn để duy trì vị thế cường quốc. Dân số suy giảm, nền kinh tế phụ thuộc vào khí đốt và dầu lửa và không có một nền lãnh tế xã hội thực sự. Tâm trạng bi quan ngự trị nơi đây thể hiện qua mức độ tiêu thụ rượu cao và phụ nữ sinh quá ít.
Hỏi: Một số lãnh đạo châu Âu tin rằng một giải pháp cho vấn đề của châu Âu sau cuộc khủng hoảng nợ công sẽ nằm ở các chính sách thắt lưng buộc bụng Nhưng ở một số nước, nhiều cử tri đã nổi loạn và gạt bỏ các lãnh đạo chủ trương ủng hộ chính sách này, chẳng hạn như ở Pháp, nơi mà tổng thống Nicolas Sarkozy đã thất bại trong nỗ lực tái tranh cử của mình năm 2012.
Đáp: Việc dân chúng nổi dậy chống lại các biện pháp thắt lưng buộc bụng là một phản ứng tự nhiên trong một nền dân chủ đại chúng. Chỉ cần có người đứng lên hô hào “Chúng ta không cần phải thắt lưng buộc bụng,” là các cử tri sẽ quyết định cho ông ta một cơ hội. À, vậy thì chúng ta hãy chờ xem liệu họ có cần phải thắt lưng buộc bụng không. Nếu đúng là trong thực tế họ không cần vậy thì cử tri đã lựa chọn đúng - mọi thứ sẽ êm đẹp trở lại và tổng thống Sarkozy là kẻ ngây thơ. Còn nếu họ cần các biện pháp này mà lại không thực hiện thì họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Họ sẽ quay trở lại vị trí ban đầu.
Hỏi: Ngài có tin là họ cần các biện pháp thắt lưng buộc bụng không?
Đáp: Tôi không tin các nhà lãnh đạo tỉnh táo ở Pháp và Đức lại ủng hộ một chính sách không được lòng dân mà vẫn ra tranh cử nếu họ không tin chắc rằng chính sách đó là cần thiết. Người Pháp đã lựa chọn thay đổi nhưng Đức thì không. Người Đức đang sát cánh mạnh mẽ cùng Angela Merkel. Tôi không nghĩ là Tổng thống François Hollande có thể thay đổi được quan điểm của bà Merkel. Người Pháp chỉ đơn giản là chọn lối thoát dễ dàng hơn.
Hỏi: Có những chuyên gia, cụ thể là những người đến từ Mỹ, đã lập luận rằng thắt lưng buộc bụng là giải pháp tồi tệ nhất trong thời điểm khủng hoảng, và dù cho giải pháp này có lợi về lâu dài thì trong ngắn hạn cái cấn trước mắt là phải tạo được tăng trưởng để kích thích nền kinh tế. Ngài ủng hộ quan điểm nào?
Đáp: Giữa hai bên, tôi sẽ nghe theo người châu Âu, những người quen thuộc các vấn đề của chính họ hơn người Mỹ - những người lúc nào cũng lạc quan ngày mai sẽ tươi sáng.
Hỏi: Và ngài tin rằng người châu Âu nên làm theo thỏa thuận mà người Đức đề xuất? Ngài tin rằng đó chính là lối thoát cho các nước châu Âu?
Đáp: Đó là giải pháp tốt nhất. Merkel và người dân Đức khổng ngây thơ. Đức là quốc gia thành công nhất ở châu Âu bởi họ sống rất kỷ luật.
Hỏi: Chứ không phải vì lợi ích riêng của Đức?
Đáp: Không, họ muốn nước Pháp và các nước khác trong cộng đồng thành công vì họ muốn đồng euro thành công.
Hỏi: Chuyển sang các vấn để xã hội, Singapore có thể học hỏi gì từ các nước châu Âu về chính sách thúc đẩy tỷ lệ sinh?
Đáp: Đâu dễ gì thay đổi lối sống của một dân tộc. Thụy Điển có thể duy trì tỉ lệ gần hai con một hộ gia đình vì họ là một nhóm người đồng nhất và có những chính sách hỗ trợ rất tốt cho trẻ em từ lúc sơ sinh, đi nhà trẻ cho tới lúc lớn. Họ làm được vậy vì họ cảm nhận mình là một bộ tộc và sẵn sàng hy sinh cho nhau. Làm sao có thể bắt chước họ? Người Pháp mới chỉ làm được điều này ở một mức độ nào đó.
Hỏi: Ngài đã lập luận theo hướng “một bộ tộc" với các nước Bắc Âu, nghĩa là họ đoàn kết và hỗ trợ một nhà nước phúc lợi bởi vì họ giống nhau về mặt di truyền. Liệu ngài có mở rộng lập luận đó với người Nhật và người Trung Quốc, hai dân tộc cũng tương đối đồng nhất về thành phần chủng tộc?
Đáp: Với người Nhật thì đúng thế. Đó là lý do tại sao họ không muốn những người nhập cư. Nhưng với người Trung Quốc thì không. Trung Quốc không phải một bộ tộc duy nhất mà là gồm nhiều bộ tộc. Đúng là họ nói cùng một ngôn ngữ và sử dụng cùng chữ viết những mỗi địa phương lại nói giọng khác nhau và không một chính quyền trung ương nào có thể thực thi một chính sách thống nhất trên toàn đất nước. Đó là lý do tại sao ở các tỉnh dưới người ta hay nói phép vua thua lệ làng. Họ nói rằng ở đây tôi mới là vua. Đây là một đất nước rộng lớn với nhiều địa phương khác nhau có thái độ rất khác nhau.
Hỏi: Sự căng thẳng chủng tộc căn bản ở châu Âu ngày nay khác gì với lúc ngài ở đó những năm 1940 không?
Đáp: Thật khó nói vì giờ tôi không sống ở đó. Con gái [Bộ trưởng cao cấp] Ngô Tác Đống kết hôn với một người Anh và sống gần Bradford. Ông ấy vẫn đến thăm mấy đứa cháu, trông chúng giống người da trắng hơn là người Hoa. Ông ấy kể với tôi rằng con cháu mình sống khá hòa thuận với hàng xóm láng giềng. Nhưng đó là bởi vì họ thuộc tầng lớp trung lưu.
Hỏi: Liệu trong tương lai, vấn đề căng thẳng sắc tộc có thay đổi khi Trung Quốc trỗi dậy?
Đáp: Không, tôi không nghĩ vậy đâu. Điều này không liên quan gì tới việc Trung Quốc trỗi dậy Người Nhật cũng có một quốc gia hùng mạnh trước chiến tranh, nhưng điều đó không thay đổi được quan điểm của người châu Âu về họ. Vì người châu Âu tin rằng họ là chủng tộc thượng đẳng, người Trung Quốc cũng thể thôi. Nên là không ai chịu ai.
Hỏi: Một vấn để gây ra khi những người nhập cư không hòa nhập vào xã hội châu Âu và chủ nghĩa khủng bố trong nước. Chúng ta đã thấy một vài ví dụ về điều này..
Đáp: Không, việc đó thì có liên quan gì tới chuyện hòa nhập hay không hòa nhập. Khủng bố thì ở đâu cũng là khủng bố. Cho dù những kẻ đó có hòa nhập được thì chúng vẫn trở thành khủng bố, bởi vì chúng tự biến mình thành cực đoan thông qua Internet.
Hỏi: Ngài có lo lắng về phản ứng dữ dội chống lại người nhập cư, và sự nổi lên của các đảng cực hữu trong nền chính trị châu Âu? Điều đó có thể tạo ra một châu Âu tan rã và xích mích.
Đáp: Sự tan rã đã diễn ra từ trước. Bây giờ chỉ là mở rộng chỗ đứt gãy đó thôi. Ngay cả khi người nhập cư chỉ chiếm 5 hay 6% của xã hội, thi các đứt gãy vẫn xuất hiện. Thế này nhé, anh có thể phân loại thế giới thành các chủng tộc sau: da trắng, da vàng, đen, nâu, và thường thì anh chỉ có thể kết hợp và hòa nhập trong mỗi màu da mà thôi. Ví dụ, nếu người Trung Quốc kết hôn với người Nhật hoặc người Việt Nam, thì đứa con dù coi mình là người Trung Quốc, Việt Nam hay Nhật Bản thì nó vẫn thuộc chủng da vàng.
Hỏi: Trong tất cả các nhà lãnh đạo châu Âu mà ngài đã gặp 50 năm qua, ai là người gây ấn tượng với ngài nhất?
Đáp: Cũng khó nói. Về mặt lịch sử, Winston Churchill là người nổi bật nhất. Ông là một nhà lãnh đạo vĩ đại. Thế giới hẳn đã khác đĩ nếu không có ông bất chấp khó khăn đối đầu với Đức. Thái độ của ông hết sức quyết liệt. “Chúng ta sẽ chiến đấu trên bãi biển, chúng ta sẽ chiến đấu trên mặt đất, chúng ta sẽ chiến đấu trên ruộng đồng và trên đường phố, chúng ta sẽ chiến đấu trên các ngọn đồi. Chúng ta sẽ không bao giờ đầu hàng.” Dù vấp váp nhưng bài diễn văn phát động chiến tranh đó đã chiếm được niềm tin và sự ủng hộ của toàn thể dân tộc Anh, trong khi Pháp lại không có một vị lãnh đạo như vậy và họ đã đầu hàng. Thống chế Pétain đã đầu hàng Đức và dựng nên chính phủ Vichy. Winston Churchill là nhân vật đặc biệt nhất trong giai đoạn lịch sử đó. Nếu như không có ông và Không lực Hoàng gia thì nước Anh đã bị không quân Đức dày xéo mất rồi. Tinh thần dũng cảm ngoan cường mà ông truyền cho những người lính của mình đã cứu được nước Anh. Sau đó Nhật tấn công Trân Châu Cảng và đẩy Mỹ vào cuộc chiến. Đây là vận may cho ông nhưng ông cũng đã một mình chống lại kẻ thù đến một năm sau đó.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.