Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 148 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂNG LƯỢNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - ***
Chuẩn bị cho viễn cảnh xấu nhất

❊ ❊ ❊

Tôi tin chắc rằng Trái đất đang dần nóng lên vì các hoạt động của con người. Điều này dường như cũng nhận được sự đồng thuận rộng rãi của các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này.

Nhưng cũng có những quan điểm bất đồng, trong đó có một lập luận cho rằng sự gia tăng nhiệt độ là một phần trong chu kỳ bình thường mà trái đất thỉnh thoảng vẫn trải qua trong lịch sử 4,5 tỷ năm của nó và do đó không liên quan gì tới việc phát thải khí các bon của con người. Nếu điều đó là đúng, chúng ta cứ việc ngồi đó và chờ cho nhiệt độ giảm xuống theo chu kỳ này. Nhưng nói chung tôi tin rằng có những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng không có gì là “bình thường” trong những hiện tượng chúng ta đang trải qua ngày hôm nay. Quá trình nóng lên đang xảy ra quá nhanh. Các chỏm băng đang tan chảy trước mắt chúng ta. Tuyến đường biển Tây Bắc dọc theo bờ biển Canada, Alaska và Nga trước đây bị băng chặn, giờ đang mở ra cho lưu thông hàng hải trong những tháng hè. Điều này chưa bao giờ xảy ra trước kia.

Hiện tượng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu đe dọa sự sống còn của con người. Điều này đòi hỏi các chính phủ phải hành động cùng nhau để cắt giảm đáng kể lượng khí thải. Thật không may, điều này khó mà xảy ra. Trong năm 2009, Hội nghị biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc tại Copenhagen đã kết thúc mà không có được một thỏa thuận ràng buộc nào, bất chấp sự tập hợp các nhà lãnh đạo của tất cả các quốc gia quan trọng. Các hội nghị tiếp theo cũng không đạt được kết quả gì ngoạn mục, và tôi cũng không trông chờ các hội nghị tiếp theo sẽ có kết quả gì.

Trọng tâm của vấn đề là sự đánh đổi giữa cắt giảm lượng khí thải và phát triển nền kinh tế. Khi một chính phủ ngồi vào bàn đàm phán, họ đểu tính đến vấn đề tâm lý người dân trong nước trước khi chịu nhượng bộ điều gì đó. Nếu tác động lên thu nhập và việc làm là quá lớn, chính phủ đó sẽ bị hất ra khỏi vị trí cầm quyển của mình.

Một số xã hội quan ngại hơn các xã hội khác về tác động của sự nóng lên toàn cầu và họ sẵn sàng trả cái giá cao để bảo vệ môi trường. Người châu Âu có xu hướng thuộc kiểu này. Sau Thế chiến thứ hai, tôi đã sống ở Anh bốn năm. Nơi đây có khí hậu tương đối đều đặn, ít biển đổi, cũng giống như phần châu Âu lục địa vậy. Nhưng điều đó đã thay đổi. Từ Địa Trung Hải đến Bắc Âu, những người đã quen với khí hậu ôn hòa bây giờ phải đối mặt với lũ lụt, bão táp, gió mạnh và những đợt nắng nóng gây tử vong và hủy hoại tài sản. Người châu Âu do đó hiểu rõ hơn tính cấp thiết trong việc giải quyết vấn đề khí hậu.

Người Mỹ thì lại ít bị thời tiết xấu đe dọa hơn. Đúng là họ luôn gặp lốc xoáy và bão lớn, và trong những năm gần đây các hiện tượng này ngày càng gia tăng nhưng chúng không phải vấn đề lớn đối với họ. Họ chỉ tuyên bố khu vực bị tàn phá là khu vực thảm họa, gửi đồ cứu trợ tới, các công ty bảo hiểm chi trả tiền thiệt hại, và người dân mua nhà mới, thể là xong. Việc Mỹ tiếp tục không phê chuẩn nghị định thư Kyoto khiến nhiều người nghi ngờ. Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố rằng biến đổi khí hậu là vấn đề ưu tiên cần giải quyết nhưng chính quyền của ông không thúc đẩy việc đề ra một bộ luật toàn diện về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tôi cảm nhận được là người Mỹ đang từ từ thay đổi. Sẽ mất một thời gian dài họ mới có thể thay đổi tâm lý được giống người châu Âu, nhưng họ cũng đang dần dần đi theo hướng đó. Các cuộc cách mạng khí đá phiến ở Mỹ đang khuyến khích một sự chuyển đổi từ than đá, nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm nhất, sang khí đá phiến. Người Mỹ là một trong những dân tộc tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới và điều đó khiến các nước khác kỳ vọng họ sẽ phải gánh một trọng trách nào đó. Họ phải làm gương cho các nước khác.

Người Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế mới nổi khác đã lập luận rằng lượng khí các bon mà họ thải ra trong thực tế thấp hơn so với các nước công nghiệp nếu tính trên đầu người chứ không phải tính chung cho cả nước. Các nước này cũng khao khát tăng trưởng, và họ chỉ ra rằng thật bất công khi các nước giàu có đạt được mức độ phát triển hiện nay bằng những cách gây hại cho môi trường, vậy mà còn tìm cách áp đặt giới hạn khí thải lên các quốc gia khác đang muốn bắt kịp họ. Họ chỉ ra rằng hầu hết sự ô nhiễm tính đến thời điểm hiện tại đã được tích lũy thông qua các hoạt động của các nước phát triển chứ không phải của các nước đang phát triển. Với những lập luận như thế, tôi không hy vọng rằng vấn đề này có thể được giải quyết rốt ráo.

Và một yếu tố khiến cho vấn để này trầm trọng hơn là tổng dân số của thế giới tiếp tục tăng cao đều đặn. Dân số thế giới đã vượt mốc 7 tỷ người năm 2012 và dự kiến sẽ đạt 9 tỷ người năm 2050. Cho dù đúng là các tiến bộ công nghệ có thể cải thiện khả năng sản xuất thực phẩm và khả năng chứa đựng nhiều người trong những không gian nhỏ hơn thì đến một lúc nào đó chúng ta cũng phải đạt đến giới hạn của nó. Trái đất chỉ có thể chứa một số lượng người nhất định nào đó để không gây hại nghiêm trọng cho môi trường sống và đa dạng sinh học. Làm sao chúng ta có thể chấm dứt sự gia tăng dân số không ngừng này? Chìa khóa, theo quan điểm của tôi, nằm ở việc giáo dục phụ nữ, khiến họ muốn có ít con hơn. Chúng ta càng sớm làm được điều này, chúng ta sẽ càng sớm có được một thế giới ít đông đúc.

Và trong lúc chờ đợi điều này xảy ra chúng ta sẽ phải làm gì?

Đầu tiên, các quốc gia cần khôn khéo đầu tư thời gian và năng lượng để chuẩn bị cho một thảm họa nhân đạo có thể xảy ra trong vài thập kỷ tới thay vì kêu gọi các nước khác cắt giảm khí thải. Họ đã có kế hoạch gì để đối mặt với việc mực nước biển tăng, thời tiết khắc nghiệt, thực phẩm khan hiếm và các vấn đề khác? Lấy ví dụ như nếu các sông băng ở Trung Á và Trung Quốc tan ra thì các thành phố ở hạ lưu sẽ là những nơi đầu tiên bị ngập lụt, sau đó là hạn hán khi nguồn cung cấp nước giảm vì không còn băng để mà tan chảy nữa. Các khu lưu vực sông sẽ không còn có thể nuôi được nhiều người như hiện nay nữa.

Hơn nữa, khi mực nước biển dâng cao, người dân sống ở các vùng trũng sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc di cư. Một nghiên cứu đã cho thấy nước dâng thêm một mét có thể làm thay đổi nơi sinh sống của 145 triệu người trên thế giới và làm ô nhiễm nguồn nước uổng của hàng triệu người khác. Những vùng đất rộng lớn hay toàn bộ một thành phố có thể bị nhấn chìm dưới nước. Sinh kế của người dân bị đe dọa bởi trong nhiều trường hợp việc di chuyển đến địa hình cao hơn đồng nghĩa với việc từ bỏ những vùng đất phù sa cần để canh tác.

Các nước giàu sẽ tìm cách đối phó điều này. Tại London, người ta đã xây nên đập chắn lũ Thames Barrier để chặn nước lại khi thủy triều dâng cao, và họ sẽ không gặp khó khăn mấy khi nâng cao đập chắn lũ. Nhưng đối với các thành phố ven biển hoặc các hòn đảo như Singapore và Maldives, giải pháp sẽ không đơn giản như thế. Di cư trong phạm vi quốc gia cũng ít rắc rối hơn di cư xuyên biên giới. Chẳng hạn như nếu các vùng ven biển của Trung Quốc bị ảnh hưởng, mọi người có thể di cư vào vùng nội địa. Các hậu quả kinh tế sẽ xảy ra nhưng hậu quả chính trị sẽ ít nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp của Bangladesh, đất nước ở khu vực đất trũng, người dân có thể buộc phải di cư vào Ấn Độ. Đường biên giới dài và nhiều kẽ hở giữa hai nước đồng nghĩa với việc không thể nào chặn được dòng người này. Dù gì đi nữa cũng không ai ngăn được dòng người tháo chạy để bảo vệ mạng sống của mình. Như thế, các tác động mà điều này gây ra là rất lớn. Nếu người dân di cư thành những làn sóng lớn, nguy cơ xung đột sẽ tăng đáng kể.

Thứ hai, cần chú ý rằng dù các nước do dự tại các hội nghị quốc tế, nhưng vẫn có khả năng họ sẽ có hành động bảo vệ môi trường, vì xu hướng bảo vệ môi trường không phải luôn luôn là chịu thiệt vì lợi ích của người khác. Việc giảm ô nhiễm sẽ giúp cải thiện môi trường địa phương và cuộc sống của người dân thường trong chính đất nước bạn. Việc cắt giảm lượng khí thải các bon cũng là giải pháp hợp lý trong một số trường hợp, đặc biệt là khi lượng khí thải sinh ra từ việc sử dụng năng lượng bất hợp lý hay lãng phí. Người Nhật dành nhiều thời gian nghiên cứu cách giảm thiểu năng lượng cần dùng khi chế tạo từng sản phẩm bởi vì họ hiểu rằng điều đó sẽ giúp tiết kiệm chi phí. Một ví dụ khác là việc trợ cấp nhiên liệu. Khi bạn trợ cấp, người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều hơn là tiết kiệm. Sẽ có lãng phí. Việc loại bỏ các khoản trợ cấp - và thậm chí có thể đánh thuế sử dụng nhiên liệu để phản ánh chi phí thực sự của nó trong xã hội - do đó sẽ là một việc làm đúng đắn cả về kinh tế lẫn vì lợi ích của môi trường.

Vì những lý do này, nhiều quốc gia đã hành động đơn phương. Điều đó giải thích sự gia tăng nhận thức về môi trường ở Trung Quốc. Họ biết rằng nếu tiếp tục sản xuất ở mức hiệu suất năng lượng hiện tại, họ sẽ không bao giờ đạt GDP bình quân đầu người của Mỹ vì đơn giản là họ không sở hữu nhiều nguồn năng lượng sẵn có. Hơn nữa, họ có thể thấy chính người dân của mình chịu đựng ô nhiễm nước và không khí còn môi trường nước họ đang thay đổi theo chiều hướng đáng sợ. Các bệnh đường hô hấp đang tăng lên. Bão cát xảy ra thường xuyên hơn. Các núi băng của cao nguyên Tây Tạng sụt xuống mỗi năm. Trong thời gian Thế vận hội Olympic vào năm 2008, họ giảm một nửa số lượng xe trên đường và đóng cửa một số nhà máy xung quanh, và kết quả là rất rõ ràng. Khi mọi người nhìn thấy kết quả đạt được thì theo thời gian, khi tiêu chuẩn sống đi lên, chính phủ sẽ phải chịu áp lực để thực hiện các thay đổi cần thiết để cải thiện môi trường.

Ấn Độ có thể phát triển một phong trào xanh chậm hơn một chút vi nước này ít đô thị hóa và công nghiệp hóa hơn Trung Quốc và họ có ít vấn đề với môi trường hơn - nhưng họ cũng sẽ không tụt xa ở phía sau. Nhưng đối với mỗi quốc gia, nước nào rồi cũng sẽ phải hành động khi người dân đã tự thấy được hậu quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu và cảm thấy một mối đe dọa thực sự đối với lối sống của họ - cũng giống như châu Âu. Cho đến khi hậu quả nhân tiền thì nó vẫn chỉ là một vấn đề lý thuyết.

Trong khi đó, những phát triển trong khai thác năng lượng có thể cho chúng ta thêm chút ít thời gian. Công nghệ mới cho phép khai thác khí đá phiến đã mở ra những nguồn dự trữ năng lượng khổng lồ ở Mỹ và các nơi khác. Điều này được mô tả chính xác là một cuộc cách mạng và đã thay đổi cục diện đáng kể ở nhiều mặt.

Khí đá phiến là một hình thức năng lượng sạch hơn than đá và có thể giúp giảm đáng kể lượng khí thải ra. Tổng trữ lượng năng lượng hóa thạch trên thế giới cũng đã được tăng lên đủ cho nhiều thập kỷ, thậm chí có thể lâu hơn. Đặc biệt, khí đá phiến hứa hẹn sẽ giúp người Bắc Mỹ trở nên độc lập về năng lượng - một thành công chưa từng có. Hoa Kỳ đang xây dựng các bể chứa và cảng vận chuyển khí thiên nhiên hóa lỏng với mong muốn là thay vì phải nhập khẩu, giờ họ có thể xuất khẩu loại năng lượng này. Khí đá phiến sẽ không thể thay thế được dầu mỏ trong mọi lĩnh vực. Chẳng hạn như bạn vẫn sẽ cần dầu để chạy máy bay. Nhưng nhu cầu về dầu sẽ giảm xuống khi người ta phần nào chuyển sang khí đá phiến. Kết quả là Trung Đông sẽ trở nên ít quan trọng hơn trong vai trò nhà sản xuất dầu và sẽ mất đi quyền lực. Mối đe dọa của một cuộc suy thoái toàn cầu gây ra bởi giá dầu biến động mà thế giới phải đối mặt nhiều lần trong quá khứ thì ngày hôm nay đã giảm nhiều.

Nhưng các nhóm hoạt động môi trường cũng khó mà hoan nghênh điều này Họ muốn thế giới ngưng sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch và thay thế bằng việc phát triển các nguồn năng lượng có thể tái tạo. Tuy nhiên, tôi không tin là bất kỳ quốc gia nào trong thực tế có thể phụ thuộc vào các nguồn năng lượng tái tạo để đáp ứng tất cả hoặc thậm chí hầu hết các nhu cầu năng lượng của mình. Có những khu vực mà xăng dầu sẽ tiếp tục cần thiết trong thời gian dài, chẳng hạn như vận tải đường không và đường bộ. Bạn có thể chuyển sang xe điện, nhưng bạn sẽ không chuyển nếu như phải đi một quãng đường dài, và chắc chắn các xe tải hạng nặng cũng sẽ không chuyển sang dùng điện.

Tôi nằm trong Hội đồng Tư vấn Quốc tế của công ty dầu khí Total của Pháp. Công ty này thường xuyên đánh giá các nguồn năng lượng thay thế: gió, mặt trời, thủy triều và các nguồn khác. Và lần nào thì người ta cũng rút ra kết luận giống nhau: dù nhiều khu vực trên thế giới thấy rằng họ có điều kiện kinh tế thích hợp để tận dụng một nguồn năng lượng thay thế cụ thể nào đó thì sự đóng góp tổng thế của nguồn năng lượng đó cũng sẽ không đáng kể. Những nguồn này có thể đóng vai trò bổ sung nhưng chúng sẽ không bao giờ có thể thay thế các nguồn năng lượng truyền thống bởi vì chúng quá ít và không chắc chắn.

Vài năm trước, một người bạn ở Trung Quốc có kể cho tôi việc các hộ gia đình ở Trung Quốc ngày càng sử dụng phổ biến các tấm pin mặt trời, nhất là để làm nóng nước tắm. Tôi đã gửi một bức thư ngắn tới Bộ Tài nguyên nước và Môi trường để hỏi tại sao Singapore không cân nhắc việc mua các tấm pin này từ Trung Quốc nếu thực sự chúng có giá rẻ như thế. Câu trả lời tôi nhận được đó là công nghệ này chưa mang lại hiệu quả kinh tế. Chính phủ Trung Quốc trợ cấp cho việc lắp đặt các tấm pin năng lượng mặt trời và bơm tiền cho việc nghiên cứu chúng bởi vì họ quyết tâm sẽ trở thành quốc gia đi đầu thế giới trong sản xuất các tấm pin đó. Là một nước lớn, họ có đủ khả năng để làm điều đó. Trái lại, Singapore phải chờ cho giá thành hạ xuống - chúng tôi phải chọn bất cứ điều gì tốt nhất khi phân tích chi phí lợi ích.

Điều đó nghĩa là chúng ta chỉ còn năng lượng hạt nhân, một lựa chọn thay thế cho dầu mỏ và khí đốt mà lại không làm nóng trái đất. Sau sự cố hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản, một số quốc gia trong đó có Đức đã quyết định đóng cửa các nhà máy hạt nhân hoặc trì hoãn kế hoạch xây dựng các nhà máy mới. Những nước khác như Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn tiếp tục chương trình hạt nhân. Còn chính Nhật Bản dường như đã đưa ra quyết định khó khăn là vẫn tiếp tục con đường hạt nhân. Trong một thế giới lý tưởng, tất cả các nước có lẽ đểu muốn phi hạt nhân vì những rủi ro liên quan và những vấn đề chưa giải quyết được về xử lý chất thải phóng xạ. Nhưng trong thực tế, lựa chọn của chúng ta rất hạn chế. Về lâu dài, tôi tin rằng nhiều quốc gia sẽ từ từ nhận thấy sự hấp dẫn của nàng lượng hạt nhân. Cuộc cách mạng năng lượng đá phiến có thể đẩy năng lượng hạt nhân lùi ra xa nhưng phần đóng góp của năng lượng hạt nhân trong tổng sản lượng điện thế giới lại có khả năng tăng dần.

Tuy vậy, đến cuối cùng, mọi quốc gia phải nhận ra rằng mọi nguồn năng lượng trên thế giới đều hữu hạn. Chúng ta phải biết chấp nhận những giới hạn đó mới có thể thoải mái tinh thần để sống tiếp. Chúng ta ở trên cùng một hành tinh, số phận được ràng buộc với nhau. Do đó, việc ai chiến thắng cuộc tranh luận chẳng có gì quan trọng vì nếu thế giới này bị hủy diệt, tất cả chúng ta đều sẽ gặp nguy nan. Tất nhiên, đến lúc mà những hậu quả hủy diệt của hiện tượng nóng lên toàn cầu thể hiện ra, có thể là trong khoảng từ 50 đến 150 năm nữa, tôi cũng như nhiều người đang sống ngày hôm nay sẽ chẳng còn trên cõi đời này. Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm truyền lại cho con cháu một thế giới tràn đầy hy vọng và sức sống như lúc ta kể thừa nó.

Hỏi: Liệu các tiến bộ khoa học có thể làm giảm bớt một số tác động xấu nhất của hiện tượng nóng lên toàn cầu hay không - những tiến bộ khoa học mà chúng ta thậm chí chưa nghe nói đến?
Đáp: Cũng có thể. Các nhà khoa học có thể tìm ra cách chặn nhiệt mặt trời, chẳng hạn như xây một mái vòm lớn có thể giữ nhiệt lại trong đó rồi phản xạ nó trở lại vào bầu trời. Nhưng làm điều đó trên mặt đất thì dễ chứ còn trên sông, trên biển thì xây thế nào?
Hỏi: Ngài có dự đoán sẽ có những hoạt động quyết liệt hơn trên vùng biển Hoa Đông liên quan tới dầu và khí đốt không?
Đáp: Việc khoan dầu vẫn chưa bắt đầu nên không ai thực sự biết có gì bên dưới mặt biển. Nhưng tôi không cho xung đột về đảo Điếu Ngư hay Senkaku là về dầu. Vấn để này thiên về chủ quyền và danh dự quốc gia nhiều hơn. Tôi tin rằng tranh chấp đó sẽ không được giải quyết triệt để vì cả hai bên không có lý nào lại để tranh chấp đó ảnh hưởng tới các quan hệ kinh tế của mình. Từ quan điểm của Nhật Bản, đây là vấn đề không đáng để họ phải rút vốn ra khỏi các khoản đầu tư ở Trung Quốc. Còn người Trung Quốc cần những khoản đầu tư dù cho họ có làm ầm ĩ lên vé' tranh chấp này. Hai nước sẽ không đi đến chiến tranh. Nhưng giả sử người ta tìm thấy dầu và khí ở vùng đặc quyền kinh tế thuộc đảo này thì điều đó có thể gây ra chuyện lớn vì Trung Quốc đang đói năng lượng.
Hỏi: Liệu Singapore có gặp vấn để là người dân từ các nước khác đổ xô đến bờ biển nước ta khi mực nước biển xứ họ đang dâng cao không?
Đáp: Đúng ra là chúng ta sẽ đổ xô tới bờ biển nước khác. Anh cứ thử tàng mực nước biển lên một hai mét thử xem là sẽ thấy ngay chúng ta mất đi nhiều đất đai thế nào. Ngay cả nơi cao ráo như Bukit Timah Hill cũng sẽ chẳng còn lại bao nhiêu đất đai.
Hỏi: Singapore xem xét ý tưởng xây dựng một bức tường ngăn biển ra sao?
Đáp: Khi tình hình trầm trọng, chúng ta sẽ phải xây tường. Thực ra chúng ta cũng đã mời các chuyên gia từ Hà Lan đến xem xét tình hình và họ nói đê chắn nước sẽ không hiệu quả. Chúng ta buộc phải xây tường biển. Ở Hà Lan họ có vùng đất trũng còn ở đây đất đai chúng ta vẫn nằm trên mực nước biển. Vấn đề đối với chúng ta làm tìm cách giữ được một cảng biển bên ngoài bức tường đó.
Hỏi: Một số người cho rằng Singapore đang tiến triển quá chậm trong vấn đề bảo vệ môi trường. Tất nhiên là chúng ta phải cân nhắc các chi phí khi áp dụng một số biện pháp bảo vệ nhưng ngài có cảm thấy là Singapore có thể tiến triển nhanh hơn trên mặt trận này?
Đáp: Chúng ta chỉ là một đẩu thủ nhỏ trong đấu trường quốc tế mà bất cứ điều gì chúng ta làm sẽ chẳng tạo ra được sự khác biệt là bao với sự nóng lên toàn cầu. Chúng ta chỉ thải ra 0,2% tổng lượng khí thải trên thế giới. Tuy thế, Singapore cũng đã có những bước đi đầy tham vọng và có ý nghĩa trong nước chẳng hạn như chuyển sang dùng khí thiên nhiên để phát điện, đặt ra giới hạn cho số lượng xe cộ gia tăng và thu phí sử dụng xe cộ, áp dụng các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả,
Hỏi: Nhưng nếu ngài vẫn còn làm trong chính phủ, liệu ngài sẽ thúc đẩy vấn đề này mạnh mẽ hơn?
Đáp: Tôi sẽ cho tiến hành nghiên cứu và tính toán cẩn thận các lựa chọn đưa ra. Nhưng chúng ta phải tính đến việc người Singapore luôn để ý đến chi phí. Họ không quan tâm năng lượng đến từ đâu, họ chỉ muốn biết nguồn năng lượng nào rẻ nhất. Chúng ta đã từng thử thuyết phục họ chuyển sang lái xe lai chạy bằng xăng lẫn điện nhưng loại xe này lại tốn chi phí nhiều hơn dù đã được giảm thuế, nên mọi người lại quay về lái những chiếc xe chạy xăng truyền thống. Chính phủ chỉ có thể làm một việc là ban hành luật. Ví dụ như nếu có một loại xe lai hiệu năng nào đó xuất hiện, chúng ta có thể yêu cầu tất cả mọi người chuyển sang đi xe lai hay đi xe điện.
Hỏi: Ngài có thấy vấn đề môi trường đang trở thành một vấn đề chính trị quan trọng ở Singapore, đặc biệt là trong cộng đồng những người Singapore trẻ?
Đáp: Không. Tại sao nó lại trở thành một vấn đề chính trị chứ?
Hỏi: Thế còn tư tưởng muốn bảo tồn không gian xanh và muốn bảo vệ môi trường? Ngài có tiên đoán sự xuất hiện của nhiều nhóm vận động và lợi dụng vấn đề này làm lý tưởng chính trị?
Đáp: Không, không có khả năng đó. Chính phủ nước ta giữ gìn không gian xanh và những khoảng không mở cũng cẩn thận không kém bất kỳ tổ chức phi chính phủ nào.
Hỏi: Năm 2012, dân chúng có phần đối về việc di dời các ngôi mộ ra khỏi nghĩa trang Bukit Brown để xây dựng đường giao thông.
Đáp: Đó chỉ là vấn để tình cảm thôi.
Hỏi: Một trong những lập luận mà những người phản đối đưa ra là về hệ động thực vật nơi, này.
Đáp: Không, không. Nó không chỉ là về môi trường sống mà là về những ngôi mộ và những lý do đều là cảm tính - tổ tiên của anh được chôn cất ở đây, tên tuổi của những người quá cố lẫn con cháu của họ, cũng như nơi đây gợi nhớ về quá khứ của chúng ta. Nhưng chúng ta cũng đã đào nghĩa trang Bidadari lên và xây dựng trên nó khi chúng ta cẩn đấy thôi. Thế nên nếu cần đất, và phải xới tung toàn bộ Bukit Brown để xây dựng, và đặt tro cốt nơi nhà lưu tro cốt, thì chúng ta cũng sẽ làm điều đó.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.