Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHẬT BẢN TRIỀU TIÊN ẤN ĐỘ - ***
NHẬT BẢN

❊ ❊ ❊

SỰ HOÀN HẢO NHẠT PHAI

Thách thức khó khăn nhất với Nhật Bản là vấn đề dân số. Dân số Nhật đang già đi nhanh chóng và không đủ để tự thay thế mình. Tất cả các vấn đề khác như một nền kinh tế chững lại và các chính trị gia nhu nhược đều là thứ yếu khi so với vấn nạn này. Nếu Nhật Bản không giải quyết vấn để dân số của mình, tương lai của nước này sẽ rất u ám.

Tự thân các số liệu thống kê ở Nhật Bản đã nói lên điều đó. Tỉ lệ sinh chững ở mức 1,39 con trên một phụ nữ, thấp hơn rất nhiều so với mức sinh cần để thay thế dân số là 2,1. Với số trẻ em sinh ra ít đi, số lượng người lao động có thể chu cấp cho mỗi người già đã giảm từ 10 người năm 1950 xuống còn 2,8 người trong những năm gần đây. Theo dự đoán, con số này sẽ còn tiếp tục giảm xuống còn 2 người vào năm 2022 và có thể chỉ còn 1,3 người vào năm 2060. Khi chạm mốc 1,3, người lao động trẻ sẽ cảm thấy quá áp lực tới mức họ chọn cách ra đi. Dân số Nhật Bản tăng dần trong hơn sáu thập kỷ sau chiến tranh từ 72 triệu đến 128 triệu nhưng rồi đã sụt giảm trong ba năm vừa qua và hiện đang ở mức 127,5 triệu người. Tương lai về nền kinh tế thu hẹp sẽ không còn xa và tình hình này thật khó mà mang lại sự phát triển bền vững.

Trong nhiều năm liền, phụ nữ Nhật Bản chấp nhận vai trò mà nền văn hóa gán cho họ trong gia đình và trong xã hội. Họ yên phận ở nhà sinh con, nuôi con, chăm sóc người già và lo toan nội trợ. Nhưng khi phụ nữ đã đặt chân ra nước ngoài và tiếp xúc với nhiều người trên thế giới, và khi họ đã nếm trải sự tự do khi được đi làm và được độc lập về kinh tế thì quan điểm của họ đã thay đổi sâu sắc và vĩnh viễn. Ví dụ, một số phụ nữ Nhật Bản làm việc cho hãng Singapore Airlines đã kết hôn với những tiếp viên hàng không người Singapore và họ đã chứng kiến cuộc sống của phụ nữ ở Singapore là không sống chung với nhà chồng và không bị chồng sai bảo đủ điều.

Xã hội Nhật Bản đã cố gắng hết sức để đẩy lùi xu thế này và giữ cho phụ nữ vẫn tiếp tục phụ thuộc kinh tế vào đàn ông càng lâu càng tốt nhưng rồi thất bại. Trong vòng một hoặc hai thế hệ vừa qua, phụ nữ Nhật đã từ bỏ vai trò của họ trong xã hội cũ. Họ cân nhắc tình hình rồi quyết định rằng mình không đáng phải chịu cách sống trước đây nữa. Họ không muốn phải chịu gánh nặng con cái. Nhiều người chọn sống độc thân. Một số kết hôn nhưng không sinh con. Nhưng thật vô ích khi vẫn còn rất nhiều nhà tuyển dụng Nhật từ chối thay đổi theo thời đại. Không giống như Thụy Điển giúp đỡ phụ nữ để họ có thể vừa có con cái vừa có sự nghiệp, nhiều công ty Nhật vẫn bắt những phụ nữ đi làm trở lại sau sinh phải chuyển sang dạng lao động tạm thời. Đối với những người phụ nữ muốn phát triển sự nghiệp và đang trên đà thăng tiến, cũng như với những người cảm thấy họ cần khoản thu nhập toàn thời gian, thì quyết định có con đã trở nên quá tốn kém. Nhiều người không bao giờ đủ can đảm để đánh liều sinh con ngay cả khi họ muốn.

Vấn đề tỉ lệ sinh thấp của Singapore không khác gì Nhật Bản ngoại trừ một điểm căn bản: chúng tôi chịu chấp nhận những người nhập cư. Nhật Bản quá cứng rắn trong việc chấp nhận người nước ngoài. Tư tưởng phải giữ cho dòng máu Nhật Bản thuần nhất đã thành não trạng đến mức không ai dám công khai bàn luận khác đi. Một Nhật Bản đa chủng tộc là điều không tưởng, dù là trong đầu óc của dân chúng hay trong suy tính của giới lãnh đạo.

Tôi đã tận mắt chứng kiến niềm tự hào thuần chủng này của họ. Khi Nhật chiếm Singapore, tôi có làm biên tập viên tiếng Anh ở Tòa nhà Cathay một thời gian. Cứ vào ngày 8 tháng 12 hằng năm lại có một buổi lễ trong đó một người lính Nhật cầm kiếm dài samurai hô vang: “Người Nhật chúng ta là hậu duệ Nữ thần Mặt Trời”. Nói cách khác, chúng tôi mới là cao quý còn bạn thì không, Tôi nghĩ bây giờ họ không còn hô mấy câu như vậy nữa nhưng niềm tin đó cơ bản vẫn không thay đổi. Ví dụ, một viên chức người Nhật tên là George Takemura chỉ vì được sinh ra và giáo dục ở Mỹ nên đã không được những người Nhật khác tin cậy hoàn toàn. Ông ấy làm việc tại Hodobu - Bộ Thông tin và Tuyên truyền trong thời kỳ Nhật chiếm đóng và làm việc với các biên tập viên điện tín như tôi. Ông ấy rất điềm đạm cả trong hành vi lẫn lời nói.

Việc người Nhật cứ bám chặt lấy niềm tin ấy gây ra những tác động nghiêm trọng. Điều đó có nghĩa là họ loại bỏ những giải pháp hợp lẽ nhất để giải quyết vấn đề dân số của mình. Ví dụ, nếu tôi là người Nhật, tôi sẽ tìm cách thu hút nhập cư từ các nhóm dân tộc có vẻ bề ngoài trông giống người Nhật và cố gắng hết mình để đồng hóa họ, như người Trung Quốc, Hàn Quốc, cả người Việt Nam nữa. Và trên thực tế, một nhóm người như vậy đã tồn tại ở Nhật Bản. Có 566.000 người gốc Hàn Quốc và 687.000 gốc Trung Quốc sinh sống ở nước này. Nói tiếng Nhật trôi chảy, những người này không khác gì với phần còn lại xã hội ở cả cách sống và thói quen và họ khao khát được chấp nhận như những công dân Nhật bản địa thực thụ. Mà quả thực có rất nhiều người sinh ra và lớn lên ở Nhật Bản thế nhưng xã hội Nhật Bản vẫn không chấp nhận họ.

Để hiểu rõ sự cực đoan trong thái độ hẹp hòi này, ta phải xem xét một nhóm khác cũng bị chối bỏ: những người Nhật thuần chủng trở về từ Mỹ Latinh, hay còn được gọi là nikkeijin. Từ thập niên 1980, hàng chục ngàn người, chủ yếu từ Brazil, đã chuyển đến Nhật Bản theo chính sách di cư tự do được đề ra với hy vọng những người này sẽ là câu trả lời cho vấn đề dân số đang lão hóa của đất nước. Khi quay về từ nửa bên kia trái đất là các nikkeijin này đang đi theo hướng ngược lại con đường ông bà mình đã đi những năm 1920 khi họ di cư tới các đồn điền cà phê đông đúc ở Brazil. Những thử nghiệm với các nikkeijin đã thất bại. Lớn lên trong một xã hội hoàn toàn khác, các nikkeijin bị chính người thân ở mình ở Nhật Bản xa lánh, coi họ như thể những người nước ngoài xa lạ. Cuối cùng, vào năm 2009, ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, chính phủ đành trả cho những nikkeijin thất nghiệp một khoản phí tái định cư để họ trở lại Brazil. Nếu là ở một xã hội khác, một xã hội đón nhận người nước ngoài với một thái độ khác thì thử nghiệm này có thể đã thành công. Mà đúng là chính phủ Nhật Bản chắc hẳn cũng đã tin vào khả năng thành công trước khi thi hành chính sách này. Ngay chính họ cũng đã đánh giá thấp mức độ cố chấp của người dân xứ mình.

Người nước ngoài hiện tại chiếm chưa đầy 1,2% tổng số dân tại Nhật Bản, vẫn ít hơn nếu so với con số 6% ở Anh, 8% ở Đức và 10% ở Tây Ban Nha. Mức độ thuần nhất của người Nhật cao tới nổi những người Nhật trẻ tuổi từng sống ở nước ngoài một thời gian, thường vì cha mẹ qua đó làm việc, lúc trở về sẽ gặp khó khăn để hòa nhập dù đã đi học ở những trường Nhật. Trong giao tiếp hằng ngày ở Nhật có những quy ước ngầm, người ta hiểu nhau dựa trên ngôn ngữ cơ thể và âm trong cổ họng. Phải mất thêm nhiều năm nữa và cần có một sự thay đổi cơ bản trong thái độ người dân thì nước Nhật mới nghĩ đến được giải pháp dân số dựa vào việc thu hút người nhập cư. Nhưng Nhật Bản liệu có dư dả thời gian để có thể chờ đợi nhiều năm nữa trước khi đối mặt với vấn đề này? Tôi nghi ngờ điều đó. Nếu tiếp tục không hành động gì trong 10 đến 15 năm nữa, họ sẽ trượt dài và lúc đó thì đã quá muộn để phục hồi.

Nhật Bản đã trải qua hai “thập niên đánh mất" và hiện đang bước vào thập niên thứ ba. Giữa năm i960 và 1990, GDP của nước này tăng trưởng với tốc độ trung bình hằng năm là 6,2%. Từ những hoang tàn sau chiến tranh, người Nhật tự vực mình dậy, làm việc cật lực và tạo dựng nên nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với sự trợ giúp từ người Mỹ. Khi các doanh nghiệp Nhật Bản thâu tóm nhiều bất động sản ở phương Tây, nhiều nhà phân tích từng lo ngại dự đoán rằng công ty Nhật Bản đã sẵn sàng chiếm lĩnh thế giới của các nước đã phát triển nhưng đang trên đà suy thoái - cũng không khác mấy cách người ta nói về Trung Quốc hiện nay. Nhưng trong năm 1991, bong bóng bất động sản ở Nhật vỡ tan, đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn dài tăng trưởng ì ạch. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm từ 1991 chỉ là 1% ít ỏi. Khi tôi viết quyển sách này thì một thập niên u ám thứ ba đã bắt đầu. Nếu không sớm hành động kiên quyết để giải quyết vấn đề dân số thì không có thay đổi về chính trị hay kinh tế nào có thể đưa Nhật Bản trở lại được sự năng động thời hậu chiến, dù chỉ là một phần nhỏ.

Tính chất dân số quyết định số phận một dân tộc. Suy giảm dân số đồng nghĩa với suy giảm sức mạnh. Người già không có nhu cầu đổi xe hơi hay mua tivi mới. Họ không mua bộ vét mới hay gậy golf mới. Họ đã có tất cả những thứ mình cắn. Giờ thì họ chẳng mấy khi ăn uống tại các nhà hàng đắt tiền nữa. Vì lý do này tôi rất bi quan về Nhật Bản. Trong vòng một thập kỷ, tiêu thụ nội địa sẽ bắt đầu giảm và quá trình này không thể đảo ngược được. Điều này phần nào lý giải vì sao các gói kích thích liên tục cũng chỉ có tác dụng khiêm tốn lên nền kinh tế. Nhật Bản ngày nay vẫn là quốc gia sáng tạo xếp thứ hai thế giới sau Mỹ, nếu tính số lượng bằng sáng chế toàn cầu. Nhưng những phát minh chỉ đến từ người trẻ, không phải người già. Trong toán học, một người chỉ phát triển tài năng đỉnh cao ở khoảng 20, 21 tuổi. Sau độ tuổi đó, không nhà toán học vĩ đại nào có thể tạo ra những công trình lớn hơn được nữa.

Tôi đến thăm Nhật Bản tháng 5 năm 2012 để tham dự hội nghị “Tương lai châu Á”, được tập đoàn Nihon Keizai Shimbun tổ chức. Khi nói chuyện với lãnh đạo Nhật Bản, tôi muốn biết xem họ thực sự nghĩ gì nên tôi không nói thẳng "Các vị có nhận người nhập cư không?” mà hỏi “Giải pháp của các vị là gì?” Họ trả lời: “Trợ cấp thai sản nhiều hơn và thưởng khi sinh con.” Thật thất vọng. Thưởng để khuyến khích sinh sẽ không thay đổi được tình hình. Dù thực hiện ở đâu thì việc khuyến khích sinh con cũng chỉ đem lại hiệu quả rất hạn chế bởi vì vấn đề không nằm ở tiền bạc mà nằm ở lối sống và nguyện vọng đã thay đổi. Ngay cả ở những nơi mà các phúc lợi này tạo ra được sự khác biệt như Pháp hay Thụy Điển thì quá trình này cũng diễn ra rất chậm chạp và cực kỳ tốn kém.

Người Nhật là một dân tộc đáng nể. Khi trận động đất Tohoku xảy ra ngày 11 tháng 3 năm 2011, cả thế giới cảm phục cách người dân Nhật phản ứng: không hoảng loạn, không cướp bóc, chỉ có vẻ đường hoàng và điềm tĩnh đối mặt với cảnh tàn phá, mọi người chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau. Rất ít xã hội nào có thể duy trì được sự bình tĩnh, trật tự và kỷ luật trong thảm họa nghiêm trọng như vậy. Nhật Bản còn là dân tộc cầu toàn số một - từ việc sản xuất những chiếc ti vi và xe hơi không một khiếm khuyết đến tạo ra những món sushi ngon lành nhất. Tinh thần đồng đội trong lực lượng lao động Nhật cũng tạo cho họ lợi thế hơn các nước khác. Nếu so từng cá nhân, người Hàn Quốc và Trung Quốc có thể sánh được với người Nhật nhưng nếu so về làm việc nhóm thì không dân tộc nào có thể sánh với người Nhật. Có thể chính do ấn tượng này mà tôi từng tin rằng sẽ đến lúc người Nhật tỉnh giấc và nhận ra được vấn đề dân số của mình ngay khi phải đối diện với thực tế khắc nghiệt. Suy cho cùng, sẽ thật vô lý khi để cho những người hàng xóm phát triển còn bạn dần lu mờ đi mà không có phản ứng gì?

Bây giờ tôi không còn tin vào việc người Nhật rồi sẽ phản ứng nữa. Nhiều năm đã trôi qua mà tôi không thấy Nhật Bản có động thái nào. Rất có khả năng quốc gia này đang phai nhạt dần sự hoàn hảo. Với tầng lớp trung lưu Nhật, cuộc sống vẫn sẽ dễ chịu trong nhiều năm nữa. Không giống như các nước phát triển phương Tây, Nhật Bản không tích các khoản nợ nước ngoài khổng lồ. Quốc gia này lại có công nghệ tiên tiến và người dân có học thức cao. Nhưng đến cuối cùng Nhật Bản sẽ phải chịu hậu quả những vấn đề của mình. Giả sử tôi là một người Nhật trẻ tuổi và nói được tiếng Anh, tôi sẽ chọn cách di cư ra nước ngoài.

Hỏi: Chúng ta đang thấy tình hình thay đổi nhanh chóng. Cách đây không lâu, chúng ta đã chứng kiến Nhật Bản vươn lên rất nhanh. Nhưng giờ đây ngài có ngạc nhiên khi các diễn biến xảy ra theo hướng khác đi như vậy không?
Đáp: Tôi không nghĩ lại có sự thay đổi nhanh chóng như vậy, nhưng dù gì đi nữa thì đó là do phong cách sống đã thay đổi.
Hỏi: Ngài từng nói rằng khi bị dồn vào đường cùng, dân tộc Nhật sẽ phản ứng. Họ sẽ chiến đấu lại bởi nó đã ăn sâu vào văn hóa của họ. Tại sao ngài không nghĩ là nhờ thể họ sẽ vượt qua được vấn đề dân số?
Đáp: Tinh thần đó chỉ đúng nếu họ đang chiến đấu với một kẻ thù bên ngoài thôi. Còn ở đây họ lại đang phải chiến đấu với chính bản thân mình. Cả phụ nữ lẫn đàn ông cần phải thay đổi thái độ khi mới sinh nhiều con hơn được. Nhưng người phụ nữ đã thay đổi cách sống từ việc chỉ hầu hạ cha mẹ ruột, cha mẹ chồng, chồng con thi giờ họ đã vùng dậy để tự khẳng định minh.
Hỏi: Liệu đó cũng là một dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo đã thất bại trong việc giải quyết vấn để này? Ví dụ, Singapore cũng gặp phải vấn đề tương tự, nhưng các nhà lãnh đạo ở đậy đang cố dẫn dắt, thuyết phục, cảnh báo, hứa hẹn.
Đáp: Có lẽ do Nhật có nền văn hóa khác biệt và họ không bàn về những chủ đề này. Ngay cả nếu có bàn, tôi không nghĩ điều đó thay đổi được tư duy của họ.
Hỏi: Liệu có phái các nhà chính trị cũng muốn tạo sự thay đổi nhưng họ lo ngại dân chúng chưa sẵn sàng? Hay chính giới lãnh đạo cũng đổng tình với dân chúng?
Đáp: Những người lãnh đạo là một phần của xã hội. Nếu xã hội vẫn giữ tư tưởng lãnh đạm thì anh không thể có một giới lãnh đạo nâng động được. Người Nhật ý thức được họ đang có tình trạng đó nhưng họ không có động thái gì. Họ khoanh tay đứng nhìn.
Hỏi: Nhưng người Nhật không phải một dân tộc chịu khoanh tay đứng nhìn.
Đáp: Thật không may họ lại khoanh tay trước vấn đề này.
Hỏi: Vậy ngài có nghĩ sự xuất hiện của một lãnh đạo vĩ đại ở Nhật có thể thay đổi được gỉ không?
Đáp: Không.
Hỏi: Nhưng ngài thừa nhận rằng nền chính trị bất ổn không có lợi cho Nhật Bản. Ngài lý giải ra sao cho tính bất ổn này?
Đáp: Vị trí lãnh đạo xoay vòng cho các đại thủ lĩnh samurai. Quốc hội chia thành các phe phái đứng đầu là samurai và các chiến binh của họ. Người nào có nhiều chiến binh hơn thì sẽ giành được chức thủ tướng. Tôi không biết liệu các chiến binh này có đổi phe hay không. Có lẽ họ sẽ làm vậy nếu được chiêu dụ bằng quyền cao chức trọng. Nhưng dù gì đi nữa thì nền chính trị Nhật Bản cũng không ổn định và không cho bất kỳ lãnh đạo nào cơ hội để tạo ảnh hưởng thực sự lên các chính sách đề ra.
Hỏi: Có lẽ suy nghĩ của người Nhật về vấn đề dân số là: dân số đúng là sẽ suy giảm, kinh tế đúng là sẽ suy thoái, nhưng nếu có thể giữ GDP theo đầu người ở mức cao và duy trì các tiêu chuẩn sống, chúng ta sẽ ổn thôi.
Đáp: Không. Một dân số già sẽ không thể duy trì được GDP theo đầu người. Giới trẻ mới là người giữ cho nền kinh tế tiến lên mà họ lại đang thiếu người trẻ.
Hỏi: Những tác động về địa chính trị của một Nhật Bản thu nhỏ là gì, nhất là trong tình hình Trung Quốc trỗi dậy?
Đáp: Ngay cả khi họ có nhiều trẻ em hơn và dân số ngày càng tăng thì sự trỗi dậy của Trung Quốc lại là một vấn đề lớn khác khiến cho những đổi thay này cũng không tạo ra được điều gì khác biệt. Họ không thể đứng lên chống lại Trung Quốc và họ chắc chắn không thể lặp lại những gì từng làm những năm 1930 khi gần như đã chiếm đóng được phần lớn Trung Quốc. Họ cần sự bảo đảm an ninh của Mỹ. Người Nhật tự mình không thể áp đảo hoặc ngăn chặn được người Trung Quốc. Nhưng người Nhật khi liên minh với người Mỹ thì có thể chặn Trung Quốc. Vả họ sẽ tiếp tục giữ mối đồng minh này nhưng họ sẽ trở thành một đối tác yếu thế hơn, nhỏ hơn, và đang xuống dốc.
Hỏi: Vây người Nhật sẽ giữ chặt mối quan hệ hữu hảo với Mỹ?
Đáp: Đó là chọn lựa tối ưu của họ. Nhưng đồng thời họ sẽ đầu tư vào Trung Quốc, kết bạn với họ, và dựa vào đó để kinh doanh.
Hỏi: Okinawa là một câu hỏi hóc búa cho người Nhật. Người Mỹ đặt hầu hết quân đội của họ ở đây nhưng người dân Okinawa lại thấy thật bất công khi mình họ phải chịu đựng vì sự an toàn cho cả nước Nhật. Ngài có nghĩ rằng cuối cùng người Mỹ sẽ bị buộc phải rời khỏi đây? Và nếu đúng như thế, Điều đó có ý nghĩa như thế nào với an ninh của Nhật Bản?
Đáp: Tôi không biết chắc là liệu cuối cùng người Nhật có ủng hộ người dân Okinawa đẩy người Mỹ ra khỏi nơi đây hay không, vì người Nhật không được lợi gì khi làm thế. Nhưng nếu họ làm thế, người Mỹ sẽ rút ra Guam và Midway những nơi xa xôi hơn trước.
Hỏi: Trong 20 năm tới, ngài cho rằng Nhật và Mỹ sẽ có kiểu liên minh nào?
Đáp: Điều đó còn phụ thuộc vào tiềm lực nền kinh tế Mỹ sẽ ra sao. Nếu người Mỹ không đủ khả năng để duy trì liên minh thì mối liên kết đó sẽ tan rã. Nếu điều đó xảy ra thì Nhật Bản sẽ phải nghe theo Trung Quốc. Họ sẽ trở thành một quốc gia phụ thuộc.
Hỏi: Một quốc gia phụ thuộc?
Đáp: Họ không thể đánh lại thì phải nghe lời Trung Quốc. Nếu có va chạm giữa một tàu Nhật Bản và một tàu của Trung Quốc trong khu vực quần đảo Senkaku hay Điếu Ngư, thì các tàu Nhật Bản sẽ phải rút lui.
Hỏi: Ngài có thấy Nhật Bản đang chuẩn hóa lực lượng phòng vệ của mình không?
Đáp: Nếu ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực giảm sút thì Nhật Bản có thể phải phát triển một lực lượng phòng vệ với vũ khí hạt nhân như một kế sách cuối cùng.
Hỏi: Và Điều đó sẽ giúp họ đánh trả Trung Quốc?
Đáp: Không phải là đánh trả. Tự vệ thôi. Làm thế nào họ có thể đánh trả Trung Quốc được? Ba quả bom có thể tiêu diệt Nhật Bản chứ đâu thể xóa sổ được Trung Quốc.
Hỏi: Liệu Bắc Kinh có chống lại nỗ lực chuẩn hóa lực lượng phòng vệ hay phát triển tiềm lực hạt nhân của Nhật Bản hay không?
Đáp: Họ lấy cớ gì để chống lại? Người Nhật có quyền vũ trang cho đất nước họ. Những gì Trung Quốc có thể làm là tăng cường vũ trang cho mình mà thôi.
Hỏi: Một vấn đề khác gây khó cho mối quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản là ký ức về Thế chiến thứ hai. Liệu vấn đề này sẽ còn tiếp tục một thời gian dài nữa?
Đáp: Lúc đó người Nhật chiếm đóng mọi thành phố lớn ở Trung Quốc. Nếu người Mỹ không đe dọa họ bằng lệnh cấm vận dầu thì họ có lẽ đã xâm chiếm được Trung Quốc. Cuộc xâm chiếm đó sẽ diễn ra trong bao lâu tôi không biết nữa vì họ chắc chắn sẽ mắc kẹt trong một cuộc chiến tranh du kích. Người Trung Quốc vẫn chưa quên ký ức đó.
Hỏi: Người Nhật khẳng định rằng họ đã xin lỗi rất nhiều lần.
Đáp: Đúng thế, nhưng giới lãnh đạo Nhật vẫn tiếp tục viếng đền Yasukuni, nơi thờ tất cả những tội phạm chiến tranh.
Hói: Ngài đã có lần nói đến một bình luận của một lãnh đạo Nhật Bản, đó là nếu người Mỹ có đánh người Việt, mà thực sự họ đã lầm như thế thì sau một thời gian cả hai dân tộc này lại có thể bắt tay nhau. Nhưng nếu Nhật Bản đánh Trung Quốc thì thậm chí sau 100 năm, họ vẫn không thể bắt tay nhau.
Đáp: Điều này đã diễn ra từ lâu lắm rồi - từ năm 1931.
Hỏi: Vậy ngài lý giải chuyện này ra sao?
Đáp: Đó là vì Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, vậy mà lại bị một quốc gia nhỏ hơn nhiều tìm cách chiếm đóng. Và người Nhật gần như đã chiếm được Trung Quốc vì nơi này lúc đó tan tác bởi các lãnh chúa.
Hỏi: Thế Nên có một mối thâm thù sâu xa giữa hai dân tộc?
Đáp: Tôi sẽ không dùng từ đó. Thương mại giữa hai bên đã phát triển với tốc độ phi thường. Nhật đang đầu tư ở Trung Quốc còn Trung Quốc mời gọi đầu tư để nắm bắt được công nghệ của Nhật, đổi lại Trung Quốc cung cấp cơ sở sản xuất giá rẻ. Nhưng tùy từng lúc mà Trung Quốc luôn có thể tung quân bài Thế chiến thứ hai ra để làm khó Nhật Bản.
Hỏi: Vậy Singapore vả Đông Nam Á có nên hy vọng rằng mối quan hệ này sẽ phát triển và hai nên kinh tế trở nên liên kết chặt chẽ hơn với nhau?
Đáp: Có chứ, việc cả hai nước đó phát triển sẽ đem lại lợi ích chung cho chúng ta.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.